Sữa
Ðậu Nành
Sữa đậu nành
là tên gọi của một dung dịch lỏng tiết ra trong tiến trình
đầu tiên làm đậu hũ khi hạt đậu nành được xay nhuyễn.
Ở Hoa Kỳ, sữa đậu nành đang được cổ võ mạnh mẽ để
thay thế sữa bò, vì nó có giá trị dinh dưỡng tương đương
và được xem là sạch sẽ hơn, ít bị dị ứng hơn.
Ở Trung Hoa, người
dân đã uống loại sữa này cả ngàn năm nay. Sữa tươi nóng
sản xuất hàng ngày bầy bán trên vỉa hè. Ở Hong Kong và
Ðài Loan, xưởng sản xuất làm việc suốt đêm để sáng
sớm giao sữa tươi nóng đến từng nhà. Ở Việt Nam, trong
dịp viếng thăm Ðà Lạt vào đầu năm 1998, người viết cũng
thấy sữa đậu nành tươi nóng bầy bán trước chợ Ðà Lạt
vào mỗi buổi chiều.
Ở Hoa Kỳ, sữa
đậu nành đã được du nhập vào lục địa này lâu hơn chúng
ta tưởng. Thực tế, sữa đậu nành đầu tiên được sản
xuất vào những năm 1920s bởi Dr. John Harvey Kellogg, cha đẻ
của việc cải cách ăn sáng bằng cereals với sữa đậu nành.
Ngày nay nó rất phổ thông, đặc biệt trong thành phần dân
chúng có sự hiểu biết về dinh dưỡng và trong các giới
quan tâm đến sức khỏe. Tại tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ, có
một làng tên là "The Farm" với dân số hơn 1.000 người, đã
sản xuất hơn 80 gallons sữa đậu nành mỗi ngày để cung
cấp cho dân làng với giá thật rẻ là 7 cent rưỡi một quart.
Người phát ngôn của làng đã tường trình rằng các trẻ
em được nuôi lớn và rất yêu thích sữa đậu nành.
| Thành
Phần |
Sữa
Ðậu Nành |
Sữa
Bò |
Sữa
Mẹ |
| Water
(gram) |
88.60
|
88.60
|
88.60
|
| Protein
(gram) |
4.40
|
2.90
|
1.40
|
| Calories
(Kcal) |
52.00
|
59.00
|
62.00
|
| Fat
(gram) |
2.50
|
3.30
|
3.10
|
| Carbohydrates
(gram) |
3.80
|
4.50
|
7.20
|
| Ash
(gram) |
0.62
|
0.70
|
0.20
|
| Calcium
(mg) |
18.50
|
100.00
|
35.00
|
| Sodium |
2.50
|
36.00
|
15.00
|
| Phosphorus |
60.30
|
90.00
|
25.00
|
| Iron |
1.50
|
0.10
|
0.20
|
| Vitamin
B-1 |
0.04
|
0.04
|
0.02
|
| Vitamin
B-2 |
0.02
|
0.15
|
0.03
|
| Niacin |
0.62
|
0.20
|
0.20
|
Source:
Standard Tables of Food Composition [Japan]
Ðược biết,
sữa đậu nành dễ dùng, mát, và bổ khỏe, có thể uống
nóng, lạnh, trộn với cereal ăn sáng hay biến chế thành sữa
chua. Vì có giá trị dinh dưỡng cao, giá cả lại rẻ, nên
nó đang trở thành một phần dinh dưỡng của chúng ta hàng
ngày.
Trên cơ sở dinh
dưỡng, sữa đậu nành có giá trị tương đương với sữa
bò, như chúng ta xem bảng so sánh nêu trên và những điểm
phân tích dưới đây:
Theo bảng so sánh
trên chúng ta thấy rằng, sữa đậu nành chứa nhiều hơn 51
phần trăm protein, 16 phần trăm ít hơn carbohydrate, 12 phần
trăm ít hơn calories và 24 phần trăm ít hơn chất fat. Trong
khi ấy, sữa đậu nành chứa nhiều hơn 15 lần chất sắt
iron và đặc biệt không cholesterol. Sau cùng sữa đậu nành
không có các chất hóa học và chất cặn của các loại thuốc
anti-biotic hoặc các chất kích thích tố BGH (Bovine Growth Hormone)
mà sữa bò thường bị nhiễm.
Bởi vì sữa đậu
nành ít calcium hơn sữa bò và sữa mẹ, nên nó thường được
pha trộn thêm calcium hay calcium lactate khi làm thành sữa uống
cho trẻ sơ sanh và kết quả cho thấy là sữa đậu nành tốt
hơn sữa bò vì trẻ sơ sanh không bị dị ứng.
