Kinh
Văn:
Người
Trung Phẩm Trung Sanh ấy. Nếu có chúng sanh hoặc một ngày
đêm trì bát giới trai, hoặc một ngày một đêm trì giới
Sa di, hoặc một ngày một đêm trì Cụ Túc giới, oai nghi không
kém thiếu. Ðem công đức này hồi hướng, nguyện sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
Do
giới hương huân tu, hành giả này lúc lâm chung thấy A Di Ðà
Phật cùng các quyến thuộc phóng kim sắc quang, cầm bửu liên
hoa đến trước hành giả. Hành giả tự nghe hư không có tiếng
khen rằng: Này Thiện Nam tử, như ngươi, hàng thiện nhơn,
tùy thuận lời dạy tam thế chư Phật nên ta đến rước.
Hành giả tự thấy thân mình ngồi trên hoa sen, hoa sen liền
búp lại, sanh trong ao báu Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Qua bảy ngày liên hoa mới nở. Hoa nở rồi, mở mắt chắp
tay tán thán Thế Tôn, nghe pháp hoan hỉ được quả Tu Ðà
Hoàn. Qua nửa kiếp thành bực A La Hán. Ðây gọi là người
Trung Phẩm Trung Sanh vậy.
Lược
giảng:
Đoạn
trên là Đức Thế tôn nói về bực trung Phẩm Trung sanh ở
thế giới Cực Lạc,. Chúng sanh muốn được sanh vào phẩm
này là những ai? Đức Phật nói:"Nếu có chúng sanh hoặc một
ngày đêm trì bát giới trai, hoặc một ngày một đêm trì
giới Sa di, hoặc một ngày một đêm trì Cụ Túc giới, oai
nghi không kém thiếu. Ðem công đức này hồi hướng, nguyện
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới". Nếu như có chúng sanh
phát lòng thành gìn giữ cho trọn vẹn tám phần trai giới,
một ngày một đêm, hoặc có người không thọ trì tám phần
trai giới mà phát tâm lành nguyện giữ giới của Sa Di (tám
phần trai giới và cộng thêm giới không giữ tiền) trong một
ngày một đêm, hoặc có người không thọ trì mười giới
của Sa Di mà phát tâm đại thiện lợi ích chúng sanh mà nguyện
giữ trọn giới Cụ Túc tức là 250 giới Tỳ Kheo và 348 giới
của Tỳ Kheo Ni và những oai nghi như đi đứng nằm ngồi đều
giống như đức tướng của một vị Tỳ Kheo trong một ngày
một đêm mà đem những công đức mà mình đã làm hồi hướng
về thế giới Cực Lạc, thời lúc lâm chung đức Phật A Di
Đà và hàng quyến thuộc, phóng quang sắc vàng và cầm hoa
sen báu đến trước người và tự chính người đó nghe từ
trên hư không có tiếng khen rằng:" Này Thiện Nam tử, như
ngươi, hàng thiện nhơn, tùy thuận lời dạy tam thế chư Phật
nên ta đến rước", Trong lời khen đã nói rõ là vì người
thuận theo lời dạy của ba đời chư Phật nên ta đến đây
để rước. Hàng quyến thuộc tức là chư vị Bồ Tát và
thánh chúng ở cực Lạc, một khi người sanh về đây thời
hoa sen là mẹ, Cha là đức Di Đà, và hết thảy bồ Tát thánh
chúng đều là quyến thuộc.
Này
quí Phật tử hãy suy nghĩ cho kỷ câu:" Này Thiện Nam tử,
như ngươi, hàng thiện nhơn, tùy thuận lời dạy tam thế chư
Phật nên ta đến rước".
Nói
Vì thuận theo ba đời chư Phật, vậy những gì mà chúng ta
đang vâng lời hành theo những lời dạy của đức Như Lai
Thích Ca để tu pháp môn tối diệu của Chư Phật quá khứ
đã làm, hiện tại đương làm và vị lai sẽ làm, cho nên
hãy thận trọng đấy. Đừng cho mình là chứng ngộ, mà phát
ra lời vô trí thức để tự cho mình là thanh cao, phê phán
pháp môn này.
