002
Hỏi. Xin cho biết có mấy loại ăn chay của người Hoa Kỳ?
Đáp. Ăn chay là tiếng dịch
từ chữ vegetarian. Vegetarian chỉ chung cho những người không
ăn thịt động vật. Thịt động vật được định nghĩa
là thịt các loài sinh vật có cảm giác và tự cử động
được, tức là các sinh vật biết đi, biết bò, biết cọ
quậy, biết bay và biết bơi. Hiện nay có khoảng 12 triệu
rưỡi Hoa Kỳ ăn chay, được phân chia làm bốn loại theo nhu
cầu và sở thích: (1) Lacto-Ovo Vegetarian: không ăn thịt động
vật, nhưng ăn trứng, uống sữa và các phó sản của sữa
như bơ, cheese, và phó mát. (2) Ovo Vegetarian: không ăn thịt
động vật và uống sữa, nhưng ăn trứng. (3) Lacto Vegetarian:
không ăn thịt động vật và trứng, nhưng uống sữa và các
phó sản của sữa như bơ, phó mát. (4) Vegan: không ăn bất
cứ loại thịt động vật nào, không ăn trứng, không uống
sữa và không ăn các sản phẩm của sữa, cũng như không tiêu
dùng các vật dụng có liên hệ tới sự sống của con vật
như mặc áo lụa và áo lông thú, mang dầy, bóp, ví bằng da
cá sấu, da bò, ăn mật ong.
003
Hỏi Xin cho biết mục đích ăn chay của đạo Phật có giống
mục đích ăn chay của người Tây Phương không?
Đáp. Mục đích ăn chay của
đạo Phật là tôn trọng và bảo vệ sự sống. Tôn trọng
sự sống là đặc điểm của Phật giáo. Không sát sanh là
giới luật và ăn chay là chính sách thực hành cụ thể cho
đặc điểm ấy. Đạo Phật xem sự sống là tối thượng,
là trên tất cả. Hết thảy cái gì có sự sống, có cảm
giác và tự cử động được, từ con giun con dế đến con
bò con voi là người Phật tử phải dốc lòng bảo vệ sự
sống ấy. "Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội
mà vì tham sống nên hại sự sống cũng là vô minh. Cho nên
tôn trọng sự sống không những bằng cách giúp nhau để sống
còn, mà còn có khi phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự
sống, nghĩa là có khi tiêu cực như ăn chay để cứu muôn
loài, có khi tích cực như "thay khổ cho chúng sanh" để cứu
vạn loại. Đạo Phật đặc biệt chú trọng và nêu cao chủ
nghĩa lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục
đích tôn trọng sự sống."34 Còn mục đích ăn chay của người
Tây Phương mà đa phần là bảo vệ sức khỏe cho bản thân,
mang nặng tính vị kỷ, khác với mục đích của Phật giáo,
tuy rằng cũng có rất nhiều người (khoảng 4% của 12,5 triệu
người) là có mục đích tương tự như đạo Phật. Bác sĩ
Albert Schweitzer, người đã đoạt giải Nobel về hòa bình đại
diện cho những người này. Ông nói rằng: "không giết sinh
vật kể cả côn trùng, không ăn bất cứ cái gì mà trước
kia đã từng sống." (Animal, Nature and Albert Schweitzer, page 40)
004
HỏiTôi nghe nói rượu vang và bia không được coi là thực
phẩm chay, điều này có đúng không?
Đáp. Những người ăn chay
loại vegan không ăn bất cứ loại thịt nào, bao gồm trứng
sữa bơ và các thực phẩm có nguồn gốc từ thịt. Sự chọn
lựa này là một cách sống từ bi, không bạo động, nên họ
không ăn và xử dụng bất cứ thực phẩm hay vật dụng gì
có dính dáng đến sự đau đớn hay tổn hại loài vật. Mặc
dầu rượu vang làm từ trái nho và bia làm từ ngũ cốc, nhưng
các nhà sản xuất đã dùng một vài chất lấy từ thịt động
vật trong khi chế biến. Những chất ấy bao gồm lòng trắng
trứng gà, máu khô, chất casein, caseinate trong sữa bò, chất
than của xương bò và heo, chất gelatin trong da, gân và xương
thú vật, chất isinglass trong bong bóng của cá tầm, một loại
cá nước ngọt35. Chúng tôi biết có một số nhà sản xuất
rượu vang làm rượu vang chay như Hallcrest Vineyards at (408) 335-4441
và Frey Vineyards at (800) 760-3739.
