Phụ
Bản
ISOFLAVONES
ĐẬU NÀNH
GIỚI THIỆU
Hầu
như người Việt nam chúng ta ai ai cũng biết đậu hũ nhưng
ít ai biết đến chất isoflavone và các hóa chất thảo mộc
khác trong đậu nành, có khả năng phòng ngừa và trị liệu
một số bệnh như bệnh đau tim, bệnh tai biến mạch máu não,
bệnh ung thư vú, ung thư nhiếp hộ tuyến và ung thư kết tràng.
Vì
tính chất đa năng và đa hiệu của đậu nành do những khám
phá gần đây của khoa học nên chúng tôi đã cố gắng soạn
thảo tập tài liệu dưới đây để cống hiến quý bạn và
đồng thời cũng để làm sáng tỏ nghi vấn ăn đậu hũ không
tốt cho nhiều người. Tất cả những điều chúng tôi trình
bầy đều lấy từ các nguồn tư liệu có thẩm quyền như
kết quả của các công trình khảo cứu khoa học của Viện
Ung Thư Quốc Gia và các viện đại học danh tiếng ở Mỹ
LỊCH SỬ
ĐẬU NÀNH
Đậu
nành xuất hiện đầu tiên tại Trung Hoa khoảng 5000 năm trước
đây nhưng mãi đến năm 300 trước Thiên Chúa giáng sinh mới
được ghi vào cổ thư là một nông phẩm chính của miền
Bắc Trung Hoa. Từ đây, đậu nành được lan truyền qua Triều
Tiên, Nhật Bản, xuống miền Nam Trung Hoa và các nước Đông
Nam Á Châu. Đến Nhật Bản vào thế kỷ thứ 8 sau Tây lịch
và khoảng một ngàn năm sau đó qua đến Âu Châu.
Bởi
vì đậu nành sản sinh nhiều protein hơn bất cứ loại nông
sản nào nên nó được ưa chuộng và trở thành thực phẩm
chính của nhiều quốc gia Á Châu. Những thực phẩm được
biến chế từ đậu nành như sữa, đậu hũ và tầu hũ ky
đã có từ hai ngàn năm trước đây, ngày nay đậu hũ là món
thực phẩm được ưa chuộng và phổ thông nhất trên thế
giới. Tại một vài thành phố Trung Hoa, các xưởng làm sữa
đậu nành vào sáng sớm để giao sữa nóng đến từng nhà,
và cho đến gần đây, sữa đậu nành tiêu thụ ở Hồng Kông
đã nhiều hơn số tiêu thụ Coca-Cola. Người Trung Hoa tin rằng
đậu nành có khả năng chữa lành các chứng bệnh về thận,
phù thũng, da, tiêu chẩy, anemia và leg ulcers.
Đậu
nành được du nhập vào lục địa Hoa Kỳ năm 1765 nhưng chỉ
được xem là một loại hạt đậu mới mà thôi cho đến khi
Dr. John Harvey Kellog cách mạng thức ăn sáng của người Hoa
Kỳ bằng sữa đậu nành, cereal và các thức ăn biến chế
từ protein đậu nành vào những năm 1920s.
Năm
1931, Dr. A.A. Horvath xuất bản tài liệu mang nhan đề là "Soya
Flour as a National Food." Trong tài liệu này ông nói rằng
dinh dưỡng bằng thực phẩm đậu nành rất là bổ khỏe và
có giá trị cao.
Nhờ những
nỗ lực của ông mà ngày nay Hoa Kỳ sản xuất trên 12 tỷ
dollars đậu nành mỗi năm tức khoảng 50 triệu metric tons,
hay bằng phân nửa số lượng sản xuất trên thế giới. Bất
hạnh thay, ngoại trừ 1/3 được xuất cảng qua các nước
như Nhật Bản v..v.., chúng ta đã dùng 95% số lượng còn lại
để làm thức ăn cho súc vật, thay vì cho người ăn !
NHỮNG QUỐC
GIA ĂN NHIỀU ĐẬU NÀNH
Tại
các quốc gia vùng Vin Đông, các thực phẩm biến chế từ
đậu nành đã cách mạng lề lối ăn uống của dân chúng,
họ dùng thực phẩm đậu nành hàng ngày như là nguồn dinh
dưỡng chính. Những thứ này gồm có: đậu hũ, sữa đậu
nành, miso, tempeh, tương, chao, phù trúc và dầu..v..v..
