|
c
ÁNH
ĐẠO VÀNG
Võ
Ðình Cường
(In
lần thứ 14)
Nhà
Xuất Bản Thuận Hóa-Huế-1999
Lời giới
thiệu
Trí Phật
là trí kim cương. thân Phật là thân kim sắc, cõi Phật là
cõi hoàng kim, thì Ðạo Phật tất nhiên là Ðạo Vàng. Ánh
Ðạo Vàng là kim quang của đức Từ bi rộng lớn phá màn
vô minh, chỉ rõ đường chánh.
Một đời
thị hiện của Phật đều vì việc ấy, mà nhất cử nhất
động của Phật cũng không ra ngoài mục đích ấy.
Bạn VÕ
ÐÌNH CƯỜNG trong quyển ÁNH ÐẠO VÀNG này đã phát tâm thuật
lại lịch sử của Phật với ngòi viết lưu lợi, lối văn
kiều diễm làm độc giả cảm thấy dường như đang sống
trong làn không khí Từ bi. Thật là một công trình rất vĩ
đại, rất bổ ích cho thế đạo, nhân tâm.
Tôi xin
nhất tâm tùy hỷ và tha thiết giới thiệu cùng toàn thể
quí vị độc giả.
Tâm Minh
LÊ ĐÌNH THÁM
1945
LỜI THÚ TỘI
Thay lời Tựa
KÍNH bạch
đức Thế Tôn! Như một đứa bé khát sữa được nút vú
mẹ, như một kẻ bộ hành sắp bị cháy nắng trong sa mạc
được hụp xuống giữa khe nước mát, con đã say sưa tìm
lại dấu vết của đời Ngài qua các sách sử. Và từ bao
năm tháng, con mân mê cái mộng cao xa là được ca ngợi đời
Ngài trên mặt giấy.
Nhưng
đời Ngài lộng lẫy thế kia, huyền diệu thế kia, nguy nga
thế kia chỉ làm cho con ngây ngất say mê đứng nhìn, và càng
nhìn con lại càng nhận thấy ý định của mình quá táo bạo
trước nhiều nỗi khó khăn.
Từ ngày
Ngài xuất hiện đến nay, trên hai ngàn năm trăm năm đã trôi
qua bao nhiêu lớp người trồi sụp, bãi bể nương dâu
đã mấy lần thay đổi: những vết tích đã xoá nhoà trong
trí nhớ của người đời, những nét chữ đã lu mờ trong
sách sử. Di tích của Ngài tuy được giừ gìn trong các đền
chùa tháp điện, cũng không khỏi lấm màu sắc thời gian.
Tài liệu bị mất mát, sai lạc nhiều. Cho nên làm sống lại
đời Ngài, thời đại xa xưa của Ngài, những tục lệ lễ
nghi, cách ăn nói giống hệt thời ấy, là những việc không
bao giờ con dám cả quyết. Lại thêm, mọi sử gia đều đứng
về một phương diện khi viết đời Ngài. Tuy những điểm
chính thì không ai có thể làm sai chạy, đổỉ thay đi được,
nhưng những chi tiết thì mỗi người thấy mỗi cách, theo
mỗi quan điểm của họ.
Bạch Thế
Tôn, con đến quá chậm: Ngài nhập diệt lâu rồi, và mỗi
người trưng bày mỗi cách hình ảnh của Ngài theo tầm mắt
và sự hiểu biết của họ. Con lựa hình ảnh nào đây cho
giống Ngài nhất? Theo nhà tâm lý chăng? Ôi! Nhiều “vì trạng
thái tâm hồn... thế này thế kia; nhiều “vì hoàn cảnh thế
này, thế khác” quá!. Theo nhà khảo cổ chăng? – Ồ, khô
khan! Tên người, tên xứ, tên núi, tên sông! “Cái bia ấy
dựng lên từ lúc nào? Cây bồ-đề kia có lẽ mới trồng
lại?”
Nhưng
con cũng không muốn giới thiệu đời Ngài với một ngôn ngữ
trừu tượng, với nhiều ẩn dụ, nhiều huyền thoại kỳ
bí có thể làm độc giả có ấn tượng sai lạc về bản
chất của Ngài. “Ðất chuyển động ba lần khi Ngài xuất
thế”, “con rắn thần đến quấn quanh Ngài bảy vòng để
bảo vệ Ngài trong trận bão tố lớn dưới gốc cây bồ-đề
trước lúc Ngài thành đạo, v.v...” Như thế là nghĩa làm
sao? Bị thôi miên bởi uy lực của danh từ, hình tướng,
người ta khó tìm thấy được cái ý nghĩa thâm sâu ẩn giấu
trong mỗi sự việc. Và do đó, có thể có một số độc giả
tưởng rằng đức Phật là một thần linh từ trời cao rơi
xuống, hay cho rằng đây là một “chuyện hoang đường”
không có thật!
