CHƯƠNG
MỘT
TỔNG
LUẬN VỀ YẾT MA
TIẾT
1. YẾT-MA TRONG SINH HOẠT CỦA CỘNG ĐỒNG TĂNG LỮ
1.
KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG TĂNG LỮ
Tăng
hay nói đủ là Tăng-già, là phiên âm từ saṅgha của tiếng
Phan [1]. Nó có nghĩa là một chúng hội, một cộng đồng mà
các thành viên của nó được ràng buộc lẫn nhau trong một
mục đích duy nhất. Trong đời sống tập quần xã hội, bất
cứ một cộng đồng nào mà các thành viên của nó cùng sống
và cùng sinh hoạt dưới sự chi phối của một số nguyến
tắc của nội qui và kỷ luật tập thể, cùng có những quan
hệ bình đẳng hợp lý về các nghĩa vụ và quyền lợi, cùng
hướng đến một mục đích chung, đều có thể được gọi
là Tăng cả. Tuy nhiên khi từ này được áp dụng cho cộng
đồng đệ tử xuất gia của Phật thì tiếng Tăng-già có
nội dung vượt ngoài các ý nghĩa quán lệ như thế. Nó không
đơn giản là một cộng đồng hòa hiệp, mặc dù tinh thần
hòa hiệp là sinh mạng của bất cứ cộng đồng nào trong
xã hội loài người. Nó cũng không đơn giản là một cộng
đồng gồm những người có cùng chung một mục đích, một
lý tưởng, mặc dù đó là động lực cơ bản cho bất cứ
sự đoàn kết và hòa hiệp nào của mọi ccộng đồng xã
hội. Tăng-già, cộng đồng đệ tử xuất gia của Phật, trong
ý nghĩa mà đức Phật thiết lập, phải là mảnh đất tốt
cho sự Tăng trưởng của thiện pháp, là nền tảng cho tất
cả mọi tiến bộ tâm linh, tức là những phát triển của
nhận thức chân chính về sự thật của đới sống. Vì chỉ
có nhận thức bằng trí tuệ vô lậu ấy mới có thể giải
thoát những đau khổ của con người. Chính vì thế mà Tăng-già
được đặt vào trong hàng Tam bảo, làm nơi nương tựa an
ổn cho thế gian. Do vậy, sự tồn tại của Tăng-già có nghĩa
là sự tồn tại của Phật Pháp; tất nhiên phải tồn tại
trong ý nghĩa chân chính mà đức Phật thiết lập.
Như
thế, tinh thần hòa hiệp của Tăng-già không phải là sự
ngẫu hợp của những người cùng sống cho một mục đích;
và lại càng không phải là sự ngẩu hợp của những người
có những quyền lợi chung, cần phải đoàn kết thành một
khối để đấu tranh cho các quyền lợi được đòi hỏi ấy.
Cho nên, dù tất cả mọi công dân trong một nước cùng đoàn
kết thành một khối thuần nhất, cùng chia xẻ bình đẳng
hợp lý các nghĩa vụ và quyền lợi, cùng hướng đến một
mục đích lý tưởng chung, nhưng không phải vì thế mà đủ
để gọi là Tăng-già.
Đương
nhiên tiếng saṅgha hay Tăng-già, không phải là từ ngữ do
đức phật đặt ra để gọi riêng cộng đồng các đệ tử
xuất gia của Ngài. Nó là tiếng có sẵn trong ngôn ngữ đương
thời. Các nhóm cộng đồng xuất gia khác cũng tự gọi họ
là một saṅgha [2]. Thế thì sự khác biệt không phải do ở
nội dung quán lệ của danh từ, mà do chính sinh hoạt thực
tiễn mang đến. Nếu các đệ tử xuất gia của Phật mặc
dù sống đoàn kết và hòa hiệp, nhưng tinh thần hòa hiệp
ấy không phản ảnh sinh động những giáo pháp cơ bản của
Phật, thì cộng đồng xuất gia như thế cũng chưa thể gọi
là Tăng được. Nó có thể có nghĩa là gì? Nói một cách
nghiêm xác theo tinh thần của Luật tạng, nếu sinh hoạt của
các tỳ-kheo không đúng theo các lý tắc cơ bản của pháp
yết-ma thì dù có hòa hiệp, vẫn được gọi là hòa hiệp
trong phi pháp, và như vậy không đủ khả năng làm nền tảng
cho sự phát sinh của các pháp vô lậu. Nghĩa là bản thể
của Tăng-già không thành tựu.
2.
THÀNH PHẦN CỦA TĂNG
Trên
đây là nói về Tăng-già trong ý nghĩa tuyệt đối của nó
tức thắng nghĩa Tăng [3]. Tăng-già mà nói theo ý nghĩa tuyệt
đối như vậy thì thành phần của Tăng tất nhiên phải gồm
các tỳ-kheo đã chứng đắc đạo quả Niết-bàn [4]. Nhưng
trong ý nghĩa ước lệ thì từ bốn vị tỳ-kheo trở lên cùng
sống trong một trú xứ, cùng thanh tịnh và hòa hiệp thì chỉ
chừng mức ấy cũng đủ để gọi là Tăng. Dù trong hiện
tại các vị ấy chưa chứng đắc đạo quả Niết-bàn gì
cả nhưng đời sống của các vị ấy có một hướng đi duy
nhất là phải đạt thành mục đích ấy. Như vậy, căn cứ
trên nhân mà được gọi là Tăng. Chính trong ý nghĩa ước
lệ này mà các pháp yết-ma có hiệu lực để tạo thành bản
thể sinh động của Tăng.
Thành
phần nguyên thủy và căn bản của Tăng là các tỳ-kheo đã
thọ giới cụ túc. Thế nào là một tỳ-kheo đắc giới cụ
túc? Đó là người mà bản thể tỳ-kheo đã thành tựu. Bản
thể của tỳ-kheo được thành tựu hoặc do sự chứng đắc
quả vị cứu cánh của Niết-bàn, tức các Thánh giả vô học;
hoặc do sự thọ giới hợp pháp. Các trường hợp đắc giới
này sẽ được nói rõ trong chương thọ giới (chương III sau).
Về
sau, có vấn đề nữ giới được phép gia nhập Tăng đoàn
với nền tảng là tám kỉnh pháp, thì ngoài số tỳ-kheo Tăng,
còn có tỳ-kheo-ni Tăng nữa.
Như
vậy, thành phần của Tăng gồm các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni
đã đắc giới cụ túc. Tuy nhiên, trong quá trình hành đạo,
học tập các bổn phận căn bản một tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni,
chúng đệ tử xuất gia của Phật còn có những thành phần
dự bị là sa-di, sa-di-ni và thức-xoa-ma-na [5]. Những vị này
do chưa hội đủ điều kiện để đắc giới cụ túc, cần
phải trải qua một thời gian học tập. Mặc dù cũng là thành
phần xuất gia, nhưng không được dự vào hàng Tăng chúng,
do đó các vị này không có liên hệ hay ràng buộc gì với
các pháp yết-ma cả.
3.
PHÂN LOẠI TĂNG
Tổng
quát, có ba phân loại chính yếu về Tăng: 1. Phân loại theo
túc số; 2. Phân loại theo tính phái, và 3. Phân loại theo trú
xứ.
i.
Phân loại theo túc số
Mặc
dù mỗi tỳ-kheo hay tỳ ni là một thành phần của Tăng, nhưng
trong các sinh hoạt thuộc phạm vi tập thể, tùy theo Tăng sự,
phải hội đu túc số tối thiểu thì bản thể của Tăng mới
thành tựu. Trong phân loại này, có bốn trường hợp để
túc số Tăng [6].
a.
Tăng gồm bốn người: Đây là túc số tối thiểu, dưới
con số này không thể gọi là Tăng. Với túc số này, Tăng
có thể tác pháp yết-ma cho những sinh hoạt thông thường
như thuyết giới v.v….Nghĩa là trừ tự tứ, thọ cụ túc,
xuất tội Tăng tàn còn lại các yết-ma khác đều có thể
được tác pháp với túc số 4 người này.
b.
Tăng gồm năm người: Đây là túc số Tăng tác pháp yết-ma
truyền giới cụ túc tại những địa phương mà số tỳ-kheo
ở đó quá ít. Ngoài ra, như việc yết-ma tự tứ cũng cần
hội đủ túc số này. Nghĩa là trừ việc truyền thọ cụ
túc tại các đô thị, và xuất tội Tăng tàn, còn lại các
yết-ma khác đều có thể được tác pháp với túc số năm
người này.
c.
Tăng gồm mười người: Trừ xuất tội Tăng tàn, còn lại
các yết-ma khác có thể làm với túc số 10 người này.
d.
Tăng gồm hai mươi người: Túc số cần thiết để xuất tội
Tăng tàn, và tất cả cho pháp yết-ma khác.
Từ
túc số hai mươi người này, có thể thực hiện bất cứ
Tăng sự nào.
ii.
Phân loại theo tính phái
Do
sự khác biệt tính phái, trên đại thể, Tăng-già được
chia làm hai bộ: tỳ-kheo Tăng và tỳ-kheo-ni Tăng. Tuy vậy,
để phân biệt rõ ràng hơn, tại Trung quốc người ta thường
gọi cộng đồng các tỳ-kheo-ni là á Tăng, cách gọi này thiệt
ra không chính xác. Cả hai bộ tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni đều
được gọi chung là Tăng cả. Cho nên, trong các văn tác pháp
yết-ma, danh từ á Tăng không bao giờ được áp dụng.
iii.
Phân loại theo trú xứ
Phân
loại chung về trú xứ thì có hai hạng Tăng: chiêu đề Tăng
[7] và thường trú Tăng. Trong lịch sử phát triển của Tăng
đoàn, ở giai đoạn nguyên thủy, các tỳ-kheo không thường
trú tại bất cứ trú xứ nào. Tăng đoàn đầu tiên xuất
hiện trong lịch sử gồm năm vị A-la-hán, tức nhóm A-nhã
Kiều-trần-như [8]. Tiếp theo đó, Ngài lại hóa độ nhóm
Da-xá và thân hữu cộng tất cả 55 người [9]. Sau khi họ
chứng đắc địa vị Thánh giả vô học, đức Phật khiến
họ lên đường đi hoằng hóa, và Ngài nói: Mỗi người đi
mỗi hướng, không nên đi chung [10]. Và đấy là hình thức
cộng đồng chiêu-đề Tăng đầu tiên. Về sau các tinh xá
được dựng lên do sự phát tâm của các đệ tử tại gia,
các tỳ-kheo thường ở lâu tại một trú xứ, và từ đó,
sự phân biệt giữa chiêu-đề Tăng và thường trú Tăng được
thành hình. Do sự phát triển của cộng đồng thường trú
Tăng này mà Tăng đoàn về sau càng được chia nhỏ theo từng
địa phương, và cũng chính do sự thành hình các Tăng đoàn
địa phương này mà các bộ phái khác nhau xuất hiện và các
Luật tạng khác nhau giữa các bộ phái cũng được thành lập
dần dần.
4.
