-04-
Ba
giới, sáu đường
Trong
đạo Phật, chúng ta thường nghe câu "Ba giới, sáu đường
luân hồi" (tam giới, lục đạo luân hồi). Ðây là một
cách diễn tả quan niệm về các hình thái hiện sinh của mọi
loài luân hồi trong cõi Ta-bà (Samsāra, Sa-bà). Ba giới
là Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Sáu đường luân
hồi là sáu loài chúng sinh:
1)
chư thiên,
2)
loài người,
3)
loài a-tu-la,
4)
loài ngạ quỷ,
5)
loài thú vật,
6)
loài đọa địa ngục.
Hai loài
đầu tiên - chư thiên và loài người, được xem như là loài
có nhiều phước báu, còn bốn loài kia chịu những cảnh đọa
đày, đau đớn.
Riêng
chư thiên gồm 26 loài (có sách liệt kê 27 hoặc 28 loài), ở
trong ba cõi giới khác nhau: Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc
giới. Loài người và bốn loài đau khổ thì ở trong cõi Dục
giới. Như vậy, tổng cộng là 31 loài, theo quan niệm của
đạo Phật.
Nếu
phân loại theo nguồn gốc phát sinh, cõi Ta bà chia làm chín
địa giới (Cửu địa): Dục địa, bốn Sắc địa do đắc
bốn tầng thiền-na hữu sắc (rūpa jhāna), và bốn Vô
sắc địa do đắc bốn tầng thiền-na vô sắc (arūpa jhāna)
.
Tất
cả các loài trong cõi Ta-bà này, kể cả chư thiên, đều phải
qua cảnh sinh, trụ, hoại, diệt, và cùng chịu tám loại khổ
(bát khổ), dù rằng có thể có những cường độ và thời
gian khác nhau. Đôi khi chúng ta thấy có cụm từ "tam đồ,
bát khổ" dùng trong các kinh sách, trong đó, "tam đồ" đồng
nghĩa với "tam giới" (dục giới, sắc giới, vô sắc giới).
Tám loại khổ đó là:
1)
Sinh khổ: khổ do sinh,
2)
Lão khổ: khổ do già,
3)
Bệnh khổ: khổ do bệnh,
4)
Tử khổ: khổ do chết,
5)
Ái biệt ly khổ: khổ do xa lìa những gì ta thích,
6)
Oán tăng hội khổ: khổ do nối kết với gì ta không ưa thích,
7)
Cầu bất đắc khổ: khổ do không được điều ta mong cầu,
8)
Ngũ ấm xí thạnh khổ: khổ do hiện hữu năm ấm (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức).
Sau đây
là bảng liệt kê 31 loài trong cõi Ta-bà, từ cao xuống thấp:
A.
Vô sắc giới
(Formless
World, Arūpa Loka)
31.
Phi tưởng, phi phi tưởng thiên (Devas of Sphere of Neither-perception
nor non-perception; Nevasaññā-nasaññā-yatanūpagā devā)
30.
Vô sở hữu thiên (Devas of Sphere of No-thingness; Ākiñcañña-yatanūpagā
devā)
29.
Thức vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Concsiousness;
Viññānañca-yatanūpagā devā)
28.
Không vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Space; Ākāsānañca-yatanūpā
devā)
B.
Sắc giới
(World
of Form, Rūpa Loka)
B1.
Tứ thiền
27.
Vô song thiên (Peerless devas; Akanitthā devā)
26.
Thiện kiến thiên (Clear-sighted devas; Sudassī devā)
25.
Thiện hiện thiên (Beautiful or Clearly Visible devas); Sudassā
devā)
24.
Thanh tịnh thiên (Untroubled devas; Atappā devā)
23.
Vô đọa thiên (Devas not Falling Away; Avihā devā)
22.
Vô tưởng thiên (Unconscious beings; Asaññā sattā)
21.
Quảng quả thiên (Very Fruitful devas; Vehapphalā devā)
B2.
Tam thiền
20.
Biến tịnh thiên (Devas of Refulgent Glory; Subhakinnā devā)
19.
Vô lượng tịnh thiên (Devas of Unbounded Glory; Appamānasubhā
devā)
18.
Thiểu tịnh thiên (Devas of Limited Glory; Parittasubhā
devā)
B3.
Nhị thiền
17.
Quang minh thiên (Devas of Streaming Radiance; Ābhassarā devā)
16.
Vô lượng quang thiên (Devas of Unbounded Radiance; Appamānabhā
devā)
15.
Thiểu quang thiên (Devas of Limited Radiance; Parittabhā
devā)
B4.
Sơ thiền
14.
Ðại phạm thiên (Great Brahmas; Mahā Brahmā)
13.
Phạm phụ thiên (Ministers of Brahmas; Brahma-Purohitā devā)
12.
Phạm chúng thiên (Retinue of Brahma; Brahma-Parisajjā devā)
C.
Dục giới
(World
of Sense-Desires, Kama Loka)
11.
Tha hóa tự tại thiên (Devas Wielding Power over Others' Creations;
Paranimmita-vasavattī devā)
10.
Hóa lạc thiên (Devas Delighting in Creation; Nimmānaratī
devā)
09.
