Tiết
II
Những
Ngày Chay
Ăn chay có hai phương diện: chay kỳ và chay trường.
Ăn chay trường hay trường trai là hành giả tự nguyện suốt
đời dùng chất thanh đạm, không thọ dụng đồ huyết nhục.
Ăn chay kỳ thì có những thuyết: Nhị trai, Tứ trai, Lục
trai, Thập trai, Nhứt ngoạt trai, Tam ngoạt trai.
Nhị trai là ăn chay mỗi tháng hai lần vào ngày mùng một và
rằm. Tứ trai là ăn bốn lần chay trong tháng, vào ngày
mùng một, mùng tám, rằm, hăm ba (hoặc ba mươi, mùng một,
mười bốn, rằm). Nhứt ngoạt trai là ăn chay luôn trong
một tháng, vào tháng giêng, tháng bảy, hay tháng mười.
Cách thức ăn chay như trên, thật ra không có điển cứ, chẳng
qua là bước tập lần để đi đến trường trai mà thôi.
Bởi ăn chay dù rằng hữu ích và hợp lý, nhưng cũng tùy theo
hoàn cảnh và căn cơ, không phải người Phật tử nào cũng
có thể bỏ ăn mặn liền trong một lúc được. Vì muốn
đạt mục đích trường trai, có người không y theo lệ trên,
mỗi tháng tập ăn chay từ năm, mười, mười lăm ngày, lần
lần cho đến trọn tháng.
Lục trai là ăn chay trong các ngày mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tháng
thiếu 28, 29). Theo kinh Tứ Thiên Vương thì vào những
ngày đó, Tứ Thiên Vương xem xét việc lành dữ của nhơn
gian, và các ác quỷ cũng rình rập chờ người làm ác để
gia hại. Nên trong mấy ngày ấy, mọi người cần phải
giữ gìn ba nghiệp không nên làm ác. Thêm vào đấy, nếu
kẻ nào biết trì trai, giữ giới, tụng kinh, tu phước, sẽ
được tránh khỏi nạn tai, tăng phần phước huệ. Luận
Trí Ðộ nói: "Tại sao trong sáu ngày trai, cần phải thọ
tám giới và tu phước? Bởi vào các ngày ấy ác quỷ
rình theo người muốn gia hại, gây những việc tật bịnh
hung suy. Vì thế nên thuở kiếp sơ, trong mấy ngày đó,
thánh nhơn dạy người trì trai, tu phước, làm lành. Nhưng
cách trì trai khi xưa chỉ lấy trọn ngày không ăn, gọi là
trai. Ðến khi Phật ra đời, chế lại cho thọ Bát quan
trai giới trong một ngày đêm, và lấy quá ngọ không ăn làm
trai. Ðức Thế Tôn đã bảo: - Nên như chư Phật,
thọ trì tám giới và không ăn quá ngọ trong một ngày đêm.
Công đức ấy sẽ đưa người mau đến niết bàn!"
Thập trai là ăn chay mười ngày trong mỗi tháng. Kinh Ðịa
Tạng, phẩm Như Lai Tán Thán nói: "Nầy Phổ Quảng!
Trong các ngày: mùng 1, mùng 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30
(tháng thiếu 27, 28, 29) của mỗi tháng, các tội được kết
tập để định phần khinh trọng. Nếu chúng sanh đời
sau, vào mười ngày trai, đối trước tượng Phật, Bồ Tát,
Hiền, Thánh, tụng kinh nầy một biến, thì mỗi phương đông,
tây, nam, bắc, trong vòng 100 do tuần, không các tai nạn".
Tam ngoạt trai là ăn chay trong tháng giêng, tháng năm, tháng
chín. Thuyết nầy phát xuất trong các phạm điển như:
kinh Phạm Võng, kinh Ðề Vị, bộ Hành Sự Sao Tư Trì Ký.
Kinh Phạm Võng nói: "Trong sáu ngày trai và ba tháng trường
trai, nếu sát sanh, trộm cướp, phá trai, phạm giới, phạm
tội khinh cấu (đối với người thọ giới Bồ Tát).
