Thế
Tôn yên trụ đền lầu,
Ăn
chơi vui thỏa, bạn bầu bao quanh,
Nào
dè sự khổ chúng sanh,
Buồn,
lo, sầu tủi, già đành chết mon?
Kê
đầu trên ngực bạn loan,
Da-Du
quạt mát, giữ tròn thảo ngay.
Bỗng
Ngài nửa tỉnh nửa say,
Ngồi
lên, hô lớn: "Cõi này! cõi Ta!
Ta
nghe! Ta biết! Ta ra!"
Làm
cho nàng sợ, hỏi là việc chi?
Bấy
giờ Ngài luống xót bi,
Nhãn
quang từ ái chiếu đi xa vời;
Mặt
như tiên ở cõi Trời,
Trông
chàng, nàng sợ, bời bời tấc son,
Thấy
nàng hoảng hốt, nỉ non,
Ngài
cười an ủi bạn loan tỉnh lòng.
Và
Ngài truyền lịnh nơi cung,
Đem
đờn ra gảy nội trong ít bài.
Một
cây đờn gáo dây dài,
Để
nơi ngạch cửa, lai rai gió lồng.
***
Cũng
là một sự lạ lùng,
Gió
lòn lại trổi tơ đồng nhặt khoan.
Nhạc
âm nghe rõ cả đoàn,
Một
mình Thái Tử nghe toàn tiếng linh;
Thần
tiên mách bảo đinh ninh,
Hòa
cùng dây bạc ca thinh như vầy:
"Chúng
tôi là tiếng gió bay,
Bay
đi kiếm sự an bày trong tâm,
Nhưng
mà hết tháng qua năm,
Cái
bề an lạc chẳng tầm đâu ra.
Đời
người như gió thoảng qua,
Thở
than, khóc lóc, phá dài đấu tranh.
Chúng
tôi đâu có biết rành:
Tại
sao có sự sống sanh của người?
Cội
nguồn của cuộc sống đời,
Sống
trên dương thế khắp nơi chi vầy?
Dầu
Ngài hay chúng tôi đây,
Chẳng
qua hình ảnh cõi nầy vốn Không.
Vui
chi cái cuộc não nùng,
Khổ
sầu đưa tới trong lòng mãi đi ?
Vui
chi mà hưởng cuộc nầy,
Năm
năm, tháng tháng, ngày ngày như nhau.
Ái
tình ví được bền lâu,
Thì
đành vui hưởng về sau cho dài.
Một
cơn gió thoảng: cuộc đời,
Cũng
như tiếng lạ lai rai dây đờn,
Chúng
tôi trải khắp cảnh trần,
Rày
đây mai đó lần lần bay đi.
Hôm
nay nương mấy đường dây,
Chúng
tôi than thở cho khuây tấm lòng;
Bản
vui khó nổi hát thông,
Vì
đi lắm chỗ thấy ròng khổ đau,
Biết
bao con mắt khóc sầu,
Với
bàn tay siết chán câu chẳng bền!
Chúng
tôi rầu rĩ ca lên,
Nhưng
mà trong dạ chẳng quên cười thầm:
Người
đời ai cũng lạc lầm,
Mê
theo cuộc sống chẳng tầm thấy xa;
Chẳng
qua bóng dáng đó mà,
Hiện
rồi lại mất, lộ và rã tan,
Nhưng
Ngài chẳng phải kẻ thường,
Sanh
ra cứu thế, đắc đường chúng sanh,
Thời
giờ sắp tới bên mình,
Thế
trần đương đợi đức Linh cứu nàn;
Mắt
mù, họ bước chẳng an,
Lanh
quanh trong chốn trần gian khổ sầu.
Xin
Ngài đứng dậy cho mau,
Tỉnh
đi chớ có nghĩ lâu làm gì!
Chúng
tôi tiếng gió bay đi,
Xin
Ngài cất bước, chơn ghi dấu đàng,
Đi
mà tầm cảnh Lạc bang,
Đi
ra, dứt bỏ tình thương lại nhà;
Từ
nay thương khắp gần xa,
Chúng
sanh thương hết mới là từ bi;
Xót
người đau khổ lâm li,
Xin
Ngài dứt bỏ ngôi vì một phen;
Đi
ra cứu kẻ thấp hèn,
Độ
người sa lệ, giải phiền, thoát thân.
Chúng
tôi than thở trên đờn,
Vì
Ngài chưa hiểu thế nhơn việc đời.
