11.
Câu truyện Về Nàng Shunkai
Shunkai
còn có tên khác là Suzu, một giai nhân sắc nước hương trời.
Lúc còn trẻ nàng đã bị ép hôn; không bao lâu sau cuộc hôn
nhân đổ vở, nàng theo học triết ở một trường đại học.
Ai
nhìn thấy Shunkai cũng đều thầm yêu trộm nhớ. Ðã thế,
nàng đến đâu cũng gây được cảm tình. Khi không hài lòng
với triết học, nàng đến một thiền viện để học thiền,
và rồi các thiền sinh lại mê nàng như điếu đổ . Số của
Shunkai thật là đào hoa.
Sau
rốt nàng thực sự trở thành một thiền sinh ở Kyoto. Các
sư huynh ở thiền viện Kennin đều ca tụng lòng thành của
nàng, và một vị trong số đó kết thân và giúp nàng thấu
triệt được thiền.
Viện
trưởng của thiền viện là Mokurai, Tịnh Sấm, rất là khắc
khe. Ngài tự giử giới rất nghiêm và đòi hỏi mọi thiền
sinh cũng phải như thế. Nhưng than ôi, trong nước Nhật hiện
đại, tăng sinh lại lấy vợ. Mokurai thường phải dùng chổi
để xua đuổi phụ nữ ra khỏi các thiền viện của ngài,
khi thấy có bóng hồng thấp thoáng.
Nhưng
khổ thay, đuổi ra bao nhiêu lại vào càng nhiều hơn. Bà vợ
của ông trưởng tràng lại bắt đầu ghen tương với Shunkai.
Bà càng điên tiết hơn khi nghe các thiền sinh ca ngợi sự
liu ngộ thiền của nàng. Sau rốt bà đi phao tin về sự liên
hệ giửa Shunkai và người bạn thiền huynh; vì vậy mà hai
người bị đuổi ra khỏi thiền viện.
"Ta
có thể chịu một phần lỗi," Shunkai thầm nghĩ, "nhưng bà
vợ của ông trưởng tràng cũng không thể ở lại thiền viện
khi bạn của ta bị đối xử bất công như vậy."
Ðêm
ấy Shunkai phóng hỏa đốt rụi thiền viện có từ 500 năm.
Hôm sau nàng bị nhà chức trách bắt giử.
Một
luật sư trẻ chú ý đến nàng và muốn giúp làm cho bản án
nhẹ hơn. "Ông không nên giúp tôi," nàng nói. "Bởi vì tôi
sẽ gây nên tội khác để lại bị cầm tù."
Sau
bảy năm bị giam giử, và ngay cả ông cai ngục 60 tuổi cũng
mê mệt vì nàng, cuối cùng Shunkai được thả.
Nhưng
từ đó, chẳng ai muốn gần gủi giúp đở nàng. Ngay cả các
thiền sinh, những kẽ vốn tin vào giác ngộ giải thoát trong
đời này với thân xác này, cũng xa lánh nàng.
Shunkai
khám phá ra rằng Thiền là một việc mà kẽ theo thiền lại
là một việc khác hẳn. Nàng mắc bệnh và kiệt lực.
Nàng
gặp một tăng sĩ phái Shinsu, và được dạy niệm danh hiệu
Ðức Quán Thế- Âm. Nhờ vậy tâm hồn Shunkai được an ủi.
Nàng chết khi còn tuyệt đẹp ở tuổi vừa ba mươi.
Khi
còn đói rách, nàng đã viết lại câu chuyện về đời nàng
để kiếm sống. Câu chuyện được lan truyền ở Nhật; rồi
những kẻ đã từng xa lánh nàng, đã từng ganh ghét và thóa
mạ nàng nay lại đọc chuyện đời nàng trong nước mắt ràng
rụa vì hối hận.
12.
Ông Tầu Vui Vẻ ( (Hay Ông Thần Tài -- LND.)
Nếu
ai đi phố Tàu ở Mỹ cũng đều thấy tượng của một vị
mập mạp mang một túi vải. Những kẻ kinh doanh gọi là Ông
Tầu vui vẻ hay Ông Thần tài.
Thực
ra ông này tên là Hotei, sống ở thời nhà Ðường. Ông chẳng
có ý tự gọi mình là thiền sư hoặc kết nạp môn đồ.
Ông
đi rảo khắp phố phường, vai mang một cái túi vải lớn
trong đó chứa đủ thứ kẹo, bánh, trái cây người ta cúng
biếu, rồi ông lại phát cho lũũ trẻ hay chạy theo ông vui
đùa. Ông đã tạo nên một nhà trẻ giửa phố.