Ðâu-suất thiên (Contented devas; Tusitā devā)
08.
Dạ-ma thiên (Yama devas; Yāmā devā)
07.
Ðao-lợi thiên (The Thirty-Three Gods; Tāvatiṁsa devā)
06.
Tứ thiên vương thiên (Devas of the Four Great Kings; Catumahārājikā
devā)
05.Loài
người
(Human beings; Manussā)
04.
Loài a-tu-la (Titans; Asurā)
03.
Loài ngạ quỷ (Hungry ghosts; Petā)
02.
Loài thú vật (Animals; Tiracchānā)
01.
Loài đọa địa ngục (Hells; Nirayā)
Bảng
liệt kê trên được dựa theo hai tài liệu: quyển "Đức Phật
và Phật Pháp" của ngài Hòa thượng Narada (ông Phạm Kim Khánh
dịch) và phần giới thiệu trong bản dịch Anh ngữ Trường
Bộ Kinh của ông Maurice Walshe (The Long Discourses of the Buddha:
A Translation of the Digha Nikaya). Theo đó, loài người chúng
ta chỉ đứng hàng thứ 5, trên 4 loài khác là địa ngục,
thú vật (súc sinh), ngạ quỷ và a-tu-la. Bốn loài sau cùng
này thường được gọi là những chúng sinh trong đọa xứ
hay khổ cảnh. A-tu-la là loài có nhiều quyền lực nhưng không
hạnh phúc vì có tánh sân hận, thường hay gây chiến với
các loài khác. Đôi khi có sách không đề cập đến loài a-tu-la,
và như thế cõi Ta-bà chỉ có 5 đường thôi (ngũ đạo luân
hồi).
Loài
người ở trong một cảnh giới có hạnh phúc và đau khổ
lẫn lộn. Chư vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vào cảnh
nầy, vì ở đây có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục
vụ và thực hành những Pháp cần thiết nhằm thành tựu Đạo
Quả Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh
người.
Chư
thiên có mặt trong cả ba cõi giới. Có 6 loại chư thiên trong
Dục giới (hạng số 6 đến 11 trong biểu đồ), trong đó kinh
điển thường đề cập đến cõi trời Đao-lợi và Đâu-suất.
Cõi trời Đao-lợi còn gọi là cõi trời Ba Mươi Ba vì ở
đó có 33 vị trời mà ngài Đế-thích (Sakka) là thiên
chủ. Chính ở nơi đây, theo truyền thuyết, Đức Phật giảng
Vi Diệu Pháp trong 3 tháng hạ. Cõi trời Đâu-suất là nơi
lưu ngụ của những vị Bồ Tát đã thực hành tròn đủ các
Pháp cần thiết để đắc Quả Phật, chờ cơ hội thích nghi
để tái sinh vào cảnh người lần cuối cùng. Ngài Bồ Tát
Mettaya (Di Lạc), vị Phật tương lai, hiện đang ở cảnh trời
nầy, chờ ngày tái sinh vào cảnh người để thành tựu Đạo
Quả Phật. Theo truyền thuyết, hoàng hậu Maya (Ma-da, Tịnh
Diệu), mẹ của ngài Bồ Tát Siddhattha (Sĩ-đạt-ta), sau khi
chết, tái sinh vào cảnh trời Đâu-suất, và từ đó sang cung
trời Đao-lợi nghe Đức Phật giảng Vi Diệu Pháp.
Trên
Dục giới có Sắc giới (rūpa loka), cảnh giới các vị
Phạm Thiên, những vị Trời đã từ bỏ tham dục và đang
thọ hưởng hạnh phúc của thiền-na (jhāna). Có tất
cả 16 cảnh (số 12 đến 27 trong biểu đồ), tương ứng với
bốn tầng thiền-na hữu sắc (rūpa jhāna). Trong đó,
5 cảnh giới cao nhất (số 23 đến 27) thường được gọi
chung là Vô Phiền Thiên (suddavasa) hay Tịnh Cư Thiên,
cảnh giới hoàn toàn tinh khiết. Đây là cảnh giới tuyệt
đối riêng biệt của các vị Bất lai (A-na-hàm, Anāgāmi).
Chúng sinh ở trong một cảnh khác mà đắc quả Bất Lai thì
tái sinh vào cảnh nầy. Tiếp tục tu tập, các vị ấy đắc
quả A-la-hán và sống ở đó cho đến lúc hết tuổi thọ,
nhập Đại Niết Bàn.
Cao
nhất là Cõi Vô sắc giới (arūpa loka) gồm có 4 hạng
chư thiên tương ứng với bốn tầng thiền-na vô sắc (arūpa
jhāna).
*
Theo
ngài Hòa thượng Narada trong quyển "Đức Phật và Phật Pháp",
giáo pháp của Đức Phật không nhằm mục đích truyền bá
một lý thuyết về vũ trụ. Dù những cảnh giới trên có
thật hay không, điều ấy không ảnh hưởng gì đến giáo
lý của Ngài. Không ai bị bắt buộc phải tin điều nào, nếu
điều ấy không thích hợp với suy luận của mình. Nhưng chúng
ta cũng không nên bác bỏ tất cả những gì mà lý trí hữu
hạn của con người không thể thấu hiểu tường tận.