|
x
Làng tương bên bờ
sông Nhuệ
Đặc
sản Tương Cự Đà, món nước chấm nổi tiếng từ xa xưa
nhưng đến nay không ai biết chắc tuổi đời, xuất xứ của
nó, ngay những cụ già cao tuổi nhất thôn cũng chỉ biết
đó là nghề của cha ông mình để lại. Cụ Đinh Văn Tình,
gần 80 tuổi, có tới 60 năm trong nghề làm tương tâm sự
với chúng tôi: “Hơn 10 tuổi tôi đã được bố mẹ dạy
cách làm tương. Bố mẹ tôi bảo tôi, nghề này do ông bà
để lại, gắng mà học cho tốt... Chính các cụ nhà tôi cũng
không biết mình là thế hệ thứ bao nhiêu của cái nghề này".
Mặc dù cho đến nay không một ai trong làng biết được chắc
chắn nghề làm tương của mình có từ khi nào nhưng người
dân ở đây đều khẳng định: nghề tương là nghề được
hình thành trên đất thôn Cự Đà, chí ít tuổi đời của
nó cũng phải bằng tuổi của cái tên Cự Đà.Tương Cự Đà
được làm ra bởi 4 nguyên liệu chính: Đậu tương, gạo nếp,
nước mưa và muối. Từ gạo nếp, người Cự Đà thổi thành
xôi rồi sau đó tãi ra nong và để 3 ngày cho gạo rộm vàng
và lên men mốc. Khi xôi đã đạt tiêu chuẩn về độ mốc
thì đem đãi bằng nước sạch, sau đó tiếp tục được ủ
từ 7-8 ngày rồi trộn với muối và đem phơi chừng 1 tháng.
Trước kia các cụ thường dùng đấu để đong và tính tỷ
lệ giữa xôi và muối. Ngày nay, để chính xác hơn, người
làm tương thường trộn theo tỷ lệ 100kg gạo thổi xôi/30kg
muối, lượng muối có thể tăng lên 2-6 kg đối với thời
tiết lạnh hay lúc làm tương trái mùa. Nước tương được
làm gần như cùng lúc với xôi và cũng không kém phần cầu
kỳ. Đậu tương dùng làm tương Cự Đà nhất thiết phải
là đậu tương được trồng ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang,
như thế thì nước tương mới thơm và ngọt. Đậu tương
được xay nhỏ rồi đổ vào nước đã đun sôi sau đó cho
vào chum. Chum nước đậu có vai trò hết sức quan trọng đối
với chất lượng tương Cự Đà. Để đảm bảo chất lượng
nước tương, ngày trước khi chưa có nước sạch, các cụ
thường sử dụng nước mưa đã xả hết chất axit để làm,
ngày nay thì chỉ có một số hộ sản xuất nhỏ làm như vậy,
còn đều dùng nước giếng khoan cho tiện. Chum nước tương
nhất thiết phải được che kín, tránh nước mưa và những
tạp chất rơi vào, để khỏi hỏng cả chum tương. Mặc dù
nước tương được làm bằng nước mưa nhưng khi đã chế
biến xong thì tương lại rất kỵ nước mưa. Khi mốc đã
phơi kỹ thì được trộn đều vào nước tương và xay nhuyễn,
lúc này thì quy trình làm tương kết thúc. Kể từ lúc thổi
xôi cho đến tương thành phẩm phải mất khoảng một tháng.
Mùa làm tương được bắt đầu bằng mùa rau muống, khoảng
từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm. Tương làm vào mùa rét rất
khó ngon bằng mùa nóng, tuy nhiên, do nhu cầu dùng tương quanh
năm như hiện nay (tương không chỉ dùng để chấm rau muống)
nên nghề làm tương phát triển quanh năm, đặc biệt là trong
những dịp lễ tết.Theo thống kê của xã Cự Khê, cả xã
hiện có 350 hộ sống bằng nông nghiệp, chỉ có khoảng 20
hộ làm tương. Qua trao đổi với một số hộ thì giá bán
tương Cự Đà 10 năm trở lại đây đều ổn định với mức
giá trên dưới 3.000 VND/lít. Giá bán thì ổn định như vậy
trong khi giá nguyên liệu ngày càng lên. Một lít tương kể
cả công, nguyên liệu thì có giá gần 2.000 VND và như vậy
mỗi lít tương người sản xuất lãi khoảng trên 1.000 VND.
Hiện nay, tìm kiếm thị trường tiêu thụ tương là vấn đề
không dễ, mỗi hộ làm tương đều phải tự tìm cho mình
một mối khách hàng. Thị trường chủ yếu của tương Cự
Đà là Hà Nội, rồi từ Hà Nội phân bổ đi các nơi. Người
dân Cự Đà xác định làm tương chỉ là nghề phụ, tranh
thủ lúc nông nhàn, còn thu nhập chính vẫn là từ nông nghiệp.Một
làng nghề lâu đời như Cự Đà nhưng chưa được chính quyền
tỉnh Hà Tây công nhận là Làng nghề Truyền thống vì chưa
hội đủ điều kiện mà Tiêu chuẩn Làng nghề Truyền thống
của tỉnh quy định. Anh Vũ Văn Chung - Chủ nhiệm HTX nông
nghiệp Cự Khê tâm sự với chúng tôi: "Cự Đà đang phấn
đấu để được công nhận là làng nghề truyền thống. Ước
mơ của những người làm tương Cự Đà chúng tôi là tạo
được cho mình một thương hiệu chính thức. Tới đây chúng
tôi sẽ thành lập Hiệp hội Tương Cự Đà, để tổ chức
sản xuất có quy mô hơn, có khả năng vay vốn đầu tư, tạo
uy tín và mở rộng thị trường. Người dân Cự Đà quyết
nắm chặt tay nhau để bảo vệ và phát triển nghề truyền
thống này".Tâm sự của anh Chung cũng là ước mơ của nhiều
người dân Cự Đà, những người đau đáu với nghề của
cha ông để lại. Nếu được sự quan tâm giúp đỡ từ phía
chính quyền các cấp, chúng tôi tin ước mơ đó sẽ trở thành
hiện thực. Tương Cự Đà, với những gì đã có, đến lúc
đó sẽ trở thành một thương hiệu ấn tượng, góp phần
làm phong phú thêm nét văn hoá ẩm thực Việt Nam./.
Thanh
Nga - Mai Linh

|