-05-
Bảy
giai đoạn thanh tịnh
Bảy
giai đoạn thanh tịnh tâm mà mỗi hành giả phải hành trì
để khai phát tuệ giác được đề cập trong bài kinh 24, Trung
Bộ (Rathavinita Sutta, Kinh Bảy Trạm Xe) và trong bài kinh
34 của Trường Bộ (Dasuttara Sutta, Kinh Thập Thượng).
Ðây cũng là căn bản của bộ luận Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhi-magga)
do ngài Phật Âm (Buddhaghosa) biên soạn vào khoảng thế
kỷ V Tây lịch: 3 chương đầu đề cập đến sự thanh tịnh
của giới đức (giai đoạn 1), chương 4 đến 13 là để hướng
dẫn thanh tịnh tâm qua các pháp hành thiền (giai đoạn 2) -
đem tâm an định vào các tầng thiền-na, và các chương còn
lại là để phát triển tuệ giác (giai đoạn 3 đến giai đoạn
7). Cách sắp xếp như thế phản ảnh 3 pháp tu học chính yếu
của người con Phật để đoạn trừ phiền não (tam vô lậu
học): Giới, Ðịnh, và Tuệ.
Các
bản Chú giải về sau này có đưa ra các khái niệm về 16
tầng tuệ minh sát, và sự liên hệ với bảy giai đoạn thanh
tịnh được tóm tắt như sau:
1.
Thanh tịnh giới đức (Giới tịnh, Sīla-visuddhi).
2.
Thanh tịnh tâm (Tâm tịnh, Citta-visuddhi).
3.
Thanh tịnh quan kiến (Kiến tịnh, Ditthi-visuddhi). Sau giai
đoạn nầy, hành giả phát triển được:
(1)
Tuệ phân tích danh sắc (Nāmarūpa-pariccheda-ñāna)
4. Thanh
tịnh bằng cách khắc phục hoài nghi (Ðoạn nghi tịnh, Kankhāvitarana-visuddhi).
Sau giai đoạn nầy, hành giả phát triển được:
(2)
Tuệ phân biện nhân duyên (Paccaya-pariggaha-ñāna).
5. Thanh
tịnh bằng cách thấu hiểu và nhận thấy thế nào là Con
Ðường, thế nào không phải là Con Ðường (Ðạo Phi-đạo
tri kiến tịnh, Maggāmagga-ñānadassana-visuddhi). Sau giai
đoạn nầy, hành giả phát triển được:
(3)
Tuệ thấu đạt (Sammasana-ñāna), còn gọi là Thẩm sát
tuệ.
6. Thanh
tịnh bằng cách thấu hiểu và nhận thấy Con Ðường (Ðạo
tri kiến tịnh, Patipadā-ñānadassana-visuddhi). Sau giai đoạn
nầy, hành giả phát triển được:
(4)
Tuệ quán chiếu sanh diệt (Udayabbayānupassanā-ñāna),
(5)
Tuệ quán chiếu sự diệt (Bhangānupassanā-ñāna), còn
gọi là Hoại tán tuệ,
(6)
Tuệ phát hiện kinh sợ (Bhayupatthāna-ñāna), còn gọi
là Kinh úy tuệ,
(7)
Tuệ quán chiếu hiểm họa (Adīnavānupassanā-ñāna), còn
gọi là Nguy hại tuệ,
(8)
Tuệ quán chiếu sự chán nản (Nibbidānupassanā-ñāna),
còn gọi là Yếm ố tuệ,
(9)
Tuệ muốn giải thoát (Muncitukamyatā-ñāna), còn gọi
là Cầu thoát tuệ,
(10)
Tuệ quán chiếu sự suy tư (Patisankhānupassanā-ñāna),
còn gọi là Trạch sát tuệ,
(11)
Tuệ xả về các hành (Sankhārupekkhā-ñāna), còn gọi
là Hành xả tuệ,
(12)
Tuệ thuận thứ (Saccānulomika-ñāna).