Tôi
đã chủ trương cho những ai đã quy y với tôi, thì không nên
biện luận tranh cãi pháp môn nào tốt hay pháp môn nào là
không tốt, mà hãy tự mình chứng lấy và làm theo. Mình có
chứng được cảnh giới mà người tu học cần phải chứng
ngộ chưa mà dám phê phán chứ? Tôi với con mắt phàm phu này
không thể lấy được quí vị đã chứng hay chưa,, nhưng nếu
có người hỏi tôi,"thầy xem coi tôi đã ngộ chưa" thì tôi
sẽ dám trả lời với quí vị rằng:" quí vị vốn chưa chứng
được cảnh giới này" .
Vì
sao tôi biết? Không có gì cả, vì nếu như một trong những
quí vị đã chứng ngộ, thời có pháp để cho quí vị phê
phán hay sao? Thật sự có chánh pháp, tà pháp hay sao chứ? Đều
không có. Kinh Kim Cang nói" Chánh Pháp còn phải bỏ huống gì
là tà pháp ư". tất cả pháp đều không có, nhưng nếu như
có người dùng bộ óc thông minh không của mình mà cho là
không thời là đã lầm rồi đấy.
Phật
Pháp thật là kỳ diệu thay, đây mới thật là trung đạo.
Khi giảng Kinh Kim Cang tôi đã giảng rõ cho quí vị, vậy quí
vị muốn nói những gì?
Hãy
nói đi!
Nói
mà nói, không nói mà lại nói, mới thật diệu Pháp, cho nên
hãy cố gắng, dụng côngchơn chánh thời quí vị sẽ cảm
nhận được mùi vị này. Cái mùi này không sao diễn hết,
mà phải tự mình chứng biết, Nếu không sự giải thoát chơn
chánh, thì đức Như lai đâu có nhọc lòng lo lắng, mà giảng
cho chúng ta hơn 84 ngàn pháp như vậy.
Chư
Phật Tử mến thương ơi! Hãy vì sự giải thoát chơn chánh
mà đến với đạo, đừng đến vì mục đích khác, nương
bóng từ bi mà chuyên làm việc ma, ra vẻ người tu hành nhưng
bên trong chứa đầy buị bầm. Đối với việc tu đạo, chỉ
cần quí vị thành tâm sửa đổi, thành tâm nói thật, thời
chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ, sẽ không quảnh mặt
làm ngơ bỏ quí vị đi đằng sau đâu. Cho nên, quí vị hãy
cố gắng lên, đừng đi được vài bước rồi bị cảnh trần
làm giao động không còn tâm chánh tín nữa.
Trong
kinh Vô Lượng Thọ, Phật Thế Tự Tại Vương đã dạy Tỳ
Kheo Pháp Tạng rằng:" nước của biển tuy nhiều, nhưng nếu
nước thành tâm, lấy thùng mút nước của biển không ngừng
nghĩ, thì một ngày kia nước trong biển cũng bị người mút
hết".
Cho
nên, người Phật Tử thành tâm sửa lỗi lầm của mình thời
phải phát tâm cho vững chắc, hôm nay sữa một chút,
ngày mai chùi một chút, thời mây sẽ tan, bầu trời sẽ trông
sáng, nếu như mới đầu thực hành mà bị bụi trần còn
bám dính thời hãy cố gắng thêm chớ đừng thấy như vậy
mà sanh tâm thối lui.
Kinh
Văn:
Trung
Phẩm Hạ Sanh ấy.
Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhơn hiếu dưỡng cha mẹ, làm
việc nhơn từ thế gian. Người này lúc lâm chung, gặp thiện
tri thức vì họ mà nói rộng những sự vui nơi quốc độ
Phật A Di Ðà, cùng nói bốn mươi tám nguyện của Pháp Tạng
Tỳ Kheo, người này nghe xong sanh tâm hoan hỷ mà qua đời.
