THẾ-TÔN
mười tám tuổi đầu,
Đức
Vua truyền cất ba lầu an cư ;
Cái
bằng đà tốt cưa tư,
Cây
hương lợp chắc, ấm trừ tiết đông ;
Cái
nhì cẩm thạch gân trong,
Mùa
hè ẩn mát khỏi nồng nực chi ;
Cái
sau lợp ngói xanh rì,
Mùa
thu chiêm-bặc [1] nở đầy thơm tho.
Theo
nhà, vườn suối quanh co,
Chòm
hoa, bồn cỏ, chỗ chờ nghỉ chơn.
Dạo
chơi thong thả chi sờn,
Càng
lâu, càng thấy lắm cơn sướng kỳ!
Đạt-Đa
đương tuổi dậy thì,
Máu
hồng mãnh liệt chảy đầy trong thân;
Nhưng
Ngài có lúc định thần,
Có
hồi suy xét truy lần viễn vông;
Cảnh
như mặt nước gương trong,
Kế
cơn sóng dợn chẳng trông thấy hình.
***
Đức
Vua dòm thấu nỗi tình,
Triệu
chư quan chức phán rành mấy câu:
"Các
khanh hãy xét buổi đầu,
Lời
ông đạo sĩ vào chầu nơi đây,
Lại
thêm tướng số mấy thầy,
Đã
nghe mộng triệu lời bày cũng thông.
Trẻ
nầy ta mến vô song,
Sau
nầy ra mặt anh hùng Đại vương.
Một
tay chinh phục phi thường,
Các
vua khiếp sợ đều nhường bực trên;
Ý
ta muốn vậy cũng nên,
Song
còn e nỗi xuống lên bất kỳ:
Con
ta sẽ chán cõi nầy,
Bước
vào nẻo Đạo, đường đầy khổ thô;
Công
trình chẳng hiểu ra mô,
Mà
đành bỏ cả cơ đồ nước non!
Lúc
nầy Hoàng tử lo toan,
Trong
đều đi lại tính lòn thoát thân.
Các
quan mưu trí như thần,
Xét
coi cách thế nào hơn tỏ bày.
Làm
sao Hoàng tử đổi thay,
Đặng
chàng bước tới đường đầy oai vinh?
Làm
sao điềm trước hiển linh,
Đặng
cho Thái tử trị quanh hoàn cầu?"
***
Một
ông quan lão quỳ tâu :
"Bạch
Ngài, tình ái thuốc mầu đó chi.
Nếu
mà có gái phương phi,
Tơ
tình bủa khéo bắt ghì như chơi.
Tấm
lòng Hoàng tử còn tươi,
Chưa
từng biết sắc, biết cười cợt duyên;
Môi
thơm chưa được kề bên,
Với
con mắt đẹp khiến quên cõi trời!
Hãy
tầm gái lịch, bạn trai,
Giúp
chàng vui hưởng cuộc đời thì xong.
Những
ai quyết chí dốc lòng,
Dây
đồng, tói sắt chẳng trông giam cầm;
Nhưng
mà sợi tóc mỹ nhân,
Buộc
vào dính cứng chẳng cần sức chi."
***
Các quan
chịu kế tinh vi,
Nhưng
vua còn hãy hồ nghi, ngỡ ngàng :
"Mỹ
nhân kén chọn cho chàng,
Sau
nầy có biết bước đàng thế nao ?
Ái
tình há một giống sao ?
Cung
phi dầu lắm, lảng xao không chừng!"
Một
ông quan khác tỏ phân :
"Cảnh
nầy như lộc trên rừng mê chơi,
Đến
chừng tên bắn tới nơi,
Thôi
đành nạp mạng há nài thác oan!
Chẳng
phân kẻ thế, ông hoàng,
Mùi
tình nếm phải, tránh đàng sao xong!
Có
tuồng mặt, có hình dung,
Làm
cho mình thích như trong cõi Trời;
Lại
như thấy một ít người,
Có
chìu đẹp đẽ hơn hồi rạng đông.
Thế
nầy nghĩ lại cũng xong,
Xin
Vua mở cuộc mời ròng mỹ nhơn.
Tranh
nhau sắc lịch thua hơn,
Ngồi
trên, Hoàng tử ban phần thưởng xuê.
Cô
nào bước tới hầu kề,
Mặt
mày hoan lạc, phải lề lối sang,
Làm
cho Thái tử nhìn tường,
Thích
tình chàng mới tìm đường ái ân.
Như
vầy chọn lựa cân phân,
Tự
do luyến ái phước phần cũng nên."
***
Lời
nầy chấp thuận dưới trên,
Hôm
sau có kẻ rao rền khắp nơi:
Các
cô mỹ nữ được mời ,
Vào
đền Thái tử ban thời của xinh.
Mỗi
cô được tặng đã đành,
Cô
nào đẹp nhứt phần mình trổi hơn.
Các
cô thiếu nữ ân cần,
Cùng
nhau tề tựu ở gần cửa vô.
Ai
ai đều cũng điểm tô,
Rửa
mình, chải tóc, ướp đồ thơm tho;
Long
nheo đánh phấn láng o [2],
Áo
quần, khăn khíu như hoa tốt màu.
Tay
chơn son phết làu làu,
Ngôi
sao giữa trán đỏ au chói ngời [3].
Cảnh
tình xem thật tốt tươi,
Bao
nhiêu thiếu nữ trước ngôi bước lần;
Thảy
đều mắt ngó xuống chân,
Lấy
làm bối rối, tỏ phần khiếp thay!
Thấy
Ngài cao thượng sợ ngay,
Tuy
Ngài trầm tỉnh, mặt mày hòa vui.
Mỗi
cô bước tới trước ngôi,
Rước
nâng lễ vật, lui cui rút hình ;
Cô
nào công chúng hoan nghinh,
Được
Ngài cười mỉm với mình chút chi,
Tức
thời hốt hoảng chạy đi,
E
mình thấp thỏi, người thì cao sang.
Cả
đoàn mỹ nữ đi ngang,
Của
đà ban hết, bạn loan chưa nhìn.
