Tiết
IV
Mấy
Lời Khuyên Của Cổ Ðức
Như trên, đức Phật đã nói có nhiều nhân duyên không nên
ăn thịt chúng sanh, và bảo hàng đệ tử nên dùng những chất
thanh đạm. Từ xưa đến nay về việc nầy, chư cổ đức
khuyên dạy cũng đã nhiều. Nơi đây, xin tạm dịch lời
văn phóng sanh của Liên Trì đại sư, để cho người học
Phật thêm rõ điều nhân quả trong việc ăn chay giới sát.
Văn rằng:
Thảng nghe: Thế gian rất quí trọng không chi hơn thân
mạng. Thiên hạ cực đau thảm chẳng gì bằng sát sanh.
Cho nên, gặp bắt liền trốn chạy, loài rận rệp còn biết
thương thân. Sắp mưa đã dời đi, lũ kiến bọ vẫn
tham cuộc sống.
Thế sao, lưới nơi vực, bẫy trên non, nhiều phương đuổi
bắt. Lại nữa, cong thì câu, thẳng thì bắn, trăm kế
săn tìm?
Khiến nên phách lạc hồn bay! Xui nỗi mẹ lìa con mất!
Hoặc giam nơi lồng chậu, như bỏ chốn ngục tù. Hoặc
chặt bằng thớt dao, khác nào bị hình lục.
Nai thương con dại, liếm vết thương mà ruột đứt từng
phân! Vượn sợ bầy chia, trông cung uốn mà đôi hàng
rỏ lệ! (1)
Cậy ta mạnh mãi hiếp kia ngu yếu, lý có hợp chăng?
Thịt nó ăn để mình tự bổ thân, lòng sao vội nỡ?
Bởi thế đất trời thương cảm. Cho nên hiền thánh
hành nhân.
Mở lưới, ân rộng thuở Thành Thang. Nuôi cá, đức lập
từ Tử Sản. (2)
Lưu Thủy đã nên thánh triết, tưới nước xuân nhuận cảnh
khô khao. Thích Ca rõ thật từ bi, cắt thịt quý cứu
cơn nguy nạn. (3)
Thiên Thai Trí Giả đào ao phước để phóng sanh. Ðại
Thọ Tiên nhơn hộ chim lành nơi định thể. (4)
Thả lân trùng mà đắc độ, Thọ thiền sư gương ưu ái hãy
còn. Cứu Long tử được truyền phương, Tôn chơn nhơn
dấu từ bi chửa mất. (5)
Một phen vớt kiến, Sa di cải mạng vắn thành thọ cao, Thơ
sanh đổi danh hèn lên thượng bảng. Giây phút mua rùa,
Mao Bảo nơi cảnh nguy mà thoát nạn, khổng Du từ tước mọn
đến phong hầu. (6)
Khuất sư thả cá ở Nguyên thôn, thọ tăng một kỷ.
Tùy hầu cứu rắn nơi Tề dã, châu trả nghìn vàng. (7)
Cứu trạnh lớn chốn nhà trù, ả tỳ tử khỏi cơn dịch
bịnh. Vớt lằn xanh nơi hũ rượu, gả tử sinh được
miễn gia hình. (8)
Ðối vật mạng chốn nhà đồ, Trương đề hình hồn siêu
thiên giới. Chuộc sanh linh nơi thuyền lưới, Lý Cảnh
Văn giải độc đơn sa. (9)
Tôn Lượng Tự cứu nguy loài lông cánh, khi thọ chung chim đắp
mả mồ. Phan huyện đường lịnh cấm lưới sông hồ,
lúc thuyên chức cá rền khóc cảm. (10)
Tín lão bãi sanh tế kẻ ngu dân, điềm bay cam vũ. Tào
khê mở lưới săn người lạp tử, đạo khắp thần châu.
(11)
Chim sẻ biết ngậm vành mà báo ân. Loài chồn hay đến
giếng để truyền thuật. (12)
Cho đến thân tàn được sống, rết đeo vách trắng để nghe
kinh. Cảnh nạn cầu sanh, lương hiện áo vàng mà báo
mộng. (13)
Thế nên ra ơn có trả, chuyện xưa há phải vô bằng.
Rõ ràng mắt thấy tai nghe, việc trước còn ghi sử sách.
Khắp nguyên khi thấy vật loại, phát lòng từ bi; bỏ tiền
của không bền, làm việc lành có ích.