Trung
bình một người trưởng thành Nhật Bản (adult) ăn khoảng
50 pounds đậu hũ mỗi năm. Ngày nay nhiều nhà khoa học và
nghiên cứu gia Tây phương đã xác nhận và đánh giá tốt
điều mà các y sĩ Trung Hoa tin tưởng trước đây về khả
năng của đậu nành trong việc phòng ngừa và trị liệu một
vài chứng bệnh. Những bệnh như: tim mạch, ung thư, tiểu
đường, xốp xương và thận ít xảy ra tại những vùng dân
số tiêu thụ nhiều đậu nành. Hãy xem một vài con số thống
kê dưới đây:
Tại
Nhật Bản tỷ lệ chết về bệnh ung thư vú chỉ bằng một
phần tư Hoa Kỳ, tại Trung Hoa là 1/5 và ở Đại Hàn là 1/10.
Chỉ
có 10% phụ nữ Nhật Bản có hiệu chứng nóng phừng (hot flash)
vào thời kỳ mãn kinh và tỷ lệ bị bệnh bể xương hông
thấp hơn phụ nữ Hoa Kỳ.
Tại
Đại Hàn tỷ lệ phái nam bị bệnh ung thư trực tràng chỉ
bằng 1/4 Hoa Kỳ và bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến là 1/10 so
với Hoa Kỳ.
Sự
thực, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng sự tiêu thụ các
thực phẩm đậu nành hằng ngày làm giảm nguy cơ xảy ra các
chứng bệnh ung thư vú, nhiếp hộ tuyến, ung thư kết tràng,
dạ dày, da..v..v..
Thế
còn bệnh tim mạch bao gồm chứng nhồi máu cơ tim (heart attack)
và tai biến mạch máu não (stroke) thì sao? Theo một nghiên cứu
khoa học thì cứ hai người Hoa kỳ chết có một người chết
về bệnh này, trong khi đó tại Shanghai chỉ có một người
trong số 15 người chết.
Có
rất nhiều nghiên cứu khoa học đã khuyến cáo người dân
Hoa Kỳ nên thay thế protein thịt động vật bằng protein đậu
nành nhằm làm giảm lượng cholesterol trong máu và ngăn ngừa
các chứng bệnh về tim mạch và ung thư.
NHỮNG
LỢI ÍCH CỦA ĐẬU NÀNH
Hầu
như ai cũng biết đậu nành có chứa rất nhiều protein bao
gồm tất cả 8 loại amino acids thiết yếu. Đậu nành cũng
là nguồn phong phú cung cấp calcium, chất xơ, chất sắt và
chất sinh tố B.
Cái
mà các khoa học gia thích thú nhất trong những năm nghiên cứu
gần đây là sự khám phá ra các hóa chất thảo mộc, mà chúng
tôi tạm gọi là hóa thảo (PHYTOCHEMICALS),
có
trong đậu nành và những ứng dụng của chúng, trong lãnh vực
y khoa trị liệu.
Viện
Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, Viện Đại Học Havard, Viện Đại
Học Alabama, Minnesota, Iowa và Helsinki, Finland, đã thực hiện
nhiều công trình khảo cứu khoa học để xác định những
lợi ích của các hóa thảo đậu nành này. Họ đã thấy rằng
sự tiêu thụ những chất này không những có khả năng ngăn
ngừa mà nó còn có khả năng trị liệu các bệnh như đã
nói tới ở trên. Những hóa thảo đậu nành gồm có: protease
inhibitors, phytates, phytosterols, saponins, phenolic acids, lecithin,
omega 3 fatty acids, và isoflavones (phytoestrogens).
PROTEASE INHIBITORS
- có khả năng ngăn ngừa sự tác động của một số gene
di truyền gây nên chứng ung thư. Nó cũng bảo vệ các tế
bào cơ thể không cho hư hại gây nên bởi những môi trường
sống xung quanh như tia nắng mặt trời và các chất ô nhim
trong không khí. Năm 1980 các khoa học gia đã khám phá ra đậu
nành nguyên chất có tác dụng ngăn cản không cho bệnh ung
thư phát triển nơi các loài động vật và những năm sau đó
họ đã xác nhận sự tác dụng chống ung thư cho nhiều loại
bệnh ung thư. Tuy nhiên protease inhibitors bị mất bớt đi sau
khi đậu nành được biến chế qua phương pháp làm nóng. Thí
dụ như sữa đậu nành loại dehydrated soymilk còn lại 41%,
đậu hũ còn lại 0.9% so với bột đậu nành nguyên chất.