Trong thập niên
1950s, sữa đậu nành được sản xuất thương mại hàng loạt
dưới hình thức chai, "non-carbonated soft drink". Nhằm thay thế
các sản phẩm giải khát không calories bằng soymilk drink với
protein và các chất dinh duỡng khác, sản phẩm giải khát mới
này đã có bộ mặt mới với những khẩu hiệu quảng cáo
nhấn mạnh về sức khỏe và dinh dưỡng. Vitasoy, nhà sản
xuất sữa đậu nành loại này đầu tiên trên thế giới,
có trụ sở tại Hong Kong, đã sản xuất hàng loạt với giá
rẻ chỉ bằng 1/3 lon Coca Cola. Năm 1974, Vitasoy đã bán ra hơn
150.000.000 chai 61/2 ounces mỗi năm, trở thành loại nước uống
bán chạy nhất (best selling soft drink) ở Hong Kong.
Sau thành công
của Vitasoy ở Hong Kong là Vitabean, một nhà sản xuất sữa
đậu nành ở Singapore. Ðến cuối thập niên 1960s, Vitabean
hợp doanh cùng với Hoa Kỳ sản xuất sữa đậu nành bán tại
thị trường Nam Mỹ với nhãn hiệu Puma. Không lâu sau đó,
đại công ty Coca Cola quyết định chiến lược mới, thay vì
tìm cách triệt hạ soybean drink, họ tự mở nhà máy sản xuất
sữa đậu nành tại Rio De Janeiro sản xuất Saci. Và tại Ấn
Ðộ, Phi Châu, sữa đậu nành với protein đã thịnh hành với
giá bán chỉ bằng một phần tư giá sữa bò hay dê.
Thừa nhận giá
trị dinh dưỡng của loại nước uống mới này, ba tổ chức
quốc tế liên hệ đến y tế và thực phẩm là UNICEF, FAO
và WHO đã công nhận sữa đậu nành là loại thức uống bổ
dưỡng. Tổ chức sức khỏe thế giới WHO (The World Health Organization)
còn đi xa hơn nữa là xây cất nhà máy sản xuất sữa đậu
nành một triệu dollars tại Indonesia và một cái khác ở Philippine.
Ở Phương Tây,
sự thừa nhận giá trị của sữa đậu nành trở nên lớn
mạnh, phần lớn nhờ ở công trình của Dr. Harry W. Miller.
Vào năm 1936, trong khi làm việc tại Shanghai với tư cách "medical
missionary", Bác sĩ Miller đã bắt đầu thực hiện sữa đậu
nành vào chai hàng loạt và phân phối hàng ngày. Cũng nhờ
vào các nỗ lực của ông mà sữa đậu nành với kỹ thuât
pha trộn (fortified) vitamins và chất khoáng đã du nhập vào
Hoa Kỳ, phần lớn cho trẻ em. Giấc mơ suốt đời của ông
là nhìn thấy sữa đậu nành có mặt ở khắp nơi trên thế
giới, đặc biệt là những vùng có trẻ em chết vì suy dinh
dưỡng. Thật là một nhà khoa học đầy từ tâm.
Các công trình
nghiên cứu của Bác Sĩ Miller và của các nhà dinh dưỡng học
khác trên thế giới, căn cứ vào thực nghiệm của một số
lớn trẻ sơ sinh và trẻ em, đã cho thấy kết luận rõ ràng
rằng sữa đậu nành có thể dùng như là một loại sữa thay
thế toàn hảo và hữu dụng cho sữa bò. Khi pha trộn thêm
một số chất dinh dưỡng như sulphur, calcium, vitamin A, B, C,
và D, cũng như lược bớt chất phytate và chất phytoestrogens,
sự cân bằng dinh dưỡng của sản phẩm đã đạt đến vị
trí lý tưởng của baby food. Năm 1937, Bác sĩ Miller đã đạt
được bản quyền loại sữa cho trẻ sơ sinh đầu tiên mang
tên Soyalac. Giá thành sản xuất loại sữa này chỉ bằng phân
nửa loại sữa bò cho trẻ sơ sinh.
Cũng chính vì
giá trị dinh dưỡng cao và giá thành rẻ, có thể trong tương
lai sữa đậu nành nói chung và sữa cho trẻ em nói riêng sẽ
thay thế thị trường sữa bò, nên đã bắt đầu có sự đánh
phá dai dẳng của kỹ nghệ sản xuất sữa Hoa Kỳ qua những
tài liệu nghiên cứu thuê viết dưới hình thức tài trợ
học bổng cho các sinh viên viết luận án Cao Học hay Tiến
Sĩ của một vài trường đại học không tên tuổi.