005
Hỏi. Xin hỏi bao nhiêu thú vật bị giết hàng năm tại Hoa
Kỳ để làm thực phẩm?
Đáp. Theo thống kê của cơ
quan USDA cho biết là trong năm 1988 có tất cả 8,4 tỷ con vật
bị giết để làm thức ăn cho con người. Trong năm 1999 số
lượng thú vật bị giết là 9,7 tỷ gia tăng 3,1% so với năm
1998. Con số này bao gồm 41,8 triệu con bê và thú gia cầm,
115 triệu con heo, 4,4 triệu con cừu, 303,7 triệu con gà tây,
8,8 tỷ con gà giò dùng để nướng, 459 triệu con gà mái, và
25 triệu con vịt. Toàn thế giới là 43,2 tỷ con vật bị giết
trong năm 1988.
006
Hỏi. Tại sao những người ăn chay không uống sữa và ăn
trứng?
Đáp. Với mục đích ăn chay
là ngăn ngừa bệnh tật như chủ đề của cuốn sách này
thì có hai lý do chính để người ta không ăn trứng gà là:
(thứ nhất) giảm cholesterol vì một lòng đỏ trứng gà loại
vừa có chứa tới 213 mg cholesterol và cứ mỗi 100 mg cholesterol
chúng ta ăn vào, hàm lượng cholesterol trong máu gia tăng lên
nửa chấm (0.5) và (thứ hai) ngăn ngừa bệnh có thể gây chết
người do vi khuẩn salmonella trong trứng đem lại. Với sữa
bò và các phó sản của sữa cũng vậy, chứa nhiều chất
béo bão hòa và chất cholesterol, không tốt cho sức khỏe. Ngoài
ra, giống như thịt động vật, sữa bò và các phó sản của
sữa thường bị nhim độc (contaminated), từ thuốc diệt trùng
(pesticides) cho đến thuốc kháng sinh (antibiotic), chất kích
thích tố BGH làm cho bò nhiều sữa, có trong sữa bò có thể
đem lại những nguy cơ về chứng bệnh ung thư vú và tử cung
của phụ nữ. Đó là chưa kể đến sữa bò có liên hệ đến
bệnh tiểu đường loại I, Insulin dependent. Các khoa học gia
đã tìm thấy những chứng cớ cho rằng chất kháng sinh trong
sữa bò đã phá hủy các tế bào sản xuất ra insulin trong
cơ thể. Riêng những người ăn chay loại vegan hay những người
Phật Giáo không ăn trứng uống sữa vì lòng từ bi. Họ không
muốn làm đau đớn đến con bò phải chịu đựng cực khổ
vắt sữa cho người uống hay con gà mái đẻ dặn đau hàng
ngày để cung cấp trứng cho người ăn.
007
Hỏi Xin cho biết loại thực phẩm rau đậu nào có nhiều calcium
và iron nhất.
Đáp: Nguồn thực vật chứ
nhiều calcium nhất là các loại rau có lá xanh đậm như cải
xoăn (kale), collards, mustard and turnip greens, ngoại trừ spinach,
Swiss chard, and beet greens. Bông cải xanh (broccoli) và bok choy
cũng chứa nhiều calcium. Nhiều loại đậu như pinto và đậu
đen cũng cung cấp nhiều calcium nhưng không được hấp thụ
vào cơ thể nhiều bằng rau xanh. Đậu hũ và các loại sữa
đậu nành có cho thêm calcium cũng là nguồn cung cấp calcium
đáng kể. Còn nguồn cung cấp iron là ngũ cốc nguyên chất.
Một vài loại trái cây khô như apricots và prunes, cùng là bí
ngô, củ cải và Brussels sprouts. Rong biển cũng là nguồn cung
cấp iron.
008
Hỏi: Cháu 15 tuổi và đã ăn chay loại vegan được hơn hai
tháng. Cháu đã thực hành lối ăn chay vegan này ngay mà không
qua các giai đoạn chuyển tiếp hay qua các loại ăn chay vòng
vòng khác. Điều này tốt hay xấu thưa cô chú?
