Trong
đại hội Y khoa châu Âu ngày 16 tháng 10, tại Hotel Novotel Paris
14, mà chủ đề là bệnh Tiểu đường. Giáo sư Trần Đại
Sỹ diễn giảng đề tài về khả năng Y khoa Trung quốc, Việt
Nam trong trị tiểu đường có đoạn :
«
Tại Trung quốc, sau khi Hồng quân chiếm được Hoa lục (tháng
9-1949), họ đã thiết lập mỗi tỉnh đều có một viện nghiên
cứu, giáo dục y học cổ truyền mang tên Trung y học viện.
Tại Việt Nam thì cấp quốc gia có Viện Đông Y, rồi Viện
Y Học Dân Tộc, rồi Viện Châm Cứu. Ấy là chưa kể bên
cạnh còn những hội nghiên cứu từng loại bệnh, từng loại
thảo dược.
Việt
Nam là một quốc gia có nền y học dân gian, khác hẳn với
y học Trung quốc. Trong suốt chiều dài chiến tranh (1945-1985,
kể cả chiến tranh Hoa-Việt, Miên-Việt) hoàn cảnh khó khăn,
người ta khai thác cùng kỳ cực y học dân gian. Sau chiến
tranh, các kinh nghiệm đó được chỉnh đốn lại, rồi khai
triển, xử dụng. Kết quả không thua nền y khoa bác học và
Tây y."
Đó
là nói về những nét chung chung sự quan tâm của giới cầm
quyền, lưu tâm đến kinh nghiệm dân gian. Thế nhưng trong dân
gian, người biết cùng kỳ cực thì ít, mà người chỉ nghe
qua, biết qua thì nhiều. Họ không tự hiểu rằng họ chỉ
nghe truyền khẩu chút ít mà thôi. Thế nhưng họ rồi khăng
khăng cho rằng điều mình biết là thuốc tiên thuốc thánh.
Bỏ
qua những phong trào chỉ xuất hiện trong một làng, một huyện
hay một tỉnh. Tôi xin nói qua về ba phong trào lớn, khắp
quốc gia, lan ra thế giới do làn sóng Việt kiều.
–
Một là Xuyên Tâm Liên,
Sau 1975, Tây dược khan hiếm toàn miền Nam Việt Nam. Thảo
dược không đủ đáp ứng nhu cầu. Dân chúng một vài nơi
có kinh nghiệm dùng cây Xuyên tâm liên để trị sốt, viêm.
Sau khi một ký giả đăng tin có thầy lang dùng Xuyên tâm liên
trị được bệnh viêm phổi, sưng khớp. Thế là cả nước
cùng dùng Xuyên tâm liên trị đủ thứ bệnh. Xuyên tâm
liên được rút nước cốt chế thành viên, dùng trong
hầu hết các bệnh xá, bệnh viện. Mà trên thực tế Xuyên
tâm liên chỉ có tác dụng làm hạ nhiệt mà thôi.
Xuyên
tâm liên còn có tên là Công cộng, Nguyên cộng, Lam khái liên.
Thời Pháp thuộc tại Pondichery có tên Roi des amers. Tại Anh
là Green chireta. Tên khoa học là Andrographis paniculata (Burm).
Còn có tên là Justicia paliculata Burm. Thuộc họ Ô rô (Acanthaceae)
Cái
nguy hiểm là Xuyên Tâm Liên có độc tố phá vỡ các tế bào
não, tâm, thận. Sau một thời gian, Xuyên tâm liên cướp đi
cuộc sống không biết bao nhiêu người, phong trào này mới
dứt.
–
Hai là Tim Sen,
Tim sen vị đắng, nhập tâm, tâm bào kinh . Tác dụng của nó
là hạ nhiệt. Hạ nhiệt tim, thận, tỳ, phế. Vì vậy những
người bị thực nhiệt uống vào thì hỏa hạ xuống; trong
người cảm thấy sảng khoái, ngủ được. Những người bị
âm hư, uống vào cũng ngủ được, nhưng ít lâu sau sẽ bị
mệt mỏi, mất trí nhớ, tim đập thất thường, tắc tĩnh
động mạch. Nam thì bất lực sinh lý (Dysfonction Érectille),
nữ thì kinh nguyệt xáo trộn. Ngoài ra tim sen tim sen có độc
tố. Độc tố này làm hủy hoại tế bào óc, thận và tim.