Ví như khoảng thời gian tráng sĩ co duỗi chân tay, liền được
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Qua bảy ngày, gặp
Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí Bồ Tát, nghe pháp hoan hỉ được
quả Tu Ðà Hoàn. Qua một tiểu kiếp thành A La Hán. Ðây gọi
là người Trung Phẩm Hạ Sanh vậy.
Lược
giảng:
Đoạn
kinh văn trên đức Phật bảo bà Vi Đề Hy và Tôn Giả A Nan
cũng như chúng ta ngày nay. Ai là người sẽ được sanh vào
trung phẩm hạ sanh của thế giới Cực Lạc. nếu như có người
nữ hoặc người nào trên thế gian này, không làm việc ác,
chỉ ưa vui thích giúp người khác, có lòng hiếu thuận cha
mẹ, làm những việc mà người trong cõi nhân gian này cho là
thiện không làm hại đến người khác.
Lúc
lâm chung, do nhờ có thiện duyên nên gặp được bực thiện
tri thức, vì người này mà nói rộng về sự trang nghiêm của
thế giới Cực Lạc, và nói cho người nghe 48 đại nguyện
của Bồ Tát Pháp Tạng Tỳ Kheo,(Phật A Di Đà), sau khi nghe
vị thiện tri thức nói những lời vậy, vị thiện nam, tín
nữ đó nghe xong không sanh lòng nghi hoặc, mà vui mừng liền
qua đời. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi như người tráng
sĩ co duỗi tay của mình, thời vị thiện nam tín nữ đó liền
vãng sanh về thế giới cực lạc trong hoa sen bảy báu vào
bực trung phẩm hạ sanh.
Bốn
mười tám nguyện đó là:
01.
Quốc độ vô ác đạo nguyện
02.
Bất đọa ác thú nguyện
03.
Thân tất kim sắc nguyện
04.
Tam thập nhị tướng nguyện
05.
Thân vô sai biệt nguyện
06.
Túc mạng thông nguyện
07.
Thiên nhãn thông nguyện
08.
Thiên nhĩ thông nguyện
09.Tha
tâm thông nguyện
10.
thần túc thông nguyện
11.
Biến cúng chư Phật nguyện
12.
Định thành chánh giác nguyện
13.
Quang minh vô lượng nguyện
14.
Xúc quang an lạc nguyện
15.
Thọ mạng Vô Lượng nguyện
16.Thanh
văn vô số nguyện
17.
Chư Phật xưng tán nguyện
18.
Thập niệm tất sanh nguyện
19.
Văn danh phát tâm nguyện
20.
Lâm chung tiếp dẫn nguyện
21.
Hối quá đác sanh nguyện
22.
Quốc vô nữ nhân nguyện
23.
Yém nữ chuyển nam nguyện
24.
Liên hoa hóa sanh nguyện
25.
Thiên nhân lễ kính nguyện
26.
Văn danh đác phước nguyện
27.
Tu thù thắng hạnh nguyện
28.
Quốc vô bất thiện nguyện
29.
Trụ chánh định tụ nguyện
30.
Lạc như Lậy tận nguyện
31.
Bất tham kế thân nguyện
32.Na
la diên thân nguyện
33.
Quang minh huệ biện nguyện
34.
Thiện hộ pháp yếu nguyện
35.
Nhứt sanh bổ xứ nguyện
36.
Giáo hóa tùy hỷ nguyện
37.
Y thực tự chí nguyện
38.
Ứng niệm thọ cúng nguyện
39.
Trang nghiêm vô tận nguyện
40.
Vô lượng sá thụ nguyện
41.
Thụ hiện Phật sát nguyện
42.
Triệt chiếu thập phương nguyện
43.
Báo hương Phổ Huân nguyện
44.