Cuối
cùng một ả bước lên,
Da-Du
[4] trinh nữ rất nên mặn mà ;
Các
quan chừ mới thấy qua,
Đông
cung nhổm dậy người đà khác đi.
Hình
nàng, Tiên nữ cung mây,
Tướng
đi như thể hoa ti [5] trên Trời;
Mắt
nàng như mắt con nai,
Đương
mùa thích cuộc duyên hài tóc tơ;
Mặt
nàng đẹp đẽ khó ngờ,
Dẫu
bao nhiêu tiếng cũng chưa tả rành,
Nàng
nhìn thẳng, mắt sáng anh,
Hai
tay chắp lại trên mình nở nang,
Đưa
ra cổ ngực đoan trang,
Hỏi
rằng: "Điện hạ tặng sang món nào?
Ngài
rằng : "Phát hết chớ sao,
Song
ta còn có món trao đỡ đàng,
Ở
người đẹp đẽ muôn vàng,
Xứ
nầy rỡ tiếng nhờ nàng đó nghe ! "
Sợi
dây ngọc bích mang theo,
Cởi
ra khỏi ngực mà đeo cho nàng.
Hai
người nhìn đã chán chường,
Ái
tình lúc ấy hào quang nháng liền.
***
Về
sau thành Phật giảng truyền,
Có
người hỏi lại căn duyên sự nầy:
Tại
sao vừa thấy mà ngây,
Tấm
lòng Thánh Chúa cũng vầy tình men?
Ngài
rằng: "Ta trước có quen [6],
Những
đời quá khứ từng phen vợ chồng:
Thuở
xưa, ở chốn núi đồng,
Một
chàng tuổi trẻ con dòng đi săn,
Một
hôm giữa cảnh suối, ngàn,
Đứng
ra giám thị mấy nàng tranh chơi;
Dưới
rừng thông, chạy khắp nơi,
Cũng
như thỏ giỡn lúc trời sẫm qua.
Một
cô, chàng kết vòng hoa,
Nháng
ra như thể sao loè trên không;
Một
cô chàng thưởng lông công,
Kết
cùng lông trĩ, gà rừng, gà lôi;
Một
cô, tặng trái thông đồi,
Còn
cô sau chót giựt mồi cuộc đua;
Chàng
đem nai nhỏ trao cô,
Trao
luôn tình ái khá tua mặn nồng.
Với
nhau vui vẻ rừng tòng,
Sống
thời đồng tịch, chết cùng đồng quan.
Các
ngươi thấy đó khá bàn:
Giống
chôn xa thẳm cũng làn mọc lên;
Những
tuồng thiện ác, khổ hên,
Oán
thương mến ghét có phen tái hồi.
Việc
làm những kiếp xa xôi,
Thảy
đều sống lại để rồi báo lâm.
Lá
kia sáng láng, tối tăm,
Trái
nầy ngọt dịu, dằng chằng bởi duyên.
Ta
là chàng mới nói trên,
Da-Du,
nàng ấy bạn hiền thuở xưa.
Bánh
xe sanh tử còn đưa,
Thì
còn thấy lại việc xưa báo đền."
***
Phát
đồ đâu đó vừa yên,
Các
quan nhìn rõ nghe liền hết trơn.
Trở
vào tâu lệnh Thiên nhan,
Hoàng
nam tưởng đã phàn nàn chẳng ai.
Bỗng
đâu bước tới bên ngai,
Da-Du
con lão Xu-rai-Phật-đà [7]
Thấy
nàng, chàng ngẩn người ra,
Hai
bên bốn mắt nhìn qua rõ ràng;
Ngọc
đeo chàng lấy tặng nàng,
Ngó
nhau cũng đủ tỏ tường tình thâm.
Vua
nghe vui vẻ phán rằng:
"Mồi
ngon kiếm được, hãy tầm cách xoay,
Chim
ưng duỗi cánh trên mây,
Lấy
mồi ta nhử xuống đây mắc hàm.
Sai
quan qua đó hội đàm,
Hỏi
cô gái ấy, cưới đem vào đền".
***
Nhưng
trong họ Thích tục truyền:
Cưới
người sang trọng phải nên tranh tài;
Con
vua thì cũng như ai,
Thắng
người tranh cuộc, duyên hài mới xong.
Cha
cô gái đẹp bảo cùng:
Các
ông hoàng tử cũng đồng mến yêu,
Quý
ngài về tấu giữa triều,
Cung,
thương, kỵ mã đủ điều thì vâng;
Nếu
chàng sức có trổi hơn,
Thắng
người đoạt cuộc, lão mầng gả ngay.
Nhưng
e chàng chẳng tài hay,
Vì
không từng thoát khỏi bầy cấm cung."
Vua
nghe, rất đỗi sầu lòng,
Vì
lo Thái tử thất trong diễn tràng.
Tài
tình gẫm lại nhiều trang,
Đề-Bà
bắn giỏi tiếng vang trong thành,
Ác-Xu-
Na [8] cỡi ngựa lanh,
Nan-Đà
[9] thí võ có danh chúng tường.
Cười
thầm, tâu với Phụ vương:
"Những
môn thao lược con thường học qua;
Nay
xin cha kíp truyền ra,
Môn
nào ai giỏi thì con đấu cùng.
Khó
gì cái cuộc kiếm cung,
Con
không để mất tình chung đâu mà."
Lịnh
truyền bảy bữa chẳng xa,
Đông
cung Tất Đạt đứng ra sánh bày.
Ai
mà thắng cuộc đấu nầy,
Da-Du
mỹ nữ sẽ vầy căn duyên.
***
Đến
ngày nhứt định như trên,
Vương
tôn công tử bốn bên tựu về;
Những
người thị tứ thôn quê,
Cùng
nhau hội lại vì mê cuộc nầy.
Mỹ
nhơn cũng có đến đây,
Bà
con cha mẹ bao vây bên mình;
Làm
như đám cưới linh đình,
Trống
kèn chập trổi rang rình rất xuê,
Cộ
xe kết tuội treo huê,
Có
thêm màn trướng, nệm kề dưới lưng.