Kinh Ðề Vị bảo: "Vào ngày mùng một tháng giêng, mùng
một tháng năm, mùng một tháng chín, chư thiên Ðế Thích,
Thái tử sứ giả, nhật nguyệt quỉ thần, Diêm La ở địa
ngục, trăm vạn chư thần an bố khắp nơi. Vì trừ tội
danh, định phước lộc, mọi người cần trì trai trong ba tháng
ấy". Trong Tư Trì Ký cũng có nói: "Trong tháng giêng,
tháng năm, tháng chín, nghiệp cảnh ở cõi u minh theo vòng xoay
chiếu đến châu Nam Thiệm Bộ. Người đời có bao nhiêu
việc thiện ác, thảy đều hiện bóng rõ trong gương.
Lại trong mấy tháng đó, Tứ thiên vương tuần thú đến Nam
Châu, cũng là lúc ác quỷ đắc thế, vì vậy nên phải trì
trai, tu phước".
Theo như trên, thì thuyết Lục trai, Thập trai và Tam ngoạt
trai đều có điểm cứ. Nhưng để cho đúng với nghĩa
trai, thì trong các ngày tháng ấy chẳng những ăn lạt, mà
còn phải không ăn quá ngọ mới phù hợp lời Phật dạy,
và có lẽ được nhiều công đức hơn. Lại theo kinh
Phạm Võng, đức Phật bảo không nên dùng ngũ tân gia vị
vào thức ăn, vì những thứ ấy làm cho thân thể hôi và dễ
sanh các phiền não như ái dục, sân hận... Như thế thì
muốn cho sự tu phước thêm phần toàn vẹn, vào ngày Lục
trai hay Thập trai, người Phật tử nên thọ trì Bát quan trai
giới, song phải ăn lạt và không dùng ngũ vị tân. Thọ
trì Bát quan trai giới là giữ tám giới: không sát sanh,
không trộm cướp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống
rượu, không trang điểm, không tự hành và cố ý xem nghe ca
múa âm nhạc, không ngồi nằm chỗ cao rộng sang đẹp; và
giữ một phép trai là không ăn quá ngọ. Tám điều trước
duy thuộc về giới, vì có công năng đóng ngăn cửa ác, nên
gọi là Bát quan. Một điều sau gồm nghĩa trai và giới
mà trai là phần chánh, nên mới thêm chữ "trai" sau hai chữ
Bát quan. Như thế, tổng hợp lại chín điều gọi là
Bát quan trai giới. Và đây là nghĩa giải thích của Trí
Ðộ Luận.
Về việc trong những ngày tháng Lục trai, Tam ngoạt trai ác
quỷ đắc thế, có thuyết nói vào thời gian ấy các ngoại
giáo bên Ấn Ðộ thường theo thông lệ giết sanh vật cúng
tế thần linh, hoặc cắt lấy máu thịt nơi thân để làm
phép hộ ma. Và bởi duyên cớ đó, những ác quỷ cũng
y theo lệ mà đi tìm ăn đồ huyết nhục. Do sự kiện
nầy, vào các ngày trên, đức Phật khuyên đồ chúng nên giữ
trai giới không được sát sanh, để phản ảnh phong thái từ
bi của thánh đạo. Nếu quả như thế thì sự ăn lạt
vào các ngày trai lại càng hợp lý hơn.
Ăn chay đã vâng giữ theo lời Phật dạy, có lợi ích, hợp
tình lý như trên, thì tất cả Phật tử đều nên tùy hoàn
cảnh, khả năng tập lần, để tiến bước lên đường phước
huệ. Ðiều cần yếu là khi ăn phải từ nơi cơ bản
thiết thật của nó, không nên vì mê tín phi lý, vì háo danh
muốn được tiếng khen mà ăn, hoặc sanh lòng kiêu mạn trở
lại khinh người ăn mặn. Lại ăn chay phải hợp vệ
sinh, biết chọn lựa thay đổi thức ăn, không nên ép xác
cố ăn một cách quá kham khổ. Cũng không nên nấu chay
giả thành đồ mặn mà làm trò cười cho thế gian.
