Sinh
trưởng tại miền Ðông Tây-Tạng vào năm 1936, Trưởng Lão
Ðại Sư Garchen Rinpoche thuộc giòng Drikung Kagyu là hoá thân
của một vị đại thành tựu giả tên Siddha Gar vào thế kỷ
13 -- đệ tử tâm truyền của ngài Kyobpa Jigten Sumgon,
vị Tổ lừng danh của giòng phái Drikung Kagyu của Phật
Giáo Tây Tạng. Trong thời đại Cổ Ấn, Ðại Sư Garchen Rinpoche
chính là hoá thân của đại thành tựu giả Thánh Thiên (Aryadeva),
vị đệ tử đản sanh từ bông sen của ngài Long Thọ Bồ
Tát. Vào thế kỷ thứ 7, Ðại Sư Garchen Rinopche là Lonpo
Gar tức vị khâm sai đại thần của Pháp vương Songsten
Gampo, vị vua lừng danh trong lịch sử Tây-Tạng. Ðại
Sư Garchen Rinpoche được vị Tổ tiền nhiệm của giòng Drikung
Kyabgon Zhiwe Lodro tuyên nhận là một hoá thân vào năm lên 7
tuổi tại miền Ðông Tây Tạng. Sau đó, khi tròn 22 tuổi,
vừa hoàn tất được 2 năm rưỡi tu ẩn thất thì ngài đã
bị Trung Cộng giam cầm trong suốt 20 năm, trải qua cuộc Cách
Mạng Văn Hoá trong lao tù. Trong thời gian đó, Ðại Sư Garchen
Rinpoche đã tiếp tục thọ pháp từ bổn sư của ngài là đại
tôn sư Khenpo Munsel thuộc giòng Nyingma. Trải qua bao gian
khổ và không sờn lòng tu tập, ngài đã chứng đắc trí huệ
viên mãn. Ngài được biết đến rất nhiều qua những
chứng đắc sâu dày, cũng như qua tình yêu thương và tâm từ
bi vô bờ bến dành cho tất cả chúng sinh. Trên tay ngài lúc
nào cũng cầm một ‘kinh luân’ (prayer wheel), bất luận là
đang làm gì, chiếc kinh luân đó cũng được ngài quay
vòng liên tục để phóng toả ánh từ bi đến khắp các cõi.
Garchen Rinpoche nói, ánh từ bi đó chính là ân phước
của đức Bạch-Quan-Âm ban truyền. Ánh từ bi đó cũng
phát ra tự trong đáy lòng của ngài (www.garchen.net).
Vào
ngày 3 tháng Giêng năm 2007, các đạo hữu trong nhóm tu
học Orgyen Choling tại Việt Nam đã kết nối và nhìn
thấy được hình ảnh sống động của Garchen Rinpoche
qua màn ảnh của máy điện toán liên mạng trong thời
gian ngài đang đi hoằng hoá tại tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ.
Các đạo hữu đã được Garchen Rinpoche ban cho khẩu truyển
một bài kệ ngắn của ngài Atisha khẩn nguyện đức Quan-Âm
(Supplication to Tara by Atisha), cũng như khẩu truyền câu
minh chú của ngài Bạch-Quan-Âm (White Tara). Sau đó, đại
sư Garchen Rinpoche đã giải đáp thắc mắc và ban những
lời khai thị sau đây cho các anh chị đạo hữu trong nhóm
Orgyen Choling tại Việt-Nam.
Câu
hỏi thứ nhất:
Vẻ
bên ngoài của con rất điềm tĩnh nhưng bên trong thường không
yên, vọng tưởng nổi lên như sóng cồn. Cầu mong đạo
sư chỉ dạy cho con pháp môn tu tập giúp cho tâm được an
định.
