Kinh
sách trích dẫn: -Kinh Lăng Già, Kinh Ương Quật Ma,
Kinh Niết Bàn, Kinh Tứ Thiên Vương, Luận Trí Ðộ, Kinh Ðịa
Tạng, Kinh Phạm Võng, Kinh Ðề Vị, Tư Trì Ký, An Sĩ Toàn
Thơ, Tuyên Luật Sư Cảm Ứng ký.
Tiết
I
Ý
Nghĩa Của Sự Ăn Chay
Ðề
yếu: - Ở Việt Nam, không những Phật giáo, mà trong
các tôn giáo khác cũng có nhiều người ăn chay. Riêng
về đạo Phật, tuy phần đông đều dùng chay lạt, song ít
ai hiểu xác đáng sự lý của việc này. Về phần sự,
có người ăn chay kỳ không trúng ngày tháng, hoặc không kiêng
cữ hành, hẹ, tỏi, kiệu, có kẻ lại gia vị vào các thứ
như tôm khô, hào khô. Do đó nên công đức không được
toàn vẹn. Về phần lý, nhiều người không hiểu nguyên
do chánh đáng của việc ăn chay, hoặc lầm tin theo tà thuyết,
hay tưởng ăn chay nhiều là tu nhiều rồi sanh lòng ngã mạn.
Do chỗ phát tâm không chánh ấy, nên kết cuộc sự thật hành
cũng không bền. Ngoài ra, có vị đem lòng nghi cho thuyết
ăn chay là do tập tục của Trung Hoa đặt ra, chớ không phải
chính Phật nói, bằng cớ là những vị ở các xứ thuộc
Nam tông Phật giáo vẫn ăn mặn mà cũng chứng thánh quả.
Sở dĩ có mối nghi đó, là vì họ chưa hiểu rõ nghĩa phương
tiện của Nhị thừa và nghĩa chân thật của Ðại thừa.
Lại có người nghi rằng: có lẽ khi xưa Phật cũng ăn
mặn, vì khi đi khất thực, dân chúng cúng thức gì dùng thức
ấy, tại sao ta bắt buộc phải ăn chay? - Xin đừng đem
tâm chúng sanh mà trắc lượng việc ấy, vì chúng ta là phàm
phu không thể sánh với Phật là bậc đại giải thoát, có
đầy đủ thần thông phương tiện trong khi hóa độ hữu tình.
Vã lại, trong các kinh liểu nghĩa, đức Thế Tôn đã nêu rõ
nguyên nhân hợp tình lý của sự không dùng huyết nhục, khuyên
bảo đệ tử nên dùng chất thanh đạm, thì ta cứ y theo lẽ
phải và lời Phật dạy mà thật hành. Hơn nữa, theo
kinh Ương Quật Ma, thì chẳng những riêng đức Thích Ca, mà
tất cả chư Phật đều không dùng huyết nhục.
Ðể giúp người học Phật trên phương diện tiến tu, trong
đây trình bày các sự lý, lời khuyên của Như Lai cùng cổ
đức về việc ăn chay, giới sát, phóng sanh. Mong rằng
các mục nơi bản chương có thể đem lại cho duyệt giả những
điều hữu ích.
Tiết
I - Ý Nghĩa Của Sự Ăn Chay
Theo quan niệm phổ thông của hàng Phật tử Việt Nam, ăn chay
là dùng những chất thanh đạm, không ăn cá thịt và các thứ
hôi nồng thuộc về loại ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, nén, hưng
cừ). Nếu dùng cá thịt và ngũ tân, người ta gọi là
ăn mặn. Nhưng thật ra, chữ "Chay" nói trại là nguyên
âm "Trai" và Trai có nghĩa là Trung hoặc Thời thực. Trung
hay Thời thực là dùng bữa giữa ngày vào giờ Ngọ, nếu
ăn quá ngọ gọi là phi thời thực. Còn dùng chất thanh
đạm, nên gọi là "tố thực", nghĩa là "ăn lại", mới xác
đáng hơn. Tuy nhiên, chữ Trai dịch từ Phạm âm Ô ba
va sa tha (Upavasatha), lại có nghĩa là "thanh tịnh". Và
bởi ăn lại cũng có tánh cách làm cho thân tâm con người
nhẹ nhàng thanh tịnh, nên bên Ðại thừa giáo mới chuyển
lần ý nghĩa Tố thực xem đồng với Trai thực. Vậy
tiếng "Chay" tuy không hoàn toàn xác đáng với nguyên ủy của
nó, nhưng cũng có một phần nào ý nghĩa, nên bút giả xin
dùng danh từ này với ý dùng chất thanh đạm cho hợp với
quan niệm phổ thông của Phật tử Việt Nam.