Mấy
con bò có bông chưng,
Màu
vàng tô điểm trên sừng ửng ra.
Đề-Bà
cũng gốc hoàng gia,
Đứng
ra xin cưới con nhà trâm anh;
Nan-Đà
vương tử tài danh,
Ác-Xu-Na
cũng ra tranh vợ hiền.
Kế
là Thái tử bước lên,
Cỡi
con Càn-Trắc [10] hí rền đám đông.
Cuộc
nầy ngựa chửa từng trông,
Đến
nay thấy lạ nên vùng hí lên.
Đông
cung Ngài cũng ngạc nhiên,
Trông
qua dân chúng sống bên hoàng thành.
Tuy
là họ chẳng như mình,
Uống,
ăn, mặc, ở, chẳng vinh sang bằng;
Nhưng
mà vốn một tâm càn,
Khoái
vui, sầu não cũng hằng trải qua.
Da-Du,
vừa mới thấy ra,
Nụ
cười ửng nở mặt hoa đức Thầy.
Tay
gò cương lụa thẳng ngay,
Chân
liền bước xuống, miệng rày hô lên:
"Ai
người tài trí bực trên,
Mới
là đáng đoạt ngọc liền quý ưa.
Ta
đây có đáng hay chưa,
Hãy
ra mà thử cho vừa lòng đi".
Nan-Đà
bày cuộc bắn thi,
Trống
đồng đem để cách thì sáu gưa [11] ;
Ác-xu-Na
sức cũng vừa,
Đề-Bà
xin để tám gưa thẳng lằn.
Hoàng
nam Tất Đạt bảo rằng :
Trống
ta hãy để xa bằng mười gưa.
Thật
là xa lắc chẳng vừa,
Trông
như đồng điếu [12] hồi xưa thường dùng.
Bấy
giờ ai nấy giương cung,
Nan-Đà
bắn lủng trống đồng đã treo,
Ác-xu-Na
bắn lủng theo,
Đề-Bà
bắn tới có chiều chính hơn:
Mọi
nguời ai cũng khen rân,
Da-Du
thục nữ có phần ngại lo.
Ngồi
che tay áo co ro,
Sợ
e Thái tử để cho trật ngoài.
Cung
vàng [13] Ngài nắm thảnh thơi,
Dây
cung hẳn thật gân loài thú se;
Ai
người sức mạnh chúng ghê,
Mới
là giương nổi kéo xê nửa phần.
Đạt-Đa
có ý cười thầm,
Thẳng
tay kéo hết chẳng cần sức chi.
Hai
đầu giáp lại tức thì,
Cây
cung lúc ấy gãy đi chỗ cầm.
Phán
rằng : "Đồ bỏ ai ham,
Cung
nào đáng nữa, khá đem đến hầu. "
Có
người hiểu việc liền tâu,
"Trong
đền thờ phượng, tớ âu nhớ tường:
Cung
vua Sư-Tử Hiện-Vương [14],
Đời
xưa còn đó chờ trang đặc kỳ."
Ngài
rằng : "Đi lấy lại đây,
Cung
thần mới xứng vào tay ta cầm."
Quân
khiêng cung ấy lại gần,
Sườn
làm bằng thép, cẩn gân bằng vàng;
Hai
đầu cuốn lại bằng ngang,
Cũng
như sừng quới bò mang trên đầu.
Đạt-Đa
thử sức cung sau,
Để
trên đầu gối kéo đâu hai lần.
Bấy
giờ bảo mấy hoàng thân:
"Các
em kéo thử xem chừng ra sao? "
Mấy
ông kéo chẳng được nào,
Thôi
đành để xuống mà giao đức Thầy.
Ngài
liền đón lấy vào tay,
Nghiêng
mình giương nỏ, kéo dây mạnh vào.
Nghe
ra có tiếng thanh tao,
Ngồi
nhà kẻ tật hỏi: nào tiếng chi?
Người
nhà đáp lại một khi:
"Tiếng
cung đền Thánh kêu đi khắp cùng.
Hôm
nay Hoàng tử giương cung,
Và
Ngài sắp bắn trống đồng để xa."
Cây
tên Thái tử rút ra,
Tra
vào, kéo thẳng, tay đà buông đi,
Mũi
tên nhọn lướt đường mây,
Bắn
vào lủng trống để thì tót xa;
Sức
còn nên lại lướt qua,
Bay
trên đồng ruộng ngó ra mịt mù.
***
Đề-Bà
bày cuộc gươm đua,
Cội
cây sáu ngón chém đùa đứt trơn.
Ác-xu-Na
sức trổi hơn,
Lựa
cây bảy ngón, gươm trân chặt liền.
Nan-Đà
kiếm thuật chúng kiêng,
Cây
dày chín ngón, người bèn chém ngay.
Đến
phiên Thái tử ra tay,
Có
hai cây lớn mọc bày theo nhau,
Lưỡi
gươm nương sức nhiệm mầu,
Phụp
vào một cái, lìa đầu hai cây;
Gươm
Ngài chém thật rất ngay,
Hai
cây đều đứt, đứng y như thường.
Nan-Đà
vội vã lời buông:
Lưỡi
gươm chẳng phủn, tìm đường trở lui.
Mỹ
nhơn lo sợ bồi hồi,
Xem
hai cây nọ nhánh chồi còn nguyên.
Thần
phong làm gió nổi lên,
Hai
tàn cây mịch ngã trên mặt đồi.
***
Quân
đem ngựa giỏi tới rồi,
Chạy
quanh đồng cỏ ba hồi thật mau;
Nhưng
con Càn-Trắc dẫn đầu,
Lướt
ăn hạng nhứt, bỏ sau xa vời.
Ngựa
Ngài sức chạy rất tài,
Trong
mồm nước dãi chảy nhoài đường đi,
Nước
vừa thấm đất một khi,
Hai
mươi lằn giáo nó thì chạy xong.