Tiếng
nương dây bạc reo chơi,
Nực
cười cho kẻ theo nơi bóng hình,
Chúng
tôi cười kẻ si tình,
Bóng
mà tưởng thiệt, giam mình vào trong."
***
Một
hôm
ở chốn đền rồng,
Cầm
tay bà vợ thong dong buổi chiều;
Một
cô cung nữ mỹ miều,
Tay
đờn miệng hát ít nhiều bản xưa,
Hát
chầu một tích tình tơ,
Chuyện
con ngựa lạ, xa lơ muôn trùng;
Nơi
người da trắng ở đông,
Chiều
về trời lặn trong vùng biển khơi.
Đông
cung than thở mấy lời:
Si-Tra
[1] khêu gợi cái bài gió đưa.
Nàng
thuật tích, ta thích ưa,
Nhưng
ta nhớ chuyện gió thưa trên đờn.
Da-Du!
Bạn hãy trã ơn,
Lấy
ra hạt ngọc mà ban cho người;
Ờ
nầy bạn tốt nàng ơi!
Có
chăng một cõi xa vời mênh mông?
Nơi
nào có bóng trời hồng,
Buổi
chiều xen lặn vào vùng biển xanh?
Người
xa có giống tánh mình?
Nơi
xa lắm kẻ khổ tình hay chăng?
Biết
bao kẻ khổ vô ngần,
Nhưng
ta đâu rõ mà phăng vớt dùm!
Lắm
khi mặt nhựt lộ dòm,
Ánh
ngời sáng chói, đỏ lòm phương Đông;
Tự
ta hỏi lấy, ngại ngùng,
Ai
người trước nhứt đứng trông mà chào?
Lắm
khi sum họp má đào,
Đương
cơn vầng nhựt lặn vào cõi Tây;
Lòng
ta lại muốn đi ngay,
Vì
ta ưng thấy mặt mày dân kia.
Chúng
ta đâu có riêng chia,
Người
xa muôn dặm, há lòng lìa yêu ?
Lúc
nầy, ta luống buồn hiu,
Môi
nồng, tình ái chẳng xiêu tấc sầu.
Si-Tra
biết lắm xứ mầu,
Ngựa
nàng thuật đó, ở đâu mà tầm?
Ngựa
hay, dây khấu ta cầm,
Ôi!
đành gác lại cung thâm điện rồng;
Ấp
thành, làng mạc ruổi giong,
Rồi
ta sẽ biết trần hồng bao xa,
Hoặc
tra cánh thứu [2] vào ta,
Ta
liền bay tới Hy-Ma núi Thần;
Vượt
trên cảnh tuyết mấy lần,
Mặc
tình nhìn xuống bang lân, nước ngoài.
Sao
ta không biết xem coi?
Sao
không chịu khó tìm tòi mà trông?
Nay
ta xin hỏi cho thông,
Những
chi hiện có ngoài vòng cửa cao?"
***
Tiếp
theo, có kẻ tâu chào:
"Bạch
Ngài điện hạ! Xiết bao cảnh tình:
Hoàng
thành, chợ búa, chùa đình,
Vườn
hoa, đồng ruộng, rạch kinh, đại hà,
Rừng
sâu, núi lớn bao la,
Kế
là Đại quốc Tần-Bà [3] Đế vương;
Lại
nhiều đồng rộng khó lường,
Với
bao dân chúng kể hàng triệu lên!"
Đạt-Đa
đáp: " Vậy thì nên!
Bảo
chàng Xa-Nặc đứng bên xe hầu;
Mai
nầy, vầng nhựt ngay đầu.
Ngoài
thành du ngoạn, mặc dầu xem qua,"
Có
người
chạy báo vua cha:
"
Đông cung có dặn long xa sẵn bày;
Đón
Người giờ ngọ mai đây,
Đặng
Người viếng cảnh nọ nầy ngoại ô."
Thánh
vương nghe tấu liền cho,
Sai
người truyền bá dặn dò thế ni:
"Đô
thành trang bị uy nghi,
Đừng
cho thấy những cảnh chi gợi phiền;
Mù,
què, bệnh tật triền miên,
Ghẻ
cùi, già cả chớ nên ra ngoài."
Mé
đường quét dọn một ngoai,
Nước
trong đem tưới lộ nhai khắp cùng;
Ở
nơi ngạch cửa giao thông,
Mấy
bà rắc rải bột hồng mạt hương;
Lá
hoa kết tụi treo giương,
Tuôn-si
[4] cành quý phô trương ngõ nhà;
Vách
tường sơn lại phết qua,
Trên
cây cờ phất, cột thờ điểm tô.