Phổ Đảng Tam Muội nguyện
45.
Định trung cúng Phật nguyện
46.
Hoạch Đà L a Ni nguyện
47.
Văn danh đác Nhẫn nguyện
48.
Hiện chứng bất thối nguyện
Đại
nguyện thứ 1. Khi con thành Phật, mà trong cõi nước của
con còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, thời con không ở
ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 2. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con sau khi thọ chung, còn phải sa vào đường dữ,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 3. Khi con thành Phật, mà tất cả Trời, Người
trong cõi nước con thân không giống màu vàng y, thời con không
ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 4. Khi con thành Phật, mà tất cả Trời, Người
trong cõi nước con thân hình còn có kẻ đẹp, người xấu
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 5. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con không biết rõ túc mệnh của mình và những
việc đã xảy ra trong trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 6. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong cõi
nước con, không được phép Thiên nhãn, cho đến không thấy
rõ trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thời con không ở
ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 7. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con không được phép Thiên nhĩ, không được nghe
và thọ trì hết thảy lời thuyết pháp của trăm ngàn ức
na do tha các Ðức Phật, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 8. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con, không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến
không biết rõ tâm niệm của hết thảy chúng sinh trong trăm
ngàn ức na do tha các cõi Phật, thời con không ở ngôi Chánh
Giác.
Đại
nguyện thứ 9. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con, không được phép thần túc, trong một khoảng
một niệm, cho đến không vượt qua được trăm ngàn ức na
do tha các cõi Phật thời con không ở ngôi Chánh Giác
Đại
nguyện thứ 10. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con, còn có ý niệm tham chấp thân hình, thời con
không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 11. Lúc tôi thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con, không trụ vào chính định và chứng quả Niết
Bàn, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 12. Khi con thành Phật, mà ánh sáng còn có hạn
lượng, không soi thấu được trăm ngàn ức na do tha các cõi
Phật, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 13. Khi con thành Phật, mà thọ mệnh còn có
hạn lượng, chỉ được trăm ngàn ức na do tha kiếp, thời
con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 14. Khi con thành Phật, hàng Thanh Văn trong cõi
nước con, còn có thể tính đếm được và chúng sinh trong
ba ngàn Ðại thiên thế giới ở trong trăm ngàn kiếp thành
bậc Duyên Giác hết, rồi tính đếm mà biết được số đó
là bao nhiêu, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 15. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con, thọ mệnh còn có hạn lượng, trừ phi những
bản nguyện riêng của họ, muốn dài, ngắn đều được tự
tại. Nếu không được như vậy, thời con không ở ngôi Chánh
Giác.
Đại
nguyện thứ 16. Khi con thành Phật, mà hàng Trời, Người
trong cõi nước con, còn có ai nghe thấy tiếng chẳng lành,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 17. Khi con thành Phật, mà vô lượng chư Phật
ở mười phương thế giới không ngợi khen danh hiệu của
con thời con không ở ngôi Chánh Giác.
giác.
Đại
nguyện thứ 18. Khi con thành Phật, mà chúng sinh trong mười
phương dốc lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước con chỉ
trong mười niệm, nếu không được toại nguyện, thời con
không ở ngôi Chánh Giác, trừ kẻ phạm tội ngũ nghịch và
hủy báng chánh Pháp.
