|
c
ÁNH
ĐẠO VÀNG
Võ
Ðình Cường
(In
lần thứ 14)
Nhà
Xuất Bản Thuận Hóa-Huế-1999
7
Từng
năm qua, từng năm qua, phong sương phủ dầy một lớp trên
da người vương giả. Chiếc gậy của kẻ tầm đạo đã mòn
một khúc trên đá sỏi đường rừng. Nghe ở đâu có một
đấng tu hành đắc đạo là Ngài tìm tới. A-la-già, Ca-lan...
đều biết mặt người xuất thế. Nhưng đến đâu, Ngài cũng
thấy đạo của họ còn thấp kém, hẹp hòi, không đủ làm
cho Ngài thoả mãn.
Sau
cùng, không tìm đâu thấy cái đạo Giải thoát như ý Ngài
muốn, Ngài nghĩ: “Cái đạo ấy có lẽ tự ta tìm thấy trong
ta mà thôi”. Từ đấy Ngài không đi hỏi đạo đâu khác
hơn là tự hỏi trí tuệ sáng suốt, tinh anh của Ngài.
Xứ
Phật-đà-gia-da có một dải rừng gọi là Ưu-lâu tần-loa,
cây cỏ sum suê, đường đi hiểm trở, đức Thích-ca đến
đấy, đêm ngày nghiền ngẫm theo đạo vô thượng của Ngài,
quên ăn, quên ngủ, lấy tuyết sương làm màn, cỏ hoa làm
chiếu.
Mỗi
ngày từ đứng bóng, Ngài bắt đầu tham thiền. Ngài ngồi
xếp bằng tròn, mình thẳng, yên lặng như một tượng đá.
Thỉnh thoảng, một con sóc nhảy lên vế Ngài, vài con chim
nhỏ, đến đậu trên miệng bình bát để bên cạnh Ngài,
chúi mỏ xuống mổ những hạt cơm Ngài để dành cho chúng.
Ngài ngồi như thế, không quan tâm đến chung quanh, điềm nhiên,
mặc cho gió nực luồn lách trong lá, những nhành cây rên răng
rắc dưới ngọn nắng thiêu.
Rồi
mặt trời dần lặn, đỏ rực một phía rừng; rồi đêm xuống,
sao chong đèn bạc cho giấc ngủ được êm lành. Ngài vẫn
ngồi yên, phân dần những mối manh rối beng của tư tưởng,
giữa những hình ma bóng chết, giữa những vùng u tịch của
đêm rừng mà thỉnh thoảng tiếng gầm thét của bọn ác thú,
đang cấu xé nhau trong bóng tối làm tăng thêm hãi hùng ghê
rợn.
Đến
quá nửa đêm, Ngài mới đặt lưng xuống ngủ để rồi lại
trỗi dậy trước ánh bình minh. Ngài đến ngồi bên sườn
núi, nhìn xuống cảnh đời xa xa đang ngủ dưới chân Ngài,
duỗi mình trên những cánh đồng bao la còn đắm chìm trong
bóng tối. Thế rồi trời sáng dần... Từ chân mây xa đưa
lại vài luồng gió mai phẩy nhẹ, như hơi thở của mặt trời
sắp lên. Bóng sao mai mờ dần trong ánh sáng, vạn vật trỗi
dậy với mặt trời hồng. Sắc màu tươi thắm lại. Tiếng
chim vui hoà lẫn trong cành. Ngài chứng kiến mỗi buổi bình
minh sự trở về của ánh sáng, và liên tưởng đến một
buổi mai kia, khi ánh sáng của đạo Ngài cùng bừng chiếu
với ánh mặt trời, thì ôi! Cuộc đời sẽ vui thêm biết
mấy!
Tắm
rửa xong, Ngài lần theo đường dê đi xuống núi khất thực.
Bình bát mang bên mình, Ngài dừng bước trước mọi nhà với
vẻ uy nghi của một người sắp sáng đạo. Các bà mẹ vội
bảo con đem sữa bánh ra dâng. Ngài nhận lãnh lòng sốt sắng
của mọi người với một nụ cười hiền trên môi, hay một
lời cảm ơn rất êm dịu. Những cô thiếu nữ nhìn Ngài với
những cặp mắt đen nháy, ngạc nhiên khi thấy người trai
trong mộng hiển hiện ở hình Ngài. Lũ trẻ chạy nâng áo
Ngài lên, đặt môi xuống đấy, tỏ hết lòng kính mến và
sùng bái, như đối với một vị thần hộ mệnh.