Ðể thẩm định
các kết quả nghiên cứu, hội nghị quốc tế lần thứ 2
về vai trò của đậu nành trong việc ngăn ngừa và trị liệu
bệnh đã được tổ chức tại Brussells, Belgium từ ngày 15
đến 18 tháng 09 năm 1996 để thảo luận về sữa đậu nành
cho trẻ sơ sinh và hội nghị đã công bố kết quả của các
nghiên cứu là không có một tác dụng xấu nào.
Ở Nhật Bản
cũng như ở Hong Kong và Hoa Kỳ, sữa đậu nành nước được
vô hộp giấy và sữa đậu nành bột trong lon được bầy
bán ở các tiệm health food stores và một số siêu thị. Sữa
cho baby bầy bán tại các nhà thuốc tây và siêu thị, ngoài
Soyalac, còn có Bonlac, GerberSoy, Nursoy và Isomilk.
Không như các
bác sĩ ở nước khác, nhiều bác sĩ Nhật Bản đã nhìn sữa
đậu nành, như là một loại dược phẩm thiên nhiên có tác
dụng hữu hiệu ngăn ngừa bệnh tiểu đường (vì ít chất
bột), các chứng bệnh gây nên bởi tình trạng xơ cứng động
mạch, như bệnh cao áp huyết, bệnh nhồi máu cơ tim, bệnh
tai biến mạch máu não (vì không có cholesterol, ít chất béo
và rất giầu chất lecithin và linoleic acid); và bệnh thiếu
hồng huyết cầu (vì có nhiều iron và có tác dụng kích thích
sự sản xuất hemoglobin).
So sánh với đậu
hũ, sữa đậu nành có vẻ tiện lợi hơn, dễ làm, làm nhanh
và nhiều protein hơn đậu hũ. Trong những năm gần đây, nhiều
nhà sản xuất sữa đậu nành đã khai triển phương pháp làm
đậu nành có nhiều mùi vị khác nhau để thỏa mãn vị uống
của nhiều người. Họ cũng áp dụng các kỹ thuật cao cấp
để sản xuất, như là xay nhuyễn hỗn hợp đậu nành và
nước nóng ở nhiệt độ cao 238 độ F (129 độ C) trong 8 phút,
kỹ thuật vô hộp giấy có thể lưu trữ cả năm nếu như
không mở ra, và kỹ thuật khử trùng theo phương pháp Pasteur
ở sức nóng 293 độ F trong vài giây (145 độ C) vào cuối
giai đoạn sản xuất.
Có nhiều phương
pháp làm sữa đậu nành theo công nghiệp hiện đại hay thủ
công tại gia đình.
Sau đây chúng
tôi xin giới thiệu một trong những quy trình chế biến áp
dụng tại gia đình hay tiểu công nghệ. Quy trình này là kỹ
thuật xay nhuyễn hỗn hợp đậu nành và nước ở nhiệt độ
sôi do viện đại học Cornell University phát triển. Phương
pháp này nhanh, dễ làm hơn những phương pháp cổ truyền khác,
và nhất là nó làm cho chất enzyme "lipoxygenase" không hoạt
động (inactivate), phá hủy chất trypsin inhibitors, một chất
ngăn cản sự tiêu hóa protein. Nó cũng có tác dụng giảm mùi
ngái của đậu nành và tạo cho sữa đậu nành có mùi vị
giống như sữa thiệt.
Sữa đậu nành
chứa khoảng 3,7 phần trăm protein và mất khoảng 20 phút thực
hiện, giá thành độ 11 cent một quart. (1 quart= 4 cups=0,946 liters
Cách Làm Sữa
Ðậu Nành Tại Nhà
(Một cup rưỡi
hạt đậu nành với 12 cups nước sẽ cho khoảng 7 đến 8 cups
sữa.)
-Vật liệu gồm
có một cup rưỡi hạt đậu nành khô mua ngoài chợ. Nên chọn
mua loại hạt đậu mới dưới một năm, hạt to và đều,
tròn, vỏ mỏng, mầu vàng nhạt. Ðem ngâm hạt đậu trong khoảng
10 tiếng đồng sau khi rửa sạch.
-Khoảng 12 cup
nước sôi (boiling water).
-
Ðậu đã ngâm để
nguyên vỏ cho ráo nước, xong cho vào nồi và đổ vào 12 cups
nuớc.