Nếu ra ơn cho nhiều mạng, thì chứa lớn âm công. Hoặc
làm phước cứu một con, cũng vẫn là việc tốt.
Như thế ngày thêm tháng góp, hạnh cả đức to. Chừng
ấy lành khắp nhơn hoàn, danh thông thiên phủ.
Rửa tiêu oan chướng, thụy trưng đã dẹp đời nay. Bồi
đắp thiện căn, phước báo còn tươi kiếp khác.
Nếu lại giúp xưng hiệu Phật, thêm tụng văn kinh. Ðể
vì hồi hướng Tây Phương, khiến chúng xa lìa ác đạo.
Thì chỗ dụng tâm càng lớn, trồng đức càng sâu. Ðạo
nghiệp nhờ đó mà mau thành, liên đài sẽ sanh lên phẩm thượng
vậy.
(Chú thích: 1- Hứa chơn quân lúc trẻ tuổi ưa đi săn.
Một hôm, ông bắn trúng con nai nhỏ, nai mẹ vội chạy đến
liếm vết thương, giây lâu thấy không còn sống được, cũng
ngã ra chết. Chơn quân lấy làm lạ, mổ bụng nai mẹ
ra xem, thấy ruột đứt từng phân đoạn, biết rằng vì thương
con thái quá, đến đứt ruột mà chết. Ông rất hối
hận, tự thiết trách mình, rồi bẻ cung tên, bỏ nhà vào
núi tu hành, sau được thành tiên.
Sở vương cùng người tôi thân tín là Dưỡng Do Cơ đi săn.
Vua gặp một con vượn rất to, bảo Do Cơ bắn. Vượn
trông thấy Do Cơ liền sa nước mắt. Bởi loài vượn
nầy rất tinh khôn lanh lẹ, có thể bắt được tên bay, nhưng
lại gặp Do Cơ là tay thần xạ, nó biết mình tất sẽ chết,
nên mới bi thương rơi lệ.
2- Vua Thành Thang đời nhà Thương cùng bầy tôi xuất du, gặp
bọn thợ săn bủa lưới bốn mặt, vái rằng: "Từ hư
không bay xuống. Từ hang bụi chạy ra. Từ bốn phương
chợt đến. Ðều sa vào lưới ta!" Vua liền bảo
tùng nhơn mở ba mặt lưới, rồi vái lại rằng: "Muốn
sang tả thì sang. Muốn qua hữu thì qua. Muốn bay
lên thì bay. Muốn thoát ra thì ra. Loài nào không
thiết sống. Mới vào lưới của ta!"
Thầy Tử Sản khi làm quan Ðại phu nước Trịnh, có người
thường đem cho loại cá thịt ngon, còn sống. Ông không
nỡ ăn, bảo người nhà thả xuống ao để nuôi. Ðiều
này cho ta thấy việc phóng sanh chẳng những riêng Phật giáo,
mà bậc quân tử bên Nho giáo cũng phụng hành.
3- Trong kinh Kim Quang Minh, Trưởng giả Lưu Thủy, một tín đồ
nhà Phật, mùa nắng ra ngoài chơi. Ðến một nơi, ông
thấy có ao nước gần cạn, trong ấy các loài cá hơn vạn
con ở trong cảnh nguy ngập sắp chết. Ông vội trở về,
dùng voi chở nước đem đến đổ đầy ao. Kế đó, Trưởng
giả lại vì nó thuyết pháp khiến cho hoan hỷ. Loài cá
nầy nhờ nghe pháp diệu, đều xả mạng được sanh lên cõi
trời.
Ðức Thích Ca Mâu Ni thuở tiền thân tu Bồ Tát hạnh, có một
kiếp làm vị quốc vương. Trời Ðế Thích muốn thử
lòng Bồ Tát, mới hóa làm chim ó bay đuổi bắt con bồ câu.