Khi
nào ông gặp một kẽ mộ đạo, ông ngữa tay xin: "Cho tôi
một hào." Và nếu có ai bảo ông trở về chùa màthuyết pháp,
ông lại trả lời: "Cho tôi một hào."
Một
hôm đang vui chơi với đám trẻ, tình cờ có một thiền sư
đi qua, dừng lại hỏi: "Thế nào là yếu tính của Thiền?ẽ
Lập
tức, Hotei yên lặng bỏ túi vải nặng nề xuống đất.
Vị
thiền sư kia hỏi tiếp: "Thế thì, cái thực dụng của Thiền
là gì?ẽ Nhanh chóng, Ông Tầu vui vẻ vác cái bị lên vai và
tiếp tục đi.
13.
Một Ông Phật
Tại
Ðông Kinh vaụo thời Minh Trị, có hai vị thiền sư nỗi danh
với tánh tình khác hẳn nhau. Một vị là Unsho, ở Shingon chuyên
giử giới luật rất mực. Ngài không bao giờ uống rượu
và ăn sau 11 giờ sáng. Vị kia là Tanzan, dạy triết tại trường
Ðại học Hoàng gia, chẳng hề giử giới. Khi ngài đói thì
ăn, buồn ngủ thì đánh một giấc dù ban ngày.
Một
hôm Unsho đến viếng Tanzan, và thấy vị này đang uống rượu.
"Chào
sư huynh,ẽ Tanzan lên tiếng. "Uống cùng tôi một chén chăng?ẽ
"Tôi
chẳng bao giờ uống rượu!" Unsho dõng dạc bảo.
"Kẻ
không biết uống rượu chẳng phải là người," Tanzan nói.
"Này,
Sư huynh gọi tôi không phải là người chỉ vì tôi không say
sưa ư!" Unsho bất bình lớn tiếng. "Nếu không phải là người,
tôi là gi vậy?ẽ
"Một
ông Phật," Tanzan trả lời.
14.
Con Ðường Bùn Lầy
Một
hôm Tanzan và Ekido cùng đi trên một con đường lầy lội.
Cơn mưa nặng hạt vẫn còn rơi. Qua một khúc quanh, họ gặp
một người thiếu nữ xinh đẹp trong bộ kimono với đai lưng
bằng lụa, ngập ngừng không băng qua đường được.
"Này
cô bé," vừa nói xong, tức thì Tanzan bế cô gái sang bên kia
đường.
Ekido
không trò chuyện nữa cho mãi đến đêm khi hai người đến
trú ở một ngôi chùa. Không còn chịu được nữa Ekido phàn
nàn với Tanzan: "Chúng ta là tăng sĩ, không được đến gần
phụ nữ, nhất là con gái trẻ đẹp. Nguy him lắm. Tại sao
sư huynh lại phạm giới?"
"Ủa,
tôi đã để cô gái ở đấy rồi mà," Tanzan nói. "Sư huynh
còn mang cô ấy theo ư?"
15.
Shoun Và Mẹ
Shoun
đã trở thành một thiền sư của phái Soto. Cha ngài qua đời
khi ngài còn là một thiền sinh, để lại một mẹ già ngài
phải chăm nom. Mỗi khi đến thiền đường ngài đều đưa
mẹ theo. Vì mẹ ngài luôn ở bên cạnh, cho nên khi viếng các
tự viện, ngài không thể ngụ cùng chư tăng. Ngài xây một
thảo am kế cận để được săn sóc cho mẹ. Ngài thường
chép kinh kệ để sinh sống. Khi Shoun mua cá cho mẹ, kẻ chợ
đều mĩa mai, bởi nghĩ rằng ngài phạm giới, nhưng ngài bõ
ngoài tai. Tuy vậy, mẹ ngài lại đau lòng khi thấy mọi người
đàm tiếu con mình. Sau rốt bà bảo Shoun: "Mẹ nghĩ mẹ có
thể trở thành ni cô và ăn chay được." Bà liền thực hành
và tu học.
Shoun
rất thích nhạc và đã từng là bậc thầy về đàn tranh.
Mẹ ngài cũng biết chơi đàn tranh. Có nhiều đêm trăng tròn,
hai mẹ con thường hòa đàn với nhau.
Một
đêm có người con gái đi ngang nhà và nghe được tiếng đàn,
liền mời ngài đến nhà nàng đánh đàn vào đêm sau. Ngài
nhận lời. Vài ngày sau, ngài gặp cô gái ngoài phố và cám
ơn nàng về lòng hiếu khách. Mọi người đều cười chế
nhạo vì người thiếu nữ đó là gái giang hồ.