Trả
lời của Garchen Rinpoche:
Ðối
với những hành giả sơ căn mới bước trên con đường tu
tập thì cách tốt nhất là luôn suy gẫm và quán chiếu về
Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm (Four Thoughts that Turn
the Mind). Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm đó là (1) thân người
hiếm quý khó tìm, với đầy đủ thuận duyên để có thể
bước đi trên con đường đạo, (2) nhân quả, (3) vô thường
và (4) những khiếm khuyết, của cõi ta-bà. Tất cả những
vọng tưởng đều phát xuất từ tâm vị kỷ. Gốc rễ
của mọi vọng tưởng là do chấp ngã. Nếu con chấp
ngã càng nhiều thì những xúc cảm ô trược và vọng tưởng
trong con sẽ càng trở nên ào ạt. Khi càng quán chiếu
về Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm thì sẽ càng hiểu được rằng
tâm vị kỷ và chấp ngã là điều sai trái, tạo thêm ý nghiệp,
làm cho con thêm phiền não, đánh mất đi thời giờ tu
tập quý báu mà thôi. Hiểu được như vậy rồi thì
con sẽ phải thực tập vị tha. Khi bớt chấp ngã và
tâm vị kỷ không còn mãnh liệt thì vọng tưởng cũng sẽ
dần dần lắng xuống vì những phiền não sẽ không dễ nổi
lên, hoặc nếu có nổi lên thì cũng sẽ được nhận diện
để chặt đứt đi ngay tức khắc.
Ðối
với những hành giả trung căn thì phải luôn luôn nuôi dưỡng
và thực hành Bồ-Ðề tâm, là tâm nguyện
cao cả hy sinh cho người khác, luôn luôn quên mình mà xả thân
làm những công việc lợi lạc cho chúng sinh, cùng với
ý nguyện muốn đắc quả giác ngộ cũng vì lợi lạc cho chúng
sinh. Các con phải luôn luôn cố gắng nuôi dưỡng một
tâm lành. Tâm tốt lành (a good heart) hay tâm hoà nhã (a
kind heart) là điều mà đức Ðạt Lai Lạt Ma thường xuyên
nhắc nhở chúng ta. Khi tâm lành và tâm hoà nhã được
nuôi dưỡng trong mỗi một phút giây thì vọng tưởng cũng
sẽ dần dần giảm thiểu.
Riêng
đối với các hành giả thượng căn thì các con sẽ phải
quán chiếu để hiểu về bản chất của tâm,
về bản chất của các xúc cảm của tâm ô trược. Tâm
ô trược hay các xúc cảm phiền não không khác chi những cơn
sóng ồ ạt trong biển cả. Sóng chính là biển, biển
không thể không có sóng. Sóng không khác biển. Cả hai
đều hợp nhất. Cũng như thế, vọng tưởng không nằm ngoài
chân tâm. Vọng tưởng và chân tâm trên thực chất chỉ
là một. Khi sóng tan đi, thì tan đi về đâu? Không đi
đâu cả. Sóng trở thành biển. Sóng và biển
hợp nhất.
Khi
các con thực tập yêu thương, luôn quan hoài đến kẻ khác
trong tinh thần vô chấp thì đó chính là tình yêu tối thượng
không gì sánh bằng. Khi trong tâm lúc nào cũng chan hoà
tình yêu thương tối thượng thì sân hận sẽ giảm thiểu,
đố kỵ sẽ giảm thiểu, vọng tưởng sẽ giảm thiểu.
Nguồn gốc đưa chúng sinh đoạ vào các cõi thấp chính là
tâm sân hận và tâm oán ghét. Do đó, ngay cả bây giờ
có phải mất mạng đi nữa thì các con cũng không được phát
tâm sân hận hay oán ghét một ai, tuyệt đối không được
xoay lưng lại với tình yêu thương! Ðây chính là những phẩm
hạnh cao cả của giác ngộ.
Cái
gì có thể giúp các con thực hành được những điều trên?
Chánh niệm và tỉnh thức có thể giúp được các con.
Khi tâm sân vừa lóe lên, thì hãy ngay lập tức lấy chánh
niệm ra để dập tắt. Rồi sau đó, hãy tỉnh giác và
quán chiếu xem cơn giận này từ đâu đến, do đâu mà ra.
Hãy cố gắng nhìn vào bản chất của cơn giận. Cơn
giận này có thật hay không có thật? Thực chất của cơn
giận nằm ở đâu? Hay cũng chỉ là duyên khởi nên trong
cơn giận, hãy nhận ra được tánh Không. Nếu các con
chịu khó giữ chánh niệm và quán chiếu sâu sắc trong mỗi
một phút giây thì một ngày kia, các con sẽ tự giải thoát
mình ra được hết tất cả các vọng tưởng và xúc cảm
ô trược.
Ðức
Jigten Sumgon [vị Tổ khai sáng giòng truyền thừa Drikung Kagyu
của Phật Giáo Tây Tạng] đã từng nói:
‘Tất
cả chư Phật đều nằm trong tâm của chúng sinh.’