Đáp: Không xấu mà rất tốt
với điều kiện cháu luôn luôn giữ sự cân bằng trong chế
độ dinh dưỡng mới của cháu. Cháu nên ăn đủ các loại
thực phẩm theo tỷ lệ của bốn nhóm 50-20-20-10. Ngoài ra,
cháu phải lưu ý đến một vài điều, phải đầy đủ calcium,
vitamin B-12 trong các bữa ăn hàng ngày và ra ngoài nắng đủ
để hấp thu vitamin D hay ăn loại thực phẩm nào có loại
vitamin này. Cháu đã làm một sự chọn lựa hay và khôn ngoan.
009
Hỏi: Tôi đã chuyển đổi chế độ dinh dưỡng thịt qua chế
độ dinh dưỡng chay nhằm giảm cholesterol. Tôi ăn rất nhiều
ngũ cốc nguyên chất, đậu, rau và trái cây, dùng ít sữa
non-fat và hầu như không ăn high fat foods. Tôi không ăn đậu
hũ và sữa đậu nành hay thực phẩm chay khác chứa nhiều
chất béo. Sau ba tháng cholesterol xuống, nhưng HDL cholesterol
cũng xuống theo. Ông khuyến cáo tôi như thế nào?
Đáp: Bởi vì ông đã chọn
loại dinh dưỡng chay, luôn luôn là một điều tốt, một sự
chọn lựa khôn ngoan, nên chúng tôi thấy không có gì khuyến
cáo ông về đường lối dinh dưỡng nào khác. Có một cách
tăng HDL cholesterol và giảm loại LDL cholesterol là tập thể
dục đều đặn. Tỏi cũng có khả năng làm giảm LDL cholesterol,
giảm chất béo triglycerides và tăng HDL cholesterol. Trong một
cuộc nghiên cứu tại viện đại học New York Medical College
ở Valhalla, tiểu bang New York, các khoa học gia cho biết tỏi
làm giảm total cholesterol từ 10 đến 29%, làm tăng HDL cholesterol
31%, giảm LDL cholesterol 7,5% và giảm triglycerides 20%. (Robert
Carrison, Jr., et al. The Nutrition Desk Reference, Keats publishing Connecticut
1995: pp 391). Ông thử áp dụng hai giải pháp này xem sao. Tuy
nhiên ăn tỏi nhiều vừa hôi miệng lại có thể bị táo bón.
010
Hỏi Tôi 53 tuổi có bệnh xốp xương, được biết qua sách
vở và internet là nguyên nhân gây bệnh xốp xương là do ăn
nhiều protein thịt. Xin ông cho biết có những nghiên cứu khoa
học nào nói rõ điều này không?
Đáp: Vâng, có rất nhiều nghiên
cứu khoa học cho biết rõ có sự liên hệ mật thiết giữa
việc tiêu thụ protein thịt và độ cân bằng calcium. Ông có
thể xem nơi tạp chí khoa học của hội ADA Journal of the American
Dietetic Assocation, volume 93, page 1259 (1993). Chế độ dinh dưỡng
nhiều protein thịt gây nên sự thất thoát nhiều calcium và
vì thế tác dụng đến việc xốp xương (osteoporosis). Tuy nhiên,
đó chỉ là một yếu tố, những yếu tố khác là nhiều muối
hay quá ít calcium hoặc không tập thể dục cũng có tác dụng
đến xương cốt.
011
Hỏi: Đậu hũ có chứa nhiều chất béo không?
Đáp Đậu hũ loại regular hay
firm có khoảng 50% calories từ chất fat nên được xem là loại
high fat food. Tuy nhiên, chất béo trong đậu hũ là loại chất
béo không bão hòa (unsaturated), là loại tốt, thay thế cho loại
không tốt bão hòa nơi thịt động vật. Phân tích 4 ounces
đậu hũ với 4 ounces thịt thì chất béo trong đậu hũ thấp
hơn chất béo trong thịt. Lẽ dĩ nhiên, đậu hũ cho nhiệt
lượng thấp nên tốt cho chế độ dinh dưỡng ngăn ngừa bệnh
tật. Các nhà sản xuất đậu hũ đã bắt đầu cắt giảm
chất béo khi làm đậu hũ, cô có thể lựa thứ này nếu cô
muốn giảm chất béo.