Vì sợ
hai chữ hoang đường của độc giả, con để vào đây rất
ít tượng trưng và kỳ bí–có rất nhiều trong các sách khác.
Và như thế, nghĩa là đã giảm bớt rất nhiều linh diệu,
cao thâm, lộng lẫy của đời Ngài. Con đã để đời Ngài
ra ngoài vòng hào quang huyền diệu đáng lẽ phải bao phủ
lấy Ngài. Và để lấp bớt cái khuyết điểm lớn lao ấy,
con thế vào một chút văn chương, một chút nghệ thuật: ở
đây một làn hương, ở kia một điệu nhạc, ở nơi khác
một tia nắng nhạt hay một cánh bướm vàng...
Nhưng văn
chương nghệ thuật dầu sao cũng có giới hạn của nó! Ngài
là bậc Siêu phàm, hiện thân của Cao cả, của Thuần tuý,
của Linh diệu. Con, một kẻ phàm tục, nương mình lên không
khỏi đất, mắt loà trong bụi đỏ, làm sao thấy rõ được
những cảnh tượng huyền vi? Lưỡi con ngắn quá, chỉ bập
bẹ lại những pháp âm mà xưa Ngài đã phát ra từ ấn Ðộ
và bây giờ còn vang dội mãi trên hoàn cầu; tay con vụng về
thế này thì làm sao tung ra được những luồng ánh sáng? Bạch
Thế Tôn, đời Ngài là một biển cả, mà múc nước con chỉ
có hai bàn tay!
Cho nên
mục đích của con khi viết quyển sách này rất ngắn ngủi.
Không phải làm sống dậy cái xứ Ấn Ðộ 2500 năm trước:
không phải diễn tả đúng theo từng ly, từng tí đời của
Ngài; không làm việc của một nhà khảo cổ, hay nhà tâm lý
học ; không phải đứng trong phạm vi hẹp hòi của một kẻ
mê tín đầy thành kiến. Con chỉ là một kẻ thấy đời đẹp
đẽ, cao thượng của Ngài mà sùng mộ, và muốn đem giới
thiệu với mọi người đời Ngài mà mỗi ý tưởng là một
ánh sáng chói ngời, mỗi lời nói là một bài học quý báu,
mỗi cử chỉ là một ý nghĩa cao thâm. Nếu độc giả sau
khi đã đọc xong quyển sách này, hay khi đứng trước tượng
Ngài, cảm nhận được đấy là hình ảnh của lòng Từ bi
rộng lớn, hiện thân của ý chí dũng mãnh, của Trí tuệ
sáng suốt, thì con đã đạt được mục đích.
Hôm nay
công việc đã xong xuôi, đốt nén hương tín thành, con đến
quỳ trước điện Ngài, xin dâng quyển sách này lên Ngài chứng
giám. Ðây là tất cả trí óc của con. Ðể phô bày trong muôn
một tâm hồn thâm diệu của Ngài, con đã đặt tất cả tâm
hồn con vào đó. Con đã nhỏ những giọt nước mắt nóng
trên trang giấy khi con tưởng tượng lại những giọt nước
mắt của Ngài đã nhỏ trên vết thương của nhân loại: con
đã vui sướng– dầu chỉ là một nỗi vui sướng thô kệch–
theo với nỗi vui sướng tinh khiết của Ngài, khi Ngài tìm
ra được ánh sáng dưới gốc bồ-đề...
Bạch
Thế Tôn, vì bao nhiêu tâm huyết và lòng thành thực của con,
xin Ngài hãy lượng xét mà xoá bỏ một ít những lỗi lầm
và vụng dại mà con có thể mắc phải khi viết quyển sách
này.
Kính dâng,
VÕ ĐÌNH
CƯỜNG
1
Nhân
loại ơi! Có hay chăng một vị Giác Ngộ mới ra đời?
Chúng
sanh ơi! Một đấng Đại từ, Đại bi, Đại trí, Đại đức
vừa xuất hiện ở dưới trần!