Một
ngày kia Shoun phải đến thuyết pháp ở một ngôi chùa xa.
Vài tháng sau, ngài trở về và được tin mẹ vừa mất. Người
quen không biết ngài ở đâu để báo tin, nên tiến hành tang
l.
Shoun
bước đến, dùng gậy gõ lên quan tài. "Mẹ ơi, con đã về
đây," ngài nói.
"Con
ạ, mẹ vui lắm khi thấy con trở về," ngài tự trả lời.
"Vâng,
con cũng vui lắm," Shoun trả lời. Rồi ngài tuyên bố cùng
mọi người: "Tang l đã xong. Xin chôn cất tử tế."
Khi
Shoun về già, ngài biết không còn sống được bao lâu, liền
gọi môn đồ đến vào một buổi sáng rồi bảo rằng ngài
sẽ viên tịch vào buổi trưa. Ðốt hương trước di ảnh của
mẹ và sư phụ, ngài viết một bài kệ:
Ta
đã cố sống cho trọn vẹn trong năm mươi sáu năm,
Rong
ruỗi trên đời.
Bây
giờ mưa đã tạnh và mây đang tan,
Có
gương trăng tròn trong bầu trời xanh.
Môn
đệ của ngài vây quanh tụng kinh, và Shoun ra đi trong tiếng
kinh cầu.
16.
Không Xa Cõi Phật
Một
sinh viên đại học đến thăm Gasan và hỏi: "Có bao giờ ngài
đọc Thánh kinh không?
"Không,
hãy đọc cho ta nghe," Gasan bảo.
Người
sinh viên mở cuốn Thánh kinh và đọc một đoạn ở phần
Thánh Ma-thi-ơ (Matthew): "Còn về đồ mặc, sao các ngươi lo
lắng làm chi? Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng lớn lên thế
nào: chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng các
ngươi, dẫu Sa-lô-môn vinh hiển cả thể, cũng không mặc được
bằng một trong những hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng chi
về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai."
Gasan
bảo: "Ai đã nói được những lời đó, ta cho là kẽ giác
ngộ."
Người
sinh viên đọc tiếp: "Hãy xin, sẽ cho, hãy tìm, sẽ gặp; hãy
gỏ, sẽ mở cho. Vì hai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai
gỏ thì được mở cho."
Gasan
nhận xét: "Thật tuyệt. Ai nói điều ấy không xa cõi Phật
là bao."
Lời
Dạy Dè Xẻn
Một
bác sĩ trẻ ở Ðông kinh tên là Kusuda gặp một người bạn
đang học thiền. Anh bác sĩ trẻ hỏi thiền là gì.
"Tôi
không thể nói được," người bạn trả lời, "nhưng có một
điều chắc chắn là nếu anh ngộ được thiền thì anh không
còn sợ chết nữa."
"Ðược,"
Kusuda nói. "Tôi sẽ thử xem. Vậy tìm thiền sư ở đâu?"
"Ðến
thầy Nan-in," người bạn bảo.
Thế
là Kusuda tìm đến Nan-in, mang theo con dao bén để xem thiền
sư có thực không sợ chết.
Khi
Nan-in trông thấy Kusuda, ngài lên tiếng: "Chào ông bạn. Khỏe
không? Chúng ta đã lâu không gặp!"
Kusuda
sửng sốt, bảo: "Chúng ta không từng biết nhau mà."
"Ồ!
đúng thế," Nan-in trả lời "Tôi nhầm ông với một vị bác
sĩ khác thường đến đây học thiền." Với sự khởi đầu
như vậy, Kusuda mất cơ hội thử thách vị thiền sư, anh ngập
ngừng hỏi xem nếu anh ta có thể học thiền được không?
Nan-in
bảo "Thiền chẳng khó. Nếu ông là thầy thuốc, hãy chửa
trị bệnh nhân với từ tâm. Ðó là Thiền.
Kusuda
trở lại viếng Nan-in ba lần và mỗi lần đều được dạy
cùng một câu. "Một người thầy thuốc chớ nên phí thì giờ
ở đây. Hãy trở về chăm sóc bệnh nhân.ẽ
Kusuda
vẫn chưa hiểu tại sao lối dạy như vậy có thể giúp cho
người học đạo không sợ chết. Ðến lần thứ tư anh phàn
nàn: "Bạn tôi bảo tôi rằng khi học thiền người ta không
còn sợ chết nữa. Mỗi lần tôi đến đây ngài đều bảo
tôi phải về chăm sóc bệnh nhân. Việc đó thì tôi rành lắm
rồi. Nếu thiền chỉ có vậy thì tôi sẽ không đến thăm
ngài nữa."