Ðiều
này có nghĩa là chư Phật trong ba đời phát xuất từ
chính sự thực hành chánh niệm và tỉnh giác của chúng sinh.
Tâm của Phật và tâm của chúng sinh cùng một bản chất.
Khi thực hành chánh niệm và tỉnh giác thì các con sẽ biết
được đâu là sai, đâu là đúng. Từ đó, trí tuệ nảy
sinh. Khi trí tuệ nảy sinh thì các xúc cảm ô trược
và vọng tưởng sẽ được tiêu trừ ngay từ trong trứng nước.
Thật
ra, tâm của Phật và tâm của chúng sinh cùng một bản chất,
cùng là nước. Nhưng tâm của Phật giống như nước
trong văn vắt, trong khi tâm của chúng sinh thì giống như nước
bùn đục ngầu. Bùn đục trong tâm của chúng sinh chính
là những xúc cảm ô trược và vọng tưởng, là tâm chấp
ngã, bám víu vào cái ta hư huyễn. Dù là như vậy nhưng
bùn đục này cũng đâu có nằm ngoài nước, đâu có tách
rời khỏi nước? Giống như những xúc cảm ô trược
và vọng tưởng cũng không nằm ngoài tâm, không tách biệt
khỏi tâm nhưng khi biết cách thanh tịnh hoá thì bùn dơ sẽ
lắng xuống, nước trong sẽ trồi lên.
Nếu
ngày hôm nay, các con biết quán chiếu để giúp cho bùn dơ
lắng xuống và để cho nước trong trồi lên thì mỗi ngày
mỗi chút, mỗi tháng mỗi chút, mỗi năm mỗi chút, bùn cạn
sẽ càng lắng và phía trên mặt nước sẽ chỉ còn toàn nước
trong. Ðến một lúc nào đó, khi tâm tỉnh giác của
các con hoàn toàn sáng ngời và mãnh liệt nhất, đó là khi
các con sẽ thành đạt Phật quả.
Ðức
Phật đã giảng dạy 84,000 pháp môn, nhưng các con chẳng nên
lo lắng có quá nhiều pháp môn [chẳng biết nên theo pháp môn
nào]. 84,000 pháp môn đó cũng không nằm ngoài hai chân
lý huyền diệu, là tục đế và chân đế, là sự thật
tương đối và và sự thật viên mãn. Sự thật thứ nhất
là sự thật tương đối, là tình yêu thương, lòng quan
hoài vô chấp, vô vị kỷ đến vô lượng chúng sinh. Ðây
chính là tâm Bồ-Ðề tương đối, là tâm tốt lành, tâm hoà
nhã, tâm từ ái. Nhưng muốn thực hành được tâm Bồ-Ðề
tương đối thì các con cần có một hiểu biết đúng đắn
về nhân quả! Còn sự thật thứ nhì, sự thật viên
mãn là dùng chánh niệm và tỉnh giác để quán chiếu trực
nhận tánh Không, trực nhận vô ngã. Khi trực nhận vô
ngã thì Bồ-Ðề tâm sẽ viên mãn như trăng tròn. Chỉ cần
các con thực hành sâu sắc hai chân lý huyền diệu này là
các con đã thực hành hết 84,000 pháp môn của đức Phật
rồi.
Câu
hỏi thứ nhì:
Theo
con được biết, để có thể tu tập Kim-Cang Thừa, hành giả
cần hội đủ các phẩm tính: Bồ-Ðề tâm mạnh mẽ, trí
tuệ sắc bén, và một sự tinh tấn mãnh liệt. Với những
yêu cầu như trên thì Phật tử chúng con ở đây khó có thể
là những bình chứa thích hợp. Nhưng [chúng con vẫn khao
khát thực hành Kim-Cang Thừa], có lẽ là do đã có duyên tiền
kiếp với Kim-Cang Thưà. Cũng có lẽ là vì lâu nay chúng
con không được gần gũi với các đạo sư [nên chưa được
hướng dẫn để có thể phát triển đầy đủ các phẩm tính].
Chúng con kính xin ngài ban cho lời chỉ dạy để chúng con có
thể an tâm và vững bước tu hành.