Đại
nguyện thứ 19. Khi con thành Phật, chúng sinh mười phương
phát tâm Bồ Ðề, tu các công đức, dốc lòng phát nguyện,
muốn sinh về cõi nước con, tới khi thọ chung, mà con chẳng
cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 20. Khi con thành Phật, chúng sinh trong mười
phương nghe danh hiệu của con, để lòng nhớ nghĩ đến nước
con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh
về cõi nước con mà không được vừa lòng, thời con không
ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 21. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước con, chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng
của bậc Ðại nhân tướng, thời con không ở ngôi Chánh Giác
Đại
nguyện thứ 22. Khi con thành Phật, hết thảy chúng Bồ
Tát ở cõi Phật phương khác sinh về cõi nước con, sau đó
sẽ tới bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của
mỗi vị tự tại hóa hiện, vì thương xót chúng sinh mà rộng
lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát
hết thảy, rồi khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng
dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sinh,
khiến lập nên đạo Vô Thượng Chính Giác. Chư vị vượt
ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập
theo hạnh nguyện của Ðức Phổ Hiền. Nếu không được như
thế, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 23. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, nương sức thần của Phật đi cúng dường
các Ðức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn, mà không
tới được vô số, vô lượng ức na do tha các cõi Phật,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 24. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, ở trước chư Phật, hiện ra công đức, muốn
có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được
như ý, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 25. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, không diễn thuyết được Nhất Thiết Trí,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 26. Khi con thành Phật, các Bồ Tát trong cõi
nước con, không được thân Kim Cương Na La Diên, thời con
không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 27. Khi con thành Phật, mà Trời, Người trong
cõi nước, cùng tất cả muôn vật không có hình sắc tốt
đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sinh cho đến
bậc đã được phép Thiên nhãn, mà không nói được rõ ràng
danh số, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 28. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất, không thấy
được ánh sáng muôn mầu của cây Bồ Ðề cao bốn trăm vạn
do tuần, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 29. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết Kinh pháp,
mà không được trí tuệ biện tài, thời con không ở ngôi
Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 30. Khi con thành Phật, mà trí tuệ biện tài
của các Bồ Tát trong cõi nước con còn có hạn lượng thời
con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 31. Khi con thành Phật, thì cõi nước con thanh
tịnh, soi thấy tất cả vô lượng, vô số thế giới chư
Phật ở mười phương không thể nghĩ bàn, như tấm gương
sáng thấy được hình dạng mặt mày của mình. Nếu không
được như vậy thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 32. Khi con thành Phậtt, trong cõi nước con,
từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, hồ ao,
cây cỏ và muôn hoa đều được tạo nên bằng vô lượng
của báu hòa lẫn với ngàn thứ hương thơm. Tất cả đều
xinh đẹp kỳ diệu hơn cả cõi Trời và cõi Người. Hương
thơm của muôn vật tỏa ra ngào ngạt khắp mười phương thế
giới. Bồ tát ở các nơi ngửi hương thơm ấy đều tu theo
hạnh của Phật. Nếu không được như thế, thời con không
ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 33. Khi con thành Phật, chúng sinh trong vô lượng
thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, đều
nhờ ánh quang minh của con chạm đến thân họ, khiến thân
được nhẹ nhàng hơn cả Trời và Người. Nếu không được
như thế, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 34. Khi con thành Phật, mà chúng sinh trong vô
lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn,
nghe danh hiệu của con mà không được pháp Vô Sinh Pháp Nhẫn
và các môn Thâm tổng trì của bậc Bồ Tát, thời con không
ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 35. Khi con thành Phật, mà nữ nhân trong vô
lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn,
nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ Ðề, chán ghét
thân gái. Sau khi mệnh chung mà còn phải làm thân nữ nhân
nữa, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 36. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ
bàn, nghe danh hiệu con, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh
cho đến khi thành Phật. Nếu không được như thế, thời
con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 37. Khi con thành Phật, mà Trời và Người trong
cõi vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể
nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo
xuống đất, vui mừng tu hạnh Bồ Tát, được hầu hết Trời
và Người kính trọng. Nếu không được như thế, thời con
không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 38. Khi con thành Phật, mà Trời và Người trong
cõi nước con, muốn có y phục, thì y phục tốt đẹp tùy
theo tâm niệm của họ tự nhiên hiện ra trên mình họ. Nếu
còn phải cắt may, nhuộm, giặt, thời con không ở ngôi Chánh
Giác.