Ôi
hân hoan, hân hoan cho toàn cả mấy tầng trời, vì chúng sanh
ơi, một đóa hoa Đàm nở, một ánh sáng lạ chói ngời!
Này
ai ơi! Hãy đi về phía nam dãy núi Hy-mã-lạp-sơn, vì chính
ở đấy đã ra đời một đức Phật.
Tiếng
hát trong thanh ấy không biết tự đâu bay lạc trong gió, lanh
lảnh dội từ khoảng rừng này sang khoảng rừng khác. Ðạo
sĩ A-tư-đà (Asita) đang ngồi tham thiền dưới một gốc cây
bỗng đứng dậy. Người choàng chiếc áo lông cừu vào, chống
gậy lần xuống núi, đi về phía Nam dãy Hy-mã-lạp-sơn. Tối
hôm ấy người đã đến thành Ca-tỳ-la-vệ.
Ở
đây linh đình yến tiệc, hội hè đang giữa lúc say. Ðèn
sáng rực trên các vòm cây. Cờ bay ở đầu các ngõ. Những
cỗ xe bò kết hoa đang kềnh càng chen giữa đám đông, ngựa
hí vang lên để tìm lối bước. Những chiếc ghế kiệu bốn
phía rũ rèm xanh, lô nhô trên đám hội. ở đây, một nhóm
người xúm quanh một phường xiếc; đàng kia, họ ngây ngất
trước những điệu múa nhẹ như bay của đoàn vũ nữ. Một
nơi khác, những kẻ đấu kiếm đang thi tài, hay những tay
võ sĩ, mình mang lốt gấu đang đọ sức với cọp. Từng trận
cười dòn vang lên từ một đám trò hề đi diễu qua các phố.
Ðạo
sĩ A-tư-đà chen chúc từ đám này sang đám khác, và với vẻ
mặt ngơ ngác, đi hỏi từng người :
–
Tại sao các người mở hội?
Và
mỗi người trả lời mỗi cách:
–
Vì Hoàng hậu Ma-gia vừa sanh Thái tử.
–
Vì Thái tử Tất-đạt-đa có ba mươi hai tướng quý.
Nhưng
có một người già, ngồi trên thềm gạch, trả lời rành
mạch từng câu:
–“Trước
đây chín tháng, một hôm Hoàng hậu Ma-gia nằm mộng thấy
một con bạch tượng sáu ngà đứng trên một ngôi sao, có
sáu sắc chói ngời vượt qua trời cao và luồn vào trong hông
phải Hoàng hậu. Ngài vùng thức dậy. Trời cũng vừa độ
bình minh. Một thứ ánh sáng xanh nhuộm muôn cành rạo rực.
Gió không réo rắc, im bặt oán hờn từ núi Hy-mã. Sông Hằng
không trằn trọc sóng Một nỗi hân hoan và thái bình lan tràn
mặt đất.
Hoàng
hậu kể lại giấc chiêm bao cho các già đoán mộng. Mọi người
đều công nhận đấy là điềm lành: Hoàng hậu sẽ sanh được
Hoàng nam, tài đức từ xưa đến nay chưa ai sánh kịp.
Ðiều
đoán xưa đã bắt đầu thực hiện. Sớm mai này trong vườn
Lâm-tì-ni, chim thi nhau chuốt giọng trên cành; hoa thi nhau trải
màu trên lá; và hương từ bốn phương dồn lại, xông lên
ngào ngạt khắp vườn. Hoàng hậu Ma-gia thấy sự lạ, ngự
ra xem. Ngài khoan thai đi từng bước một, lòng khoan khoái và
nhẹ nhàng như có cánh bay. Ði đến gốc cây Vô Ưu thì Ngài
sanh Thái tử.
Mặt
trời xuất hiện ở phương Ðông, hồng hào và tròn trĩnh
như mặt Người vừa xuất thế! Hào quang phóng từng luồng
dài, xoè ra như cánh quạt quét sạch những bóng đêm. Bầu
trời trong xanh như đúc bằng ngọc thạch. Từng luồng gió
thơm mát ngân vui trong lá mừng.
Tịnh-phạn
vương nghe tin, truyền cho đình thần đến đón Hoàng hậu
và Thái tử về. Cờ xí rợp trời, trống kèn dậy đất.
Ðám rước đi đến đâu, từng loạt mưa hoa đổ xuống đấy.