Ở
nơi đại lộ tứ cù,
Nhựt
thần [5] tượng Thánh ngự vô bàn thờ.
Hoàng
thành chỉnh bị bấy giờ,
Dường
như đô thị huyền cơ nhiệm mầu.
Trên
đường, chiêng trống trổi mau,
Nhơn
viên cáo thị truyền tâu như vầy:
"Quí
vì công chúng nghe đây,
Nhà
vua phán dạy hiện bày nghiêm trang :
Mù,
què, bệnh, tật, ghẻ sang,
Cùng
người già cả, chớ mang ra ngoài,
Đừng
đem thiêu đốt xác hài,
Hãy
chờ chiều tối, bi ai tống hành.
Đó
là Thánh chỉ dạy rành,
Su-đà-na
[6] Chúa ở thành chúng ta."
***
Cảnh
tình đẹp đẽ rườm rà,
Khắp
thành La Vệ [7] nhà nhà dọn chưng,
Đông
cung ngự đến vừa chừng,
Xe
loan rực rỡ sau lưng đôi bò.
Bạch
ngưu thạnh tráng, cổ to,
Bướu
mang ách chạm, sơn tô đẹp màu.
Chúng
dân khánh hạnh chen nhau,
Hoan
hô vang dậy, ca âu tưng bừng.
Đạt-Đa
trông thấy cũng mừng,
Dân
trung, áo đẹp, chí hừng cười rân.
Ngài
rằng: "Thế giới đẹp, hân;
Trai
thì hòa, gái cần, nết na.
Ta
đây có giúp chi mà,
Họ
nay được vậy, ấy là nhờ đâu?
Ta
yêu dân chúng như nhau,
Họ
nào có biết tình sâu lòng nầy? "
Một
chàng Thích tử đâu đây,
Ném
hoa mà tặng đức Thầy ngự du.
Ngài
liền truyền lịnh mã phu:
"Hãy
mời trẻ ấy mặc dầu lên xe!"
"Nước
ta tình cảnh cũng xuê,
Làm
vua cai trị có bề thích ưa !
Dân
đây thỏa dạ chẳng vừa,
Vì
ta đến họ như trưa hôm nầy.
Nhà
nhà nếu được vui vầy,
Khiến
cho đô thị đủ đầy hân hoan,
Thì
ta hạnh phúc châu toàn,
Ích
chi vật khác mà toan có nhiều ;
Nầy
Xa-Nặc! cứ thuận chiều,
Dẫy
xe qua khỏi bấy nhiêu cửa nhà;
Đặng
ta thấy hết gần xa,
Cảnh
đời tươi thắm nay ta mới tường."
Giá
loan trực chỉ trên đường,
Đó
đây dân chúng chạy bương áp vào.
Trước
xe, vài kẻ đón chào,
Vòng
hoa cầm lấy, thảy trao đôi bò ;
Hông
bò trơn mịn, vuốt mò,
Có
người bánh ngọt quả to hiến mời.
Ai
ai đều cũng tỏ lời:
"Chúc
nguyền Điện-hạ sống đời muôn xuân. "
Chiếu
vua đã được kính tuân,
Người
người hoà duyệt, cảnh hân hoan chào.
***
Bỗng
đâu một kẻ lạc vào,
Khốn
cùng, rách rưới, hỗn hào, lọ lem;
Từ
nơi hang lỗ ẩn êm,
Lướt
ra giữa lộ chẳng thèm kể ai.
Già
khù, má tóp, xuội vai,
Da
nhăn, đen đúa, sát ngoài xương khô.
Lưng
còm mang nặng xuân thu,
Đôi
vành mắt đỏ, lù lù ghèn xanh.
Miệng
móm sọm, hàm trống quanh,
Rút
co vì bại, vì kinh đám người,
Gậy
cùng, tay ốm chống bơi,
Hai
chơn lảo đảo như người quá say.
Tay
kia bóp lấy sườn gầy,
Phát
ra hơi thở lẫn lây khổ buồn;
Than
rằng: "Cô bác khá thương,
Tớ
xin bố thí, chết đường nay mai! "
Tay
sè, cổ lại ho dai,
Mắt
nheo lia lịa, miệng nài thi ân.
Quân
hầu kéo xển, quở rân:
"Đông
cung ngự tới, lão lần tránh xa."