Nan-Đà
nói giữa đám đông:
"Cỡi
con Càn Trắc ta không thua mà,
Bây
giờ ngựa chứng đem ra,
Xem
ai cỡi giỏi mới là đáng hơn."
Mã
phu được lệnh đem dâng,
Ngựa
ô đen hắc như cơn tối trời;
Ba
dây lòi tói cột ngoai,
Mắt
xem dữ tợn, mũi ngời nở bung;
Bộ
đồ bắt kế đã không,
Móng
chơn bằng sắt chưa dùng đóng mang;
Là
vì ngựa hãy còn hoang,
Chưa
ai lên cỡi tập đường bước thông.
Ba
vì thế tử lên xong,
Bị
con ngựa chứng vẫy vùng té ngay;
Áo
quần bụi bặm dính đầy,
Lại
thêm hổ thẹn tài nầy thô sơ.
Ác-xu-Na
sức có thừa,
Được
ngồi trên ngựa, tay quơ mở xiềng;
Hai
chơn thúc lấy hai bên,
Cái
hàm thiết ngựa, người bèn siết vô.
Một
phen sợ sệt, điên rồ,
Cánh
đồng ngựa hoảng chạy phô một vòng.
Thình
lình trở mặt sau hông,
Miệng
nhăn răng dữ, chơn vùng đá lên;
Làm
cho chàng té một bên,
Và
toan lướt tới đạp trên thân hình.
Nhờ
đoàn giữ ngựa mắt lanh,
Mau
chân chạy tới tách rành ra cho.
Mọi
người khi ấy nói to :
"Ngựa
yêu, Hoàng tử hãy lo chớ gần,
Ruột
gan tợ bão tưng bừng,
Máu
me như thể lửa phừng đỏ au."
Đạt-Đa
Thái tử yêu cầu:
"
Dây xiềng bỏ hết, mặc dầu ta đương."
Nắm
nơi gáy ngựa nhẹ nhàng,
Buông
lời nhỏ nhắn dịu dàng dễ nghe;
Bàn
tay bên mặt lấy che,
Đắp
trên mắt ngựa, vuốt ve mặt dài;
Kéo
lần từ cổ tới vai,
Lòn
qua hông ngựa, tay Ngài măn mo.
Lạ
lùng ai cũng nhận cho,
Thấy
con ngựa dữ co ro hiền lành.
Chẳng
còn cứng cổ tinh ranh,
Đứng
êm dường thể biết rành kỉnh vâng.
Để
cho Thái-tử lên lưng,
Chơn
lần bước tới, ý tuân theo Ngài.
Xem
ra, công chúng ghê ai?
Hô
rằng: "Tất-Đạt cao tài hết trơn,
Thôi
đừng tranh nữa còn hơn.
Có
ai qua nổi người Nhơn trong Đền."
Mấy
vì tranh đấu hô lên:
"
Thật Ngài đệ nhứt, đứng trên bọn nầy."
Cha
cô mỹ nữ nói ngay:
"
Lòng ta cũng muốn chàng nay thắng người;
Chúng
ta đã mến chàng rồi,
Bây
giờ thêm phục, hết hồi nghi nan.
Lạ
cho kẻ ở điện đàn,
Miệt
mài trong cuộc truy hoan đã nhiều;
Thế
mà cung kiếm cao siêu,
Hơn
người vượt bể, lên đèo, xuống hang.
Nay
chàng thắng cuộc vẻ vang,
Hãy
đem bạn ngọc mỹ nương về đền."
Dứt
lời, Công chúa đứng lên,
Vòng
hoa lài tốt cầm bên tay mình,
Lướt
qua khỏi đám chung quanh,
Khăn
vàng sọc sặm phủ xinh trán đầu [15].
Tướng
nàng trân trọng làu làu,
Đi
qua trước mặt vương hầu chư công.
Đến
nơi giáp mặt Đông cung,
Xem
Ngài rất đẹp, đứng cùng ngựa ô,
Ngựa
thần đưa thẳng cổ to,
Để
cho Ngài vịn đặng chờ mỹ nương.
Cúi
chào Hoàng tử thiện lương,
Mặt
nàng sáng rỡ có đường khoái vui,
Vòng
hoa nàng tặng Ngài đeo,
Nghiêng
đầu ngực bạn, bùi ngùi yêu thương.
Hai
chơn quì xuống gọn gàng,
Thưa
rằng : " Tiện-thiếp vì chàng xin theo."
Mọi
người ai nấy mừng reo,
Trông
ra đôi bạn mỹ miều xứng thay!
Cùng
nhau tay lại cầm tay,
Càng
thuần vẻ ngọc càng say tấm tình.
Bước
đi nàng vấn khăn xinh,
Khăn
vàng sọc sặm bên mình thường mang.
***
Chừng
Ngài thành Phật mở đàng,
Trong
khi truyền Giáo, chúng thường hỏi thưa,
Hỏi
qua nghĩa cũ tình xưa,
Tại
sao nàng vấng khăn tua đen vàng,
Và
đi dáng điệu oai cường,
Xem
trong công chúng như dường chẳng ai?
Thế
Tôn phán dạy mấy lời:
"Việc
này ta rõ, người đời khó thông;
Tử
sanh còn mắc trong vòng,
Việc
xưa tình cũ thảy đồng tái sanh.
Những
đời từ trước khó rành,
Vẫn
còn hiện lại cho mình cũng y.
Ta
đây nhớ việc thuở kia,
Hằng
sa năm trước, có khi bao đời !
Bây
giờ ngôi Phật viễn khơi,
Ngày
xưa làm cọp ở nơi rừng già,
Ngày
ngày ẩn dưới hố xa,
Nằm
trong bụi cỏ đợi mà hươu nai;
Chúng
đi ăn cỏ hôm mai,
Đến
gần sẽ nạp mạng đời chớ lo !
Có
khi dưới ánh sao mờ,
Ta
đi kiếm thịt ăn cho đỡ lòng,
Lơ
thơ đường suối nẻo cong,
Người
không chừa bỏ, thú hòng ngại đâu!