Phần đông Phật tử không hiểu xác đáng ý nghĩa ăn chay,
nếu có hỏi duyên do thì trả lời một cách đại khái:
"Tôi ăn chay để tập lần tánh nết cho thêm bình tĩnh hiền
lương". Lại có những lời đồn huyễn bảo: "Ăn
chay sẽ khỏi tai nạn bom nguyên t?, ho?c ma vuong s?p ra d?i, hay
sắp tận thế, ai không ăn chay sẽ bị chết hết, không được
dự hội Long Hoa". Những truyền thuyết như trên đều
không có căn bản, làm cho nhiều người cố tự ép ăn chay
một cách gắng gượng, kết cuộc qua một thời gian rồi cũng
thôi bỏ. Theo Phật giáo, ăn chay có những ý nghĩa như
sau:
1- Vì lòng thương xót chúng sanh:
Ðã là loại hữu tình, loài nào cũng biết đau đớn buồn
khổ và ham sống sợ chết, trừ những duyên cớ riêng biệt.
Chính mình khi bị vấp ngã hay đứt tay một chút, còn cảm
thấy đau đớn, huống chi là cảnh đâm chém, đập giết,
thiêu nướng, xẻ thịt, banh da! Như thế tại sao ta lại
nỡ an nhiên vui vẻ, ăn uống trên sự đau khổ vô hạn của
chúng sanh? Chính mình khi s?p b? gi?t dã khóc thuong s? hãi,
ho?c ngu?i thân b? gi?t thì cũng xót xa, oán hận, đau buồn!
Như thế tại sao ta lại nỡ làm cho chúng sanh khác sợ hãi
đau thương lúc sắp bị giết, bị chia ly cùng quyến thuộc?
Ðức Phật là đấng đại từ bi, nên người con Phật thể
theo lòng từ bi đó mà ăn chay, để tránh việc trực tiếp
hoặc gián tiếp sát sanh đầy thê thảm ấy. Trong kinh
Lăng Già, đức Thế Tôn bảo Ðại Huệ Bồ Tát: "Những
người ăn thịt đoạn hết hạt giống đại từ. Ta xem
chúng sanh luân h?i trong sáu n?o, d?i d?i làm cha m? anh em chồng
vợ con cái lẫn nhau. Chúng sanh ăn thịt nhau, toàn là
ăn thịt lục thân quyến thuộc của mình. Thế mà loài
hữu tình mơ màng không biết, thường sanh lòng giết hại,
làm cho nghiệp khổ thêm lớn, khiến nên mãi bị lưu chuyển
trong đường sanh tử, không du?c thoát ly. K? không an th?t,
s? du?c vô lượng công đức tụ. Nếu tất cả mọi người
không ăn thịt, thì không ai giết hại chúng sanh. Do có
người ăn thịt tìm hỏi để mua, nên mới có kẻ vì cầu
tài lợi giết chúng sanh để bán. Cho nên kẻ ăn thịt
cùng người giết chúng sanh để bán thịt, cả hai đều có
tội".