Chúng dân lũ lượt theo sau, hoà nỗi vui mừng của nhà vua
cùng với nỗi vui mừng cửa cả nước. Và trong đám rước,
người ta bảo có lẫn lộn những thiên thần, giả người
trần tục, vì đây không phải cái vui riêng của cõi thế
mà chính là cái vui chung cho cả mấy từng trời.
Hôm
nay, Tịnh-phạn vương truyền cho dân gian mở tiệc khao mừng
là vì thế.”
Ngày
hôm sau, A-tư-đà xin vào triều ra mắt Thái tử. Tịnh-phạn
vương đứng dậy chào vẻ phương phi của đạo sĩ, và Hoàng
hậu đặt Thái tử dưới chân người đức hạnh ấy. A-tư-đà
nhìn mặt Thái tử xong, vội vã sụp xuống lạy tám lần,
rồi đứng dậy khóc ròng rã trên chiếc gậy rung rinh. Tịnh-phạn
vương và Hoàng hậu kinh hãi, hỏi dồn:
–
Sao đạo sĩ lại khóc? Tai nạn gì xảy đến cho Hoàng gia đây?
Ðạo
sĩ chùi nước mắt tâu:
–
Tâu Hoàng thượng? Tôi khóc là khóc cho tôi xấu số không
sanh nhằm một thời với Thái tử! Ôi, tôi già nua lắm rồi
và sẽ chết nay mai, không được nghe những lời thuyết pháp
vàng ngọc của Thái tử!
Tâu
Hoàng thượng! Thái tử không phải là một người trần. Ngài
là một đóa hoa quý nhất của nhân loại, chỉ nở một lần
trong mấy vạn năm. Ngài sẽ là một bậc đại từ, đại
bi, đại trí, đại dũng. Và 32 tướng tốt của Ngài báo trước
Ngài sẽ là một vị Ðại vương, thống trị cả thiên hạ.
Nhưng chữ vạn nổi ở trên ngực lại báo rằng Ngài sẽ
làm chủ cả tam thế, dắt đường chỉ nẻo cho tất cả chúng
sanh. Ôi thật là đại phước cho Hoàng gia! Nhưng hỡi ngài
Ma-gia đức hạnh! Ngài sẽ lìa cõi trần ô trọc này trong
bảy ngày nữa để lên cõi trời Ðạo Lợi, vì đức hạnh
của Ngài đã quá nhiều và nghiệp báo của Ngài đã hết.
Từ đây Ngài sẽ không đau khổ nữa!
Lời
đoán ấy không sai. Bảy ngày sau, hoàng hậu Ma-gia nhẹ nhàng
ngủ thẳng. Thái tử được di mẫu là Ma-ha-bà-xà-bà-đề
nuôi. Lên tám tuổi, Thái tử đã tỏ ra không phải một người
thường. Tịnh-phạn vương lo cho con mình sau này sẽ bỏ ngai
vàng mà đi theo con đường chông gai và huy hoàng của một
đức Phật. Ngài muốn con ngài sẽ làm một vị Ðại vương,
nên truyền cho tìm thầy giỏi nhất trong nước để dạy Thái
tử những điều mà một vị Ðại vương cần biết.
Tì-xa-bà-mật-đà-la,
một giáo sư thông thái nhất trong những giáo sư được mời
đến dạy. Ngày lành đã lựa, Thái tử kẹp trong tay một
tấm gỗ trắc nhận ngọc ở ngoài lề, và một thẻ son để
viết, kính cẩn đến thụ giáo với thầy.
Học
đến đâu Thái tử nhớ đến đấy và nhiều khi Ngài thấy
rõ trước những điều thầy sắp dạy.
Chẳng
bao lâu, Ngài vượt hẳn sức hiểu biết của thầy, và một
hôm, giáo sư bỗng sụp xuống lạy Thái tử:
–
Hỡi Thái tử, từ đây xin Ngài hãy nhận cho già này làm đệ
tử. Sức hiểu biết của lão có hạn, mà trí thông minh của
Ngài vô cùng, lão không sao dạy nổi. Một khi con phượng hoàng
đã đủ lông, đủ cánh thì không một con chim nào khác có
thể vượt lên được.
Nhưng
hỡi người con của Ma-gia đức hạnh, lão bái phục Ngài không
phải vì trí thông minh eủa Ngài, mà còn vì lễ độ mà Ngài
đối với lão nữa!