Trong
khi ta ở rừng sâu,
Hoặc
nơi lầy rậm, đế lau mọc đầy,
Ta
cùng chúng bạn họp bầy,
Bỗng
con cọp cái làm gây mối thù.
Cọp
nầy tốt đẹp đứng đầu,
Vàng
đen xen lẫn hai màu nơi thân;
Cũng
như khăn của mỹ nhân,
Vì
ta nàng đội trong sân võ đài.
Trong
rừng lũ cọp tranh tài,
Nanh
qua vuốt lại chẳng ai nhịn nhường.
Dưới
hoa, cọp cái nhìn tường,
Trông
ta cùng bạn máu hường tuông trôi.
Sau
cùng, ta thắng được rồi,
Nàng
bèn đi đến, tỏ hồi vui ưng ;
Bước
ngang mấy vị vua rừng,
Nàng
không đoái chúng vừa chừng thua ta.
Hông
ta đương lúc thở ra,
Lưỡi
nàng liếm lấy chừng là vuốt ve.
Tướng
nàng lúc ấy oai ghê,
Song
song đôi lứa đề huề rừng sâu.
Bánh
xe Sanh tử lần lâu,
Thấp
cao đều chuyển, đâu đâu cũng vần."
***
Bên người
chịu gả mỹ-nhân,
Chọn
ngày tháng tốt châu-trần kết duyên.
Gối
bằng vàng thiệt kê lên,
Trải
ra khảm quí lót trên mà ngồi:
Dây
bông giăng sẵn đó rồi,
Tơ
hồng nối lấy hai người bên tay;
Bánh
ngon cắt bẻ ra ngay,
Cơm
ăn dầu xức cũng bầy hết ra.
Sữa
tươi son đỏ trộn pha,
Thả
rơm hai cọng là đà trôi xê:
Song
song hai cọng giao kề,
Ấy
là điềm tốt tình kia tới già.
Có
người đem bếp lửa ra,
Vợ
chồng bảy bước lướt qua ba vòng [16];
Kế
là bố thí bần cùng,
Sư
tăng, chùa miễu cũng đồng cúng dâng.
Các
sư cầu phước cầu phần,
Kệ
kinh, thần chú đọc rân trong ngoài.
Áo
xiêm đôi bạn hòa hai,
Buộc
ràng nhau lại, sống đời có nhau.
Cha
cô mỹ nữ liền tâu:
"Con
tôi rày đã về hầu Ngài đây;
Sắn
bìm nương tựa bóng cây,
Xin
người quân tử khá hay rộng tình! "
Trống
kèn chập trổi liên thinh,
Họ
hàng đưa gái về dinh nhà chồng,
Từ
đây phu phụ họp đồng,
Càng
lâu càng thắm càng nồng tấm yêu.
***
Ái tình
thắt buộc vẫn nhiều,
Nhưng
vua chưa chắc, còn điều hồ nghi.
Cất
nên ngục thất tinh vi,
Kiểu
nhà khéo lạ cảnh chi chẳng bằng,
Để
cho Thái tử ở ăn,
Hưởng
đời thư thả vui hằng hơn ai.
Giữa
nơi cảnh đất cất đài,
Có
hòa núi biếc mọc ngay lên trời.
Dưới
chơn núi, có dòng khơi [17],
Từ
non Hy-Mã [18] là nơi phát nguồn,
Chảy
lần như vậy mãi luôn,
Sau
cùng đổ cả mà tuôn sông Hằng [19].
Phía
Nam cây lớn chặn ngang,
Tách
riêng biệt thự bởi tàng nhánh cao.
Cảnh
đền êm ái thanh tao,
Chẳng
nghe thấy tiếng xôn xao thị thiền.
Lâu
lâu, một ngọn gió xiên,
Bạt
vào nghe tiếng dưới miền chợ xa.
Trên
phía Bắc, núi Hy-Ma [20],
Dốc
cao chớn chở thấy mà phát ghê;
Phân
ra hàng ngũ chỉnh tề,
Trên
thì tuyết phủ chẳng hề rã tan,
Núi
cao lên chí mây ngàn,
Xem
ra to lớn, đủ giàn oai-nghi.
Đảnh
thì nhiều cái khác đi,
Nhọn,
tròn, bằng phẳng, trơn lì cũng nên.
Nhiều
hòn xanh biếc nhô lên,
Có
hòn nhọn lểu như kim đồng hồ.
Hố
sâu thăm thẳm đường vô,
Có
nhiều vực hiểm dốc phô ra ngoài.
Thấy
vầy, trí nghĩ vượt khơi,
Tưởng
điều cao thượng, xa vời đâu đâu,
Dường
như bay bổng tít mù,
Ta
cùng Tiên Thánh gặp nhau luận đàm.
Dưới
miền tuyết phủ hằng năm,
Ấy
toàn rừng rậm tối tăm mịt mờ;
Xen
vào những thác nên thơ,
Nước
tuôn sáng rỡ, mây lờ đờ trôi.
Phía
dưới nữa, mấy cảnh đồi,
Bá,
tùng, cổ thọ mọc thôi dẫy đầy,
Trĩ
kêu, beo rống vang vầy,
Chiên
rừng bé hé, ó bầy la rân.
Dưới
thấp nữa, cảnh đồng gần,
Xem
ra như khảm trải chân bàn thờ.
Đồi
cao, rừng rậm, non mờ,
Xa
trông như thể bàn thờ Thánh linh.
Những
nhà mỹ thuật tài tình,
Chọn
nơi cao ráo cất đình nguy nga;
Hai
bên xây tháp mấy tòa,
Với
nhiều phòng ốc cột hoa rỡ ràng.
Mấy
cây đà lớn bắt ngang,
Thảy
đều chạm trổ những tích nước nhà:
Tích
nàng mỹ nữ Ra-Đa [21],
Cùng
ông hiền thánh Rích-Na [22] yêu vì;
Lại
còn mấy chuyện ly kỳ,
Si-Ta
[23] trinh nữ thọ nguy giữa rừng,
Hung
thần ép buộc phải ưng,
Chồng
nàng đến kịp liệu chừng cứu ra.