[1]
PHYTATES
- là một hợp thể phosphorus và inositol, có khả năng ngăn
trở tiến trình gây nên bệnh ung thư kết tràng (colon cancer)
và ung thư vú (breast cancer). Ngoài ra nó cũng còn có khả năng
trừ khử những chất làm cho tế bào d bị ung thư (oxygen free
radicals) và phục hồi những tế bào đã bị hư hại. Được
biết chất sắt thặng dư trong cơ thể thường sản sinh ra
oxygen free radicals, nhưng khi có sự hiện diện của phytate,
chất này sẽ bị hủy diệt khả năng sản sinh và vì thế
phytate hành xử giống như chất antioxydants.
Cũng
nên biết, sau nhiều năm lưu ý dân chúng rằng phytate có thể
gây phương hại đến tình trạng thiếu chất sắt trong cơ
thể vì nó ngăn cản sự hấp thụ chúng, nay các nhà khoa học
đã khám phá ra rằng phytate bảo vệ chúng ta khỏi có quá
nhiều chất sắt. [2]
PHYTOSTEROLS
-
cũng có khả năng phòng ngừa các bệnh về tim mạch bằng
cách kiểm soát lượng cholesterol trong máu, đồng thời nó
cũng có khả năng làm giảm thiểu sự phát triển các bứu
ung thư kết tràng và chống lại ung thư da. [3] Những nhóm
dân số tiêu thụ nhiều sản phẩm đậu nành như Nhật Bản,
Triều Tiên và Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Hoa Kỳ đã có
tỷ lệ thấp căn bệnh ung thư kết tràng.
SAPONINS
- giống như phytate, hành xử như chất anti-oxidants để bảo
vệ tế bào cơ thể chúng ta khỏi bị hư hại do tác dụng
free radicals. Nó cũng còn có khả năng trực tiếp ngăn cản
sự phát triển ung thư kết tràng và đồng thời làm giảm
lượng cholesterol trong máu.
PHENOLIC ACIDS
- là một dược chất hóa học anti-oxidants và phòng ngừa các
nhim sắc thể DNA khỏi bị tấn công bởi các tế bào ung thư.
LECITHIN -
là một hóa chất thực vật quan trọng, đóng một vai trò
quyết định trong việc kích thích sự biến dưỡng ở khắp
các tế bào cơ thể. Nó có khả năng làm gia tăng trí nhớ
bằng cách nuôi dưỡng tốt các tế bào não và hệ thần kinh,
nó làm vững chắc các tuyến và tái tạo các mô tế bào cơ
thể. Nó cũng có công năng cải thiện hệ thống tuần hoàn,
bổ xương, và tăng cường sức đề kháng. Khi hệ thần kinh
thiếu năng lượng, chất lecithin ở đậu nành sẽ phục hồi
năng lượng đã mất. Đạm chất đậu nành có chứa 3 phần
trăm chất Lecithin, bằng với lượng Lecithin có trong lòng đỏ
trứng gà.
OMEGA-3 FATTY
ACIDS - là loại chất béo không bão hòa (unsaturated
fats) có khả năng làm giảm lượng cholesterol xấu LDL đồng
thời làm gia tăng lượng cholesterol tốt HDL trong máu. [4] Nhiều
nghiên cứu khoa học đã xác nhận tiêu thụ nhiều omega-3 fatty
acids có trong các loại thực vật như đậu nành, hạt pumpkin,
walnuts, hemp, flax và các lá rau xanh giúp chống lại sự phát
triển các căn bệnh về tim mạch. [5] Tưởng cũng nên biết
omega-3 fatty acids còn gọi là alpha-linolenic acid, gồm hai thứ
EPA và DHA cũng có trong một vài loại cá biển và trong fish-liver
oil supplements. Những loại nầy cũng có khả năng giống như
omega-3 trong thực vật nhưng có thêm một cái không tốt là
nó có tác dụng làm cho các phân tử tế bào cơ thể trở
nên không ổn định, tức sản sinh ra các chất oxygen free radicals
là những chất gây ra ung thư và gây xáo trộn chất insulin,
sinh ra chứng tiểu đường. Vì thế các khoa học gia thuộc
Viện Đại Học Arizona [6]và Viện Đại Học Cornell đã công
bố sự nguy hiểm của omega-3 fatty acid trong cá và dầu cá.