2- Vì tránh ác báo của nghiệp sát:
- Bởi tham miếng ngon, nên con người mới tạo nghiệp giết
hại. Nhưng vì vô minh che lấp, không rõ thấu lý nhân
quả, nên kẻ gây nghiệp sát đâu biết hành vi đó trở lại
làm khổ chính mình. Theo lý nhân quả trong kinh, người
tạo sát nghiệp, như nặng tất bị đọa vào tam đồ, nhẹ
thì phải chịu nhiều đau bịnh, hoặc chết yểu, cùng sự
khổ nạn về chiến tranh. Kinh Niết Bàn nói: "Tội
sát sanh có ba bậc: thượng, trung, hạ. Nghiệp sát
bậc hạ, là giết từ loài kiến cho đến tất cả bàng sanh.
Người tạo tội nầy phải bị đọa vào tam đồ, chịu sự
khổ về bậc hạ. Tại sao thế? Bởi loài nhỏ dù
là con kiến, con muỗi cũng có chút căn lành, nếu giết nó
thì phải chịu tội báo. Nghiệp sát bậc trung là giết
từ phàm phu trong loài người cho đến bậc A Na Hàm. Người
tạo tội nầy phải bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, bàng
sanh, chịu sự khổ về bậc trung. Nghiệp sát bậc thượng
là giết từ cha mẹ cho đến bậc A La Hán, Bích Chi Phật.
Người tạo tội nầy, phải bị đọa vào đại địa ngục
A Tỳ, chịu sự khổ về bậc thượng".
3- Vì muốn dứt tâm tham nhiễm nơi
vị trần: - Trong mười pháp
giới, nếu nói tóm tắt, duy có hai nẻo: phàm và thánh.
Phàm phu tâm còn nhiễm ô phiền não, chư thánh tâm hằng sáng
sạch lặng trong. Bởi thế cho nên hàng Phật tử muốn
vượt phàm lên thánh, thoát nỗi khổ luân hồi, phải bỏ
nhiễm về tịnh. Mà muốn được tịnh tâm, phải ngăn
ngừa đừng cho sáu căn nhiễm sáu trần. Người nào ăn
chay mà cảm thấy khó khăn, đó bởi do còn thích món ăn ngon,
nghĩa là thiệt căn còn nhiễm vị trần. Vì thế, muốn
dễ được tịnh tâm, người Phật tử nên tập lần từ ăn
chay kỳ đến chay trường.
Có kẻ hỏi: - Tại sao bên Phật giáo Nam tông vẫn còn
ăn mặn? Và nếu không thanh tịnh, tại sao những vị
bên phái ấy lại chứng thánh quả? Xin đáp: - Ðức
Phật vì tùy hoàn cảnh căn cơ, trong khi nói giáo pháp Nhị
thừa, phương tiện tạm mở cho ăn ngũ tịnh nhục (không thấy
giết, không nghe giết, không nghi giết, thịt con thú tự chết,
thịt loài thú khác ăn còn dư). Nhưng đến khi thuyết
qua giáo nghĩa Ðại thừa, ngài lại triệt để cấm dùng đồ
huyết nhục, vì lẽ mất lòng từ bi bình đẳng, và gây nhân
vay trả luân hồi. Như trong kinh Lăng Nghiêm, đức Thế
Tôn còn khuyên không nên dùng đồ bằng da, bởi còn thọ dụng
một thân phần của chúng sanh tức là còn mắc nợ nó, huống
chi là thường ăn thịt? Trong kinh Ương Quật Ma, ngài
Văn Thù Bồ Tát thưa: "Bạch Thế Tôn! Phải chăng
nhân vì Như Lai tạng, nên chư Phật không ăn thịt? Ðức
Phật bảo: "Nầy Văn Thù! Tất cả chúng sanh từ
vô thỉ đến nay sống chết luân hồi từng cùng làm lục
thân quyến thuộc, thay đổi vô thường cũng như trò hát.
Thân mình và thân loài khác đồng là chất huyết nhục, vì
thế nên chư Phật không ăn thịt. Lại nữa, chúng sanh
giới tức là ngã giới, thịt loài khác chính là thịt của
mình, nên chư Như Lai không ăn thịt. Nầy Văn Thù!