Đại
nguyện thứ 39. Khi con thành Phật, mà Trời và Người trong
cõi nước con, không được sự hưởng thụ vui sướng bằng
vị Tỳ Kheo đã dứt hết mọi phiền não, thời con không ở
ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 40. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới trang
nghiêm thanh tịnh của chư Phật ở mười phương đều được
như nguyện. Chẳng hạn, nhìn trong cây báu thấy rõ hết cả,
như nhìn vào tấm gương sáng thấy rõ nhân diện. Nếu không
được như thế, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 41. Khi con thành Phật, mà các chúng Bồ Tát
ở thế giới khác nghe danh hiệu con, từ đó đến khi thành
Phật, mà các sắc căn còn thiếu kém, thời con không ở ngôi
Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 42. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế
giới phương khác, nghe danh hiệu con, đều được chính định
giải thoát thanh tịnh; rồi trụ vào chính định đó trong
khoảng một ý niệm cúng dường vô lượng chư Phật Thế
Tôn chẳng thể nghĩ bàn, mà vẫn không mất chính định. Nếu
không được như thế, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 43. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế
giới phương khác, nghe danh hiệu con sau khi mệnh chung, thác
sinh vào nhà tôn quý. Nếu không được như thế, thời con
không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 44. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế
giới phương khác, nghe danh hiệu con vui mừng hớn hở, tu hạnh
Bồ Tát, trọn đủ công đức. Nếu không được như thế,
thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 45. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế
giới phương khác, nghe danh hiệu con đều được Phổ Ð?ng
tam muội, rồi trụ vào tam muội đó cho đến khi thành Phật,
thường được thấy chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không
được như thế, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 46. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát trong
cõi nước con, muốn nghe pháp gì, đều theo chí nguyện mình,
tự nhiên được nghe. Nếu không được như thế, thời con
không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 47. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế
giới phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới được
bậc Bất thoái chuyển, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Đại
nguyện thứ 48. Khi con thành Phật, mà các Bồ Tát ở phương
khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới ngay được ba đức nhẫn:
Âm hưởng nhẫn, Nhu thuần nhẫn và Vô sinh pháp nhẫn. Ðối
với các pháp của Phật mà không chứng được bậc Bất thoái
chuyển, thời con không ở ngôi Chánh Giác.
Nguyên
văn chữ hán, Ngã tác Phật thời, tôi dịch là "Khi con thành
Phật" vì Bồ Tát Pháp Tạng ở trước đức Thế Tự Tại
Vương Phật mà phát nguyện, nên tôi dịch là con để phù
hợp hơn là dịch thành tôi. Tuy nhiên, chỉ dùng chữ con khi
nói giảng kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, hoặc,
khi giảng về 48 đại nguyện của Phật A Di Đà mà thôi, chớ
không thể dùng chữ con, vào giảng pháp khác, vì đây là bổn
nguyện, mà đối tượng của Pháp tạng Tỳ Kheo là Thế Tự
Tại Vương Phật vậy.
Đó
là bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà trong khi
tu hành đạo Bồ tát.
"Tu
Đà Hoàn" là quả thứ nhứt trong bốn quả (tứ quả)của
hàng Thanh Văn, dịch là Nhập lưu, hay là dự lưu, nghĩa là
người này được vào dòng nước thánh. Đã nhập vào dòng
nước thánh thì không như chúng ta là còn động tâm khi tiếp
xúc với sắc,thinh, hương, vị, xúc, pháp.
Kiếp
dịch từ Kalpa (kiếp ba) nghĩa là trường thời (thời gian
dài). Kiếp có tiểu kiếp, trung kiếp và đại kiếp. một
thời tăng một thời giảm thì là một tiểu kiếp. Một tiểu
kiếp có một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm (16.800.000 năm).
Xem
Thêm Kinh Văn:
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ - Ngài Cương-Lương Gia-Xá dịch -
Việt dịch : Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật, HT. Thích Trí Tịnh Việt Dịch