[7]
ISOFLAVONES
(phytoestrogens)
- là một hóa chất thực vật đã làm các nhà khoa học say
mê nghiên cứu nhất, vì nó có cấu trúc tương tự như chất
kích thích tố sinh dục của phái nữ. (female hormone estrogen)
và sự vận hành giống như estrogen. Vì thế các nhà khoa học
còn gọi nó là estrogen thảo mộc (plant estrogen).
Sau
khi nghiên cứu, các khoa học gia đều cho rằng isoflavones có
khả năng mãnh liệt chống lại các tác dụng gây nên chứng
ung thư liên hệ đến hormone.
Được
biết quá lượng estrogen trong cơ thể là yếu tố chính dẫn
đến ung thư vú, ung thư buồng trứng (ovarian), tử cung (uterine),
và ung thư cổ của phụ nữ. Trong nếp sống của người Tây
phương, dân chúng thường có quá nhiều estrogen bởi vì tiêu
thụ nhiều protein thịt động vật có saün chất hormone mà
người ta trích vào làm cho chúng mau lớn và nhiều sữa. Phần
nhiều phụ nữ Tây phương mập vì chế độ dinh dưỡng nhiều
thịt và chất béo, cũng làm tăng lượng estrogen, (buồng trứng
tự động sản xuất thêm estrogen khi quá chất béo cần thiết).
Nơi đàn ông chất béo thặng dư được biến đổi thành androgens
và là nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến.
Hiện nay các nhà khoa học đã tìm thấy ba chất genistein, daidzein
và glycetein trong isoflavones đậu nành mà genistein là tâm điểm
nghiên cứu.
Theo
nhiều tài liệu nghiên cứu, genistein có những lợi ích dưới
đây:
Giống
như những isoflavones khác, hành xử như là chống estrogen (anti-estrogen)
bằng cách ngăn cản không cho sản sinh estrogen khi quá lượng
estrogen cần thiết trong cơ thể.
Ngăn
ngừa sự phát triển các tế bào ung thư.
Kích
thích các tế bào ung thư làm cho chúng trở lại trạng thái
bình thường.
Ngăn
trở sự lớn mạnh của các tế bào ung thư DNA nhưng không
ngăn cản sự lớn mạnh của các tế bào bình thường.
Hành
xử như là các chất chống ốc xi hóa (anti-oxidant), bảo vệ
các tế bào bình thường khỏi bị hư hại bởi sự tấn công
của các chất d gây chứng ung thư (free radical).
Bởi
vì năm tạo tác lợi ích trên của genistein, nên isoflavone được
coi là một hóa chất thực vật nhiệm mầu chống lại các
căn bệnh ung thư và các khoa học gia tin tưởng rằng genistein
cần phải được tinh chế thành dược liệu để điều trị
tất cả các loại ung thư. Trong một nghiên cứu của Viện
Đại Học Minnesota, genistein đã được dùng thành công trong
việc phá hủy các tế bào ung thư máu BCP trong loài chuột.
Ung thư máu BCP là một loại ung thư phổ thông nơi trẻ em.
Cũng
có nhiều chứng cớ rằng chất genistein đã chữa trị khỏi
chứng nóng phừng, phòng ngừa bệnh xốp xương, và có thể
thay thế loại estrogen supplement trên thị trường như Premarin.
Genistein cũng ngăn ngừa các bệnh động tim, tai biến mạch
máu não và sự phát triển tiến trình xơ cứng mạch máu (atherosclerosis).
Cuối cùng, genistein là một hóa chất thực vật khá mạnh
chống lại các chứng bệnh sưng như bệnh khớp thấp (arthritis)
và các chứng bệnh liên hệ đến tình trạng đau nhức ở
các khớp xương và bắp thịt như rheumatoid arthritis.
Ngoài
genistein ra một chất khác của isoflavone đậu nành là chất
Daidzein cũng có những lợi ích như genistein:
Có
khả năng ngăn ngừa sự hao mòn xương và sự phát triển chứng
bệnh xốp xương.
Khả
năng chống ốc xi hóa (anti-oxidant) và chống ung thư (anti-cancer)
Kích
thích các tế bào ung thư máu để trở thành thứ khác và
chuyển hoán chúng về trạng thái bình thường.
Một
cách tổng quát, tiêu thụ 50 mg isoflavone có trong protein đậu
nành hằng ngày sẽ (1) làm giảm lượng cholesterol trong máu
ít nhất là 35%, (2) không cần thiết phải dùng estrogen supplement,
một thứ thuốc có nguy cơ gây nên chứng ung thư vú, tử cung
và buồng trứng, và (3) phòng ngừa bệnh xốp xương.