012
Hỏi Tôi dùng nước tương làm bằng đậu nành và thấy nhãn
hiệu chứa nhiều muối. Không biết đậu nành, sữa đậu
nành và các chất đậu nành khác có chứa nhiều muối như
vậy không?
Đáp: Đậu nành nguyên chất
chứa rất ít muối và một số sản phẩm chế biến từ đậu
nành cũng chứa ít muối như đậu hũ chẳng hạn. Nhưng, một
số sản phẩm khác khi chế biến phải cho thêm nhiều muối.
Nước tương lỏng, nước tương đặc tamari và miso luôn luôn
chứa nhiều muối. Bà nên xem nhãn hiệu thực phẩm để so
sánh.
013
Hỏi: Có thể ăn nhiều thực phẩm đậu nành không? Hiện
nay tôi ăn nhiều thực phẩm làm bằng đậu nành, nhất là
đậu hũ và sữa đậu nành, như vậy có okay khi ăn hàng ngày
không?
Đáp: Cô có thể ăn hàng ngày.
Không có gì trở ngại về việc ăn nhiều thực phẩm đậu
nành. Tuy nhiên, cô nên ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau.
Không có một loại thức ăn đơn nào chứa đầy đủ chất
dinh dưỡng.
014
Hỏi: Tôi thấy tiệm health food stores có bán TVP, vậy TVP là
gì, có chứa chất isoflavones như đậu nành không? Có thể
dùng thay thế đậu nành và đậu hũ được không?
Đáp: TVP là chữ viết tắt
của Textured Vegetable Protein, làm bằng bột đậu nành và là
nguồn cung cấp chất isoflavones. Dùng TVP là một sự chọn
lựa tốt để gia tăng chất isoflavone trong chế độ dinh dưỡng
mới.
015
Hỏi: Tôi mới bắt đầu uống sữa đậu nành và muốn biết
có bao nhiêu chất béo cũng như vitamin trong sữa đậu nành?
Đáp: Chất dinh dưỡng trong
sữa đậu nành thay đổi tùy loại và tùy công ty sản xuất
sữa. Bà nên xem nhãn hiệu thực phẩm để biết rõ chi tiết.
Chất béo trong sữa đậu nành có đường thường từ 4 đến
5 gram trong một cup, tương đương loại 2% sữa bò. Tuy nhiên
sự khác biệt lớn lao là chất béo trong sữa đậu nành là
loại chất béo không bão hòa và là nguồn cung cấp omega-3
fatty acid linolenic acid. Sữa đậu nành chứa từ 6 đến 7 grams
protein trong một cup sữa và là loại protein tốt. Nó cũng có
một số vitamins và chất khoáng. Một vài loại hiệu có cho
thêm vitamin B-12 và riboflavin, làm thành một loại sữa đầy
đủ chất bổ dưỡng như sữa bò. Sữa đậu nành Eden Soy
và White Wave Silk soymilk là ví dụ cho những loại sữa này.
Tuy nhiên, những nhà sản xuất sữa đậu nành Việt Nam chưa
áp dụng kỹ thuật cho thêm vitamins, xin bà lưu ý. Bà có thể
xem chi tiết về sữa đậu nành trong sách "Đậu Nành-Nguồn
Dinh Dưỡng Tuyệt Hảo" cùng một soạn giả.
016
Hỏi. Tôi được biết dầu olive là loại dầu tốt nhất nhưng
có nhiều loại dầu olive, nào extra virgin, virgin, pure, và light.
Vậy tôi nên chọn loại nào? Loại nào tốt nhất trong các
loại đó?
Đáp. Dầu olive và dầu canola
được xem là hai loại dầu tốt nhất hiện nay. Tất cả các
loại dầu olive như bà kể đều đa phần là loại monounsaturated
và nó có tác dụng làm giảm tổng lượng cholesterol mà không
làm giảm loại HDL cholesterol (tốt). Dầu olive đươc phân loại
theo mùi vị, mầu sắc, và độ acid. Tùy theo địa phương
trồng, sự chín của trái và sự tồn trữ cũng như tiến
trình sản xuất dầu mà xác định đặc tính. Extra virgin olive
oil là loại có độ acid thấp nhất (dưới 1%). Bởi vì nó
là lớp dầu ép ra đầu tiên, nên là loại tốt nhất và ngon
nhất. Mầu của nó là vàng nhạt tới vàng hơi lục. Dùng
loại này trộn với xá lách hay chấm bánh mì thay bơ. Loại
dầu này cho rất ít khói, ở độ nóng 400 F, vì thế chỉ
dùng sống hay sauté nhẹ. Virgin olive oil cũng thuộc loại dầu
ép ra lần thứ nhất nhưng có độ acid cao hơn (khoảng 2%).