Ngài
sống từng năm như thế. Nhưng nhiều lúc say mê trong việc
nhập định tham thiền, Ngài ngồi luôn từ trưa này cho đến
trưa kia; khi sực nhớ đến bình bát thì chỉ thấy một bình
không! Giờ khất thực đã qua, Ngài phải đi kiếm trái cây
ăn qua loa cho đỡ đói. Lòng khao khát tìm cho mau ra ánh sáng,
sự chuyện chú của tinh thần, những đêm quên ngủ, những
ngày quên ăn, và nắng lửa, và gió băng, và bao nhiêu nhọc
nhằn khác làm cho thân hình Ngài mỗi ngày mỗi tiều tuỵ
sức lực mỗi ngày mỗi mòn yếu, những tướng tốt của
Ngài lu mờ dần... Rồi một buổi trưa, Ngài nằm lịm trên
mặt đất, mê man không còn biết gì nữa.
Một
người chăn cừu đi qua, thấy Ngài nằm bất tỉnh trên vũng
nắng vàng cháy, liền bẻ một nhánh cây che cho Ngài, rồi
lấy sữa đựng trong bao da đổ vào miệng Ngài. Ngài tỉnh
dậy, sắc mặt hồng hào, tươi thắm như xưa, những tướng
tốt hiện rõ như trước. Người chăn cừu tưởng gặp thần
núi, sụp xuống lạy, rồi đứng lùi lại rất xa. Ngài bảo
đến gần, rót cho Ngài một chén sữa. Nhưng người đó vẫn
đứng xa thưa lại:
–
Kính lạy Ngài, tôi không thể đến gần Ngài vì tôi là một
đứa Ba-li-a; sự gần gũi của tôi sẽ làm Ngài mất tinh khiết.
Ðức
Thích-ca dịu dàng bảo:
Tình
thương và sự nhu cầu là những dây liên hiệp để đoàn
kết mọi người. Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ
như nhau, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn.
Mỗi người khi mới sanh ra không phải có sẵn dấu Ti-ca trên
trán , không đeo sẵn dây chuyền trong cổ (những người thuộc
dòng quý phái Ấn Ðộ đều có dấu ấn Ti-ca giữa hai chân
mày và mang dây chuyền ở cổ). Trước toà án nhân quả, mỗi
người đều phải trả đúng giá những nghiệp mình làm. Người
hãy cho ta uống đi, không can gì mà sợ.
Người
chăn cừu sung sướng đến bên Ngài, rót sữa vào chén, dâng
Ngài uống.
Một
buổi mai, một đoàn ca vũ đến làm lễ ở một đền nào,
đi ngang qua rừng Ngài tu. Họ vui vẻ đổ xuống đồi, chạy
loanh quanh theo con đường mòn đỏ sỏi. Những khăn quàng dài
và rộng bay lui ra sau, chập chờn như những cánh bướm. Những
chuỗi lục đạc đồng quấn trong chân thon, những chiếc vòng
bạc đeo trong tay hồng, cùng nhau rung lên những tiếng đồng
và tiếng bạc. Họ hát như sau:
“Lên
cho chúng tôi một dây đàn đừng quá cao cũng đừng quá thấp,
chúng tôi sẽ nhảy theo tiếng đàn và tim mọi người sẽ
nhảy theo chân chúng tôi.
Dây
đàn quá căng sẽ đứt và nhạc sẽ câm.
Dây
đàn quá chùng nhạc sẽ không lên tiếng.
Lên
cho chúng tôi một dây đàn đừng quá cao cũng đừng quá thấp!”
Tiếng
hát vô tư của mấy nàng ca nhi không ngờ đã lọt vào tai
Người tầm đạo. Ngài ngước đầu lên nhìn. Bóng dáng hoa
hoè của họ thấp thoáng hiện giữa những khoảng cây thưa.
Tiếng hát của họ mỗi lúc mỗi tan dần trong gió. Ngài mỉm
cười, tự nhủ: “Không ngờ các người ấy cũng có được
nhiều ý tưởng hay. Ừ, có lẽ trong việc tìm điệu nhạc
cứu thế, ta đã lên quá cao dây đàn, không khéo nó sẽ đứt
mất trong khi ta đang cần đến nó. Ta phải bồi bổ lại thân
thể mới được.”
Ở
bên bờ sông Ni-liên-thuyền gần khóm rừng Ngài tu có một
làng lấy tên người điền chủ giàu nhất làng: Xờ-na-ni
(Senani). Chàng ở đấy với vợ, nàng Tu-xà-đa (Soujata), hiền
lành như bồ câu và đức hạnh như thánh nữ. Nàng sống những
ngày êm ả bên cạnh chồng, nuôi một ước vọng tha thiết
: có con trai.