Cái
lễ độ ấy, Thái tử đem đối đãi với tất cả mọi người.
Cử chỉ của Ngài rất nhã nhặn. Một khí tượng đế vương
lộ trên nét mặt, tuy thế niềm thân ái vẫn chứa đầy trong
đôi mắt. Giàu tình cảm, Ngài lại gan dạ không ai bằng.
Trong những buổi đua ngựa trong cung, Ngài tỏ ra rất can đảm
và lão luyện, ngựa của Ngài thường về nhất. Nhưng nhiều
lúc, giữa cuộc đua Ngài bỗng dừng ngựa lại, có khi vì
sực nghe có ai réo gọi; có khi vì thấy tội nghiệp cho con
ngựa mệt nhọc đang thở hồng hộc dưới mình Ngài; có khi
vì thấy thương những người bạn sắp thua cuộc.
Và
mỗi năm qua, Ngài lớn thêm lên một tuổi thì tình thương
kia lại tuần tự lan dần như từng vòng nước gợn.
Có
một buổi mai mùa xuân, ngang qua vườn ngự, một đàn ngỗng
trắng bay về núi Hy-mã-lạp-sơn. Ðề-bà-đạt-đa, em họ
Thái tử, thấy được trương cung nhắm bắn. Một chiếc tên
vụt lên, cả đàn ngỗng trời bay tán loạn như một đám
mây bạc bị gió xé ra từng mảnh nhỏ. Một con rơi xuống,
vài điểm hồng rơi theo giữa khoảng trời xanh biếc. Thái
tử thấy được, chạy đến thảm cỏ gần đấy lượm con
vật bị thương lên, áp vào lòng, rút mũi tên ở cánh ra,
và vuốt ve nó như người mẹ hiền săn sóc con đau. Ngài hái
lá nhai nhỏ rồi trộn với mật áp vào cánh chim. Chim dần
dần tỉnh lại, âu yếm nép vào lòng Ngài. Trong lúc ấy, một
tên thị vệ đến bên Ngài kính cẩn thưa:
–
Thưa Thái tử, con ngỗng này của Hoàng thân Ðề-bà-đạt-đa
đã bắn được. Ngài sai tôi qua đây xin với Ngài trả lại.
–
Không! Con ngỗng này bị Hoàng thân bắn, nhưng được ta cứu.
Hoàng thân là kẻ thù, chính ta mới là ân nhân của nó. Ta
không thể giao nó cho Hoàng thân.
Ðề-bà-đạt-đa
không chịu, qua cãi lại:
–
Con vật này khi còn ở trên trời, thì không thuộc của ai
cả, nhưng khi tôi đã bắn được là thuộc về tôi.
Thái
tử áp cổ ngỗng vào sát má Ngài, trả lời:
–
Ta đã bảo không! Không ai có quyền làm đau đớn một con
vật để bắt nó thuộc về mình. Con vật này của ta, bởi
ta yêu thương nó, và nhất là nó đã trìu mến ta. Nhưng nếu
Ðề-bà-đạt-da không nghe thì cứ đi kiện với các lão thần,
chúng ta nhờ họ phân xử.
Chuyện
ấy được đem ra giữa triều. Các lão thần hội lại để
phân xử. Mỗi người mỗi ý, không biết dựa vào đâu mà
định đoạt. Giữa lúc ấy trong đám người đến xem, có
một ông già đứng dậy xin thưa:
–
Nếu sự sống có giá trị thật, thì người đã cứu sống
một con vật đáng gìn giữ nó hơn là người định tâm giết
nó. Một bên tàn sát và phá phách, một bên bảo hộ và xây
đắp. Nên giao cho Thái tử con chim kia!
Mọi
người đều cho lời nói kia rất phải. Vua sai người lấy
ngọc ngà ra thưởng cho ông lão. Nhưng người ta không tìm
thấy ông đâu nữa.
Thái
tử được chim, hớn hở ôm nó vào ngực. Ngài nghe trái tim
nho nhỏ của nó đánh gấp gấp bên cạnh tim Ngài. Nỗi sung
sướng của Ngài hoà theo nỗi sung sướng của con vật. Ngài
nhìn lên trời. Trời xanh ngăn ngắt, không vướng một mảnh
mây tro. Gió nhẹ xuôi chiều về hướng Bắc.
