Ðậu
Nành Và Bệnh Tiểu Ðường
Một số
người vẫn cho rằng ăn đường nhiều sẽ bị bệnh tiểu
đường. Sở dĩ có sự hiểu lầm như vậy là do bệnh tiểu
đường được thẩm định từ số lượng đường (glucose)
đo được trong máu. Ðược xem là bình thường khi lượng
đường trong máu ở trong khoảng 70-115 mg/dl.
Thật ra,
bệnh tiểu đường xảy ra khi cơ thể con người không sản
xuất hoặc sản xuất không đủ chất insulin cần thiết hay
chất insulin không hoạt động bình thường. Chất insulin được
xem như là cái chìa khóa mở cửa để cho chất đường đi
vào bên trong các tế bào. Khi vắng mặt chất này, chất đường
không thể vào trong các tế bào, và vì thế đường phải
được thải hồi ra ngoài qua đường tiểu, khi ấy con người
cảm thấy mỏi mệt, khát nước, đi tiểu nhiều, và giảm
trọng lượng.
Bệnh tiểu
đường là căn bệnh gây chết ngườt đứng hàng thứ ba và
hiện nay có khoảng 14 triệu người bị bệnh này ở Hoa Kỳ.
Hai mươi lăm phần trăm trong số này là những người bị
mắc loại I, tức là loại, insulin-dependent, mà cơ thể họ
không thể tự sản xuất, hay sản xuất rất ít insulin. Bẩy
muơi lăm phần trăm còn lại là những người mắc phải loại
II, tức loại, non-insulin dependent, mà cơ thể họ sản xuất
đủ insulin, nhưng nó không hoạt động bình thường.
Bệnh tiểu
đường loại II thường xảy đến với những người mập
trên 40 tuổi, và phần lớn gây nên bởi ăn uống và cách
sống, nhưng cũng có thể do di truyền.
Trước đây,
người ta tin tưởng rằng, chất đường thông thường (a simple
carbohydrate), như mật ong, mật mía, mật maple,.... hấp thụ
nhanh chóng và làm gia tăng độ đường trong máu cấp kỳ hơn
là loại đường tạp (complex carbohydrate) có trong tinh bột
(starches), cho nên những người bị bệnh tiểu đường được
khuyến cáo là nên tránh ăn đường loại simple carbohydrate
và nên dùng loại complex carbohydrate.
Tuy nhiên
những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, một chén cơm và
một chén spaghetti cung cấp chất dinh dưỡng ngang nhau, nhưng
với một số người, chén cơm lại làm cho độ đường trong
máu lên cao hơn và nhanh hơn là chén spaghetti.
Năm 1981,
Dr. David Jenkins thuộc viện đại học, University of Toronto, phổ
biến trên tập san the American Journal of Clinical Nutrition bảng
chỉ số đường (glycemic index), biểu thị độ nhanh của thức
ăn chứa nhiều carbohydrate được chuyển hóa thành glucose và
đưa đường máu lên cao đến mức độ nào đó. Ðường thông
thường (simple sugar), như đường cát, mật ong, nho khô, có
chỉ số đường 100 phần trăm. So sánh với chỉ số chuẩn
này, đậu nành có chỉ số từ 10 đến 20 phần trăm, đậu
lentil có chỉ số trung bình và gạo lức có chỉ số từ 60
đến 69 phần trăm.
Bảng index
cho thấy rằng, đậu nành có tác dụng gia tăng chậm số lượng
đường trong máu. Không giống như các loại đậu khác, đậu
nành có chứa ít tinh bột hơn.
Thực tế,
sự lợi ích của đậu nành đã bắt đầu có từ đầu thế
kỷ thứ 19 khi Dr. John Kellog, người phát minh ăn sáng cornflakes,
đã dùng thực phẩm đậu nành chữa trị bệnh tiểu đường.
Bốn thập
niên sau đó, Dr. A. C. Tsai và các đồng nghiệp của ông đã
thành công trong việc trị liệu các bệnh nhân tiểu đường
bằng chất xơ đậu nành. Ðậu nành nguyên hột có chỉ số
đường glycemic thấp nhất trong tất cả các loại thực phẩm
bởi vì các thực phẩm biến chế thường hấp thụ nhanh chóng.
Bác sĩ James
W. Anderson, M.D., giáo sư y khoa và dinh dưỡng tại viện đại
học University of Kentucky, đã công bố kết quả nghiên cứu
về sự tác dụng của đậu nành trong việc trị liệu bệnh
tiểu đường trên tờ New England Journal of Medicin số ra ngày
3 tháng 8 năm 1995.
Teresa Lancaster,
vị phụ tá nghiên cứu và Jill Emmett, R.N., điều hợp viên
của bác sĩ Anderson cho biết cuộc nghiên cứu liên hệ đến
12 bệnh nhân bệnh tiểu đường loại II trong năm năm.
Mười hai
bệnh nhân được chia thành hai nhóm, một nhóm với chế độ
dinh dưỡng bình thường bằng protein thịt và các sản phẩm
có nguồn gốc từ thịt. Nhóm kia với chế độ dinh dưỡng
đặc biệt với protein đậu nành và sữa đậu nành là chính.