CÁC NGUYÊN TẮC CHI PHỐI ĐỜI SỐNG CỦA TĂNG
i.
Bảy pháp bất thối
Vào
khoảng thời gian cuối cùng trong cuộc đời hoằng hóa của
đức Phật, xu hướng định cư của tỳ-kheo càng lúc càng
phát triển mạnh, và sự sống chung trong một trú xứ như
vậy sẽ phát sinh nhiều sự kiện phức tạp, cho nên đức
Phật đã thiết lập một số nguyên tắc chi phối đời sống
của cộng đồng Tăng lữ.
Trên
con đường từ Ma-kiệt-đà [11] để đi về Câu-thi-na [12],
nơi Ngài sẽ nhập Đại Niết-bàn, nhân vị đại thần của
vua A-xà-thế [13] đến tham vấn ý kiến Phật về việc vua
nước Ma-kiệt-đà này muốn chinh phục dân chúng Bạt-kỳ
[14], đức Phật đã giảng cho các tỳ-kheo bảy nguyên tắc
bất thối để duy trì sự hòa hiệp của Tăng [15]. Bảy nguyên
tắc ấy như sau:
1.
Các tỳ-kheo cần phải thường xuyên tập họp, và tập họp
đông đảo, để giảng luận chính pháp, khiến cho có sự
hòa thuận trên dưới của các tỳ-kheo.
2.
Các tỳ-kheo phải tụ họp trong tinh thần hòa hiệp, giải
tán trong tinh thần hòa hiệp, và chấp hành Tăng sự trong tinh
thần đoàn kết.
3.
Chúng tỳ-kheo không ban hành những luật lệ không thích hợp,
những luật lệ không đáng được ban hành, và cũng không
bãi bỏ những luật lệ đã được ban hành từ trước; sống
đúng những gì đã được quy định bởi cộng đồng Tăng
lữ.
4.
Các tỳ-kheo luôn luôn phải kính trọng, phục vụ các tỳ-kheo
trưởng lão, những vị có nhiều kinh nghiệm tu tập trong Chính
Pháp Luật, sẵn sàng nghe theo những lời khuyên dạy của các
bậc trưởng thượng như thế.
5.
Các tỳ-kheo sống không bị lôi cuốn bởi những tham ái.
6.
Trú xứ cộng đồng các tỳ-kheo luôn luôn là những trú xứ
nhàn tịnh.
7.
Các tỳ-kheo sống an trú trên chính niệm tạo thành một cộng
đồng sinh động, khiến cho các bạn đồng tu từ những phương
khác nếu chưa đến thì muốn đến, và đã đến thì muốn
cùng sống và cùng tu tập trong sự an lạc.
Bảy
nguyên tắc được đức Phật nêu lên đó bao gồm những điều
khoản đời sống cộng đồng, và một số điều khoản cần
thiết cho sự tiến bộ đời sống tinh thần, vốn là nội
dung phong phú của sự hòa hiệp. Các nguyên tắc chi phối cộng
đồng là các nguyên tắc dân chủ và bình đẳng; chính trên
nền tảng này mà hệ thống Luật tạng của tất cả các
bộ phái được xây dựng. Chúng cũng là những nguyên tắc
chỉ đạo cho tất cả mọi thủ tục tác pháp yết-ma.
Rồi
tiếp tục hành trình đi về Câu-thi-na, hướng đến sa la song
thọ, đức Phật dừng chân tại sinh địa của bộ tộc Ma-la.
Tại đây, tin tức về việc Ni-kiền Thân Tử [16] tạ thế,
và các đệ tử của Ni-kiền Tử đã bắt đầu tranh chấp
nhau kịch liệt khiến một số các Trưởng lão lo ngại sự
kiện như thế có thể xảy ra giữa các đệ tử Phật. Do
thế, ngài Xá-lợi-phất tập họp các tỳ-kheo để nhắc lại
tất cả những điểm chính yếu trong giáo pháp của đức
Phật để về sau khi đức Thế Tôn không còn tại thế gian
các tỳ-kheo sẽ không khởi lên dị kiến để đi đến chỗ
tranh chấp nhau về các vấn đề giáo lý [17] .
ii.
Bảy pháp diệt tránh
Mặt
khác, khi A-nan được vị Sa-di Chu-na [18] báo tin cho biết việc
tranh chấp dữ dội của các đệ tử Ni-kiền Tử, Ngài cảm
thấy «lo sợ đến dựng tóc gáy,» và cùng Chu-na đến trình
bày với Phật, thỉnh cầu Phật quy định cụ thể các nguyên
tắc đưa đến sự hòa hiệp giữa các tỳ-kheo. Nhân dịp
này, đức Phật giảng rộng các nguyên nhân đưa đến sự
tranh chấp giữa Tăng, và tiếp theo đó, ngài nêu lên bảy
pháp diệt tránh, là các biện pháp để chấm dứt sự tranh
chấp giữa Tăng, và với sáu pháp khả ý, cũng gọi là sáu
pháp hòa kỉnh, để cho các tỳ-kheo cùng sống chung trong tinh
thần hòa hiệp, nếu các nguyên tắc này được tuân thủ
nghiêm chỉnh [19].
1.
Diện tiền (hay hiện tiền) chỉ tránh luật, điều luật đình
chỉ đấu tranh bằng sự hiện diện. Khi Tăng thảo luận và
quyết định một vấn đề gì liên hệ đên một tỳ-kheo,
phải có sự hiện diện của tỳ-kheo ấy.
2.
Ức (hay ức niệm) chỉ tránh luật, đình chỉ đấu tranh bằng
nhớ lại. Sau khi Tăng đã phán quyết tính vô tội của một
tỳ-kheo bị cử tội; cac tỳ-kheo khac sau đó không được
phép chất vấn tỳ kheo bi cử tội ấy. Nói cách khác, một
tỳ-kheo chỉ được coi là phạm giới chỉ khi nào coa phán
quyết của Tăng.
3.
Bất si chỉ tránh luật, luật đình chỉ đấu tranh bằng sự
không si cuồng. Tăng không thể xử lý một tỳ-kheo khi vị
ấy đang bị bệnh tâm thần, không đủ năng lực để nhận
thức sự viêc mình đã làm.
4.
Phát lồ chỉ tránh luật, hay tự ngôn trị; luật chấm dứt
đấu tranh bằng sự tự thú nhận. Tăng chỉ có thể phán
quyết sự phạm giới của một tỳ-kheo chỉ khi nào tỳ-kheo
ấy xác nhận việc mình đã làm.
5.
Quân chỉ tranh luật, cũng gọi là tội xứ sở, hay tội tự
tính; luật chấm dứt đấu tranh bằng chín đương nhơn. Khi
tỳ-kheo phạm tội, Tăng đã có đủ yếu tố để phán ưuyết,
nhưng tỳ-kheo ấy chối tội quanh co, không chịu xác nhận,
Tăng ấp dụng biện phá chế tài, cấm tỳ-kheo làm mốt việc
và không được hương một số quuyền lợi, cho đên khi nào
chịu khuất phục.
6.
Triển chuyển chỉ tránh luật, hay đa nhân ngữ, hay đa nhân
mích tội; luật chấm dứt đấu tranh bằng sự diển tiến.
Một tỳ-kheo bị cử tội, nhưng có những bất đồng giữa
các tỳ-kheo vê phán quyết của Tăng, vì vậy, cần phải bỏ
phiếu. Tăng căn cứ theo đa số phiếu mà quyết định
7.
Như khí phấn tảo chỉ tranh luật, hay như thảo phú địa;
luật chấm dứt đấu tranh như quăng bỏ dẻ rách, hay như
rải cỏ che lấp chỗ đất dơ [20].
iii.
Sáu pháp khả hỷ
Sáu
pháp khả hỷ, thường gọi là sáu pháp hoà kỉnh, tức sáu
nguyên tắc để một tỳ-kheo sống chung hòa thuận trong tinh
thần tương trợ, và tương thân tương ái với các tỳ-kheo
khác. Nghĩa là những nguyên tắc mà mỗi cá nhân tỳ-kheo cần
phải thể hiện đối với tập thể.
1.
Thân hoà đông trú, hay thân nghiệp từ hoà, tức cử chỉ
khiêm cung và từ ái, đối với các đồng phạm hạnh.
2.
Khẩu hòa vô tránh, hay ý nghiệp từ hoà.; Sự nói năng cần
phải từ tốn, hoà nhã, không đưa đến tranh chấp.
3.
Ý hòa đồng duyệt, hay ý nghiệp từ hoà, tâm ý luôn luôn
hoan hỷ với các đồng phạm hạnh
4.
Lợi hoà đồng quân, có những lợi dương vật chất cá nhân
nhưng luôn luôn cùng chia xẻ với các đồng phạm hạnh khác.
5.
Giới hoà đồng tu, cùng chấp hành các điều khoản giới
luật chung; không tự ý đăt các luật lệ riêng cho mình.
6.
Kiến hoà đồng giải; cùng học tập, chia xẻ nhận thức
giáo lý với các đồng phạm hạnh, không tự ý tạo lập
thuyết lý riêng biệt.
Sáu
pháp hoà kỉnh hay khả hỷ này như đã thấy có tính cách
lý tưởng nhiều hơn là thực tế. Tức chỉ được thực
hiện với tinh thần tự giác. Nhưng, trong tác động của tâm
lý phàm phu, khó có thể yêu cầu tính tự giác nơi mỗi cá
nhân sống trong một tập thể. Tuy vậy, nếu sáu pháp hoà
kỉnh không được thể thể hiện trong sinh hoạt thường nhật
của một tỳ-kheo đối với các tỳ-kheo khác, thì Tăng ở
đó đang có dấu hiệu bị vỡ. Các pháp yết-ma là nhưng cụ
thể hoá sáu pháp hoà kỉnh này.
Trước
hết, về cơ bản, sáu hoà kỉnh chỉ có thể thể hiện với
đời sống không tư hữu. Nhưng không thẻ hiểu ý nghĩa không
tư hữu một cách đơn giản là không có sở hữu riêng. Ở
đây không thể trình bày chi tiết những vấn đề kiên quan
ý niệm tư hữu. Điều nên biêt là, ý niệm tư hữu chịu
nhiều thay đổi theo điều kiện kinh tế xã hội trong từng
thời đại khác nhau và trong từng quốc độ khác nhau. Do đó,
trong Luật tạng, không có một định nghĩa cụ thể nào về
y niệm này. Nhưng thông qua các pháp yết-ma thì có thể thấy
được ý nghĩa của nó.
Để
thể hiện ý nghĩa thân hoà đồng trú, các pháp yết-ma liên
hệ viêc ấn đinh cương giới, và đồng thời cũng quy đinh
tỳ-kheo đợc làm gì hay hay không được làm gì bên trong hay
bên ngoài các cương giới được cộng đồng tỳ-kheo ấn
định.
Để
thể hiện khẩu hoà vô tránh, các thủ tục tác pháp yết-ma
được quy định cụ thể, và cũng quy đinh nghĩa vụ mà mỗi
tỳ-kheo phải chấp hành đối với các pháp yết-ma của Tăng.