Nàng
đã nhiều lần khấn vái nữ thần Lúc-mích (Nữ thần thường
phò hộ cho dân gian được giàu có, phồn vinh) và những đêm
trăng, nàng thường đội một khay hoa quả đến bên tượng
Lanh-gam (tượng đá hình tròn và dài, tượng trưng cho sự
sanh sản) đi quanh chín vòng để cầu mong sanh được một
đứa bé. Nàng nguyện sẽ đem dâng rất nhiều lễ vật, nếu
điều mong ước của nàng được thực hiện. Nàng đã được
như nguyện. Sau mấy tháng cầu xin, nàng thụ thai và sinh được
một trai. Con nàng bây giờ đã được ba tuổi. Một hôm, nàng
bế con, đội một khay hoa quả và một bình nê-hồ vào rừng
tạ thần núi.
Nàng
sai con thị tỳ Ra-đa (Radha) vào trước trong rừng, sửa soạn
một nơi để làm lễ. Nhưng một chốc, Ra-đa chạy ra, hớn
hở báo với nàng:
–
Cô ơi! Thần núi hiện ra ở dưới gốc cây kia; Người đang
ngồi xếp bằng, hai tay để trên hai vế, mặt phương phi lắm
cô ạ. Thật phúc đức cho chúng ta lắm, vì mấy khi mà được
Ngài hiện ra như thế.
Nàng
Tu-xà-đa đi đến, kính cẩn và run rẩy sụp xuống lạy, úp
mặt sát đất, khấn:
–
Lạy Ngài cao cả đã ban phước cho chúng con, xin Ngài hãy nhận
lễ mọn này tự tay con làm lấy với tất cả lòng thành kính
và biết ơn của con.
Lạy
xong, nàng đến đổ trên tay đứe Thích-ca một thứ nước
hoa đựng trong bình thuỷ tinh và để bình bát đựng nê-hồ
trước mặt Ngài. Ðức Thích-ca lặng lẽ ngồi thọ trai, trong
lúc người thiếu phụ, lòng tràn sung sướng, đứng hầu bên
cạnh. Thọ trai xong, Ngài nghe trong mình tỉnh táo lạ thường.
Sức lực trở lại trong Ngài; nguồn sống chạy rần rần
trong huyết quản. Ngài cảm nghe như những đêm quên ngủ,
những ngày quên ăn chỉ là một giấc mê mà bát nê-hồ đã
đuổi tan trong chốc lát. Trí não Ngài trở nên sáng suốt
như gương, nhẹ nhàng như có cánh, mạnh mẽ như Hy-mã-lạp-sơn.
Nàng
Tu-xà-đa nâng đứa bé trên tay, nhỏ nhẹ thưa:
–
Thưa Ngài, chẳng hay cái lễ mọn của con có làm vui lòng Ngài
chăng?
Ðức
Thích-ca không trả lời thẳng câu của thiếu phụ, hỏi lại:
–
Người đã cúng dường cho ta thứ gì mà ngon lành đến thế?
Người
thiếu phụ, vẻ hân hoan lộ ra trong đôi mắt sáng, quỳ xuống
bên Ngài kể lể:
–
Hỡi Lượng cao cả đã ban ân cho con! Con lấy sữa của 25
con bò cái nuôi 12 con bò trắng, lấy sữa của 12 con bò này
nuôi 6 con bò mập mạp nhất trong chuồng. Con lấy sữa những
con bò này đổ vào bình bạc nấu với thứ gạo tốt nhất
mà con đã chọn lựa rất công phu trong những thứ gạo tốt.
Con lại cho thêm vào bình bạc những thứ lá thơm, hoa quý
tự tay con hái lấy trong vườn. Ôi! Nhưng bao nhiêu lòng thành
kính, bao nhiêu công phu của con, con biết không làm sao sánh
được trong muôn một lượng cả của Ngài. Ðây đứa bé,
hòn ngọc, lẽ sống mà Ngài đã ban cho gia đình con!
Nàng
duỗi hai cánh tay, đưa đứa bé ra phía trước. Ngài vén mảnh
lưới hồng che trên mặt đứa bé, để bàn tay cứu thế trên
trán nó và nói với người mẹ:
–
Ta mong cho hạnh phúc của người và gia đình người được
dài lâu. Ta mong cho gánh đời của con người sau này sẽ không
đè nặng trên vai nó. Ta không phải là một vị thần nào
cả. Ta chỉ là một người như mọi người khác. Xưa kia ta
là một Thái tử. Bây giờ ta chỉ là một kẻ không nhà, ròng
rã trong 6 năm trời đi tìm ánh đạo để soi sáng cho chúng
sanh đang sống trong bóng tối mà họ không hay. Ta tin sẽ tìm
ra ánh sáng ấy, vì nhiều lúc ta thấy nó thoáng hiện ra trước
mắt ta. Nhưng ta không đón giữ nó lại được, có lẽ vì
sức lực ta đã mòn mỏi. Hôm nay ta nhờ bát cháo sữa của
người mà được mạnh khoẻ như xưa, công ơn ấy ta biết
lấy gì đền đáp lại cho người?