Thấy bồ câu bay vào lòng quốc vương lánh nạn và được
che chở, chim ó nói: "Ông vì lòng từ bi muốn cứu nó,
tại sao lại nỡ để cho tôi chết?" Vua hỏi: "Ngươi
muốn ăn những gì?" Chim ó đáp: "Tôi muốn dùng
thịt. Xin ông thường tôi số thịt bằng cân lượng
của chim bồ câu". Vua liền bảo đem cân ra, và tự cắt
thịt để đền, nhưng do sức thần thông của Ðế Thích,
vua cắt hết thịt nơi thân mà dĩa cân bên chim bồ câu vẫn
nặng hơn. Thấy vua sắp chết, chim ó hỏi vua có hối
hận không? Vua đáp: "Ta tu hạnh Bồ Tát vì cứu
độ chúng sanh, chẳng có một mảy niệm hối hận. Nếu
như lời nầy không hư dối, xin cho thân thể nguyên lành như
cũ". Sau lời thệ nguyện ấy trời đất rung động, thân
thể nhà vua liền được phục nguyên. Trời Ðế Thích
kinh hãi, hiện thân sám hối và lễ bái khen ngợi.
4- Trí Khải đại sư ở núi Thiên Thai, được Dương Ðế
nhà Tùy vì mến danh đức, thụy phong là Trí Giả. Ðại
sư đào nhiều ao lớn để phóng sanh, nhà vua sắc chỉ xuống
quan địa phương cấm không cho dân câu lưới ở các nơi đó.
Theo trong kinh, thuở nhơn thọ sống đến hai muôn tuổi, có
một vị tiên nhơn ngồi nơi gốc cây nhập định. Vì
ngồi lâu ngày rễ cây phủ xuống thân, chim đến làm ổ nơi
lòng. Sợ chim kinh hãi, tiên nhơn ngồi yên không động,
chờ nó dời đi nơi khác mới xuất định.
5- Vĩnh Minh thiền sư, húy là Diên Thọ, khi chưa xuất gia làm
chức Khố lại ở huyện Dư Hàng, triều Ngô Việt Vương.
Ngài thường lấy tiền kho mua tôm cá để phóng sanh.
Sau việc phát giác ra, bị ghép vào tội hành hình nơi chợ.
Trước khi gia hình, vua dặn quan giám sát xem ngài có đổi
sắc không rồi trở lại phúc tấu. Ðược biết ngài
vẫn an nhiên, vua cho vời đến hỏi duyên cớ, ngài tâu rằng:
"Thần lấy tiền kho không phải để dùng riêng mà vì cứu
độ sanh mạng. Giả sử thân nầy có mất, linh thức
cũng nhờ đó được sanh về Cực Lạc; như thế chẳng là
vui hơn ư!" Vua nghe tâu, tha cho về. Từ ấy ngài
xuất gia, sau ngộ đạo trở thành bậc danh đức.
Tôn chơn nhơn khi chưa thành tiên, một hôm xuống núi gặp
mấy đứa trẻ bắt con rắn lạ đem căng ra chơi, xem con vật
tình thế nguy khốn sắp chết. Chơn nhơn lấy tiền chuộc
rắn, đem thả xuống nước. Sau khi đó, ông gặp đồng
tử áo xanh thỉnh đến một công phủ, hỏi ra là cung Thủy
tinh. Bên trong một vị vương giả bước ra đón chào,
rước vào mời ngồi nơi bảo tọa, rồi thưa rằng: "Gia
nhi hôm trước đi dạo chơi, ngẫu nhiên mắc nạn, nếu chẳng
gặp được tiên sanh chắc là tánh mạng không còn!" Nhân
bày yến tiệc thiết đãi, lại đem ra các thứ châu báu để
đền ơn. Chơn nhơn tạ từ không nhận, và nói:
"Tôi nghe ở long cung có nhiều bí phương. Nếu có thể,
xin truyền cho tôi đem cứu đời còn quí hơn là châu ngọc".
Vương giả liền trao cho một bảo cấp, trong ấy có 36 thần
phương. Nhờ đó, chơn nhơn y thuật càng tinh, sau chứng
được tiên phẩm.