Như con bò tự chết, người chủ dùng da nó làm giày dép đem
bố thí kẻ giữ giới. Như bậc giữ giới không thọ
tức là pháp Tỷ khưu; nếu thọ trì tuy không phải phá giới,
song thiếu tâm từ bi. Cho nên, không thọ dụng thân phần
của hữu tình, tức là lần lượt lìa nhân duyên sát sanh
vậy". Ðời Ðường bên Trung Hoa, Ðạo Tuyên luật sư
giữ giới tinh nghiêm, nên chư thiên thường hiện thân ủng
hộ. Cứ theo bộ Tuyên Luật Sư Cảm Ứng Ký, Tứ thiên
vương thưa với Tuyên sư rằng: "Thuở đức Như Lai còn
ở đời, một hôm ngài phóng ánh sáng lớn bảo các thiên,
long, quỉ, thần: - Sau thời chánh pháp diệt tận, có
nhiều vị Tỷ khưu chấp theo giáo tích Tiểu thừa của ta,
không hiểu ý nghĩa Tỳ ni, bảo rằng ta cho các Sa môn ăn thịt.
Vì thế, trong tăng già lam hiện ra cảnh tượng sát sanh cũng
như lò thịt. Lại có các vị Tỷ khưu mặc đồ tơ lụa
gần gũi nơi quán rượu dâm xá, không học ba tạng, chẳng
giữ cấm giới, làm cho đạo pháp ta suy vi, thật đáng thương
xót! Nên biết từ vô lượng kiếp đến nay, ta tu Bồ
Tát hạnh đã xả bỏ đầu, mất, tủy, não, vì tâm từ bi
không tiếc thân mạng để bố thí cho loài hữu tình, có lẽ
nào lại bảo đệ tử mình ăn thịt chúng sanh? Ta niết
bàn rồi, các Tỷ khưu thay thế ta làm thầy trời người dẫn
dạy hữu tình khiến cho đắc đạo quả; có lẽ nào bậc
thiên nhơn sư mà lại ăn thịt chúng sanh ư? Khi ta mới
thành đạo, tuy trong luật có mở ra cho ăn năm thứ tịnh nhục,
nhưng đó không phải thật là thịt của bốn loài, mà là
thịt do sức thiền định bất tư nghì của ta biến hóa ra.
Trong các kinh Niết Bàn, Lăng Già, ta không cho người trì giới
ăn thịt. Nếu có Tỷ khưu nào bảo rằng trong Tỳ ni
giáo, Phật cho ăn cá thịt, cho mặc áo tơ lụa, đó là lời
ma thuyết, là phỉ báng ta!" Lời Phật đã dạy như thế,
nếu ăn thịt cá mà không trước nhiễm cũng có thể chứng
quả thánh như các vị bên Nam tông đã tu chứng. Nhưng
nếu so hai phương diện ăn chay và mặn, thì ăn chay dễ đoạn
nhiễm tâm hơn; đến như về nghĩa từ bi bình đẳng, bên
ăn chay lại hoàn toàn hợp lý. Thế nên biết giáo nghĩa
Nhị thừa chỉ là phương tiện tạm thời, giáo nghĩa Ðại
thừa mới là chân thật cứu cánh. Vậy người tu nên
hướng theo lẽ phải và xét lại năng lực của mình, đừng
quá cầu cao tự cho là bậc viên dung tự tại, vội nói câu
"Tửu nhục xuyên trường quá. Bất ngại bồ đề đạo"
(Chất rượu thịt ăn vào cũng ra ngoài, không ngại chi đến
sự giải thoát cả) mà lầm.
4- Vì để cho thân tâm nhẹ nhàng, dễ thật hành trên đường
tu: - Ăn chay nếu đúng cách
thì hợp với vệ sinh, và khiến cho thân tâm thanh tĩnh nhẹ
nhàng thuận tiện trên đường tu tập. So lại thì khi
dùng mặn, ta cảm thấy trong người nặng nề mệt nhọc, chất
ăn khó tiêu hơn. Các nhà bác học hữu danh đông tây
đã công nhận lẽ đó. Như ông Sénèque, một triết gia,
đã nói: "Mỗi bữa ăn, người ta dùng thịt là tự đầu
độc, thành thử con người tự sát ngấm ngầm mà không hay.