Nàng
Tu-xà-đa thoái thác:
–
Ôi! Lòng con là một đoá hoa lan nhỏ bé, chỉ vài giọt sương
mai là đã tươi thắm rồi. Con không mong ước tham cầu gì
nữa. Ðời con êm trôi giữa ánh sáng dịu dàng của gia đình:
chồng con, mạnh mẽ như một cây đại thọ, con con, nụ cười
tươi sáng như hoa xuân, con không còn ước mong gì khác. Con
sống không đòi hỏi cũng không từ chối: thản nhiên nhận
lấy mọi việc không may xảy đến cho con, không oán trách
cũng không tránh trút. Nhưng bao giờ con cũng tin chắc rằng
những điều xảy đến ngày mai sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm
nay, vì như con thường thấy, những việc ác gây hoạ, cũng
như những việc thiện gây phúc. Một hạt lúa giống tốt
sẽ mang một chuỗi hạt vàng. Luật sống của con chỉ tóm
tắt trong hai điều này: bớt dục vọng và thêm tình thương.
Ðức
Thích-ca mỉm cười phán bảo:
–
Người dạy những bài học rất đích đáng cho những bậc
thầy của người. Sự hiểu biết của người không cần kinh
sách. Người đi trúng đường không cần ai chỉ bảo như con
bồ câu bay trúng hướng một cách tự nhiên. Nhưng trong nhân
loại, đếm được mấy người hiểu và sống như thế? Và
biết bao người cần phải có kẻ chỉ dẫn! Chính vì thế
mà ta đi tìm đạo. Thôi người hãy về đi. Ta chúc người
làm tròn phận sự làm mẹ và làm vợ. Còn ta, ta sẽ làm tròn
phận sự của kẻ đi tìm phương giải thoát cho nhân loại.
Nàng
Tu-xà-đa cáo từ Ngài, rồi nhẹ nhàng đi ra khỏi rừng.
Ðức
Thích-ca đứng dậy, đến tắm ở bên bờ sông Ni-liên-thuyền.
Tắm xong, Ngài nghe trong mình khoan khoái lạ thường. Ngài bước
từng bước chắc chắn đến phía cây bồ-đề, cây bồ-đề
cao to nhất trong những cây rừng ở thế giới, có từng lớp
mái lá xanh, từng nhành duỗi rộng, có những rễ phụ chôn
xuống đất như những hàng cột lớn. Cây bồ-đề mạnh mẽ
và vững chắc mà thời gian không thể tàn phá, gió mưa chỉ
làm tốt tươi thêm.
Ðức
Thích-ca đến đấy, và mọi vật cảm thấy trước một điềm
lành, hội nhau mừng rỡ. Gió đưa ngào ngạt từng loạt hương
sen mọc bên bờ sông Ni-liên-thuyền. Từng đàn bướm vàng
bay; từng hồi, chim chuyền tin mừng cho nhau qua kẻ lá. Và
Ðấng-sắp-giải-thoát nghe vang lừng một điệu hát ở mấy
từng không:
“Hỡi
người con rất anh linh của vũ trụ, đấng vương giả, mà
xa hoa không thể ràng buộc, muôn ngàn dục vọng không thể
làm mù quáng! Ngài đã đem ý chí mạnh mẽ như thác đổ,
vững chắc như núi đồi, để thắng vượt những nỗi ràng
rịt của xác thịt và nhất là tình cảm. Ngài đã đem trí
tuệ sáng như mặt trời để tìm con đường giải thoát. Ngài
sắp đến đích!
Nhanh
lên! Còn phải thắng trong một cuộc chiến đấu cuối cùng
nữa, và công đức của Ngài sẽ trọn vẹn! Nhanh lên! Bóng
tối từ muôn vạn đời của trời đất đang đợi Ngài rọi
ánh sáng vào đấy!”
Ðức
Thích-ca đến ngồi kiết-già cạnh gốc bồ-đề tự bảo:
“Dù máu ta có khô, xương ta có mục, ta cũng không rời khỏi
chỗ này, nếu ta chưa tìm ra được Ðạo.”
WP: Hồ
Trung Mỹ
VNI
Font Doc 289KB
|