Trả
lời của Garchen Rinpoche:
Nếu
muốn tu tập để đạt được chánh giác thì phải cần có
trí tuệ và từ bi. Ðó là hai phẩm tính hỗ tương cho
nhau. Khi trí tuệ được vun bồi thì nương vào trí tuệ mà
từ bi sẽ phát triển. Có trí tuệ thì không thể nào không
quan hoài đến tất cả chúng sinh không sót một ai. Và khi
từ bi được vun bồi thì tự khắc trí tuệ cũng sẽ phát
triển. Không ai có được trí tuệ và từ bi qua đêm
mà phải vun bồi từng chút, từng chút, khởi đầu bằng những
thực hành Bồ-Ðề tâm tương đối, biết chăm sóc, thương
yêu, hỉ xả với những người chung quanh trong một tinh thần
vô chấp trước.
Riêng
đối với các con là những hành giả muốn tu tập theo Kim-Cang
Thừa thì các con còn phải vun bồi một cái nhìn hoàn toàn
thuần tịnh. Kiến của các con phải luôn luôn là kiến
thuần tịnh. Có được kiến thuần tịnh nghĩa là phải
luôn luôn nhìn thấy bản chất của thế giới hiện tượng
bên ngoài và bên trong thảy đều thuần tịnh như nhau.
Bên ngoài là thế giới mà chúng ta đang sinh sống. Bên
trong của thế giới này là tất cả chúng sinh.
Thế
giới bên ngoài thuần tịnh. Chúng sinh bên trong thuần tịnh.
Rồi nương vào kiến thuần tịnh này mà thực tập các giai
đoạn tu tập quán tưởng Bổn Tôn Hộ Phật (yidam deity practice)
theo truyền thống Kim-Cang Thừa để thuần tịnh hoá thân khẩu
ý của chính mình.
Riêng
về nỗi lo âu không có đạo sư ở gần bên để hướng dẫn
các con tu tập và phát triển các phẩm hạnh... thật ra, các
con cũng vẫn đang có đầy đủ đạo sư bên ngoài và đạo
sư bên trong.
Ðạo
sư bên ngoài... tuy không nhất thiết là một vị thầy bằng
xương bằng thịt nhưng các con nên hiểu rằng ở khắp không
gian này có vô lượng chư Phật và chư Bồ Tát đang ban phước
lành cho các con và cho vô lượng chúng sinh. Có thể các con
không thấy được bằng mắt phàm nhưng chư Phật và chư Bồ-Tát
đang hiện diện khắp mọi nơi giúp các con trên con đường
tu.
Còn
đạo sư bên trong... đó chính là chánh niệm và tỉnh giác
trong các con. Nếu không có được một đạo sư bằng
xương bằng thịt bên ngoài thì người thầy tốt nhất là
kinh sách, luận giải về Phật Pháp mà các con có thể tự
đọc, tự trau dồi, tự tìm hiểu và quán chiếu, để có
thể giúp các con thực hành và phát triển chánh niệm và tỉnh
giác bên trong. Chẳng hạn như tập sách ‘Ba Mươi Bảy
Pháp Hành Bồ Tát Ðạo’ [của ngài Ngulchu Thogme Zangpo],
tập sách đó chính là một người thầy tài giỏi nhất mà
các con có thể nương tựa vào. Nếu hằng ngày các con đọc
tập sách này rồi suy niệm và quán chiếu để hiểu được
giáo pháp huyền diệu, đâu là đúng, đâu là sai, tìm hiểu
cách thức làm thế nào để giữ được chánh niệm và tỉnh
giác trong mọi tình huống... Nếu các con làm được như
vậy trong một tinh thần hết sức cẩn trọng thì cho dù không
có được đạo sư bằng xương bằng thịt bên cạnh thì các
con cũng vẫn có thể tu tập, chẳng những theo Kim-Cang
Thừa, mà là bất kỳ Pháp nào cũng vậy.
Lại
thêm một thí dụ nữa. Nói đến quy y thì có quy y bên ngoài
và quy y bên trong. Quy y bên ngoài là quy y Tam Bảo, nghĩa
là quy y Phật, Pháp và Tăng.
Còn
quy y bên trong ?
Chánh
niệm và tỉnh giác chính là Phật. Hãy quy y vào chánh niệm
và tỉnh giác bên trong các con.
Bất
kỳ trong giây phút nào nếu các con cũng miên mật thực tập
chánh niệm và tỉnh giác thì đó chính là Pháp. Hãy quy
y vào những thực hành chánh niệm và tỉnh giác bên trong các
con.