Loại này trơn và bóng hơn, dùng trộn xà lách, làm nước
chấm và món nước sốt. Pure ("classic") olive oil là loại hỗn
hợp của extra virgin and virgin oils. Độ acid nhiều hơn (khoảng
3%), có mầu nhạt, điểm bốc khói ở 438 độ F, vì thế dùng
để chiên xào. Light olive oil được lọc để bỏ mùi vị
của olive, dùng để thay thế dầu thảo mộc khác. Điểm bốc
khói cao nhất trong các loại dầu olive (468 độ F) nên dùng
để chiên deep frying và baking.
017
Hỏi. Xin cho biết về dầu canola.
Đáp. Dầu canola không phải
là hỗn hợp dầu olive và dầu bắp như người ta thường
hiểu. Chữ "canola" ghép chữ bởi Canadian và oil. Dầu được
lấy từ cây rapeseed do công ty Canadian Breeders sản xuất. Dầu
có đặc tính ít chất béo bão hòa. So sánh với các loại
dầu khác, canola oil có chất béo bão hòa (saturated fat) thấp
nhất. Chất béo bão hòa có tác dụng gia tăng cholesterol trong
máu. Chất béo không bão hòa loại monounsaturated có tác dụng
giảm cholesterol và đồng thời giảm loại cholesterol xấu LDL.
Canola oil còn chưá chất alpha linolenic fatty acid một loại omega-3
fatty acids. có tác dụng giảm cholesterol và triglycerides đồng
thời chống lại sự đóng cục bày nhày trong mạch máu, nên
được xem là loại tốt hơn cả. Dưới đây là bảng so sánh
ba loại dầu:
| Loại
Dầu |
Percent
of saturated fat |
Percent
of polyunsaturated fat |
Percent
of monounsaturated fat |
| Canola
oil |
7 |
30 |
59 |
| Olive
oil |
14 |
8 |
74 |
| Corn
oil |
13 |
59 |
24 |
Source: USDA
Nutrient Data Laboratory
018
Hỏi. Tôi vừa mua một số nồi niêu song chảo loại đắt
tiền "anodized aluminum". Tôi nhớ hình như có những vấn đề
chung quanh việc nấu nướng bằng nồi nhôm. Xin ông vui lòng
giải thích giùm.
Đáp. Anodization, là phương
pháp hóa điện giải, nhằm biến cải vật liệu nhôm trở
nên bền chắc và ngăn ngừa những phản ứng của thực phẩm
khi nấu. Anodized aluminum cứng hơn loại thép không rỉ stainless
steel, truyền nhiệt d hơn thủy tinh và có tác dụng không dính
cả đời (nonstick for life). Loại bà mua là thứ tốt nhất
hiện nay. Không giống như loại nồi nhôm cổ điển, anodized
aluminum có thể dùng để nấu thực phẩm có độ cao chất
acid mà không lo ngại chất nhôm hòa vào thức ăn. Một vài
nghiên cứu tiết lộ chất nhôm tích tụ trong bộ óc của
những người bị bệnh mất trí nhớ (Alzheimer's disease), do
đó có nhiều người lo lắng đến sự liên hệ việc nấu
ăn bằng nồi nhôm. Nhưng giả thuyết này, cho đến nay vẫn
chưa có gì chứng minh. Thực tế có nhiều chất nhôm trong
thuốc tây bày bán tự do tại tiệm thuốc như aluminum-containing
antacids, buffered aspirin, v.v nhiều hơn chúng ta ăn do nấu bằng
nồi nhôm un-anodized.
019
Hỏi Nấu thức ăn bằng microwave có tiêu hủy các chất vitamin
không?