7. Thanh
tịnh bằng cách thấu hiểu và nhận thấy (Tri kiến tịnh,
Ñānadassana-visuddhi).
Sau giai đoạn nầy, hành giả phát triển được:
(13)
Tuệ chuyển tánh (Gotrabhū-ñāna),
(14)
Ðạo tuệ (Magga-ñāna),
(15)
Quả tuệ (Phala-ñāna),
(16)
Tuệ ôn lại (Paccavekkhana-ñāna), còn gọi là Phản khán
tuệ.
*
Giai
đoạn đầu tiên là phải giữ gìn giới luật cho thật trong
sạch, giới của người cư sĩ hay giới của hàng tu sĩ, để
thanh tịnh lời nói và hành động. Đó là Giới thanh tịnh.
Tiếp theo, người con Phật phải nỗ lực hành thiền, đưa
tâm đến một mức độ an định vững mạnh. Đó là Tâm
thanh tịnh.
Năm
giai đoạn kế tiếp là tiếp tục hành thiền để phát triển
trí tuệ, có trình bày chi tiết trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo
từ chương 19 đến chương 21. Ngài Hòa thượng Narada cũng
có đề cập đến trong quyển "Đức Phật và Phật Pháp",
chương 38, và ở đây, xin lược trích như sau:
(...)
Tiếp tục hành thiền, hành giả bắt đầu phát triển quan
kiến trong sạch (Kiến tịnh) để nhận thấy chân tướng
của vạn pháp. Với tâm an trụ vào một điểm, hành giả
phân tích và quan sát cái gọi là chúng sinh. Sự thẩm sát
này cho thấy rằng cái được gọi là "Ta, Tôi, Tự ngã", chỉ
là tập hợp phức tạp của tâm và vật chất, hay danh và
sắc. Cả hai đều ở trạng thái luôn luôn biến đổi, luôn
luôn trôi chảy, như một dòng nước tuôn chảy liên tục.
Khi
đã có được quan kiến chân chính về bản chất thực sự
của cái gọi là chúng sinh và hoàn toàn dứt khoát với mọi
ảo tưởng về một linh hồn trường cửu, hành giả cố tìm
những nguyên nhân sinh ra cái Ta và nhận định rằng thế gian
này không có sự tự nhiên phát sinh mà không tùy thuộc ở
một, hay nhiều điều kiện, trong hiện tại hay trong quá khứ.
Vạn pháp đều do duyên sinh. Hành giả nhận định rằng kiếp
sống của mình có đây là do vô minh (avijja), ái dục
(tanha),
thủ chấp (upadana), và nghiệp (kamma) của kiếp
quá khứ, và vật thực (oja) trong kiếp sống hiện tại.
Do năm nguyên nhân ấy, cái gọi là chúng sinh được cấu tạo.
Nguyên nhân quá khứ tạo điều kiện (duyên) cho hiện tại,
và cùng thế ấy, hiện tại tạo điều kiện (duyên) cho tương
lai. Chú tâm suy niệm như thế ấy hành giả vượt lên mọi
hoài nghi về quá khứ, hiện tại và tương lai. Đây là Ðoạn
nghi tịnh.
Tiếp
theo, hành giả suy niệm rằng tất cả các vật cấu tạo,
hay các pháp hữu vi, đều vô thường (anicca), phiền
não (dukkha), và không có một thực thể (anatta).
Hướng tầm mắt vào bất luận nơi nào, hành giả chỉ nhìn
thấy ba đặc tướng ấy hiển lộ rành mạch, rõ ràng, không
thể lầm lẫn. Bây giờ hành giả nhận thức rằng kiếp sống
chỉ là một dòng trôi chảy, một di động liên tục, không
gián đoạn. Dù ở các cảnh trời hay trên quả địa cầu
này, hành giả không tìm được nơi nào có hạnh phúc thật
sự, bởi vì mỗi hình thức khoái lạc chỉ là bước đầu,
mở đường đến đau khổ. Do đó, cái gì vô thường tất
nhiên phải chịu đau khổ, và nơi nào đau khổ và biến đổi
chiếm ưu thế thì không thể có một tự ngã trường tồn
vĩnh cửu.