Cac
yết-ma phân vật, ấn định việc phân phối và sử dụng
phõng ốc, ấn định tài sản nào thuộc thường trú Tăng,
tài sản nào thuộc chiêu-đề Tăng; là nhưng cụ thể hoá
nguyên tác lợi hoà đồng quân. Các yết-ma đợc thực hiện
trên cỏ sở bảy pháp diêt tránh, và nhiều yết-ma khác nữa,
thể hiện hiên cac nguyên tắc ý hoà và kiến hoà.
Nói
một cách tổng quát theo như những gì vừa được khái quát
trên, thì nền tảng cho sự tồn tại của Tăng là thanh tịnh
và hòa hiệp. Chủ đích của các pháp yết-ma là tạo sự
thanh tịnh cho các tỳ-kheo. Người nào phạm tội, cần phải
sám hối và sám hối như thế nào là như pháp để không có
sự cơ hiềm cho các tỳ-kheo khác. Mối liên hệ giữa các
tỳ-kheo, trong sự hỗ tương quan hệ về các bổn phận và
quyền lợi cần được xử lý như thế nào để cho không
có sự tranh chấp giữa các tỳ-kheo ấy là công dụng của
pháp yết-ma.
Vậy,
yết-ma là gì?
TIẾT
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG CỦA YẾT MA
1.
YẾT MA LÀ GÌ?
Yết-ma
là phiên âm từ karman [21] của tiếng Phạn. Hán dịch là «biện
sự tác pháp» [22], và thường được các luật sư Trung quốc
giải thích rằng «Vạn sự do tư thành biện cố.» Nghĩa là
tất cả công việc của Tăng đều do nó mà được thành tựu
mỹ mãn. Đây là dịch và giải thích theo chức năng của yết-ma.
Trong nghĩa đen của tiếng Phạn, karman hay «yết-ma» có nghĩa
là hành động hay hành vi. Có hành động thuộc cá nhân mà
cũng có hành động thuộc tập thể. Để phân biệt rõ hai
phạm vi trách nhiệm như thế, trong thuật ngữ Hán dịch ngữ
nghiệp luôn luôn được dùng để chỉ cho hành động thuộc
cá nhân, và cá nhân ấy hoàn toàn chịu trách nhiệm về những
hậu quả mà nó đã làm. Trái lại, phiên âm yết-ma chỉ dùng
cho các hành vi tập thể [23].
Trong
giáo lý căn bản của Phật, không có hành động nào với
sự cố ý mà không đưa đến hậu quả tương xứng nhất
định. Động lực của hành vi luôn luôn là ý chí, tức điều
mà thuật ngữ của Luận tạng gọi là tư [24]. Hoạt động
của ý chí ngang qua sự biểu hiện của thân và ngữ. Khi ý
chí đạt đến mục đích mà nó mong muốn, bấy giờ nghiệp
đạo căn bản được thành tựu. Nhưng quá trình của bất
cứ hành vi nào thuộc thân hay thuộc ngữ, bao giờ cũng phải
đi qua ba giai đoạn [25]. Giai đoạn thứ nhất gọi là gia hành
của nghiệp đạo, tức giai đọan chuẩn bị cho hành động.
Giai đoạn thứ hai là căn bản của nghiệp đạo, lúc mà hành
vi đạt đến mục đích mong muốn. Và sau cùng là hậu khởi
của nghiệp đạo, sự tiếp diễn của hành động sau khi căn
bản nghiệp đạo đã thành tựu. Sự phân biệt này không
chỉ áp dụng cho các hành vi cá nhân, mà cả trong các hành
vi tập thể. Thí dụ trường hợp thọ giới cụ túc [26].
Sự thành tựu của giới cụ túc, nghĩa là giới tử đắc
giới hay nói rõ hơn, giới thể vô biểu [27] đã phát sinh
trong thân và tâm của giới tử, khiến cho bản chất tỳ-kheo
hiện hữu nơi giới tử, sự thành tựu này là hành vi tập
thể, tức do tác pháp yết-ma như pháp mà được thành tựu.
Căn bản nghiệp đạo được thành tựu, tức giới thể vô
biểu phát sinh nơi giới tử, chỉ khi nào Tăng đã hoàn tất
tác pháp yết-ma lần thứ ba. Tất cả các giai đoạn trước,
kể từ khi giới tử phát sinh tâm niệm cầu thọ cụ túc
giới, được dẫn vào trước Tăng, thành khẩn nói những
lời cầu thỉnh giới sư v.v… cho đến Tăng đã thực hiện
một lần tác bạch và ba lần yết-ma, tất cả những diễn
tiến này đều được gọi là gia hành của nghiệp đạo.
Sau khi Tăng đã hoàn tất bạch tứ yết-ma, giới thể vô biểu
đã phát sinh nơi giới tử, bấy giờ căn bản của nghiệp
đạo được thành tựu. Từ đó trở đi, những việc như
truyền trao pháp tứ y, tứ khí, và các sự giáo giới của
Tăng đối với vị tân tỳ-kheo đều được gọi là hậu
khởi của nghiệp đạo.
Như
vậy, trên nền tảng, không có sự phân biệt giữa nghiệp
cá nhân và nghiệp tập thể. Nguyên lý áp dụng cho một kẻ
sát nhân thành tựu hành vi sát hại của nó qua các giai đoạn
gia hành nghiệp đạo, căn bản nghiệp đạo, và hậu khởi
nghiệp đạo như thế nào, thì nguyên lý ấy cũng áp dụng
cho tác pháp yết-ma của Tăng. Đây là nguyên lý cơ bản để
xác định tác pháp yết-ma của Tăng được thành tựu hay
không thành tựu. Bởi vì, như một người khởi tâm muốn
sát hại, và chuẩn bị tất cả điều kiện cần thiết để
hoàn tất sự sát hại, nhưng tội sát có thể không thành
tựu vì căn bản nghiệp đạo không đủ yếu tố để phát
sinh, và cứ theo đó mà người ta xác định các trường hợp
khinh trọng của tội sát. Hành sự của Tăng cũng vậy, yết-ma
thành hay không thành tựu đều được chi phối bởi nhiều
điều kiện.
Xác
định tầm mức khinh trọng của một hành động cá nhân cố
nhiên không phải đơn giản, do sự diễn tiến phức tạp của
hành vi, nhưng nếu so với việc xác định giá trị thành hay
hoại của hành vi tập thể thì sự phức tạp ấy vẫn còn
tương đối đơn giản. Bởi vì, trong giáo lý của Phật, động
lực của nghiệp hay hành vi là ý chí. Nếu là ý chí cá nhân,
thì chỉ giới hạn trong trạng thái do dự hay cương quyết.
Nhưng nếu là ý chí tập thể, thì sự thống nhất ý chí
trong tinh thần tuyệt đối hòa hiệp phải được đặt lên
hàng đầu. Tất nhiên, một tập thể không phải là một bản
thể trừu tượng, mà nó là một hợp thể của nhiều cá
thể. Thái độ do dự của một cá thể là sự nứt rạn của
tập thể. một tập thể bị nứt rạn thì chẳng khác nào
một con người bệnh hoạn, thương tích, bại liệt, không
thể hoàn tất sự việc gì đáng kể. Cho nên, yếu tố căn
bản của tất cả mọi pháp yết-ma là sự thanh tịnh và hòa
hiệp của Tăng.
Trong
phạm vi hành động tập thể như vừa nói, để phân biệt
với hành động cá nhân, từ karman thay vì dịch là nghiệp
thì Hán văn chỉ phiên âm là yết-ma. Nhưng nếu nói cho đủ,
cho rõ ràng hơn phải nói là tăng-già yết-ma, tức tiếng Phạn
nói saṅghakarman – hành vi của Tăng. Cần phải nói đủ như
vậy mới có thể phân biệt hành vi của các tập thể thế
gian khác với hành vi tập thể của Tăng-già, là cộng đồng
các tỳ-kheo. Trong các tập thể khác của thế gian, khi người
ta cần có một quyết định chung thì những người tham dự
quyết định cần phải hội đủ những điều kiện cần thiết
để xác định tư cách của mỗi thành viên; nhưng tư cách
này chỉ cần căn cứ trên chức năng của cá nhân ấy trong
quan hệ tập thể. Trong phạm vi của Tăng, mà thành phần là
các tỳ-kheo, yếu tố để xác định tư cách không chỉ là
chức năng, mà còn là bản chất. Cho nên sự thanh tịnh của
mỗi tỳ-kheo trong việc giữ gìn các điều học của giới
bổn là bản chất của Tăng mà cũng là sự thanh tịnh của
Tăng.
Nói
tóm lại, yết-ma, hay nói đủ là Tăng-già yết-ma, là hành
sự của Tăng, căn cứ trên nền tảng là sự thanh tịnh và
hòa hiệp của Tăng, gồm những nguyên tắc đòi hỏi phải
tuyệt đối tuân theo được áp dụng tùy theo đối tượng
của hành sự.
2.
ĐỐI TƯỢNG CỦA YẾT MA
Trong
tư tưởng triết học của đạo Phật, tiêu chuẩn sau đây
được nhắc đến khi cần xác định tính hiện thực của
một sự hũu: «Cái gì hiện thực, cái đó có tác dụng, và
ngược lại cái gì có tác dụng, cái đó hiện thực.» Tác
dụng được nói đến đó là một khía cạnh khác của nghiệp
hay hành động. Trên nền tảng lý tính duyên khởi, không có
tác dụng nào phát sinh từ hư vô, mà phát sinh trong điều
kiện quan hệ hỗ tương. Cho nên, khi phân tích sự thành tựu
của căn bản nghiệp đạo, các luận sư của Luận tạng đã
không thể bỏ sót không đề cập y xứ của nghiệp đạo.
Y xứ tức đối tượng; sự thành tựu của mỗi nghiệp đạo
chỉ có thể được xác định chỉ khi nào xác định được
y xứ của nó [28]. Thí dụ, trường hợp một người phát
nguyện thọ trì giới cấm không sát sinh. Động lực của
hành vi hay nghiệp đạo này là tư niệm hay ý chí. Bản chất
của nghiệp đạo này, khi đã thành tựu, là không sát hại
bất cứ một sinh vật nào. Cho nên, toàn thể sinh vật trên
thế gian đều là y xứ của nghiệp đạo không sát sinh. Y
xứ này là đối tượng mà tư niệm duyên đến làm động
lực cho các quá trình của nghiệp đạo là gia hành, căn bản
và hậu khởi. Nếu tư niệm không bao trùm được toàn thể
sinh vật trên thế gian, tức y xứ bị khuyết, thì dù tư niệm
luôn luôn có mặt trong suốt giai đoạn gia hành, nhưng nó không
đưa đến căn bản nghiệp đạo, tức giới thể vô biểu
của bất sát không phát sinh nơi người thọ giới. Y xứ như
vậy gồm đối tượng, tức toàn thể sinh vật và không gian,
toàn thể sinh vật trên thế gian không trừ địa vực nào,
và trong tất cả thời gian [29]. Tất nhiên, căn cứ theo bản
chất, mỗi loại giơi có nhưng y xứ riêng biệt. Thí dụ,
giới sát sinh của cận sự (u-bà-tắc/di) không thể hạn định
theo năm tháng, mà phải là cả đời; nhưng trong giới cận
trụ, thời hiệu chỉ tồn tại một ngày một đêm.