“Con
ơi, hai ngày nay con bị giam cầm trong đôi tay âu yếm của
ta. Tuy được ta nâng niu nhưng làm sao sánh được cái thú
nước mây ở ngoài cao rộng. Hôm nay cánh con đã lành mạnh,
và giữa bầu trời quang tạnh, gió lại thuận thồi về hướng
Bắc, ta thả con ra để con bay về dãy Hy-mã cùng đàn con sum
họp. Ta gởi theo con đây một tấm lòng thương mến, và con
hãy về mách lại với đàn con rằng ở đây có một người
nguyện sẽ đem cả đời sống ra bênh vực, cứu giúp những
kẻ yếu hèn... Thôi con hãy tung cánh lên đi!”
Thái
tử mở đôi tay. Con ngỗng vụt bay lên, cổ dài trườn tới
trước, hai chân duỗi thẳng ra đằng sau... Lòng Thái tử phơi
phới, nhẹ nhàng vỗ theo với đôi cánh chim đang vạch một
đường trắng ngang trời xanh.
Có
một ngày, Tịnh-phạn vương nắm tay con đi dạo bên cạnh
một khu rừng. Ngài đưa tay chỉ:
–
Con thấy không? Từ chân trời thăm thẳm ruộng xanh kia đến
khu rừng này và bao nhiêu khu rừng sau đây, đều thuộc về
cha con ta cả. Giang sơn tươi đẹp và thái bình như thế, con
cũng nên xem qua cho biết.
Trời
về xuân. Cây rủ màn xanh. Cỏ giăng đệm lục. Rải rác trên
cánh đồng, từng cặp bò kéo cày đi từng bước một; đằng
sau, người nông phu ấn chân trên lưỡi cày: đất bị xẻ
từng đường dài, uốn cong ra hai bên như những lưỡi sóng
xẻ ra trước mũi thuyền. Xa xa, vài người vãi lúa tung cánh
tay rộng lên nền trời trong. Vài con chim én mài cánh trên
cỏ mướt. Năm bảy con ác là khấp khểnh đi trên những sóng
đất cày. Ðàn bướm trấng chập chờn bay trên những hoa
cỏ tím. Từ phía rừng, tiếng chim lanh lảnh vang dội trong
thành lá rậm. Ở một làng xa, tiếng trống khoan thai điểm
hồi cho một lễ cưới.
Thái
bình lan tràn mọi vât. Thái tử tỏ vẻ vui mừng. Nhưng nhìn
sâu vào trong cảnh vật, Ngài nhận thấy những mũi gai nhọn
mọc tua tủa dưới hoa đời. Người nông phu đổi một phần
sinh lực để được sống. Ðôi bò nướng mình trong nắng
để kéo lưỡi cày nặng trĩu, chôn một nửa dưới lớp đất
khô. Những côn trùng bị lưỡi cày bới lên, quằn quại trên
mặt đất, làm mồi cho loài chim giành giựt cấu xé nhau. Ngài
thấy một con rắn mối đang đớp kiến, bỗng bị một con
ó đến cắp đi. Và trong bụi rậm, một con chồn vàng đang
rình đợi một con gà tha một con trùn đi qua.
Và
cứ như thế, con vật này giết con vật khác, và bị con khác
nữa giết hại. Sự Sống sống bằng sự Chết. Cảnh tượng
đẹp đẽ ban đầu chỉ là một cái màn che giấu ở phía
sau những giết hại thảm khốc những cấu xé không ngừng.
Thái tử thở ra:
–
Chao ôi! Bao nhiêu mồ hôi và nước mắt đã nhỏ trong chén
cơm của người đi cày!. Bao nhiêu sức lực của đôi bò đã
đem ra để đổi lấy một nắm cỏ! Và khốc liệt thay, sự
tương tàn giữa vạn vật!
Nói
xong, Ngài đến ngồi xếp bằng tròn bên một gốc cây và
mời vua cha về trước để Ngài ở lại suy nghiệm về ý
nghĩa cuộc đời. Một tình thương không bờ bến chiếm cả
tâm hồn Ngài và lan cùng mọi vật; một sức ước muốn được
cứu độ chúng sanh mạnh mẽ đến nỗi tâm trí Ngài không
còn nhận biết những việc xảy ra ở xung quanh: bóng chiều
đã ngã, quan hầu đang đứng đợi Ngài về cung.
Lần
đầu tiên, Thái tử có một quan niệm chung về sự đau thương
của toàn thể chúng sanh.
WP: Hồ
Trung Mỹ
VNI
Font Doc 289KB
|