–
Ba là Trà Đắng (trà đinh),
Gần đây trong nước rộ lên phong trào uống Trà đắng. Trà
đắng có hai loại, một tên là Ilex cornuta Lindl mọc ở Giang
tô, Triết giang, Thượng du Bắc Việt. Một loại có tên
Ilex latifonia Thund mọc ở Triết giang, Phúc kiến, Quảng Tây
và Thượng du Bắc Việt. Sau khi thu thái, người ta cuộn lại
giống hình cái đinh, nên gọi là Trà đinh. Trong nội địa
Việt Nam rộ lên phong trào dùng trà đinh để trị huyết áp
cao, mất ngủ, cholestérol, tiểu dường. Rồi con buôn nhảy
ra khai thác : Trà tiên trị bách bệnh. Phong trào đó lan ra
hải ngoại. Hầu hết những bà thất học, bất chấp lời
can của Bác sĩ gia đình, của thân thuộc là nạn nhân. Họ
như bị ma, quỷ nhập, cứ thi nhau uống. Loại trà này dược
học Trung quốc gọi là Khổ đinh trà. Có tác dụng tả hỏa,
thanh nhiệt rất mạnh vì vậy nó làm cho dễ ngủ, nhất là
một vài dạng huyết áp cao, tiểu đường hạ xuống (Huyết
áp cao do Can dương thượng thăng. Tiểu đường do Phế âm
hư). Tính của nó hàn. Khi dùng từ 5 g một ngày :
–
Khí huyết bị bế tắc.
–
Thận, tâm, tỳ, phế dương bị tổn hại.
–
Máu ứ đọng trong các tiểu mạch, tim đập chậm lại.
Tại
Liên Âu đã xẩy ra rất nhiều tai nạn khi dùng loại trà này.
Trà được đưa vào Liên Âu qua đường du lịch, bất hợp
pháp. Những nạn nhân hầu hết là phụ nữ lớn tuổi, thất
học, khi về thăm Việt Nam, Nam Trung quốc mang sang.
Xin
thuật hai y án mới nhất,
1.
Bà X R, 53 tuổi, thất học, buôn bán, sống tại Berlin (Đức)
Có
một con gái 18 tuổi, đã cắt tử cung. Tuyệt kinh từ năm
43 tuổi.Thường bị mất ngủ, phong thấp. Tết Aát Dậu (2005)
về thăm quê. Được người nhà khuyên uống Trà đinh. Sau
khi uống, thấy ngủ được (do tính hàn), và phong thấp
giảm đau (do tính hàn, chống phong là dương tà). Khi rời Việt
Nam về Berlin, mang theo 10 kg, chia thành túi nhỏ 5g, tặng cho
khách hàng của bà. Riêng bà mỗi ngày uống 5g buổi sáng,
10 buổi chiều. Sau hơn tháng :
–
Tóc bắt đầu đổi mầu úa vàng, sáng dậy tóc bị gẫy.
–
Trí nhớ giảm thoái,
–
Nhịp tim còn 55/ phút,
–
Bàn chân, tay lạnh,
–
Lưng lạnh,
–
Độ kính lão từ 1,5 tăng lên 2,5.
–
Ăn vào đầy ứ, khó tiêu.
Bác
sĩ gia đình là người Đức, nên không hề biết gì về Trà
đinh, mà cứ cho rằng bà X bị tình trạng lão hóa tăng do
làm việc quá độ. Sang tháng thứ 5, đang đi đường
bị choáng váng, ngã. Đưa vào bệnh viện. Bệnh viện tìm
ra :
–
65% tế bào óc không làm việc,
–
Tâm lực suy yếu.
–
Bao tử, ruột, gần như không làm việc.
–
Siêu vi gan B, do độc tố.