Đáp. Tất cả các loại nấu
nướng đều có thể tiêu hủy ít hay nhiều vitamin. Vitamins
B, vitamin C và folate bị tiêu hủy bởi nhiệt độ cao và thời
gian nấu lâu. Những vitamin loại hòa tan (water-soluble vitamins)
và một vài loại khoáng chất có thể bị hòa tan trong nước
và bị mất khi đổ nước đi. Tuy nhiên, nếu thay đổi kỹ
thuật nấu chúng ta có thể tránh bị mất mát vitamins. Sau
đây là một vài lời khuyên: (1) Nên hấp thay vì luộc, hấp
có thể cầm giữ được vitamins không hòa tan trong nước,
nếu luộc nên cho ít nước và dùng nước để nấu thành
món súp. (2) Không nấu quá chín. Nấu thức ăn trong một thời
gian ngắn có thể cầm giữ được vitamins. Nên đậy nắp
lại để giảm thời gian nấu và càng nấu chín nhanh chừng
nào càng tốt chừng nấy. Có thể dùng nồi áp suất để
nấu cho nhanh. (3) Dùng microwave để giảm thời gian nấu và
không cần nhiều nước.
020
Hỏi. Tôi bị chứng bệnh thống phong cần phải loại trừ
các thực phẩm có chất purines. Vậy những thực phẩm đó
là thực phẩm nào?
Đáp. Bệnh thống phong (gout)
là căn bệnh cổ nhất trong lịch sử y học. Nó là một dạng
của chứng viêm khớp (arthritis), thường xảy nơi những khớp
nối xương ngón chân nhưng cũng có thể xảy nơi khớp xương
đầu gối, mắt cá chân, và cổ tay. Bệnh thống phong liên
hệ với việc có quá nhiều chất acid uric trong máu, do bởi
sản xuất nhiều hay bởi giảm thiểu sự bài tiết. Tinh thể
của muối uric acid kết tụ trong các khớp nối tạo nên sự
đau, trong một vài trường hợp có thể làm hư hại các khớp
nối. Uric acid được thành lập từ chất purines. Purines có
tự nhiên trong cơ thể và trong một vài loại thực phẩm.
Chất purines có nhiều trong gan, óc, cật, lá lách bò bê, cá
thu, cá trích, cá trống. Lượng ít hơn trong tất cả các loại
thịt động vật và hải sản. Về phương diện lịch sử,
chứng bệnh thống phong thường xảy đến nơi những người
giầu có vì họ tiêu thụ các loại cá thịt và uống nhiều
rượu. Ăn chay và không uống bia rượu lâu dài có thể là
giải pháp tốt nhất để ngăn ngừa bệnh này.
021
Hỏi. Xin giải thích về triglycerides và lượng giới hạn có
thể chấp nhận được trong máu. Lượng triglycerides của tôi
là 421 mg/dL. Làm thế nào để giảm con số này xuống?
Đáp. Triglycerides là một loại
mỡ trong máu. Hàm lượng triglyceride trong máu thay đổi sau
khi ăn nên hàm lượng được đo chính xác thường là sau bữa
ăn 12 giờ. Theo viện tim mạch phổi máu quốc gia (the National
Heart, Lung and Blood Institute), hàm lượng triglyceride được xếp
loại bình thường (thấp hơn 200 mg/dL), ranh giới cao (200-400
mg/dL), cao (400-1000 mg/dL), và rất cao (trên 1000 mg/dL). Có nhiều
liên hệ giữa hàm lượng triglyceride và bệnh tim mạch. Sự
liên hệ trở nên mạnh hơn khi hàm lượng cholesterol cũng cao.
Hàm lượng triglyceride của phụ nữ nguy hiểm hơn hàm lượng
của đàn ông. Phụ nữ có hàm lượng triglyceride nhiều hơn
190 mg/dL là báo hiệu có nguy hiểm về bệnh tim mạch, trong
khi độ nguy kịch của đàn ông bắt đầu gia tăng khi lượng
mỡ triglyceride lên 400 mg/dL. Uống rượu và tiêu thụ các thực
phẩm có chỉ số đường cao cũng làm gia tăng hàm lượng
triglyceride trong máu. Cần phải giảm chất béo, chất đường,
các thực phẩm tinh chế và nên tập thể dục đều đặn
mỗi ngày.
022
Hỏi. Flaxseed là gì? Có lợi ích như thế nào cho sức khỏe?