6- Thuở xưa, có ông Sa di theo hầu vị A la hán. La hán
biết Sa di bảy ngày nữa sẽ mạng chung, liền cho về nhà
viếng thăm cha mẹ. Tám hôm sau, ông Sa di bình yên trở
lại. Vị La hán lấy làm lạ, nhập định để xem xét,
thấy khi ông trở về nửa đường có dùng áo ca sa vớt một
bầy kiến đang bị khốn giữa dòng nước, liền biết sở
dĩ đệ tử mình được tăng thọ là do nhờ duyên phước
đó. - Lại một chuyện: Tống Giao và Tống Kỳ,
hai anh em đồng đi thi. Một hôm trời mưa, Tống Giao thấy
vô số kiến bị nước cuốn sắp trôi vào lổ hủng, liền
lấy cộng trúc ngăn lại, bắc thành cầu để cho nó bò lên
chỗ khô. Trước khi vào thi, Giao gặp vị Tây tăng xem
tướng và nói: "Dường như ông đã vừa cứu vài trăm
muôn sanh mạng thì phải?" Giao từ tốn bảo mình nghèo,
không có năng lực làm được việc công đức ấy. Vị
tăng nói: "Chẳng phải thế đâu! Loài vật dù nhỏ
cũng đều là sanh mạng". Giao đem việc cứu kiến ra thưa
lại. Vị tăng bảo: "Ðúng như thế! Kỳ thi
nầy lệnh đệ sẽ đứng đầu hàng sĩ tử, còn địa vị
của ông cũng không kém hơn đâu!" Quả nhiên, sau khi kiểm
danh, Tống Kỳ đỗ Trạng nguyên, Tống Giao vào hàng thứ mười.
Nhưng triều đình cho rằng em không nên đứng trước anh, đổi
Tống Kỳ đỗ hàng thứ mười, Tống Giao lên hàng đệ nhứt.
Mao Bảo khi còn hàn vi, đi đường gặp người mang một con
rùa, liền mua mà phóng sanh. Sau ông làm tướng ra trận
bị thua, té xuống sông bị nước lôi cuốn sắp chết chìm.
Ðang lúc nguy cấp, ông cảm thấy có con gì đỡ chân mình
đưa sang bờ bên kia. Chừng lên bờ, xem lại thì là một
con qui rất lớn đang quay mình bơi đi. - Lại một chuyện:
Khổng Du trước là một quan chức nhỏ, thường mua rùa để
thả. Mỗi lần phóng sanh, rùa đều quay đầu lại ngó
chừng ông, rồi sau mới lần bơi đi xa. Về sau Khổng
Du nhờ may mắn lập nhiều công trạng, nên được phong hầu.
Khi đúc ấn, thì hình con rùa trên ấn quay đầu lại, phá
hủy đến bốn năm khuôn để đúc lại, cũng vẫn y như trước.
Thợ đúc ấn kinh ngạc, đem việc ấy thưa lên Khổng Du.
Ông suy nghĩ bỗng nhớ lại việc xưa, và hoảng nhiên biết
mình được phong hầu hôm nay là do nhờ phước báo của sự
thả rùa khi trước.
7- Khuất sư ở Nguyên thôn gặp người lưới được một
con cá lý đỏ, liền mua mà phóng sanh. Sau ông nằm mộng
thấy Long vương mời đến thủy cung, bảo: "Thọ số
của ông vốn đã mãn, nhưng nhờ công đức cứu rồng, nên
được tăng một kỷ".
Tùy hầu đi qua nước Tề, giữa đường gặp một con rắn
bị khổn ở bãi cát, đầu có máu chảy, xem dường như kiệt
sức. Ông liền lấy gậy vít thả nó xuống nước, rồi
bỏ đi. Khi trở về đến chỗ ấy, ông thấy rắn ngậm
hạt châu bò đến trạng như muốn hiến dâng, song vì sợ
nên không dám lại lấy. Ðêm đến Tùy hầu nằm mộng
thấy chơn đạp một con rắn, kinh hãi tỉnh giấc, tìm được
bên mình hai hạt châu sáng rỡ.
8- Có nhà họ Trình tánh ưa an thịt loài rùa trạnh. Một
hôm nhà nầy mua được con trạnh rất lớn, bảo người tớ
gái đem giết để làm thức ăn. Ðứa tớ thấy con trạnh
lớn có ý hơn sợ, liền đem thả nơi ao. Khi chủ nhà
về thấy món ăn không có thịt trạnh, gạn hỏi, đáp là
vì hơ hỏng để nó bò đi mất, do đó bị một trận đòn
nên thân. Sau đứa tớ gái mang bịnh dịch nặng, người
nhà khiêng đến thủy các để chờ cho chết. Ðêm ấy
có con vật từ dưới ao bò lên mang bùn ướt đấp trên mình
đứa tớ gái, nhờ đó sức nhiệt độc tiêu trừ, bịnh được
thuyên giảm. Sáng ra người chủ thấy đứa ở chưa chết,
vẻ mặt lại tươi tỉnh, lấy làm lạ hỏi duyên cớ.