Cũng
như mỗi nghiệp đạo thành tựu hay không thành tựu với các
trường hợp trọng hay khinh là tùy theo y xứ của nó toàn
hay khuyết; cũng vậy, yết-ma của Tăng thành hay không thành
cần phải được cân nhắc theo từng đối tượng hay y xứ.
Trong
lịch sử truyền luật tại Trung quốc, các luật sư phân biệt
có ba đối tượng của yết-ma. Đó là Nhân, Pháp và Sự.
i.
Nhân
Nhân,
tức nhân cách hay cá nhân. Tăng tác yết-ma với đối tượng
là một cá nhân nào đó, như các loại yết-ma truyền giới
cụ túc, yết-ma trị phạt v.v… Thí dụ trong trường hợp
yết-ma truyền giới cụ túc. Trước khi tác pháp, Tăng phải
kiểm nghiệm tất cả điều kiện cần thiết của giới tử
tỳ-kheo. Người muốn được Tăng tác pháp yết-ma để trao
giới cụ túc phải không có các già nạn, tuổi đủ hai mươi,
ba y và bình bát phải đủ [30]. Tất cả điều kiện này tác
thành nhân cách thành tựu của một giới tử tỳ-kheo. Tăng-già
yết-ma trong trường hợp này chỉ có hiệu lực đối với
một nhân cách thành tựu như thế. Nếu có điều kiện nào
còn thiếu, nhân cách không thành tựu, và như vậy yết-ma
cũng không thành tựu. Đấy là sự quan hệ mật thiết giữa
yết-ma và y xứ của yết-ma. Cũng tương tợ, như trường
hợp Tăng tác pháp yết-ma cho một tỳ-kheo sám hối Tăng tàn.
Chỉ khi nào Tăng xét nghiệm thỏa mãn tất cả điều kiện
tác thành một tỳ-kheo Tăng tàn, thì tỳ-kheo ấy mới trở
thành y xứ của một loại yết mà này. Pháp Tăng tàn chỉ
hiện diện nơi bản thân một người đã thọ giới cụ túc
đúng như pháp; nếu trái lại thì dù người đó có hội đủ
tất cả điều kiện tương xứng tội Tăng tàn, cũng không
thể được gọi là tỳ-kheo Tăng tàn. Yết-ma sám Tăng tàn
chỉ có hiệu lực đối với y xứ là một tỳ-kheo phạm Tăng
tàn, chứ không thể đối với sa-di hay các hạng người khác.
ii.
Pháp
Pháp,
hay bỉnh pháp [31], chỉ có các sinh hoạt tập thể của Tăng
mà Phật đã quy định, như việc thuyết giới mỗi nửa tháng,
hay tự tứ v.v… Mục đích của việc thuyết giới là duy
trì và phát huy sự thanh tịnh và hòa hiệp của Tăng [32].
Như vậy, y xứ của yết-ma thuyết giới là cộng đồng các
tỳ-kheo thanh tịnh và hòa hiệp cùng sống chung trong một trú
xứ. Trong sự xét nghiệm các điều kiện để thỏa mãn y
xứ này, trước hết là bản vị của cộng đồng, đó là
sự hiện diện của các tỳ-kheo trong phạm vi đại giới của
trú xứ. Nếu trong lúc Tăng đang tác pháp yết-ma, có một
tỳ-kheo nào đó không tham dự vào giới trường thuyết giới
cũng không có gởi dục đúng pháp, mặc dù tỳ-kheo ấy đang
ở trong phạm vi của đại giới; như vậy y xứ này bị khuyết
và yết-ma không thành tựu. Mặt khác, như đã nói, mục đích
thuyết giới là củng cố và phát triển sự thanh tịnh và
hòa hiệp giữa các tỳ-kheo, nếu lúc Tăng tác pháp yết-ma
thuyết giới mà trong phạm vi của giới trường có sự hiện
diện của một tỳ-kheo không thanh tịnh, tức tỳ-kheo có phạm
tội, nhưng chưa sám hối đúng pháp; như vậy y xứ này cũng
bị khuyết. Vả lại việc thuyết giới là một Tăng sự có
định kỳ; nếu Tăng tác pháp yết-ma này mà triển hạn định
kỳ không đúng pháp, thì y xứ cũng bị khuyết. Bất cứ y
xứ bị khuyết trong trường hợp nào, yết-ma thuyết giới
cũng đều bất thành.
iii.
Sự
Sự,
tức là sự thể hay sự vật. Nói rõ hơn y xứ của yết-ma
trong các trường hợp này là những vật thể hữu hình, như
việc kết đại giới, tiểu giới, việc phân chia Tăng phòng,
Tăng vật v.v… mỗi loại đối tượng có một sắc thái tác
thành bản chất của nó. Thí du, đại giới thì phải có mốc
rõ rệt của các đường ranh; Tăng vật thì có những vật
dụng thuộc sở hữu của chiêu-đề Tăng, hay của thường
trú Tăng. Như việc phân chia bình bát giữa Tăng, nếu các
bình bát này không được chế tạo đúng theo qui luật, nó
không thể là y xứ toàn vẹn của yết-ma. Và nếu đối tượng
để phân chia là thường trú Tăng trong một trú xứ, nhưng
các tỳ-kheo không tập họp đúng pháp như vậy thì y xứ cũng
bị khuyết.
Nói
tóm lại, bất cứ y xứ của yết-ma là loại nào, mỗi loại
đều có một số đặc tính hay điều kiện để tác thành
bản thể của nó. Khi các đặc tính không hội đủ, các điều
kiện còn thiếu sót, thì y xứ của yết-ma sẽ bị khuyết
một phần hay hư hoại toàn bộ. Như một người tàn khuyết
chỉ có thể thích hợp cho hành vi này mà không thể thích
hợp cho các hành vi khác; đương nhiên nó không thể hoàn tất
hành vi mà nó không thích hợp. Cũng vậy, sự cân nhắc tính
chất toàn khuyết của các y xứ tùy theo loại để tương
xứng với tác pháp yết-ma là điều không thể coi nhẹ được.
3.
PHÂN LOẠI YẾT MA
Nếu
dựa trên tác nhân để phân chia thì tổng quát có ba loại
yết-ma: tâm niệm, đối thú [33] và Tăng pháp. Tâm niệm là
tự mình nghĩ và nói lên lời mà không cần có người thứ
hai để nghe. Như tâm niệm bố-tát hay tâm niệm tự tứ chẳng
hạn. Đối thú là sự tác pháp giữa hai hay ba người. Một
người nói, một hay hai người khác nghe. Cả hai pháp này thực
chất không phải là yết-ma, nhưng sự tác pháp là tuân theo
những gì là Tăng đã qui định, duy chỉ có điều là không
hội đủ túc số để thành Tăng pháp.
Riêng
về Tăng pháp yết-ma, căn cứ trên pháp thức, thì chủ yếu
có ba loại: đơn bạch, bạch nhị và bạch tứ [34]. Đơn bạch
là chỉ một lần tác bạch giữa Tăng, tức thì Tăng pháp
được thành tựu. Bạch nhị là một lần bạch và một lần
yết-ma. Bạch tứ là một lần bạch và ba lần yết-ma. Ngoài
ba loại Tăng pháp yết-ma chủ yếu này, căn cứ theo luật
Tăng kỳ thì có thể thêm một trường hợp nữa: cầu thính
yết-ma [35]. Cầu thính là tác bạch giữa Tăng để cầu thỉnh
Tăng thực hiện một pháp yết-ma nào đó. Thực chất điều
này cũng không phải là pháp yết-ma, nhưng vì là sự cáo tri
sự việc giữa Tăng, mà những gì được làm giữa Tăng đều
gọi là yết-ma, theo nghĩa rộng rãi nhất, vì thế nó cũng
được gọi là yết-ma.
Ở
trên đã nói, nghĩa đen của yết-ma là nghiệp hay hành động,
hành vi. Trong phạm vi cá nhân, thân và khẩu đều là biểu
hiện của nghiệp. Bất cứ hành vi nào của thân và ngữ,
nếu hội đủ yếu tố để sẽ đưa đến hậu quả nhất
định, đều được gọi là nghiệp cả. Trong trường hợp
Tăng-già yết-ma, sự thống nhất ý chí phải được biểu
hiện bằng lời, và chỉ có sự biểu hiện này mới đưa
đến hậu quả nhất định vì nó có đủ hiệu lực để
chi phối tất cả hành động khác của mỗi cá nhân trong một
tập thể. Nói cách khác, trong các hành sự của Tăng, thân
nghiệp không đủ năng lực để thành tựu căn bản nghiệp
đạo, mà duy chỉ có ngữ nghiệp. Cho nên bất cứ hành vi
nào được thực hiện giữa Tăng đều phải được biểu
hiện bằng lời nói. Lời nói phải rõ ràng, mạch lạc, tất
cả mọi người đều nghe và hiểu, như thế yết-ma mới thành
tựu.
Như
vậy, trong sự diễn tiến của tác pháp yết-ma, gia hành nghiệp
đạo của yết-ma có thể được thực hiện bằng các động
tác của thân và ngữ, như lễ bái, cầu thỉnh v.v… nhưng
căn bản nghiệp đạo của yết-ma chỉ có thể thành tựu
bằng nghiệp ngữ, tức bằng lời nói. Không phải tất cả
các tỳ-kheo trong Tăng đều cùng nói một lượt để xác định
một vấn đề. Nhưng một tỳ-kheo trong Tăng biết rõ các pháp
thức yết-ma, đại diện Tăng tác pháp. Lời nói của vị
này trong khi tác pháp là lời nói cá nhân, nhưng thể tính
của căn bản nghiệp đạo ở đây là cộng nghiệp. Cũng như
trong các sinh hoạt tập thể của thế gian, khi một mệnh lệnh
được ban hành hay một quyết định được thông báo, thì
chỉ có thể phát xuất từ lời nói của một người có tư
cách đại diện cho tập thể. Nếu trong lúc đó cả hai người
cùng nói thì không thể thành lệnh được. Pháp nhĩ như thị,
bản chất của ngữ nghiệp là như vậy. Cho nên, trong khi Tăng
tác pháp yết-ma, chỉ một tỳ-kheo hội đủ điều kiện đại
diện Tăng nói lời tác bạch và yết-ma, chứ không thể hai
tỳ-kheo cùng nói một lần. Nếu cả hai người cùng nói, mặc
dù cùng văn cú như nhau, nhưng như vậy là thành hai quyết
định của Tăng dù nội dung đồng nhất [36].
Trong
ba loại yết-ma chủ yếu được phân loại theo pháp thức
vừa kể trên, tùy theo đối tượng của yết-ma mỗi loại
được thực hiện cho tương xứng.
Theo
thống kê tổng quát [37] của Yết-ma chỉ nam, có tất cả
44 pháp thuộc đơn bạch yết-ma. Tăng sự trong các trường
hợp này vốn đơn giản, chỉ cần một lần tác bạch cho
Tăng biết là đủ.