-
Ðun sôi khoảng một
phút rồi múc ra một phần ba cả nước lẫn đậu bỏ vào
máy xay ở tốc độ cao trong một phút hay cho đến khi thật
nhuyễn, xong đổ qua một nồi khác có phủ vải lọc, lọc
lấy chất sữa, bỏ bã, vắt kỹ để được nhiều sữa.
-
Tiếp tục làm như
vậy hai phần còn lại.
-
Sữa sau khi lọc
xong đem đun sôi ngay trong khoảng 7 phút. Nên nhớ khi gần sôi,
phải hạ lửa xuống thấp để tránh tràn ra ngoài.
-
Trước khi tắt lửa
bạn có thể cho đường, bột vanilla, bột carob, mocha hay coffee
vào, theo sở thích của bạn.
-
Bạn có thể uống
nóng hay lạnh. Sữa đậu nành không để ngoài lâu được
mà phải để trong tủ lạnh sau khi nguội, có thể dùng được
trong một tuần. Cũng có thể để đông lạnh nếu muốn để
lâu hơn.
Với quy trình chế
biến sữa đậu nành của Viện Ðại Học Cornell nói trên,
được xem là mới nhất và được phần lớn các nhà sản
xuất hiện nay áp dụng. Tưởng cũng nên biết, một kỹ thuật
khác mà một số nhà sản xuất còn áp dụng là họ ngâm hạt
đậu nành vào nước sôi hai lần, mỗi lần để sôi trong
5 phút. Lần đầu nước có pha 0,05% hóa chất sodium hydrogen
carbonate (NaHCO 3), lượng nước nhiều gấp 5 lần lượng hạt.
Lần thứ nhì nước có pha 0,04 % hóa chất sodium hydrogen carbonate
(NaHCO 3), lượng nước nhiều gấp 10 lần lượng đậu. Sau
đó họ mới nghiền cùng với nước lần thứ nhì, thành chất
sữa.
Việc ngâm nước
và xử lý nhiệt vào hạt đậu trước khi, trong khi hay sau
khi nghiền thành chất sữa là điều cần thiết để phá hủy
chất trypsin inhibitors, một chất ngăn cản sự tiêu hóa protein,
đồng thời ngăn cản sự phát triển mùi hạt đậu ngai ngái,
còn việc trộn thêm hóa chất sodium hydrogen carbonate (NaHCO 3),
là để tẩy cho có mầu trắng. Chất hóa học này còn lại
trong sữa là một điều không tốt. Người viết không biết
rõ các nhà sản xuất sữa đậu nành người Mỹ gốc Việt
Nam hay tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật nào.
Sữa đậu nành
được bày bán trên thị trường Hoa Kỳ hiện nay gồm có
rất nhiều công ty sản xuất và nhiều thể loại cũng như
mùi vị khác nhau: loại thường (regular), loại low fat, loại
có thêm vitamin, loại mùi nguyên thủy, mùi vanilla, và mùi carob.
Dưới đây là bảng kê khai thành phần dinh dưỡng ba loại
tiêu biểu:
Bảng
Thành Phần Dinh Dưỡng Sữa Ðậu Nành
(1 Cup)
Thành
Phần
Dinh Dưỡng
|
Regular
Soy Milk
(*)
|
Reduced
Fat
Soy Milk
(*)
|
Vitamin-fotified
(1)
|
| Calories |
140
|
100
|
130
|
| Protein
(grams) |
10
g
|
4 g
|
10
g
|
| Total
Fat (grams) |
4 g
|
2 g
|
4 g
|
| Saturated
fat (grams) |
0,5
g
|
0
|
0,5
g
|
| Cholesterol |
0
|
0
|
0
|
| Total
Carbohydrate (g) |
14
g
|
16
g
|
13
g
|
| Sugar |
|
|
7 g
|
| Sodium |
120
mg
|
100
mg
|
105
mg
|
| Potassium |
|
|
440
mg
|
| Iron |
1.8
mg
|
0.6
mg
|
|
| Riboflavin |
0.1
mg
|
0.11
mg
|
|
| Calcium |
80
mg
|
80
mg
|
20%
DV
|
| Vitamin
A |
|
|
30%
DV
|
| Vitamin
E |
|
|
10%
DV
|
| Thiamine
(B-1) |
|
|
10%
DV
|
| Niacin
(B-3) |
|
|
04%
DV
|
| Pantothenic
acid (B-5) |
|
|
06%
DV
|
| Pyridoxin
hyd (B-6) |
|
|
08%
DV
|
| Folate
(B-9) |
|
|
10%
DV
|
| Vitamin
B-12 |
|
|
50%
DV
|
| Phosphorus |
|
|
15%
DV
|
| Magnesium |
|
|
15%
DV
|
| Zinc |
|
|
06%
DV
|
| Biotin
(Vitamin H) |
|
|
04%
DV
|
(*)
Sources: Composition of foods: Legumes and Legume Products, U.S. Department
of Agriculture, Human Nutrition Information Services; Soyfoods Association
of America; Rinzler, Carol Ann, Complete Book of Food (Mahwah, N.J.: World
Almanac, 1987); Penington, Jean, and Helen Church, Food Values of Portions
Commonly Used (New York: Harper & Row, 1985); Bricklin, Mark, Nutrition
Advisor (New York: MJF Books, 1993).