Tích
cô gái đẹp Rô-Ba [24],
Cũng
là chuyện ngộ trên đà có ghi,
Giữa
nhà, cửa lớn oai nghi,
Khắc
hình Voi thánh [25], thần nầy rất linh:
Tục
người Ấn Độ kinh thành,
Hình
Voi biểu hiện thông minh, phú cường.
Lần
theo mấy nẻo trong vườn,
Đi
qua sân rộng đến giàn cửa trong;
Cửa
bằng cẩm thạch gân hồng,
Thanh
ngang, tấm ngạch cũng đồng đá xinh.
Đàn
hương nhiều cửa rất tinh,
Với
nhiều khuôn chạm họa hình tốt tươi,
Bước
qua ngạch cửa dạo chơi,
Phía
trong, phòng thất lắm nơi trang hoàng;
Thang
lầu nhiều cái đẹp sang,
Hành
lang mấy dãy có tường có song.
Vách
thì họa khéo vô cùng,
Cột
nhà xây dựng dính chùm với nhau.
Có
làm hồ chứa nước sâu,
Hoa
sen đua nở làu làu tốt xinh;
Pha
lê nhiều chậu trắng tinh,
Chứa
đoàn cá lội, vàng, xanh, đỏ, hồng.
Ngoài
vườn ánh sáng tươi trong,
Xem
ra bầy lộc đương cùng nhau ăn.
Một
đoàn chim chóc lăng xăng,
Khoe
nhiều màu sắc trong lằn dừa xanh.
Dài
theo mấy kẹt vách thành,
Chim
câu làm ổ sống sanh mãn đời.
Ở
trong sân gạch sáng ngời,
Bầy
công qua lại, đuôi phơi tốt lành.
Cò
ngà lông lá trắng tinh,
Với
chim mèo đậu đưa mình trở vô.
Két
xanh cổ tợ son tô,
Bay
theo ăn trái tựa hồ chín cây;
Mấy
con rắn mối nhác thay,
Cũng
đeo rào sắt phơi ngay bóng trời;
Ít
con sóc nhỏ quen hơi,
Vào
tay mổ hột của người đưa ra;
Cảnh
nhà hẳn thật an hòa,
Kìa
con rắn hổ dưới hoa ngủ ngày;
Rắn
nầy cho chủ điềm may,
Nằm
khoanh hơ nắng chói rày ấm lưng.
Con
dê chạy giỡn tưng bừng,
Đây
bầy khỉ đột nháy trừng quạ kia.
Thảy
đều bác ái đề huề,
Kẻ
hầu người hạ sớm khuya chí bền,
Bao
giờ có lệnh bề trên,
Tức
thì kẻ dưới chạy lên ứng chào,
Mặt
mày ai nấy thanh tao,
Nói
lời dịu ngọt, việc nào cũng lanh;
Mọi
người vui vẻ làm lành,
Tuân
lời chỉ bảo, thích tình thi ân,
Cuộc
đời phỉ chí muôn phần,
Cũng
như dòng nước bên gần có hoa;
Hẳn
là một cảnh trào ca,
Da-Du
rày đã làm bà hoàng-phi.
***
Có trăm
phòng thất tinh vi,
Lại
còn một chỗ ẩn đi xa vòng;
Chốn
nầy khéo léo vô song,
Những
điều bày trí thích lòng hưởng qua.
Một
sân rộng rãi tách ra,
Bốn
bề vách phủ, cách xa cõi ngoài,
Giữa
là hồ nước trong ngời,
Làm
bằng cẩm thạch trắng tươi sáng lòa.
Dựa
bờ, thang bực, miệng hồ,
Thảy
đều cẩn đá bông hoa tốt màu,
Chốn
nầy mát mẻ hơn đâu,
Ở
chơi cũng sướng, giải sầu cũng xuê.
Tỷ
như trong buổi mùa hè,
Mà
đi trên tuyết có bề thích ưa,
Ánh
trời chiếu xuống buổi trưa,
Lòn
qua cánh cửa, thấu vừa tới trong,
Chẳng
còn nóng nảy, nực nồng,
Dịu
dàng, mát mịn như lồng ánh mai,
Êm
đềm tình ái thanh mai,
Ban
trưa lại giống sớm mai và chiều.
Phía
trong cửa, chốn mỹ miều,
Phòng
loan lộng lẫy, khác chiều thế gian;
Ánh
đèn dịu chiếu trướng màn,
Thắp
bằng dầu tốt, thơm tràn chỗ dư.
Cửa
hông bằng ốc xà cừ,
Màn
treo có kết sao như giăng hàng;
Mùng
tơ, trướng phủ bằng vàng,
Để
cho ngọc nữ riêng nàng bước qua.
Trong
phòng khó nhận cho ra,
Ban
ngày hay tối cũng là như nhau,
Mịn
màng ánh sáng một màu,
Trưa,
chiều cũng thấy như đầu buổi nay.
Gió
lòn mát mẻ đêm ngày,
Lúc
nào cũng có tiếng hay địch đờn.
Kẻ
hầu dâng các món hơn,
Bánh
làm có tuyết trên sườn Hy-ma;
Trái
cây còn đọng sương sa,
Mứt
thì đủ thứ ăn qua ngọt ngào;
Nước
dừa mới bẻ đưa vào,
Chén
ngà đựng lấy dồi dào vẻ tươi;
Một
đoàn vũ nữ vui cười,
Múa
men, hầu rượu, vóc người như mai.
Lại
thêm bọn nhạc trổ tài,
Chực
hầu dưới trướng ngày dài lẫn đêm.
Chờ
Ngài tỉnh giấc mộng êm,
Tức
thì xướng họa cho thêm vui lòng;
Dưới
hoa, nhạc trổi lung tung,
Hòa
cùng tiếng hát mặn nồng tình yêu.
Mấy
cô vũ nữ mỹ miều,
Ôm
nhau nhảy múa có chiều gợi duyên,
Dưới
chân lục lạc khua lên,
Hai
tay dịu nhiễu rập bên tiếng cầm.