Về
bạch nhị yết-ma, tổng quát có tất cả 78 pháp, Tăng sự
trong các trường hợp này có tầm quan trọng hơn các Tăng
sự thuộc loại đơn bạch yết-ma. Do đó, sau khi tác bạch
cho Tăng biết sự việc mà Tăng cần phải quyết định, rồi
bấy giờ hỏi xem các tỳ-kheo đang hiện diện giữa Tăng có
ai phản đối hay không. Nếu tất cả đều im lặng, không
tỳ-kheo nào nói lời phản đối, hay phủ quyết, thì quyết
định của Tăng có hiệu lực. Nói cách khác, bạch nhị yết-ma
tức là một lần tác bạch và một lần biểu quyết.
Về
bạch tứ yết-ma, tổng quát có 39 pháp. Một lần bạch và
ba lần yết-ma, tức một lần tác bạch cho Tăng biết Tăng
sự cần làm rồi ba lần lấy biểu quyết. Đây là trường
hợp của những Tăng sự quan trọng nhất. Căn bản nghiệp
đạo của các Tăng sự này chỉ có thể thành tựu sau khi
ba lần hỏi và ba lần toàn thể Tăng đều đồng ý chấp
thuận bằng cách im lặng.
Yết-ma
thành tựu có nghĩa là căn bản nghiệp đạo của Tăng sự
thành tựu. Cũng như trong trường hợp nghiệp đạo cá nhân,
chỉ khi nào căn bản của nghiệp đạo thành tựu, thì mới
có thể đưa đến hậu quả tốt hoặc xấu tương xứng. Cũng
vậy, căn bản nghiệp đạo của Tăng sự có thành tựu thì
quyết định của Tăng mới có hiệu lực chi phối toàn thể
các tỳ-kheo trong Tăng. Sau khi yết-ma thành tựu như vậy, nếu
có tỳ-kheo nào làm khác đi điều mà Tăng đã chấp thuận
và quyết định, tỳ-kheo đó phạm tội, khinh hay trọng tùy
theo loại Tăng sự.
161
pháp yết-ma kể trên không phải là con số cố định. Tăng
sự khinh hay trọng còn tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử,
môi trường xã hội các thứ. Nhưng điều căn bản cần nắm
vững là ba loại pháp thức yết-ma ấy. Mỗi khi có sự việc
gì xảy ra giữa Tăng, cần phải cân nhắc y xứ để theo đó
mà áp dụng một pháp thức yết-ma nào cho tương xứng. Điều
này sẽ được nói rõ ở các chương sau.
4.
CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN HÀNH CỦA YẾT MA
Cũng
như quá trình diễn tiến của nghiệp đạo, cũng vậy, có
ba giai đoạn chủ yếu của yết-ma: gia hành của yết-ma, cũng
gọi là tiền phương tiện; căn bản của yết-ma tức giai
đoạn yết-ma thành tựu, và từ đó trở đi cho đến khi Tăng
giải tán gọi là hậu khởi của yết-ma.
Như
đã nói, bản chất của yết-ma là ngữ nghiệp, do đó tất
cả ba giai đoạn của yết-ma đều lấy ngữ nghiệp làm cơ
sở. Những lời được nói giữa Tăng, vì là những lời có
tính chất cộng nghiệp, cần theo một qui tắc văn cú và văn
mạch qui định sẵn, chứ không thể tùy tiện nói sao thì
nói.
i.
Tiền phương tiện
Gia
hành hay tiền phương tiện của yết-ma bắt đầu sau khi các
tỳ-kheo đã ổn định vị trí giữa Tăng, tập họp đúng
theo nguyên lý căn bản là thanh tịnh và hòa hiệp [38]. Tất
cả các loại yết-ma, từ đơn bạch cho đến bạch tứ, đều
có tiền phương tiện giống nhau, với lời văn như sau: Một
tỳ-kheo thượng tọa đại diện Tăng tác pháp yết-ma, bắt
đầu hỏi; một tỳ-kheo khác, gọi là vị duy-na [39] của Tăng,
đại diện Tăng trả lời; hỏi và trả lời lần lượt diễn
ra như sau:
Vấn
đáp 1:
Hỏi:
Tăng đã họp chưa?
Đáp:
Tăng đã họp.
Vấn
đáp 2:
Hỏi:
Hòa hiệp không?
Đáp:
Hòa hiệp.
Vấn
đáp 3:
Hỏi:
Người chưa thọ cụ túc đã ra chưa?
Đáp:
Đã ra (hoặc nói: Trong đây không có người chưa thọ cụ
túc).
Vấn
đáp 4:
Hỏi:
các tỳ-kheo không đến có thuyết dục không? [40]
Đáp:
Không (nếu không có ai gởi dục. Có thì đáp là có và thuyết
dục)
Vấn
đáp 5:
Hỏi:
Tăng nay hòa hiệp để làm gì?
Đáp:
(nói Tăng sự) yết-ma.
Các
vấn đáp trên có mục đích biểu hiện cụ thể sự thanh
tịnh và hòa hiệp của Tăng qua ngữ nghiệp. Tăng có thanh
tịnh và hòa hiệp thì căn bản nghiệp đạo của yết-ma mới
có thể thành tựu.
Vấn
đáp 1, có mục đích xác nhận sự tập hợp của Tăng là
đúng pháp. Tăng tập họp đúng pháp lá Tăng túc số. Mỗi
loại yết-ma đều có yêu cầu túc số tối thiểu nhất định,
tương xứng với đối tượng của yết-ma. Vấn đề túc số
Tăng sẽ được nói sau.
Vấn
đáp 2, xác nhận sự hòa hiệp của Tăng. Trong cùng một giới,
nếu Tăng không được xác nhận là hòa hiệp thì yết-ma của
Tăng bất thành.
Vấn
đáp 3, kiểm điểm thành phần của Tăng. Những người chưa
thọ cụ túc, nghĩa là chưa đắc giới để thành tựu bản
thể của tỳ-kheo, không phải là thành phần của Tăng không
được tham dự yết-ma của Tăng.
Vấn
đáp 4, có một vài thay đổi tùy theo loại yết-ma. Như các
yết-ma kết tiểu hay đại giới, không tỳ-kheo nào được
vắng mặt dù bất cứ lý do nào, do đó hoàn toàn không cho
phép thuyết dục và như vậy vấn đáp này được bỏ qua
[41]. Trong trường hợp thuyết giới, các tỳ-kheo đang có mặt
trong đại giới, nhưng có duyên sự chính đáng được phép
không tập họp trong giới trường thuyết giới thì phải gởi
dục và thanh tịnh. Gởi dục là gởi ý chí tùy thuận Tăng,
sẽ chấp hành bất cứ một quyết định nào của Tăng. Và
cũng phải báo cáo cho Tăng biết là đối với các học xứ
của tỳ-kheo mình hoàn toàn thanh tịnh [42]. Như vậy, trong
trường hợp tác pháp thuyết giới, vấn đáp này cần nói
đủ như sau:
- Các
tỳ-kheo không đến có thuyết dục và thanh tịnh không?
Nếu
có thì đáp có, nếu không thì đáp không. Chi tiết của các
việc này sẽ được nói rõ trong chương thuyết giới [43].
- Có
ai sai tỳ-kheo-ni đến thỉnh giáo giới hay không?
Cũng
trường hợp tác pháp thuyết giới, vì theo điều Phật chế,
tỳ-kheo-ni Tăng mỗi nữa tháng phải đến Tăng cầu thỉnh
giáo thọ sư, là một trong Tám kỉnh pháp của tỳ-kheo-ni,
do đó, sau vấn đáp 4, còn có thêm vấn đáp này nữa.
Vấn
đáp 5, xác định mục đích mà Tăng tập họp để tác pháp.
Như nếu tập họp để thuyết giới, thì đáp lá: yết-ma
thuyết giới, nếu để kết đại giới thì đáp: yết-ma kết
đại giới; v.v….
Trên
đây là văn tiền phương tiện của yết-ma. Nhưng pháp thức
yết-ma có đơn có kép khác nhau, do đó trong một lần tác
pháp, có trường hợp chỉ có một tiền phương tiện cho nhiều
tác pháp yết-ma, nhưng cũng có trường hợp phải có mỗi
tiền phương tiện cho mỗi tác pháp yết-ma. Thí dụ trường
hợp tự tứ hay thuyết giới. Trong trường hợp tự tứ, tác
pháp chủ yếu là đơn bạch yết-ma. Nhưng vì Tăng đông, cần
phải sai ngườihành xá-la hay hành trù [44] để kiểm điểm
Tăng số, thì có thêm bạch nhị yết-ma để Tăng sai người
hành xá-la. Hoặc cần có người nhận sự tự tứ của các
tỳ-kheo, thì có thêm bạch nhị yết-ma để Tăng sai tỳ-kheo
làm người nhận tự tứ. Tất cả các yết-ma này đều là
gia hành của yết-ma tự tứ. Do đó, trong vấn đáp 5, câu
trả lời vẫn phải nói là yết-ma tự tứ. Mặc dù tiếp
theo đó bạch nhị Tăng sai tỳ-kheo hành trù hay nhận tự tứ
rồi mới đến đơn bạch tác pháp tự tứ sau cùng. Như vậy,
trong một lần tập Tăng, cùng một tiền phương tiện gồm
vấn đáp 1, 2, 3, 4, mà tác pháp nhiều loại yết-ma, lời văn
vấn đáp 5 thay đổi theo từng việc.
Trường
hợp khác, như giải và kết đại giới hay tiểu giới. Sau
khi tác tiền phương tiện để tác pháp yết-ma giải giới,
lại cần có tiền phương tiện khác để yết-ma kết giới.
Mặc dù thời gian của kết giới và giải giới được tiến
hành liên tục, nhưng bản chất của hai loại yết-ma khác
nhau, do đó không thể cùng chung một tiền phương tiện. Tức
là, bắt đầu từ vấn đáp một cho đến sau cùng hỏi và
đáp:
- Tăng
nay hòa hiệp để làm gì?
-
Yết-ma giải đại giới.
Sau
khi xong tác pháp giải giới, lại tác tiền phương tiện khác,
cũng bắt đầu với vấn đáp 1 cho đến sau cùng hỏi:
- Tăng
nay hòa hiệp để làm gì?
-
Yết-ma kết đại giới.
Như
thế gọi là tác pháp đơn. Nghĩa là một tiền phương tiện
cho một tác pháp duy nhất chứ không được phép kiêm cả
hai.
Có
trường hợp nhất định đơn, như yết-ma kết và giải giới
v.v… có trường hợp nhất định kép, như truyền thọ cụ
túc v.v…, có trường hợp bất định, như thuyết giới hay
tự tứ v.v…. nếu tiền phương tiện không được thực hiện
đúng theo các tác pháp đơn hay kép hay bất định như thế
thì yết-ma của Tăng bất thành.
ii.