Cô tớ gái không dám dấu, đem sự thật thưa lại. Chủ
không tin, đến đêm rình xem, thấy chính là con trạnh đã
thất lạc khi trước. Cả nhà kinh ngạc than thở, từ
đó không ăn thịt loài rùa trạnh nữa.
Một anh chàng nấu rượu, mỗi khi có con lằn xanh sa vào hũ
rượu liền vớt ra để chỗ đất khô, lại lấy tro đấp
lên mình. Tro rút nước, con lằn được sống. Như
thế lâu ngày, anh cứu loại lằn xanh rất nhiều. Sau
có người đem tội trộm vu báng, anh không thể tự biện bạch,
sắp bị gia hình. Khi quan chánh án cầm bút muốn phê
quyết, thì có nhiều lằn xanh bay đến bu đậu vào ngòi, đuổi
xong, nó bay lại như cũ, không xuống bút được. Viên
chánh án nghi có chuyện oan ức, cho đòi người vu báng đến
gạn hỏi nhiều cách; kết cuộc kẻ ấy phải thú nhận chính
mình là thủ phạm, và anh nấu rượu được tha về.
Việc nầy đồn ra, ai nấy đều lấy làm lạ.
9- Quan Ðề hình họ Trương thường đến nhà đồ mua vật
mạng để phóng sanh. Ðến sau, lúc lâm chung, ông bảo
người nhà rằng: "Ta nhân cứu nhiều vật mạng, chứa
phước đức đã sâu dày. Nay có chư thiên đến rước,
ta sắp sanh về cõi trên". Nói xong, an nhiên mà qua đời.
Lý Cảnh Văn thường đến thuyền lưới mua loài thủy tộc
để phóng sanh. Ông vốn ưa đạo tiên, thường luyện
chất đơn sa để uống. Nhân đó tích nhiệt thành bịnh,
phát ung thư nơi lưng, không thuốc nào trị được, sắp chết.
Một hôm, trong lúc mơ màng, ông thấy có loài cá đến rút
chất độc, nhã nhớt mát vào chỗ đau; khi tỉnh dậy thấy
trong người mát mẻ thơ thới, bịnh lần lần lành.
10- Tôn Lương Tự khi gặp loài chim bị lưới bắt, liền mua
mà thả. Sau khi chết, vì nghèo nên không có quan quách
tẩn liệm. Lúc ấy có vô số chim bay đến, ngậm đất
đắp thành mồ. Người xung quanh đều kinh hãi khen ngợi,
cho là do đức từ chiêu cảm.
Phan Công khi làm huyện lịnh, cấm không cho dân chúng vào những
sông hồ trong vùng câu lưới cá, kẻ nào trái phạm liền
bắt gia tội. Sau ông đi trấn nhậm nơi khác, dân trong
huyện nghe dưới nước có tiếng rền rĩ như khóc than luôn
cả mấy ngày. Ai nấy đều than thở cho là chuyện lạ.
11- Nhân lúc trời khô hạn, Hoằng Tín đại sư thấy dân muốn
sát sanh để đảo võ, thương xót cho thói mê tín, đến nơi
bảo: "Nếu các ngươi không sát sanh cúng tế, ta sẽ cầu
mưa giùm cho". Dân chúng hứa nhận, Ðại sư tinh thành
cầu đảo, mưa lớn xuống nước đầy đồng. Do đó
người gần xa đều cảm hóa.
Lục tổ khi được truyền y bát ở Hoàng Mai, vì cơ duyên
chưa đến, mặc đồ thế tục ở ẩn trong bọn người săn
bắn. Thợ săn bảo ngài giữ lưới để họ đi đuổi
thú. Ngài nhân lúc họ đi vắng mở lưới thả bớt rất
nhiều, như thế luôn cả 16 năm. Sau Tổ mở đạo tràng
ở Tào Khê, đức cao vọng trọng, độ người vô số, đạo
pháp chia thành năm tông.