Trong
phòng nồng nực hương trầm,
Với
mùi chiêm-bặc [26] âm thầm xông ra.
Dường
như Thái tử ngà ngà,
Tựa
đầu tay bạn [27] ngủ qua một thời;
Đạt-Đa
hưởng đủ sự đời,
Ở
trong đền ấy quên ngoài chúng sanh!
***
Đức
vua truyền dạy rành rành:
Trong
cung Thái tử khéo trình lời phân;
Chẳng
ai được phép than thân,
Chết,
già, đau ốm chẳng cần nói ra.
Cô
nào hình sắc phôi pha,
Hai
chân mệt mỏi nhảy ca chẳng đồng,
Tức
thì xa lánh cấm cung,
Để
cho Thái tử khỏi trông mà buồn.
Có
quan hầu cận coi luôn,
Chẳng
cho ai nói đến tuồng thế gian:
Choán
đầy sầu, khổ, khóc, than,
Sợ,
lo, đau đớn, với giàn hỏa thiêu.
Ca
nhi vũ nữ kém chiều,
Tóc
xen màu bạc, phạm điều lịch thanh.
Hoa
khô, lá rụng xa cành,
Có
người hái quét, chẳng đành để lâu.
Bao
nhiêu những cảnh u sầu,
Các
quan phải liệu mà hầu tránh ra.
Vua
rằng: "Thái tử Đạt Đa,
Trong
khi niên thiếu cách xa khổ đời,
Khỏi
điều trước mắt bên tai,
Khỏi
điều suy nghĩ, trí thời được êm;
Rồi
ra cõi Đạo chẳng tìm,
Lên
ngôi trị nước càng thêm vững lòng;
Một
mình oai thế anh hùng,
Các
nơi xếp giáp phục tùng sức cao."
***
Đông
cung ngự cảnh thanh tao,
Nhưng
mà đâu có khác nào ngục trung,
Ái
tình buộc giữ chim lồng,
Mấy
điều thỏa dục như song nhốt Ngài.
Đức
vua xây vách thành dài,
Ngoài
thì cửa sắt phải gài hai bên;
Cả
trăm người mới dở lên,
Trong
khi mở đóng tiếng rền thấu xa.
Vua
còn làm cửa thêm ra,
Có
hai cái nữa mới là chắc tay.
Vậy
nên muốn thoát đền nầy,
Phải
qua ba bận cửa dày, song to,
Cắt
người đứng giữ siêng lo,
Vua
truyền: "Chẳng được mở cho kẻ nào,
Dầu
là Thái tử trong trào,
Nếu
người trái lịnh thì ta chém đầu."
[1]
Chiêm-bạc hoa (champaks): thứ hoa Sứ ở Ấn Độ rất thơm.
[2]
Có một thứ phấn làm bằng kim khí để thoa long nheo.
[3]
Người đàn bà Ấn độ có tục để nơi trán kẽ giữa lông
mày một món đồ trang điểm bằng ngọc.
[4]
Da-du-đà-la (Ysôdhara) .
[5]
Parvati : Tiên trên trời, vợ của đức Shiva.
[6]
Chúng ta có quen từ những đời trước.
[7]
Soubra-Bouddha.
[8]
Arjouna .
[9]
Nanda .
[10]
Ngựa Càn (Kiền)-Trắc (Kantaka) .
[11]
Phía trước đã có nói rằng một người chạy đặng bốn
chục hơi thở thì bằng một gưa, hay là nói cho rõ hơn, một
gưa là 1.300 thước chơn ăng lê (1.300 pieds anglais).
[12]
Hồi xưa dùng đồng điếu bằng miểng sò, miểng ốc.
[13]
Cung sơn vàng và đỏ.
[14]
Sư Tử Hiện Vương ( Sinhahânou).
[15]
Cái khăn choàng màu vàng xen lẫn màu đen sạm.
[16]
Phong tục Ấn Độ của phái Bà La Môn thì làm lễ đi
vòng theo ngọn lửa ba lần.
[17]
Sông Rohini.
[18]
Himalaya.
[19]
Sông Hằng-Hà (Gange).
[20]
Himalaya.
[21]
Ra-Đa (Radha).
[22]
Rích-Na (Krishna). Ra-Đa là tình nhơn của Rích-Na. Ông nầy
là một vị Thánh sống rất có danh tiếng ở Ấn Độ. Người
ta có làm nhiều thi ca về tình sử của ông.
[23]
Si-Ta (Sita): vợ của Ra-Ma, nàng là cốt chuyện thần tiên Ra-ma-da-na
( Ramayana ).
[24]
Rô-Ba (Draupadi): Mỹ nữ, cốt chuyện Ma-ha-ba-ra-ta (Ma-ha Bharata).
[25]
Voi Thánh, tiếng Phạn : Ga-nết-ha ( Ganesha ) là một vị Thiên-thần,
mình người đầu voi, hình vẽ ngồi thòng vòi xuống nghiêng
nghiêng.
[26]
Chiêm-bặc (Champak): một thứ hoa Sứ hương thơm rất quý.
[27]
Ngủ trên tay vợ.
|
Now,
when our Lord was come to eighteen years,
The
King commanded that there should be built
Three
stately houses, one of hewn square beams
With
cedar lining, warm for winter days;
One
of veined marbles, cool for summer heat;
And
one of burned bricks, with blue tiles bedecked,
Pleasant
at seed-time, when the champaks bud --
Subha,
Suramma, Ramma, were their names.
Delicious
gardens round about them bloomed,
Streams
wandered wild and musky thickets stretched,
With
many a bright pavilion and fair lawn
In
midst of which Siddârtha strayed at will,
Some
new delight provided every hour;
And
happy hours he knew, for life was rich,
With
youthful blood at quickest; yet still came
The
shadows of his meditation back,
As
the lake's silver dulls with driving clouds.
Which
the King marking, called his Ministers:
Bethink
ye, sirs! how the old Rishi spake,"
He
said, "and what my dream-readers foretold.