-
EdenSoy Extra Original
Soy Milk
Sữa đậu nành bán
trên thị trường Việt Nam ở vùng Little Saigon do các cơ sở
thương mại Việt Nam sản xuất, cũng như sữa đậu nành làm
tại gia đình, có thể được xếp loại regular soy milk. Tuy
nhiên, sữa đậu nành tốt nhất là loại sữa có pha trộn
thêm (fortified) vitamin và calcium chứa trong hộp giấy bày bán
tại các cửa hàng health food stores.
Không phải tất
cả đều có pha vitamin và calcium, vì thế bạn đọc nên đọc
kỹ nhãn hiệu thực phẩm để biết rõ. Người ăn thuần
thực phẩm rau đậu cần loại sữa có vitamin B-12 và calcium.
Hãy dùng bảng kê khai các loại sữa đậu nành dưới đây
để chọn lựa. Hàm lượng cần thiết do USDA yêu cầu calcium
cho người dân Hoa Kỳ là 1 gram cho người lớn và trẻ em trên
4 tuổi. Hàm lượng này bằng 1.000 milligrams. Nếu nhãn hiệu
thực phẩm nói rằng "Calcium 20 percent" có nghĩa là một serving
sữa có chứa 200 milligrams, hay 20 phần trăm hàm lượng calcium
hằng ngày cần.
Bảng Thành Phần
Dinh Dưỡng Sữa Ðậu Nành Các Loại
|
Brand
& Flavor
|
Milligrams
of
calcium
per
1 cup
|
Calories
per
1 cup
|
Grams
of protein
per 1 cup
|
Grams
of
fat per
1 cup
|
| EdenSoy
Extra Original |
200
|
130
|
10
|
4
|
| EdenSoy
Extra Vanilla |
200
|
150
|
6
|
3
|
| Fat-Free
Soy Moo |
400
|
110
|
6
|
0
|
| Westsoy
Plus Plain |
300
|
130
|
6
|
4
|
| Westsoy
Plus Vanilla |
300
|
150
|
6
|
4
|
| Westsoy
Plus Cocoa |
300
|
190
|
6
|
4
|
| Westsoy
Lowfat Plain |
200
|
90
|
4
|
2
|
| Westsoy
Lowfat Vanilla |
200
|
120
|
4
|
2
|
| Westsoy
Non Fat Plain |
200
|
80
|
3
|
0
|
| Westsoy
Non Fat Vanilla |
200
|
80
|
3
|
0
|
| Silk |
300
|
80
|
4
|
2.5
|
| Silk
Chocolate |
300
|
100
|
4
|
2.5
|
| Pacific
Lite Plain |
300
|
100
|
4
|
2.5
|
| Pacific
Lite Vanilla |
300
|
110
|
4
|
2.5
|
| Pacific
Lite Cocoa |
350
|
160
|
4
|
2
|
| Pacific
Ultra-Plus Plain |
300
|
160
|
6
|
5
|
| Pacific
Ultra-Plus Vanilla |
300
|
170
|
6
|
5
|
Solair
Original
(dry instant
made from soybeans ) |
300
|
110
|
5
|
3
|
| Solair
Chocolate |
200
|
114
|
5
|
3
|
| Solair
Vanilla Bean |
200
|
98
|
3
|
2
|
| Better
Than Milk Plain Light (dry instant made from tofu) |
500
|
80
|
2
|
5
|
| Better
Than Milk? Vanilla |
500
|
90
|
2
|
5
|
| Better
Than Milk? Plain |
80
|
100
|
2
|
2.5
|
| Better
Than Milk?Carob |
350
|
114
|
2
|
2
|
| Better
Than Milk? Chocolate |
350
|
98
|
1
|
2
|