Vì
tác dụng cân bằng hormone trong cơ thể, isoflavone có thể ứng
dụng cho phái nữ không phân biệt tuổi, trước hay sau khi
dứt kinh.
PHÒNG NGỪA
BỆNH TIM MẠCH
Trong
một nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Dr. James
W. Anderson, M.D. Professor of Medicine and Clinical Nutrition thuộc
viện đại học University of Kentucky, Lexington [8] với 730 tình
nguyện viên để xem ảnh hưởng của việc ăn protein đậu
nành với hệ thống mạch máu qua việc đo lường chất cholesterol.
Sau
khi thử nghiệm và phân tích các dữ kiện thâu thập, kết
quả cho thấy là lượng cholesterol trong máu giảm theo tỷ lệ
lượng tiêu thụ protein đậu nành: nhóm ăn 25 grams một ngày
giảm 8.9 mg/dl, nhóm ăn 50 grams giảm 17.4 mg/dl, và nhóm ăn 75
grams protein đậu nành giảm 26.3 mg/dl lượng cholesterol trong
máu. Tính chung theo bách phân thì lượng cholesterol giảm 9.3%,
lượng LDL cholesterol giảm 12.9%, lượng triglycerides VLDL giảm
10.5%, và lượng HDL cholesterol tăng 2.4%.
Bởi
vì mỗi 1% lượng cholesterol giảm sẽ làm giảm mức độ nguy
hiểm của bệnh động tim và tai biến mạch máu não từ 2%
đến 3%, cho nên với lượng trung bình cholesterol giảm 9.3%
độ nguy hiểm về bệnh tim mạch có thể xảy ra sẽ giảm
được 18% đến 28%.
Căn
cứ theo kết quả, giáo sư Anderson đã khuyến cáo như sau:
Phòng
ngừa tổng quát, áp dụng chung cho những
người có sức khỏe tốt, 7 servings protein đậu nành mỗi
tuần, tức khoảng 10 grams mỗi ngày (8 oz sữa đậu nành mỗi
ngày hay 4 cái soy burgers mỗi tuần hay mỗi tuần ăn 4 lần
đậu hũ mỗi lần 2 servings, mỗi serving là 3 ounces tức khoảng
một phần tư khuôn đậu hũ Hinoichi Regular.) Hay nói đơn giản
hơn, cứ mỗi ngày ăn khoảng một miếng đậu hũ trong hộp
đựng bốn miếng hoặc một phần tư hộp đậu hũ Hinochi
là đủ.
Phòng
ngừa đặc biệt, áp dụng cho những người
có bệnh tiểu đường hay có độ nguy hiểm cao về các bệnh
tim mạch hoặc những người có thân nhân bị các chứng bệnh
về tim mạch, tiểu đường, xốp xương, 14 servings protein đậu
nành mỗi tuần tức khoảng 20 grams protein đậu nành với 40
mg isoflavones đậu nành mỗi ngày, tương đương với khoảng
3/4 khuôn đậu hũ hiệu Hinoichi loại regular có trọng lượng
14 ounces (396 grams).
Trị
liệu cho những người có bệnh tim mạch hay bệnh xốp xương,
21 serving protein đậu nành mỗi tuần tức 30 grams protein với
60 mg isoflavones mỗi ngày.
TRỊ LIỆU
BỆNH NHIẾP HỘ TUYẾN
Trong
tạp chí Healthy and Natural Journal, Vol.2, No.2, với
tựa đề "Concentrated Soybean Phytochemicals," Bác sĩ Walker
đã tường trình thành công việc trị liệu bệnh nhiếp hộ
tuyến (tiền liệt tuyến)bằng tinh chế đậu nành (concentrated
soy supplement) như sau:
Ông Clarence
Mohnehan 79 tuổi quê quán ở Livonia tiển bang Michigan, đã được
tuyên bố là sẽ chết trong vòng 60 ngày sau khi việc trị liệu
bằng quang tuyến thất bại. Ung thư của ông đã lan khắp
hệ thống bạch huyết. Khi được chuyển qua bác sĩ Kenneth
Pittaway để chữa thử bằng đậu nành trị liệu pháp theo
lời thỉnh cầu của người con trai, thì ông chỉ còn cân
nặng 90 lbs., rất yếu, đau ở phần đơn điền, da vàng, mắt
mờ đục.