Khi
miên mật thực hành chánh niệm và tỉnh giác, các con sẽ
trở nên những con người tốt hơn, lành hơn, gần với Phật
tánh hơn thì đó chính là Tăng. Hãy quy y vào tăng
đoàn của những con người tốt lành bên trong các con.
Nếu
hiểu được như thế thì các con sẽ thấy là tất cả Tam
Bảo đều nằm trong chính chánh niệm và tỉnh giác trong mỗi
chúng ta! Ðó là cách hiểu sâu sắc nhất để có thể giúp
các con thực hành Kim-Cang Thừa hay Mật-Pháp.
Tất
cả chúng sinh đều có Phật tánh, không khác chi chư Phật
có Phật tánh. Tâm của Phật và tâm của chúng sinh không xa
lià nhau mà mang tánh đồng nhất. Nhưng tâm của chúng
sinh giống như thể những tảng nước đá đặc cứng. Trong
khi tâm của Phật thì như thể giòng nước tuôn chảy không
gì ngăn trở. Chính vì chúng sinh chấp ngã mà sinh ra vọng
tưởng. Vọng tưởng chính là khí trời giá rét biến
giòng nước trong tâm chúng sinh trở thành những khối nước
đông đặc!
Muốn
giúp cho những khối nước đá này tan chảy ra thành giòng
nước mềm mại thì chúng sinh cần phải phát khởi và nuôi
dưỡng Bồ-Ðề tâm! Bồ-Ðề tâm (tương đối và viên
mãn) chính là sức nóng có khả năng làm tan chảy khối nước
đá trong tâm chúng sinh. Khi đá tan ra thành nước, đó là khi
chúng sinh đạt được Phật quả!
Muốn
phát khởi, đào luyện và nuôi dưỡng Bồ-Ðề tâm thì trước
hết phải hành trì sáu pháp Ba-la-mật [bố thí, trì giới,
nhẫn nhục,tinh tấn, định và tuệ], và đối với các con
là những hành giả muốn tu tập theo Kim-Cang Thưà thì phải
miên mật hành trì các pháp quán tưởng Bổn-Tôn Hộ-Phật
(yidam deity practice), chú trọng vào các phẩm tính giác ngộ
của các vị Hộ-Phật để giúp các con đến gần hơn với
phẩm tính giác ngộ trong chính mình. Trong bốn câu nguyện
Phát Bồ-Ðề tâm sau đây...
Bồ-Ðề
tâm vương, tâm tối thượng, tâm vô cùng cao quý,
Nơi
tâm ấy chưa sinh, xin cho tâm ấy nảy sinh,
Nơi
tâm ấy đã sinh, xin cho tâm ấy đừng bao giờ thoái chuyển
Mà
vĩnh viễn mỗi ngày một vươn lên, vươn lên cao hơn.
(*)
Nơi
tâm ấy chưa sinh, xin cho tâm ấy nảy sinh... là nương
vào Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm (Four Thoughts that Turn the Mind)
mà phát khởi tâm Bồ-Ðề.
Nơi
tâm ấy đã sinh, xin cho tâm ấy đừng bao giờ thoái chuyển...
là nương vào sáu pháp Ba-la-mật mà hành trì miên mật.
Mà
vĩnh viễn mỗi ngày một vươn lên, vươn lên cao hơn...
là nương vào các giai đoạn phát khởi (generation stage) và
thành tựu (completion stage) của các pháp môn hành trì và quán
tưởng Bổn-Tôn Hộ-Phật của Mật-điển để giúp cho các
con hợp nhất với tâm giác ngộ của chư vị giác ngộ.
Thầy
Khenpo Tsultrim Tenzin giúp thông dịch từ Tạng-ngữ qua Anh-ngữ
những lời khai thị của Ðại sư Garchen Rinpoche dành cho các
đạo hữu trong nhóm tu học Orgyen Choling tại Việt-Nam. Tâm-Bảo-Ðàn
ghi chép và thông dịch từ Anh-ngữ qua Việt-ngữ ngày 3/1/2007.
Tài liệu Việt dịch trên đây được hiệu đính dựa trên
những ghi chép của Tâm-Bảo-Ðàn (www.vietvajra.org). Mọi sai
sót là của người chuyển Việt-ngữ. Mọi công đức xin hồi
hướng pháp giới chúng sinh.
(*)
Bốn câu nguyện Phát Bồ-Ðề Tâm do Chơn Pháp Nguyễn Hữu
Hiệu chuyển Việt-ngữ.
PDF
File (154KB)