Bà
từ trần tại bệnh viện sau 21 ngày.
2.
Bà ZM, 75 tuổi. Không nghề nghiệp, hưởng tiền trợ cấp
già.
Vì
con dâu bà là học trò của tôi. Luật nước Pháp không cho
con điều trị cho cha mẹ. Nên con dâu bà nhờ tôi làm y sĩ
điều trị cho bà (Médecin traitant) đã 9 năm. Cũng qua
liên hệ này tôi nhận thù lao của bà bằng CMU. Suốt 9 năm,
tôi săn sóc bà cực tận tình : chích ngừa, kiểm soát ăn
uống, dạy Khí công. Cho nên sức khỏe của bà rất tốt.
Tới tháng 7-2005 bà chỉ phải dùng 2 loại thuốc là 2 gói
(sachets) trà Hao ling trị Cholestérol và Amlor 5 trị huyết áp
cao. Giữa tháng 7 bà về Việt Nam thăm quê hương. Không biết
ai khuyến khích, bà bỏ hết 2 loại thuốc trên mà chỉ uống
Trà đinh với lượng cao là 10g một ngày, mà lý ra chỉ dùng
5g là đã có tai vạ rồi. Khi về Pháp, bà mang theo 5kg Trà
đinh. Bà có hẹn với tôi định kỳ hằng tháng vào ngày 5
tháng 9 năm 2005, để kiểm soát sức khỏe. Khi bà trình diện,
nhìn sắc diện bà, tôi kinh hãi :
–
Tóc, lông mi, lông mày hóa ra mầu úa thay vì muối tiêu,
–
Da mặt ủng vàng,
–
Tứ chi lạnh,
–
Huyết áp 13-7 (trước kia là 16-8).
–
Tim đập 50/ phút.
–
Kiểm soát đường tại chỗ 8,5 g/l.
Vì
buổi sáng bà không ăn gì, tôi gửi thẳng bà tới laboratoire,
hai ngày sau tôi được kết quả :
–
Hồng cầu còn 3.5 triệu,
–
Créatinine tăng tới 54
–
Bà bị Hépatite B+C.
Tôi
gửi bà tới một đồng nghiệp nội khoa, và báo cho con dâu
bà biết. Tôi khẩn thiết yêu cầu bà ngừng Trà đinh ngay.
Bà cự nự rằng chết thì chết, chứ bà không bỏ thuốc
tiên đó. Con trai bà biết không cản được mẹ, anh ta dấu
hết Trà đinh của bà. Bà đứng trước balcon đe dọa
: Nếu không trả thuốc tiên cho bà thì bà nhảy lầu tự tử
ngay. Bà được toại nguyện. Ngay lập tức ngày 9-9-2005 tôi
nhận được thư bảo đảm có báo nhận. Trong thư bà rút
lại không nhận tôi là y sĩ điều trị của bà. Thông thường
muốn đổi y sĩ điều trị, thì bệnh nhân chỉ viết thư
báo cho cơ quan bảo hiểm y tế biết, và điện thoại cho y
sĩ điều trị là đủ. Đây bà muốn trả ơn 9 năm
chăm sóc bà bằng hành động làm nhục trên. Tôi vội fax thư
của bà cho văn phòng bảo hiểm y tế của bà và con dâu bà.
Tôi xoa tay, hết trách nhiệm.
Ngày
14 -9-2005, con dâu bà báo cho tôi biết, bà bị hôn mê, phải
đưa vào bệnh viện cấp cứu. Bệnh viện kết luận bì bị
hôn mê vì trúng độc. Hiện (11-10-2005) bà bị liệt 2 chân,
tay phải, một mắt mù 100%, một mắt thị lực còn 40%. Trong
cơn hôn mê bà réo tên tôi cầu cứu. Nhưng tôi vô thẩm quyền,
chỉ có thể vào nhà thương thăm bà vì bà là mẹ chồng của
một người học trò tôi, chứ tôi không còn quyền y sĩ điều
trị ».
Dr.
Bùi Kim Loan (Gyneco-Obst)
Hopital
Bietighiem, Universitat Heidelberg, Germany