Sau 9 tháng
trị liệu bằng dinh dưỡng rau đậu với uống tinh chế đậu
nành concentrated soy supplement mỗi ngày, ông Mohnehan đã bình
phục hoàn toàn. Theo các tests của phòng thí nghiệm, ông không
còn một dấu hiệu ung thư nào trong cơ thể, da dẻ trông khỏe
mạnh, các hoạt động cơ thể bình thường, và cân nặng
135 lbs lúc xuất viện tháng 12-1994.
Trên đây
là một case trong nhiều case trị liệu bằng đậu nành thành
công ở Hoa Kỳ. Thật ra lối trị liệu này đã có từ lâu
tại Trung Hoa nhưng mới được áp dụng tại Hoa Kỳ trong vài
ba năm gần đây. Hiện nay nhiều công ty Hoa Kỳ và Trung Hoa
đang chạy đua trong việc sản xuất dược liệu lấy từ tinh
chất đậu nành dưới hình thức viên tablet và capsule.
Những thứ
tinh chất đậu nành supplement mới nhất có chứa từ .5 đến
2.5% isoflavone và genistein.
Tại Nhật
Bản, trung bình một người tiêu thụ từ 20 đến 100 mg chất
isoflavones mỗi ngày từ các thực phẩm đậu nành. Được
biết nếu tiêu thụ hàng ngày khoảng 50 mg isoflavones sẽ ngăn
ngừa được một vài thứ bệnh ung thư.
Đậu hũ
và tempeh, có chứa khoảng 10 mg isoflavones mỗi ounce. Để có
đủ lượng isoflavones đậu nành cần thiết hầu có thể ngăn
ngừa bệnh ung thư và tim mạch, một người cần phải tiêu
thụ từ 5 oz đến 30 oz đậu hũ hay tempeh mỗi ngày, (mỗi
một hộp đậu hũ Hinoichi loại regular bán trên thị trường
cân nặng 14 ounces). Ba mươi ounces đậu hũ có chứa khoảng
300 mg isoflavones và trong một viên soy supplement có tổng cộng
25.17 mg isoflavones.
Tưởng cũng
nên biết, trong tiến trình biến chế đậu nành thành đậu
hũ người ta có thêm vào chất calcium sulfate, một chất bột
không mầu sắc tìm thấy trong đá vôi, xương, răng, vỏ sò
hoặc trong chất tro của thực vật, để cho đông đặc, vì
thế một hộp đậu hũ loại firm nặng 14 ounces có chứa khoảng
120 mg calcium, riêng loại silken chỉ có 40 mg. Chúng tôi có e-mail
hỏi giáo sư bác sĩ James Anderson [9] chuyên gia nổi tiếng về
dinh dưỡng tại Viện Đại Học Kentucky về sự ảnh hưởng
của chất này thì được giáo sư cho biết calcium là một
chất khoáng rất cần thiết cho cơ thể mà nhu cầu calcium
hằng ngày phải cần từ 800 đến 1200 mg. Số lượng calcium
trong đậu hũ (3 ounces) chỉ đáp ứng được 10% mà thôi, cần
phải ăn thêm những thực phẩm khác nữa mới đủ. Ông cũng
cho biết là trong các cuộc nghiên cứu dài hạn và quan sát
dân số các khu vực tiêu thụ nhiều đậu nành, đã không
tìm thấy một side effect nào trong việc tiêu thụ nhiều thực
phẩm đậu nành nói chung và đậu hũ nói riêng..
Ngày nay,
dân chúng Hoa Kỳ nói riêng và Tây phương nói chung đã nhìn
thấy ăn chay như là một lối sống bảo vệ sức khỏe cá
nhân và gìn giữ môi sinh thế giới. Họ cũng đã thấy thực
phẩm đậu nành có giá trị dinh dưỡng rất cao và chất isoflavones
cùng những hóa chất thực vật khác trong đậu nành đang được
công nhận là dược liệu phòng ngừa và trị liệu nhiều
thứ bệnh.
Thiên
nhiên đã cho chúng ta trái đất để ở và trái đất đã
cho chúng ta nhiều thứ chúng ta cần để sống khỏe. Chúng
ta cần phải thừa nhận sự thật này và nên sống gần với
thiên nhiên. Có lẽ đậu nành với những hóa chất thực vật
của nó sẽ là cái chìa khóa để nhân loại mở cửa bước
vào một đời sống an lạc và hạnh phúc.