Căn bản và hậu khởi của yết-ma
Sau
khi tiền phương tiện, tức gia hành của yết-ma, được thành
tựu, bây giờ tùy theo loại yết-ma, hoặc đơn bạch, hoặc
bạch nhị, hoặc bạch tứ, cần phải đúng pháp mà thực
hiện để cho căn bản nghiệp đạo của yết-ma được phát
sinh, và do thế yết-ma của Tăng được thành tựu. Văn của
mỗi loại yết-ma này sẽ được nói trong các chương liên
hệ.
Sau
khi căn bản nghiệp đạo của yết-ma đã thành tựu, từ đó
là hậu khởi của yết-ma. Thí dụ, sau đơn bạch thuyết giới,
thì việc tụng đọc các học xứ trong giới kinh, từ bài
tựa cho đến các bài kệ thất Phật và cuối cùng là các
kệ tán giới v.v… cho đến cuối cùng các tỳ-kheo đều ra
khỏi giới trường thuyết giới, trọn cả giai đoạn này
gọi là hậu khởi của yết-ma. Hậu khởi cũng phải được
tiến hành như pháp. Thí dụ, nếu là yết-ma thuyết giới,
thì phải đọc trọn giới kinh từ đầu đến cuối. Nếu
vì nạn duyên không thể đọc trọn, thì trường hợp nào
có thể đọc đến điều khoản nào cũng phải như pháp chứ
không thể tùy tiện muốn đọc đến đâu và muốn nghỉ ở
đâu. Hoặc trong yết-ma tự tứ cũng vậy. Sau đơn bạch tự
tứ, các tỳ-kheo bắt đầu lần lượt nói tam sự tự tứ,
cho đến tỳ-kheo cuối cùng. Nếu còn một tỳ-kheo nào chưa
kịp nói tam sự tự tứ mà Tăng đã giải tán, thì hậu khởi
bị đứt ngang, dù tác pháp yết-ma có thành tựu đúng pháp,
nhưng hiệu lực của yết-ma bị giảm sút.
Do
vậy, trong khi tác pháp yết-ma, phải thực hiện cho hoàn tất
đúng pháp cả ba giai đoạn của yết-ma, không thể tự tiện
thêm bớt.
5.
CÁC YẾU TỐ ĐỂ THÀNH TỰU YẾT MA
Tùy
theo, mỗi loại yết-ma cần hội đủ một số yếu tố nhất
định mới thành tựu. Thí dụ, yết-ma truyền giới cụ túc,
gồm 4 yếu tố thành tựu: 1) Nhân thành tựu, tư cách giới
tử đầy đủ. 2) Tăng thành tựu, Tăng đủ số, gồm năm
hay mười tỳ-kheo tùy địa phương. 3) Giới thành tựu, giới
trường hay tiểu giới đã được tác pháp ấn định như
pháp. 4) Yết-ma thành tựu, các giai đoạn của yết-ma, gia
hành, căn bản và hậu khởi được thực hiện đầy đủ
như pháp.
Tổng
quát có 4 yếu tố căn bản để yết-ma được thành tựu:
y xứ, giới, túc số và pháp thức.
i.
Y xứ - Y xứ, hay đối tượng của yết-ma, như đã nói rõ
ở trên.
ii.
Giới - Giới, hay cương giới, sẽ được nói rõ trong chương
tiếp theo (Chương II)
iii.
Túc số - Mỗi loại yết-ma được thực hiện với một túc
số tối thiểu. Có 4 trường hợp túc số Tăng, tức cũng
là bốn phân loại Tăng theo túc số như đã nói ở trên. Nhưng
túc số ở đây không phải kể theo đầu người, mà là kể
theo phẩm tính, tức là người đã thọ cụ túc, hoàn toàn
thanh tịnh; nếu có phạm tội thì đã sám hối như pháp, và
phải cùng hiện diện trong một cương giới. Nếu đứng ngoài
các đường ranh của cương giới, hay dù ở trong cương giới
nhưng bay lên khỏi mặt đất, thảy đều không được kể
là túc số.
Ở
đây cũng nên nói thêm một số chi tiết về túc số Tăng
bốn người. Nếu có bốn tỳ-kheo trở lên cùng tập hợp
trong phạm vi một cương giới thì đủ để thành Tăng thể
và có thể tác pháp cho các Tăng sự như thuyết giới. Tuy
nhiên, trong trường hợp tự tứ, nếu cần có tỳ-kheo Tăng
sai, thì người thọ sai ấy là đối tượng của yết-ma, không
thể kể trong túc số bốn người. Các trường hợp tương
tự khác, như phân chia vật dụng giữa Tăng. Cần có người
thọ sai vì là đối tượng của yết-ma Tăng sai do đó cũng
không được kể trong túc số bốn người. Nói tóm lại, trong
các trường hợp tương tự như thế, túc số Tăng phải kể
là năm người, mặc dù tự bản chất, các loại yết-ma này
có thể được tác pháp với túc số Tăng bốn người.
Ngoài
ra, trong các loại yết-ma, có các trường hợp cộng và bất
cộng khác nhau. Bất cộng là tỳ-kheo Tăng và tỳ-kheo-ni Tăng
không được tác pháp chung. Như vậy, trong túc số tỳ-kheo
không thể kể tỳ-kheo-ni vào và ngược lại cũng vậy.
iv.
Pháp thức - Pháp thức thành tựu hay yết-ma thành tựu là
các quá trình diễn tiến của yết-ma được thực hiện như
pháp, theo thứ tự mạch lạc. Chi tiết của quá trình này
đã được nói trên.
6.
GIÀ YẾT MA [45]
Tăng-già
yết-ma là biểu hiện tuyệt đối của sự thống nhất ý
chí của Tăng. Do đó, khi Tăng tác pháp, nếu có người đủ
tứ cách phủ quyết nói lên lời không chấp thuận Tăng sự
đang được tác pháp, thì yết-ma bất thành. Không có trường
hợp đa số áp đảo thiểu số mà luôn luôn phải là sự
thuần nhất. Già yết-ma tức là Tăng sự bị phủ quyết.
Nhưng ai có tư cách phủ quyết này? có bốn trường hợp [46]:
a.
Người được kể trong túc số Tăng nhưng không được phép
ngăn yết-ma (tức phủ quyết Tăng sự): đó là những người
đang là đối tượng của yết-ma ha trách, yết-ma tẩn xuất,
yết-ma y chỉ, yết-ma cấm không cho đến nhà bạch y
b.
Người không được kể trong túc số Tăng nhưng có quyền
ngăn yết-ma: đó là người đang cầu thọ cụ túc [47].
c.
Người không được kể là túc số và cũng không có quyền
ngăn yết-ma: như khi tỳ-kheo Tăng tác pháp, thì tỳ-kheo-ni
không được kể trong túc số và cũng không được phép ngăn.
Những người khác chưa thọ cụ túc, những người phạm biên
tội, những người tặc tâm thọ giới, hoàng môn, ngũ nghịch,
tỳ-kheo đã bị tác pháp diệt tẩn, biệt trụ trong khi sám
Tăng tàn, tỳ-kheo không cùng trú xứ, tỳ-kheo đang hiện thần
thông bay cách mặt đất, tỳ-kheo ở ngoài tầm thấy và nghe
khi Tăng tác pháp, cùng những người đang là đối tượng
của yết-ma. Tất cả các hạng người vừa nêu, không được
kể trong túc số Tăng cũng không được phép ngăn Tăng tác
pháp yết-ma.
d.
Ngoài các hạng người kể trên, tỳ-kheo thanh tịnh hiện diện
được kể trong túc số và có quyền ngăn yết-ma. Trong trường
hợp bị ngăn như vậy, yết-ma bất thành.
7.
PHI TƯỚNG CỦA YẾT MA
Trên
đây đã nói về ba y xứ và bốn yếu tố thành tựu của
yết-ma và cũng đã nói rằng thể tính của Tăng yết-ma là
ngữ nghiệp. Tất cả những điều đó là những điều kiện
cần nghiệm xét và cần hội đủ để yết-ma của Tăng được
thành tựu và có hiệu lực. Ở đây sẽ nói đến các phi
tướng của yết-ma, tức những dấu hiệu cho biết yết-ma
không thể thành tựu. Các dấu hiệu này căn cứ trên hai yếu
tố để nhận biết. Đó là nhân và pháp. Nhân hay nhân cách
là thẩm quyền của một tỳ-kheo trong túc số Tăng, hay toàn
thể Tăng, có thể được sử dụng trong một giới hạn nào
đó. Pháp, tức qui tắc tác pháp. Chức năng của hai yếu tố
này là kết hợp tất cả điều kiện cần có của Yết-ma
thành một chỉnh thể thống nhất. Một trong hai nếu không
toàn vẹn, dấu hiệu bất thành của yết-ma sẽ được nhận
thấy.
Có
bảy phi tướng của yết-ma.
i.
Phi pháp phi tì-ni:
Trong
ba loại yết-ma đơn bạch, bạch nhị và bạch tứ, tùy theo
tầm mức quan trọng của từng Tăng sự mà áp dụng. Với
Tăng sự chỉ cần đơn bạch là đủ, nhưng Tăng lại tác
pháp bạch nhị hay bạch tứ. Hoặc bạch yết-ma không theo
thứ tự mạch lạc, như yết-ma trước rồi bạch sau. Tất
cả những trường hợp như vậy gọi là phi pháp, nghĩa là
tác pháp không đúng pháp thức. Mặt khác, hoặc một người,
cho đến hai hay ba người, chưa đủ Tăng số mà tác pháp để
cử tội một người, cho đến hai hay ba người, hay cử tội
Tăng [48]. Những trường hợp như vậy gọi là phi tì-ni, vì
nhân cách vượt ngoài thẩm quyền mà luật đã qui định.
ii.
Phi pháp biệt chúng:
Tác
pháp không đúng pháp thức và Tăng không được hòa hiệp,
đây gọi là phi tướng của yết-ma do phi pháp và biệt chúng.
Phi pháp ở đây cũng giống như đã nói ở trên. Biệt chúng
là do sự tập họp Tăng không đúng qui tắc. Thí dụ trong
trường hợp tự tứ hay thuyết giới; theo qui tắc thì tất
cả Tăng đang có mặt trong cùng cương giới của trú xứ đã
được ẩn định đều phải tập họp toàn bộ. Nếu không
tập họp toàn bộ, và những người do duyên sự Tam bảo được
phép không đến nhưng lại không gởi dục, hoặc gởi dục
không đúng pháp, như vậy, Tăng có thể bị chia thành hai chúng
không hòa hợp, do đó gọi là biệt chúng [49]. Hoặc trong trường
hợp truyền giới cụ túc, túc số tối thiểu phải mười
vị tỳ-kheo cùng tập họp trong phạm vi của giới trường,
nhưng cùng trong giới trường mà kẻ đứng người ngồi không
đồng nhất, thì đây cũng gọi là biệt chúng.
iii.
Phi pháp hòa hiệp:
Tăng
hòa hiệp, nghĩa là không có biệt chúng, nhưng các loại yết-ma
được áp dụng lại không đúng tầm mức quan trọng của
các Tăng sự.
iv.
Như pháp biệt chúng:
Trái
với các trường hợp phi pháp đã nói trên tức là như pháp.