Khi
chú tâm hành thiền như thế ấy, đến một lúc nào đó, hành
giả cảm thọ các trạng thái thỏa thích, hạnh phúc và vắng
lặng, trước kia chưa từng bao giờ được biết. Hành giả
càng củng cố tâm định và tinh tấn thêm. Tâm đạo nhiệt
thành càng tăng trưởng, tâm niệm toàn hảo, và tuệ minh càng
trở nên sâu sắc một cách lạ thường. Sớm nhận thấy rằng
những hiện tượng mới nầy chỉ làm trở ngại cho những
tiến bộ tinh thần, hành giả trau giồi và phát triển "trạng
thái trong sạch của sự hiểu biết" liên quan đến thế nào
là Con Đường và Không-Phải-Con-Đường. Đây là Ðạo
Phi-đạo tri kiến tịnh.
Nhận
thức được con đường chân chánh, hành giả tiếp tục chú
tâm quán tưởng vào sự phát sinh và sự hoại diệt của tất
cả các pháp hữu vi. Trong hai trạng thái sinh và diệt, sự
hoại diệt nổi bật chiếm ưu thế hơn, nên dần dần gây
ấn tượng mạnh hơn trong tâm hành giả, bởi vì sự thay đổi
được nhận thấy dĩ nhiên và rõ ràng hơn sự trở thành.
Do đó, hành giả hướng tâm chú niệm của mình về sự phân
tán của sự vật và nhận định rằng cả hai, danh và sắc,
hai thành phần cấu tạo cá nhân mình luôn luôn ở trong trạng
thái đổi thay, trôi chảy, không thể tồn tại giống hệt
trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Bây giờ, hành giả phát sinh
sự hiểu biết rằng tất cả những gì bị phân tán đều
là đáng sợ. Toàn thể thế gian phát hiện trước mắt hành
giả như một đống củi đang phừng cháy, một nguồn hiểm
họa. Kế đó là hành giả suy tưởng về tính chất rách nát,
đổ vỡ và tạm bợ nhất thời của thế gian đáng kinh sợ
này, có cảm giác nhàm chán nó và nảy sanh ra ý muốn vượt
thoát ra khỏi đó. Hướng về đối tượng ấy, hành giả
chú tâm niệm trở lại vào ba đặc tánh vô thường, khổ,
vô ngã, và sau đó phát triển một tâm xả chọn vẹn, hoàn
toàn thản nhiên đối với tất cả các pháp hữu vi - không
luyến ái cũng không ghét bỏ, hay bất toại nguyện - đối
với bất cứ sự việc gì trên thế gian.
Tiến
trình trong giai đoạn thanh tịnh này có tên chung là "patipada
ñāna dassana visuddhi", trạng thái trong sạch của sự hiểu
biết và nhận thức có liên quan đến Con Đường hay pháp
hành, Đạo tri kiến tịnh, giai đoạn thứ sáu của con
đường thanh tịnh hóa.
Khi
đạt đến mức độ nhận thức này, hành giả chọn một
trong ba đặc tướng: vô thường, khổ, vô ngã, thích hợp
nhất với mình và gia công khai triển tuệ giác theo chiều
hướng ấy cho đến khi thành tựu mục tiêu cuối cùng - Đạo
Quả Niết Bàn. Đây là giai đoạn thanh tịnh cuối cùng, Tri
kiến tịnh.
"Cũng
như người đi trong đêm tối, nhờ trời chớp nên nhìn thấy
quang cảnh quanh mình rồi giữ lại hình ảnh ấy trước mắt
một lúc lâu. Cũng thế ấy, do cái chớp bật sáng lên của
tuệ giác, hành giả trực nhận Niết Bàn lần đầu tiên một
cách rõ ràng và hình ảnh ấy lưu lại trong tâm, không bao
giờ phai mờ."