12- Dương Bảo khi còn thơ ấu, thấy chim sẻ vàng bị chim
cắt đánh rơi xuống đất, lại bị loài kiến làm khổn,
liền đem vào nhà nuôi nấng, đợi cho lành mạnh mới thả
đi. Ít lâu sau, ông nằm mộng thấy đồng tử áo vàng
đến bái tạ, tặng cho bốn vòng ngọc, và bảo: "Tôi
là sứ giả của Tây vương mẫu, nhờ ngài cứu mạng nên
đến tạ ơn. Nguyện cho con cháu của ngài hiền lương,
lên ngôi tam công, như những chiếc vòng này vậy". Quả
nhiên về sau dòng dõi của ông được quí hiển đến bốn
đời.
Một ông đạo nghe nói ăn củ Huỳnh tinh có thể sống lâu,
muốn thí nghiệm, để nhiều Huỳnh tinh dưới giếng khô,
dụ người xuống giếng, rồi rút mất thang dây, đậy nắp
giếng lại chỉ chừa một lỗ thông hơi. Người nọ
trong lúc nguy nan vô kế, chợt thấy một con chồn ló đầu
xuống bảo: "Ðừng lo sợ, tôi sẽ có cách cứu ông.
Loài chồn chúng tôi khi học phép thông thiên đào huyệt nơi
gò mả, rồi nằm dưới đáy huyệt tụ thần chăm chỉ ngó
ngay miệng hang, lâu lâu thân hình tự nhiên bay ra khỏi mặt
đất. Trong Tiên kinh gọi "thần hay đưa hình bay đi" chính
là phép nầy. Vậy ông nên quên hết mọi duyên chỉ chăm
chú nhìn nơi lỗ thông hơi, tự sẽ được thoát nạn.
Khi trước tôi bị thợ săn bắt, nhờ ông chuộc đem thả,
nên nay đến báo ơn". Người ấy làm y lời, hơn một
tuần sau, thân hình bay ra khỏi giếng. Ông đạo trông
thấy rất mừng, cho đó là sự ứng nghiệm của vị Huỳnh
tinh, đem một mớ củ nầy xuống giếng, ước với các đồng
bạn sau một tháng sẽ mở nắp giếng ra. Tới kỳ, đồng
bạn đến xem thì ông đã chết mất.
13- Liên Trì đại sư một hôm đi dạo bên ngoài, thấy có
người bắt mấy con rết, dùng những mảnh tre mỏng uốn cong
lại căng đuôi đầu. Ðại sư liền chuộc mà thả, thì
duy có một con còn mạnh chạy đi, kỳ dư đều ngất ngư muốn
chết. Sau ban đem đại sư ngồi nói chuyện với người
bạn trong am, có một con rết bò nơi vách kề bên mình.
Ngài dùng cây thước gõ mạnh nhiều lần ra ý đuổi, song
nó vẫn ở mãi không chịu đi. Ðại sư trực nhớ lại
việc trước, liền bảo: "Có phải khi xưa ngươi nhờ
ta cứu mạng, nên đến đây tạ ơn chăng? Nếu quả thế,
hãy lặng yên nghe ta thuyết pháp để được siêu thoát".
Liền thuyết rằng: "Tất cả hữu tình, do tâm tạo ra.
Tâm hung dữ hóa ra cọp sói, tâm sân độc hóa thành rắn rết.
Ngươi hãy trừ tâm nóng độc, tất sẽ thoát được thân
hình nầy!" Nói xong bảo đi, thì không đợi xua đuổi
mà nó lần lần bò ra cửa sổ. Người bạn mục kích
cảnh tưởng ấy, kinh ngạc cho là việc hy hữu.
Hồ Dã Can ở Hàng Châu, nhân người hàng xóm bị trộm, sai
con gái đến thăm và cho một rổ lươn. Ông hàng xóm
tiếp nhận đem rộng vào chiếc hũ lớn, lâu ngày rồi quên
đi. Một đêm người ấy nằm mộng thấy có mười vị
mặc áo vàng, đội mũ nhọn, đến quì xin cứu mạng.
Thức dậy trong lòng nghi sợ đến hỏi thầy bói, được quẻ
ứng rằng: "Ðó là có loài vật muốn cầu phóng sanh,
nên trở về tìm trong nhà sẽ biết". Người hàng xóm
về nhà tìm trong hũ, thấy có rộng mấy con lươn vàng lớn,
đếm ra đủ mười con. Ông ta kinh hãi, liền đem thả
hết. Ðây là sự việc trong năm Vạn Lịch thứ chín,
đời nhà Minh.
Phật
Học Tinh Yếu. Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Đánh
máy: Huệ Toàn