Dù yết-ma như pháp, nhưng chúng không hòa hiệp, cũng là phi
tướng của yết-ma.
v.
Pháp tương tự biệt chúng:
Các
loại yết-ma đơn bạch, bạch nhị hay bạch tứ được áp
dụng đúng cách theo tầm mức quan trọng của Tăng sự, nhưng
khi tác pháp thì không đúng qui tắc, nghĩa là không theo thứ
tự tác bạch trước rồi yết-ma (lấy biểu quyết) sau mà
lại yết-ma trước tác bạch sau. Loại yết-ma không đúng
như thứ tự tác pháp điên đảo như vậy, gọi là tác pháp
tương tự. Biệt chúng thì như đã nói trên.
vi.
Pháp tương tự hòa hiệp:
Trái
với biệt chúng là hòa hiệp. Pháp tương tự thì giống như
điều 5 vừa nói.
vii.
Bị ngăn mà không đình chỉ:
Yết-ma
bị ngăn cản đúng pháp, nghĩa là người ngăn đủ tư cách
đề ngăn, và ngăn đúng cách. Dù bị ngăn, tức bị phủ quyết,
nhưng Tăng vẫn cứ tiến hành tác pháp, như thế cũng là phi
tướng của yết-ma.
Nói
tóm lại, nếu phạm một trong bảy phi tướng kể trên, thì
yết-ma của Tăng bất thành, và quyết định cua Tăng không
thể có hiệu lực.
KẾT
LUẬN
Sự
tồn tại của Tăng là sinh mạng của Phật Pháp. Thanh tịnh
và hòa hiệp là yếu tố nền tảng tạo thành sinh mạng của
Tăng. Cũng như bất cứ sự tồn tại của một cộng đồng
xã hội nào trong thế gian đều phải đặt trên nền tảng
là sự thống nhất ý chí và hành động; mà biểu hiện của
sự thống nhất này là sự thống nhất quyết định và mệnh
lệnh được ban hành. Cũng vậy, Tăng có được sự hoà hiệp
là do sự thống nhất quyết định; và quyết định ấy được
ban hành bằng mệnh lệnh mà tất cả thành phần của Tăng
phải tuân theo. Làm thế nào để có sự thống nhất ấy,
là chức năng của yết-ma.
Tuy
nhiên, tổ chức Tăng-già, tức cộng đồng xuất gia của chúng
đệ tử của Phật, không giống như bất cứ tổ chức nào
của thế gian, cho nên các pháp yết-ma của Tăng có những
sắc thái và nội dung riêng biệt.
Như
đã nói, Tăng-già yết-ma là một hình thái khác của cộng
nghiệp, hay hành vi tập thể. Trong các cộng đồng của thế
gian, vì mỗi tổ chức có một hay nhiều mục tiêu khác nhau,
và do đó, quan niệm về bản chất và sắc thái hành động
để đạt đến mục đích đó cũng khác nhau. Trong Phật pháp,
mục đích tối thượng là giải thoát, là đạt đến đạo
quả của Niết-bàn. Do sự chi phối của nghiệp lực, con người
có thể bị đoạ lạc hay được thăng tiến, trở nên thấp
hèn hay cao thượng. Sự chuyển hướng của hành động là
sự chuyển hướng bản chất của con người, thay đổi xu
hướng đọa lạc thành xu hướng siêu việt; đưa con người
từ chỗ thấp hèn lên đến chỗ cao thượng. Vì vậy quan
niệm về bản chất và biểu hiện của nghiệp trong giáo pháp
của Phật không giống như các quan điểm về triết lý hành
động của thế gian. Chính do điểm này mà các yết-ma của
Tăng, mặc dù xét trên hình thức thì đại khái cũng giống
như các nguyên tắc sinh hoạt trong các cộng đồng xã hội,
dù vậy, bản chất và sắc thái yết-ma của Tăng lại hoàn
toàn khác hẳn. Nếu nắm vững giáo lý về nghiệp, gồm cả
biệt nghiệp và cộng nghiệp, mà đức Phật đã giảng dạy,
thì có thể nắm vững được những điểm tinh yếu của Tăng-già
yết-ma.
Nguyên
lý căn bản của nghiệp trong Phật pháp có thể được phát
biểu tóm tắt như vầy: «Sống là hành động» nếu muốn
nói theo ngôn ngữ thông thường. Hoặc hói: «Cái gì hiện
thực, cái đó có tác dụng và ngược lại cái gì có tác
dụng, cái đó hiện thực,» đó là muốn nói theo ngôn ngữ
triết lý. Dù muốn nói theo cách nào, nói là hành động, hay
nói là tác dụng, thảy đều là những cách nói khác về nghiệp.
Yết-ma là dấu hiệu cho sự tồn tại hay tan vỡ của Tăng.
Với tính chất quan trọng như vậy, việc nghiên cứu các pháp
yết-ma là phận sự không thể nào xao lãng đối với tỳ-kheo.
--------------------------------------------------------------------------------
Chú
thích:
[1]
Skt. = Pali: Saṅgha, phiên âm là Tăng-già và phổ thông dịch
là chúng, chúng hội, hòa hiệp chúng.
[2]
Thí dụ, khi nói về Tông chủ của một học phái thời Phât,
văn Pali nói: ayaṃ... saṅghī c’eva gaṇī ca gaṇācariyo...,
«Vị ấy là chủ của một Tăng đoàn, chủ của một chúng
hội, là bậc Thầy của chúng hội.» Cf. D.i. tr. 48.
[3]
Tăng theo nghĩa chân chính, định cú Pali thường nói: Supaṭipanno
Bhagavato sāvaka-Saṃgho, uju-paṭipanno Bhagavato sāvaka-Saṃgho,
ñāya-paṭipanno Bhagavato sāvaka-Saṃgho, sāmīci-paṭipanno Bhagavato
sāvaka-Saṃgho yadidam cattāri purisa-yugāni aṭṭha purisa-puggalā,
eso Bhagavato sāvaka-saṃgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjali-kāraṇīyo
anuttaraṃ puñña-kkhettaṃ lokassāti, (D.33. Saṅgīti, tr. 227).
Đối chiếu Hán dịch của Huyền Trang, Cf. Tập dị môn 7 (Đại
26, tr.393b): Phật đệ tử cụ túc diệu hành, chất trực hành,
như lý hành pháp tùy pháp hành, hoà kính hành tùy pháp hành.
Trong Tăng ấy, có Dự lưu hướng, có Dự lưu quả, có Nhất
lai hướng, có Nhất lai quả, có Bất hoàn hướng, có Bất
hoàn quả, có A-la-hán hướng, có A-la-hán quả. Như thế tổng
thể có bốn đôi tám lẻ bổ-đặc-già-la. Chúng để tử
của Phật có giới cụ túc, định cụ túc, tuệ cụ túc,
giải thoát cụ túc, giải thoát tri kiến cụ túc; là những
vị xứng đáng được thỉnh mời (ưng thỉnh), xứng đáng
được cúi chào (ưng khuất) , xứng đáng được cung kính
(ưng cung kính), là phước điền vô thượng.»
[4]
Thập tụng luật 1 (Đại 23, tr.2a): có bốn hạng tỳ-kheo:
1. Danh tự tỳ-kheo, 2. Tự xưng tỳ-kheo, 3. Hành khất tỳ-kheo,
4. Phá phiền não tỳ-kheo. Căn bản thuyết nhất thiết hữu
bộ tỳ nại da (Đại 23, tr.629c-630a) có năm hạng tỳ-kheo:
1. Danh tự tỳ-kheo, 2. Tự ngôn tỳ-kheo, 3. Hành khất tỳ-kheo,
4. Phá phiền não tỳ-kheo, 5. Bạch tứ yết-ma cụ túc tỳ-kheo.
Tứ phần luật 1 (Đại 22, tr 571a) có 8 hạng tỳ-kheo: 1. Danh
tự tỳ-kheo, 2. Tương tợ tỳ-kheo, 3. Tự xưng tỳ-kheo, 4.
Thiện lai tỳ-kheo, 5. Hành khất tỳ-kheo, 6. Trước cát triệt
y tỳ-kheo, 7. Phá kết sử tỳ-kheo. 8. Thọ Đại giới bạch
tứ yết-ma như pháp thành tựu đắc xứ sở tỳ-kheo.
[5]
Xem chương 4.
[6]
Xem Tứ phần luật 44, «Chiêm ba kiền độ» (Đại 22, tr. 886a).
[7]
Chiêu-đề, hay chiêu-đề-xá, Skt. catur-diśa (Pl. catu-disa); Hán:
tứ phương. Chiêu-đề-tăng, chỉ cộng đồng tỳ-kheo không
định cư lâu dài tại bất cứ trú xứ nào.
[8]
A-nhã Kiều-trần-như; Skt. Ajña-Kauṇḍinya (Pl. Aññā-Koṇḍañña).
[9]
Da-xá, hay Da-thâu-già; Skt. Yaśa hay Yaśodha; Tứ Phần luật
32 (Đại 22, tr.789b). Pali, Mahāvagga I, Vn.i. tr. 1.
[10]
Theo Luật tạng Pàli, Mahāvagga I, Vn.i. tr. 21 (Đại phẩm, Chương
I ): Caratha, bhikkhave, cārikaṃ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya
atthāya hitāya sukhāya devamanussanāṃ. Mā ekena dve agamittha, «Này
các Tỳ-kheo, các ngươi hãy đi, vì sự lợi ích, vì sự an
lạc của nhiều người; vì lòng thương tưởng thế gian; vì
sự ích lợi, sự an lạc của chư thiên và nhân loại. Chớ
đi với hai người cùng một đường.»
[11]
Ma-kiệt-đà; Skt. (=Pl.) Magadha, một trong 16 nước lớn thời
Phât. Cf. Trường A-hàm 2 «Kinh Du hành» Đại 1, tr. 11tt.; Trung
A-hàm 35, «kinh 142 Vũ thế» Đại 1, tr. 647. Tham chiếu Pali,
Mahāparinibbāna (D.ii. tr. 4).
[12]
Câu-thi-na; Skt. Kuśinagara (Pl. Kusinagara/Kusinārā), thủ phủ
của bộ tộc Malla (Mạt-la); Cf. D.ii. tr. 146
[13]
A-xà-thế, hay Vị Sinh Oán; Skt. Ajātaśatru (Pl. Ajātasattu), Quốc
vương nước Magadha.
[14]
Bạt-kỳ, hay Bạt-xà; Pl. Vajji, tên một bộ tộc, cũng là
Vương quôc, thời Phật.
[15]
Trường A hàm (Đại 1, tr. 11a), Trung A-hàm 35 (Đại 1, tr.648),
Tăng nhất a hàm 34 (Đại 2, tr. 738b); Pl. A.vii. 20. Vassakāra,
D.16. Mahāparinibbāna.Bất thối pháp不退法; Pali: aparihāniya-dhamma,
không suy thoái. Trong kinh này, có hai loại bảy pháp bất thối:
bảy bất thối của quốc vương (rājā-aparihāniya-damma) và
bảy bất thối của tỳ-kheoTỳ-kheo (bhikkhu-aparihāniya-dhamma)
[16]
Ni-kiền Thân Tử, hay Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử: Skt. Nigrantha-Jtiputra
(Pl.Nigaṇṭha-Nātaputta), được xem là Giáo tổ Kỳ-na giáo
(Jainism); một trong sáu Tôn sư ngoại đạo thời Phât; học
thuyết, xem kinh Sa-môn quả, Trường A-hàm 17 (Đại 1, tr. 107);
Pali, Sāmaññaphala-sutta, D.i. tr. 57.