Đáp. Flax là một loại hạt
được sử dụng từ thời cổ, khoảng năm 3000 trước công
nguyên, bắt đầu ở thành Babylon. Họ dùng làm thực phẩm
và đồng thời dùng làm vải may quần áo. (Ngày nay khăn bàn
và khăn trải giường còn làm bằng flax). Hippocrates, ông tổ
y khoa Tây Phương đã dùng flaxseed để trị bệnh đau ở bụng.
Những nhà dinh dưỡng học ngày nay đã tìm thấy một vài
chất có lợi ích cho sức khỏe trong hạt flaxseed là lignans,
fiber, và omega-3 fatty acids. Lignans là chất phytoestrogens (phyto
= plant) có tác dụng ngăn ngừa ung thư vú, ung thư màng trong
tử cung và ung thư tuyến tiền liệt. Những nghiên cứu cho
thấy những nhóm dân số tiêu thụ nhiều phytoestrogens có số
tử vong chết về các loại ung thư trên rất thấp. Mặc dầu
lignans cũng có trong ngũ cốc nguyên chất (barley, buckwheat, millet
and oats), đậu nành và một vài loại rau (broccoli, carrots, cauliflower
and spinach), nhưng flaxseed là nguồn cung cấp nhiều nhất. Flaxseed
gồm có cả hai loại chất xơ hòa tan và không hòa tan (28 grams
fiber trong 100 grams flaxseed). Khoảng 1/3 là loại hòa tan. Những
nghiên cứu cho thấy rằng chất xơ hòa tan trong flaxseed có
tác dụng làm giảm cholesterol. Chất xơ cũng có tác dụng điều
hợp chất đường trong máu. Hai phần ba còn lại là loại
không hòa tan giúp cho sự tiêu hóa d dàng, giảm thời gian lưu
giữ chất thải trong hệ tiêu hóa và ngăn ngừa táo bón. Flaxseed
cũng chứa nhiều alpha-linolenic acid với cả hai loại essential
fatty acid và omega-3 fatty acid. Các nhà nghiên cứu thích thú
khi khám phá ra vai trò của omega-3 fatty acids trong việc tăng
trưởng trẻ em và giảm thiểu yếu tố nguy hiểm đến bệnh
tim mạch. Omega-3 cũng có trong một vài loại thực phẩm như
walnut, đậu nành, canola oils, và dầu cá (salmon, swordfish, mackerel
and herring).
023
Hỏi: Xin vui lòng giải thích thêm về chất béo "fatty acids"
Đáp: Tùy theo sự cấu trúc
nguyên tử hydrogen người ta phân chia chất béo làm ba loại:
(1) Chất béo bão hòa (saturated fatty acids) là loại chất béo
gồm tất cả nguyên tử hydrogen. Loại này được tìm thấy
nhiều nhất trong thịt động vật và một số ít trong thực
vật như dầu dừa, dầu palm. Bộ phận gan của con người
sản xuất cholesterol từ loại chất béo này. (2) Chất béo
không bão hòa Polyunsaturated Fatty Acids là loại chất béo ít
nguyên tử hydrogen. Loại này có nhiều trong dầu thực vật
như dầu bắp, dầu đậu nành...có đặc tính làm giảm tổng
lượng cholesterol, nhưng tiếc thay nó cũng làm giảm loại cholesterol
tốt HDL. (3) Chất béo không bão hòa Monounsaturated Fatty Acids
được tìm thấy trong dầu thực vật, nhiều nhất trong loại
dầu olive và canola. Loại chất béo này có đặc tính giảm
loại cholesterol xấu LDL mà không làm giảm loại cholesterol
tốt HDL . (4) Chất béo Trans Fatty Acids là loại chất béo xảy
ra khi các nhà sản xuất thực phẩm biến đổi dầu thảo
mộc loại polyunsaturated fatty acids ở dạng thể lỏng sang dạng
thể cứng hay biến đổi thành loại dầu thương mại có thể
chiên được nhiều lần và làm cho thực phẩm được dòn.
Khi dầu được biến đổi như vậy nó có đặc tính giống
như loại chất béo bão hòa, có khả năng gia tăng lượng cholesterol
xấu LDL và giảm lượng cholesterol tốt HDL trong máu, do đó
gia tăng mức nguy cơ lâm bệnh tim mạch. Như vậy chất béo
không bão hòa Monounsaturated Fatty Acids, có nhiều trong hai loại
dầu canola và olive là tốt nhất.