This
boy, more dear to me than mine heart's blood,
Shall
be of universal dominance,
Trampling
the neck of all his enemies,
A
King of kings -- and this is in my heart; --
Or
he shall tread the sad and lowly path
Of
self-denial and of pious pains,
Gaining
who knows what good, when all is lost
Worth
keeping; and to this his wistful eyes
Do
still incline amid my palaces.
But
ye are sage, and ye will counsel me;
How
may his feet be turned to that proud road
Where
they should walk, and all fair signs come true
Which
gave him Earth to rule, if he would rule?"
The
eldest answered, "Maharaja! love
Will
cure these thin distempers; weave the spell
Of
woman's wiles about his idle heart.
What
knows this noble boy of beauty yet,
Eyes
that make heaven forgot, and lips of balm?
Find
him soft wives and pretty playfellows;
The
thoughts ye cannot stay with brazen chains
A
girl's hair lightly binds."
And
all thought good,
But
the King answered, "If we seek him wives,
Love
chooseth ofttimes with another eye;
And
if we bid range Beauty's garden round,
To
pluck what blossom pleases, he will smile
And
sweetly shun the joy he knows not of."
Then
said another, "Roams the barasingh
Until
the fated arrow flies; for him,
As
for less lordly spirits, some one charms,
Some
face will seem a Paradise, some form
Fairer
than pale Dawn when she wakes the world,
This
do, my King! Command a festival
Where
the realm's maids shall be competitors
In
youth and grace, and sports that Sâkyas use.
Let
the Prince give the prizes to the fair,
And,
when the lovely victors pass his seat,
There
shall be those who mark if one or two
Change
the fixed sadness of his tender cheek;
So
we may choose for Love with Love's own eyes,
And
cheat his Highness into happiness."
This
thing seemed good; wherefore upon a day
The
criers bade the young and beautiful
Pass
to the palace, for 'twas in command
To
hold a court of pleasure, and the Prince
Would
give the prizes, something rich for all,
The
richest for the fairest judged. So flocked
Kapilavastu's
maidens to the gate,
Each
with her dark hair newly smoothed and bound,
Eyelashes
lustred with the soorma-stick,
Fresh-bathed
and scented; all in shawls and cloths
Of
gayest; slender hands and feet new-stained
With
crimson, and the tilka-spots stamped bright.
***
Fair
show it was of all those Indian girls
Slow-pacing
past the throne with large black eyes
Fixed
on the ground, for when they saw the Prince
More
than the awe of Majesty made beat
Their
fluttering hearts, he sate so passionless,
Gentle,
but so beyond them. Each maid took
With
down-dropped lids her gift, afraid to gaze;
And
if the people hailed some lovelier one
Beyond
her rivals worthy royal smiles,
She
stood like a scared antelope to touch
The
gracious hand, then fled to join her mates
Trembling
at favor, so divine he seemed,
So
high and saint-like and above her world.
Thus
filed they, one bright maid after another,
The
city's flowers, and all this beauteous march
Was
ending and the prizes spent, when last
Came
young Yasôdhara, and they that stood
Nearest
Siddârtha saw the princely boy
Start,
as the radiant girl approached. A form
Of
heavenly mould; a gait like Parvati's;
Eyes
like a hind's in love-time, face so fair
Words
cannot paint its spell; and she alone
Gazed
full -- folding her palms across her breasts --
On
the boy's gaze, her stately neck unbent.
"Is
there a gift for me?" she asked, and smiled.
"The
gifts are gone," the Prince replied, "yet take
This
for amends, dear sister, of whose grace
Our
happy city boasts;" therewith he loosed
The
emerald necklet from his throat, and clasped
Its
green beads round her dark and silk-soft waist;
And
their eyes mixed, and from the look sprang love.
Long
after -- when enlightenment was full --
Lord
Buddha -- being prayed why thus his heart
Took
fire at first glance of the Sâkya girl,
Answered,
"We were not strangers, as to us
And
all it seemed; in ages long gone by
A
hunter's son, playing with forest girls
By
Yamun's springs, where Nandadevi stands,
Sate
umpire while they raced beneath the firs
Like
hares at eve that run their playful rings;
One
with flower-stars crowned he, one with long plume
Plucked
from eyed pheasant and the jungle-cock,
One
with fir-apples; but who ran the last
Came
first for him, and unto her the boy
Gave
a tame fawn and his heart's love beside.
And
in the wood they lived many glad years,
And
in the wood they undivided died.
Lo!
as hid seed shoots after rainless years,
So
good and evil, pains and pleasures, hates
And
loves, and all dead deeds, come forth again
Bearing
bright leaves or dark, sweet fruit or sour.
Thus
I was he and she Yasôdhara;
And
while the wheel of birth and death turns round,
That
which hath been must be between us two."
But
they who watched the Prince at prize-giving
Saw
and heard all, and told the careful King
How
sate Siddârtha
heedless,
till there passed
Great
Suprabuddha's child, Yasôdhara;
And
how -- at sudden sight of her -- he changed,
And
how she gazed on him and he on her,
And
of the jewel-gift, and what beside
Passed
in their speaking glance.
The
fond King smiled:
Look!
we have found a lure; take counsel now
To
fetch therewith our falcon from the clouds.
Let
messengers be sent to ask the maid
In
marriage for my son." But it was law
With
Sâkyas, when any asked a maid
Of
noble house, fair and desirable,
He
must make good his skill in martial arts
Against
all suitors who should challenge it;
Nor
might this custom break itself for kings.
Therefore
her father spake: "Say to the King,
The
child is sought by princes far and near;
If
thy most gentle son can bend the bow,
Sway
sword, and back a horse better than they,
Best
would he be in all and best to us:
But
how shall this be, with his cloistered ways?"
Then
the King's heart was sore, for now the Prince
Begged
sweet Yasôdhara for wife -- in vain,
With
Devadatta foremost at the bow,
Ardjuna
master of all fiery steeds,
And
Nanda chief in sword-play; but the Prince
Laughed
low and said, "These things, too, I have learned;
Make
proclamation that thy son will meet
All
comers at their chosen games. I think
< |