[17]
Trường A hàm 8 (kinh Chúng tập, Đại 1, tr. 49b). Cf. Tập dị
môn, Đại 26, tr. 367. Pali, D. i. tr. 207, 33. Saṅgīti,
[18]
Sa-di Châu-na. Pali: Cunda samaṇuddesa. Được đồng nhất với
Mahā-Cuṇda em ruột ngài Sāriputta và đắc quả A-na-hàm trong
lúc là sa-di.
[19]
Trung A hàm 52 (kinh Chu-na Đại 1, tr. 752c). Cf. Pali : M.103. Sāmagāmasuttā.
Hán, biệt dịch No 85 Phật thuyết Tức tranh nhân duyên kinh,
Tống Thi Hộ dịch. Đại 1, No 85, tr.904. Về 7 pháp diệt tránh
trong Luật tạng, Ngũ phần luật 23, Đại 22, tr. 153tt.; Tứ
phần luật 47- 48, Đại 22 tr. 913tt.; Thập tụng luật 20, Đại
23, tr. 141tt.
[20]
Thuật ngữ theo Luật Tứ phần: 1. hiện tiền tì-ni (Pali: sammukhāvinaya),
2. ức niệm tì-ni (sativinaya), 3. bất si tì-ni (amūḷhavinaya),
4. tự ngôn trị (paṭiññayā kāretabbaṃ), 5. tha nhân ngữ
(yebhuyyasikā), 6. tội xứ sở (tassapāyikā), 7. như thảo phú
địa (tiṇavatthāraka).
[21]
Skt. nói đủ: karmavācanā (Pl. kammavācā), Hán: yết-ma ngữ;
dịch: biện sự tác pháp.
[22]
Cf. Hành sự sao (Đại 40, tr. 11a), «Thiên 5. Thông biện yết-ma,»
phụ chú: «Minh liễu luận sớ phiên là nghiệp. Nghiệp là
sở tác (phận sự cần làm). Cũng phiên là sở tác. Bách luận
nói là sự. Theo ý nghĩa mà nói, thì phiên là biện sự. Tức
là, nhưng việc cần làm đều phù hợp pháp (được quy định),
cho nên có công dụng giúp thành tựu.»
[23]
Cũng có dịch giả không muốn phân biệt hai trường hợp như
thế, nên đều dịch là nghiệp cả Như Tăng-già Đề Bà,
Trung A hàm 52 (Kinh Ưu ba li, Đại 1, tr. 755c).
[24]
Skt. (=Pl.) cetanā: ý chí, ý hướng, cố ý. Cf. A. iii., tr. 45:
cetanāhaṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi, cetayitvā kammaṃ karoti kāyena
vācāya manasā, «Này các Tỳ-kheo, Ta nói nghiệp là tư (ý chí).
Sau khi tư duy, nó tạo nghiệp bằng thân, miệng và ý.» Xem
Trung A hàm 27 (Kinh Đạt phạm hạnh, Đại 1, tr. 600a). Xem thêm
Câu xá luận 13 (Đại 29, tr. 67b): thế biệt do nghiệp sinh,
tư cập tư sở tác. Kośa iv. 1: karmajaṃ lokavaicitryaṃ, cetanā
tatkṛtaṃ ca tat.
[25]
Cf. Ba giai đoạn của nghiêp: gia hành nghiệp đạo, Skt. prayoga-karmapatha
(hay tiền phương tiện, Skt. sāmantaka), căn bản nghiệp đạo,
Skt. maula-karmapatha; hậu khởi nghiệp đạo, Skt. pṛṣṭha-karmapatha.
Cf. Tì-bà-sa 113 (Đại 27, tr.583b).
[26]
Giải thich của Câu xá 16 (Đại 29, tr. 840, 86a).
[27]
Skt. avijñapti. Ht.: vô biểu; Cđ.: vô giáo. Chi tiết, xem Câu-xá
13, Ch. iv, tụng 3d. Cf. Câu-xá 16, nt.: «Sau khi yết-ma lân thứ
ba, biểu và vô biểu nghiêp trong một sát na này được gọi
là căn bản nghiệp đạo (Skt. maula-karmapatha). Đây gọi là
giới thể vô biểu (hay vô tác, La-thập).Vê vô biểu, Câu-xá
1, tr. 3a: «Vô biểu, tuy tự thể là săc pháp như hữu biểu,
nhưng không biểu thị cho người khac biết, nên nói là vô
biểu..» Hữu bộ quan niệm tự thể của vô biểu là thực
hữu. Kinh bộ cho là giả hũu. Cf. Câu-xá 13, tr. 67c.
[28]
Câu xá luận 15 (Đại 29, tr. 78a.tt.). Cf. Tì-bà-sa 120 (Đại
27, tr.626b): Chỉ đắc giới đói với các loại hữu tình mà
hành vi củạ minh có thể gay ảnh hưởng (sở năng xứ hữu
tình).
[29]
Cf. Câu-xá 15 (Đại 29, tr. 78b), 5 điều hạn định không đắc
giới: 1.Hữu tình định, chỉ không giêt hại môt số sinh
vật nào đó. 2. Chi định, chỉ giữ một số điều khoản
hạn chế. 3.Xứ định, chỉ giữ giới trong địa phương nào
đó. 4.Thời định, chỉ giữ giới trong thời gian hạn định.
5. Duyên định , chỉ giữ trong điều kiện (phương tiện)
nhất định ( thí dụ, không giết bằng dao, nhưng giết bằng
thuốc).
[30]
Xem chương III, đoạn sau.
[31]
Hán: bỉnh pháp, danh từ luật học, chỉ sự chấp hành pháp.
[32]
Xem chương V đoạn sau.
[33]
Hán: đối thú; hoẳc đọc là đối thủ.
[34]
Ma ha Tăng kỳ luật 24 (Đại 22, tr. 422a) gọi là đơn bạch,
bạch nhất và bạch tam.
[35]
Cầu thính yết-ma; Cf. Ma-ha Tăng-kỳ luật 24 (Đại 22, tr. 422b).
[36]
Cũng nên lưu ý rằng, theo thông lệ tác pháp yết-ma ở nước
ta, sau tác bạch của tỳ-kheo tác pháp, có thêm câu hỏi: «Tác
bạch có thành không?» Và toàn thể Tăng đồng thanh đáp:«Thành.»
Và sau mỗi lần yết-ma, tức lấy biểu quyết, cũng có thêm
câu hỏi: «Yết-ma có thành không?» Toàn thể Tăng đáp: «Thành.»
Co ý kiến cho rằng thủ tục hỏi như vậy trái vơi bản chất
của yết-ma. Nhưng cũng có giả thích noi răng, điều này không
có nghĩa là quyết định của Tăng được nói bởi nhiều
người cùng một lúc, mà chỉ là xác nhận của toàn thể
Tăng về sự thành tựu của yết-ma như pháp. Nghĩa là văn
cú của người tác pháp được phát biểu đúng pháp.
[37]
Tùy cơ yết-ma (Đại 40, tr. 492b: 1.Tăng pháp yết-ma có 134
pháp. Trong đó, a) đơn bạch: 39 pháp; b) bạch nhị: 57 pháp;
c) bạch tứ: 38 pháp. 2. Đối thủ: 28 pháp. 3. Tâm niệm: 7
pháp.
[38]
Câu-xá 16 (Đại 29, tr. 86a): «Thí dụ, khi một sa-di thọ tỳ-kheo.
Từ khi được đưa vào giới thiệu giưa Tăng, cho đến tác
yết-ma lần thứ hai xong; tất cả đều thuộc gia hành của
nghiêp đạo.»
[39]
Hán: duy na. Bách Trượng thanh quy 4, «Chương Lưỡng tự» (Đại
48, tr. ): «Duy na, là người giỡ giềng mối (cương duy) của
Tăng; điều hoà mọi khuc mắc...» Theo đây, duy là cương duy.
Na là phiên âm tiêng Phan: karma-dāna, người thọ sự của Tăng..
Tứ phần hành sự sao,(Đại 40, tr. 6b), dẫn Thập tụng: «Bấy
giơ, trong Tăng phường, không có ai thông tri thời hạn, không
ai báo giơ và đánh kiền chuỳ...Khi chúng ồn ào không có
ai ngăn. Phật dạy lập Duy na.»
[40]
Tứ phần hành sự sao I (Đại 40, tr. 9c), dẫn Ma-đắc-lặc-già:«Thế
nào gọi là dục? Vui vẻ tùy hỷ đối với sự việc cần
làm, cùng nhất trí với Tăng sự như pháp.» Cf. Thập tụng
luật 56 (Đại 23, tr. 415): «Dục, chỉ cho sự phát tâm.. Đối
với Tăng sự như pháp, tùy theo Tăng pháp mà gởi dục (dữ
dục)...Pháp gởi dục; tỳ-kheo không đến, phải gởi dục...Thuyết
dục; tỳ-kheo nhận sự gởi dục, phải đến trươc Tăng trình
sự gởi dục..» Hán: dữ dục 與欲 Pali: chandadāna, Mahāvagga
, n.i. tr.121
[41]
Xem chương II.
[42]
Xem chương V.
[43]
Xem chương V.
[44]
Hán: hành trù, hay hành xá-la; Skt. śalākagrāhaṇa (Pl. salāhagāha).
Ngũ phần luật 18 (Đại 22, tr. 123a): «Bố-tát...Có tỳ-kheo
khách đên mà không biết. Phật dạy đếm số. Các tỳ-kheo
đếm số, nhưng rồi quên. Phật dạy hành trù, dùng thẻ để
đếm số (kiểm điểm số tỳ kheo dự bố-tát).»
[45]
Tham khảo, Tứ phần luật 46, «Già kiền-đô.» (Đại 22, tr.
906); Tát-bà-đa bộ tì-ni ma-đắc-lặc-già 3, «Già-bố-tát
sự,» Đại 23, tr. 581c.
[46]
Tứ phần luật 44, Chiêm ba kiền độ (Đại 22, tr. 885c).
[47]
Truyền giới là làm theo thỉnh cầu của giới tử, nhưng có
thể nửa chừng, giới tử thối ý không muốn thọ, bèn bạch
Tăng xin thôi đừng tác pháp nữa.
[48]
Theo nguyên lý, Tăng không bao giờ trở thành đối tượng của
yết-ma, nghĩa là không được làm yết-ma cho 4 người một
lần. Chỉ được yết-ma cho 3 người như cách truyền giới
cụ túc.
[49]
Ở đây chỉ biệt chúng tức chia nhóm chư không phải là phá
Tăng; nghĩa là bản thể Tăng chưa bị vỡ.