Do đó loài người bị nhiều bịnh mà chết sớm". Những
y khoa bác sĩ trứ danh như các ông: Soteyko, Varia Kiplami
cũng bảo: "Trong các thứ thịt có nhiều chất độc rất
nguy hiểm cho sức khỏe con người". Và bà White, nhà nữ
bác học, sau một cuộc thí nghiệm đã tuyên bố: "Các
thứ hột, trái cây, đậu và rau cải là những thức ăn mà
thiên nhiên đã dành để nuôi chúng ta. Các thức ấy
chỉ cần nấu nướng một cách đơn giản, thì ăn vào hợp
vệ sinh và rất bổ. Nó làm cho con người thân thể tráng
kiện, tinh thần sáng suốt và tránh được biết bao nhiêu
là bịnh tật!" Chất máu thịt vốn là uế trược, hơn
nữa loài thú khi bị giết sanh lòng uất hận, độc khí lưu
trữ vào tế bào, hoặc gặp nhằm những con vật mang bịnh,
như bịnh lao, bịnh sán..., nếu người ăn vào làm sao khỏi
sanh đau yếu?
Có vị hỏi: - Nếu ăn chay cũng đủ sanh tố, tại sao
tôi thường thấy người ăn chay trường phần nhiều đều
có vẻ xanh và gầy? Xin đáp: - Ðó là do nhiều nguyên
nhân khác biệt, không phải lỗi ở sự ăn chay; chẳng hạn
như vấn đề tâm lý, hoặc không biết cách thức dùng chay.
Về tâm lý, như có người ăn chay với tánh cách gắng gượng,
mãi thèm những đồ mặn, lầm nghĩ rằng ăn chay thiếu sức
khỏe, thường đem lòng lo lắng e ngại. Hoặc có người
tu, mà chưa diệt được niệm tưởng mơ sắc dục, hoặc làm
việc suy nghĩ quá nhiều. Những tâm trạng ấy có ảnh
hưởng không tốt cho sức khỏe, bằng chứng như ta thường
thấy người nào trải qua một đêm lo nghĩ, sáng ra gương
mặt họ hiện rõ vẻ tiều tụy bơ phờ. Về việc không
biết cách dùng chay, như những người vì lỡ phát nguyện,
nên ăn chay một cách bắt buộc lấy có, chỉ dùng tương chao,
ít lát dưa, hoặc muối sả ớt cho qua bữa. Hơn nữa
nhiều người quan niệm tu là phải khổ hạnh, nên không mấy
chú ý đến việc ăn uống; hoặc kho đầu củ cải, vỏ dưa,
chiên xơ mít, hay làm những thức ăn giống đồ mặn rất
công phu, song thật sự không có bao nhiêu chất bổ. Ngoài
ra, tập tục của các chùa Việt Nam thiên về sự tụng niệm
cúng lễ, thường khi liền cả đêm ngày. Sự sanh hoạt
của Phật giáo Việt Nam lại nghèo, chư tăng ni thiếu phương
tiện học tập, phải dùng sức quá nhiều, nên vị nào khi
học thành tài hầu hết đều suy gầy đau yếu. Ðó là
đại lược những nguyên do khiến cho người tu thường kém
sức khỏe, chẳng phải lỗi ở nơi không ăn cá thịt.
Nếu ăn chay mà hợp cách, với lòng hiểu đạo hoan hỷ, và
đường lối tu không thái quá bất cập, thì đã ít bịnh
tật, lại thêm có lợi ích cho thân tâm.
Tóm lại, ý nghĩa của ăn chay là vì lòng từ bi, vì tránh
ác báo, vì lìa trần nhiễm, vì thuận ích cho đường tu.
Nếu lập cơ bản nơi bốn điểm nầy mà dùng chay, thì sự
thật hành sẽ bền và tăng thêm phước huệ. Như trái
với cơ bản đó, tất việc làm chỉ có tánh cách thời gian,
khó bền bỉ, kết cuộc không được lợi ích gì thiết thật
trên đường tu.