Nan-in
mĩm cười và vỗ vai người bác sĩ. "Tôi đã quá khắc khe
với ông. Ðể tôi cho ông một công án."
Ngài
dạy Kusuda quán tưởng về KHÔNG của Joshu (Triệu Châu), bài
đốn ngộ đầu tiên trong cuốn Vô Môn Quan.
Hai
năm liền, Kusuda quán tưởng đến công án KHÔNG. Khá lâu anh
tưởng chừng đãõ ngộ được chân tâm, nhưng thiền sư vẫn
bảo: "Ông chưa đạt đến.ẽ
Kusuda
tiếp tục quán chiếu thêm một năm rưỡi nữa. Tâm bắt đầu
định. Các vấn nạn được giải tỏa. KHÔNG trở thành chân
lý. Anh ta chăm sóc bệnh nhân tốt hơn, mà chính anh cũng chẳng
hề biết đến, anh đã không còn bận tâm đến sự sống
và chết nữa. Từ đó mỗi khi anh đến thăm Nan-in, vị sư
già chỉ mĩm cười.
18.
Ngụ Ngôn
Trong
Kinh, Ðức Phật có dạy một câu chuyện ngụ ngôn như sau:
Một người đi qua một cánh đồng và gặp một con hổ . Anh
ta bõ chạy, con hổ đuởi theo. Ðến một bờ vực sâu, anh
chụp được một sợi dây leo và đu lững lơ gần bờ vực.
Bên trên con hổ đang cúi xuống đánh hơi. Run sợ cuống cuồng,
anh nhìn xuống đáy vực sâu lại thấy một con hổ khác đang
nhe răng nhìn lên.
Bỗng
lại xuất hiện hai con chuột, một trắng một đen đang gậm
nhấm sợi dây leo. Chợt anh thấy một quả dâu chín mọng
bên cạnh. Một tay nắm chặt dây, tay kia nhặt quả dâu bỏ
vào miệng. Chao ôi sao nó ngọt thế!
19.
Nhất Ðế
Nếu
ai đến thăm thiền viện Obaku ở Kyoto đều nhìn thấy một
bảng gỗ khắc chữ đại triện "Nhất Ðế" trên cỗng. Ðối
với người biết thưởng thức lối viết chân phương ai cũng
đều tấm tắt khen ngợi là một tuyệt tác. Nó được viết
bởi thiền sư Kosen hai trăm năm trước.
Thực
ra ngài viết trên giấy, rồi nghệ nhân mới dựa theo khắc
trên gỗ thật lớn. Khi Kosen viết thảo thì một thiền sinh
đã đứng bên cạnh mài cả hàng mấy hủ mực lớn tướng,
và cũng bạo dạn không ngừng phê bình lối viết của sư
phụ.
"Chưa
được," Y thưa với Kosen sau bản thứ nhất.
"Cái
này thì thế nào?ẽ
"Còn
kém, tệ hơn bản trước nữa," đệ tử phê.
Kesen
kiên nhẫn viết bản này qua bản khác cho đến khi đếm được
tám mươi tư bản với chữ "Nhất Ðế" chồng chất mà đệ
tử vẫn chê.
Ðến
một lúc thiền sinh trẻ kia bước ra ngoài trong chốc lát,
Kosen nghĩ: "Bây giờ là lúc ta thoát ra khỏi cái dòm chừng
của nó," và ngài phóng bút viết liền tay với tâm thơ thới
chữ "Nhất Ðế." Quay vào, nguời đệ tử reo lên: "Tuyệt
tác."
20.
Lời Mẹ Dạy
Jiun,
một vị Thiền sư phái Shingon, vốn là một học giả chữ
Phạn thời Tokugawa. Lúc còn là thiền sinh, ngài hay thuyết
giảng cho các đồng môn.
Khi
hay tin, mẹ ngài liền viết cho ngài một lá thư: "Con ạ, Mẹ
không tin rằng khi con hiến mình vào cửa Phật là cốt để
trở thành một cuốn tự điển sống. Biện bác, sành sõi,
vẽ vang và tự màn chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy
dẹp cái trò lên lớp đó đi. Hãy dọn mình tĩnh tu trong một
tiểu viện ở chốn thâm sơn cùng cốc. Dành mọi thì giờ
cho việc thiền quán, may ra con mới ngộ được chánh đạo.