Vào ngày cuối của tuần lễ thứ 8 cả hai nhóm được thử
nghiệm toàn bộ sức khỏe, bao gồm phân, nước tiểu và máu,
sau đó họ được thay đổi chế độ dinh dưỡng ngược lai
nhau trong thời kỳ hai, nghĩa là nhóm ăn thịt áp dụng chế
độ của nhóm ăn đậu nành và ngược lại. So sánh các dữ
kiện thu thập, các nghiên cứu gia thấy rằng chế độ dinh
dưỡng bằng thực phẩm đậu nành có hiệu lực làm giảm
lượng đường trong máu.
Kết quả
nghiên cứu của bác sĩ Anderson nói trên cũng phù hợp với
kết quả do phương pháp trị liệu bệnh tiểu đường loại
II ấn định bởi các nhà khoa học thuộc Ủy Ban Y sĩ Trách
Nhiệm Y Khoa Hoa Kỳ nghiên cứu và khuyến cáo áp dụng từ
năm 1982. Cái đặc biệt của phương pháp này là tiêu thụ
một số lượng thật ít chất béo, dưới 10 phần trăm, nhiều
chất xơ (35 phần trăm), không cholesterol và nhiều complex carbohydrate,
bao gồm rau, trái cây, đậu hạt và tập thể dục thường
xuyên. Sau ba năm áp dụng, 21 bệnh nhân trong số 23 bệnh nhân
đã có hàm lượng đường trong máu bình thường.
Hai cuộc
nghiên cứu khác gần đây được thực hiện bởi viện đại
học Harvard kéo dài trong sáu năm với 108.000 nhân viên y tế
tham dự, cho thấy nhóm người ăn uống thực phẩm có nhiều
chất xơ và có chỉ số đường thấp như bánh mì whole grain,
gạo nức, pasta, cereals, trái cây..., có khả năng giảm nguy
cơ bệnh tiểu đường đến năm mươi phần trăm, so với nhóm
người ăn thực phẩm ít chất xơ và có chỉ số đường
cao như bánh mì trắng, khoai tây, mật ong , nho khô, bắp ngô,
cơm trắng, nước ngọt coca cola..v..v..
Ngoài yếu
tố dinh dưỡng, cách sinh sống cũng có thể là nguyên nhân
tạo nên hay góp phần vào bệnh tiểu đường. Tại Hoa Kỳ,
theo thống kê cho biết những nhóm dân tộc thiểu số như
da đỏ, da đen, Hispanic và gốc Á Châu có tỷ lệ cao về bệnh
tiểu đường loại II.
Các khoa học
gia thuộc Viện Ðại Học Cornell cho rằng, thay đổi môi trường
sinh sống là nguyên nhân gây nên căn bệnh này trong cộng đồng
thiểu số. Họ cũng giải thích là những nhóm dân này có
những nhiễm sắc thể di truyền giúp cho cơ thể chuyển hóa
thực phẩm thành năng lượng chậm hơn nhóm dân da trắng.
Ðiều này
cũng dễ hiểu, vì những nhóm dân này có thể có một chế
độ ăn uống không bình thường, bữa đói bữa no, trong một
môi trường khó khăn, nên cơ thể tự động phản ứng lại
bằng cách tiết kiệm thực phẩm, không cho chuyển hóa hết
một lúc ra năng lượng, hầu giúp cho cơ thể tồn tại. Những
nhóm dân này thuộc hạng mà y học gọi là slow metabolizer ngược
với người Hoa Kỳ da trắng thuộc loại fast metabolizer.
Do vì hoàn
cảnh chiến tranh triền miên và khí hậu khắc nghiệt, đa
số người Việt Nam chúng ta trước đây ở quê nhà làm việc
cực nhọc, lại lo lắng nhiều, nên sau khi sang Hoa Kỳ bỗng
nhiên thay đổi nếp sống với tiện nghi vật chất, ăn uống
dư thừa, lại không hoạt động thể chất nhiều như ở Việt
Nam, làm cái gì cũng có máy móc làm giùm, cũng "remote control"
nên do đó dễ bị bệnh tiểu đường và tim mạch, vì cơ
thể chúng ta cũng thuộc loại chuyển hóa năng lượng chậm
như các dân tộc thiểu số khác. Các thức ăn đầy bổ dưỡng
liên tục đưa vào cơ thể, không được chuyển hóa nhanh thành
năng lượng nên ứ đọng, thế rồi sinh ra bệnh.
Ngoài ra,
các nhà khoa học cũng đã tìm thấy nơi những nhóm dân tộc
thiểu số này có những hiện tượng đối kháng insulin, tức
những hiện tượng gây xáo trộn insulin, làm ngăn trở không
cho đường vào các tế bào.
Nói tóm lại,
đa phần những người mắc bệnh tiểu đường loại I là
do di truyền, phải tùy thuộc nguồn cung cấp insulin từ bên
ngoài. Còn bệnh tiểu đường loại II, cũng có thể do di truyền,
nhưng phần lớn là do ăn uống và cách sống nên có thể chữa
trị hoàn toàn được.
Chế độ
ăn uống bằng thực phẩm rau đậu mà nguồn thực phẩm căn
bản là đậu nành và tập thể dục thường xuyên là phương
pháp trị liệu hữu hiệu nhất hiện nay cho những người
mắc bệnh tiểu đường loại II.