Trên
xe, Thái tử dứt nà:
"Khoan!
Khoan! Xa-Nặc! đó là người chi?
Cúp
lưng, tiều tụy, dị kỳ,
Trong
đời có những kẻ vầy hay chăng?
Tại
sao ngươi thốt la rằng:
Tớ
xin bố thí, chết bằng nay mai?
Hình
thù ốm yếu, xương lòi,
Chính
người chẳng được cơm xơi chớ gì?
Kẻ
nầy khốn khổ lắm thay! "
Viên
quan hộ giá trình bày lược qua:
"Tâu
Điện-hạ! Đó người già,
Tuổi
dư tám chục, lưng đà uốn cong;
Xưa
người mình khoẻ, mắt trong,
Bây
giờ lão mại, cạn dòng nhựa thân.
Tráng
cường, nghị lực, trí căn,
Hao
mòn, lụn bại, lần lần dứt thôi.
Đèn
kia dầu mỡ cạn rồi,
Mảnh
tim nát ngướu, ánh bồi hồi băng.
Đó
là kết quả tuổi hằng,
Tại
sao Điện hạ nằng nằng chú tâm?"
Đông
cung tiếp đó hỏi thăm :
"Già
nầy là một, hay trăm triệu người?"
"Bạch
Ngài! Xa-Nặc đáp lời,
Những
ai cao tuổi, chịu nơi khổ Già."
Nhưng
mà Thái tử hỏi qua:
"Nếu
ta trường thọ, cũng là vậy sao?
Da-Du,
thể nữ tại trào,
Tám
mươi há cũng má đào lợt phai?"
"Bạch
Ngài! Như vậy chẳng sai."
Ngài
truyền:" Xa-Nặc! hãy dời trở lui;
Quay
về cung điện thế thôi,
Đã
trông tận mắt, việc ôi không ngờ! "
***
Đường
về nghĩ cảnh Già lờ,
Ngự
vào cung cấm, dật dờ buồn thiu.
Đến
khi cơm dọn buổi chiều,
Trái
ngon bánh ngọt dẫu nhiều chẳng xơi.
Mấy
cô vũ nữ đền đài,
Tranh
khoe sắc thắm, nhưng Ngài chẳng trông.
Da-Du
thấy sự lạ lùng,
Quì
bên chân bạn, rỉ cùng Trượng phu:
"Tại
sao Điện hạ ưu sầu,
Chẳng
vui với thiếp như hầu các hôm? "
Ngài
rằng: "Ta luống bồn chồn,
Vui
vầy há dễ hưởng luôn được nào?
Đến
chừng kỷ trưởng niên cao,
Hai
ta rồi sẽ hư hao, yếu, còm.
Vai
kề, má dựa, tay ôm,
Thời
gian phá hoại, mùi thơm lụn tàn.
Đó
như cơn tối chập chờn,
Xóa
bôi ánh sáng trên ngàn cheo veo;
Màn
đen buông xuống lưng đèo,
Lần
lần bao phủ, nhìn theo thấy gì?
Phát
minh việc ấy hôm nay,
Lòng
ta lo sợ, tính ngay phương nào?
Tình
yêu bảo vệ làm sao,
Cho
thời gian khỏi đưa vào lão nguy? "
Trọn
đêm Ngài mảng nghĩ suy,
Chẳng
an giấc điệp, chẳng khuây nỗi sầu.
***
Đêm
nay vua tại điện lầu,
Nằm
mơ thấy những điềm đâu bàng hoàng:
Một
cây cờ lớn đặt ngang,
Mặt
trời ở giữa, thế hàng Đế Thiên [8];
Bỗng
đâu gió mạnh thổi lên,
Xé
tan cờ quý, xô miền bụi dơ.
Một
đoàn Tiên Thánh hờ cơ,
Bay
ngang đáp xuống, lượm cờ lắm lem;
Thuận
tay, cờ ấy được đem,
Cửa
Đông thành quách dựng kèm để yên.
Điềm
hai, vua lại thấy liền:
Mười
con voi lớn, mép bên có ngà;
Nặng
nề chơn bước, dội xa,
Từ
phương Nam đến, trải qua dặm dài.
Ngồi
trên voi trước, thảnh thơi,
Đạt-Đa
Thái Tử, lắm người theo sau.
Điềm
ba, một chiếc xe mầu,
Ánh
quang chói lói, chạy mau trên đường.
Bốn
con tuấn mã trước cương,
Phun
ra khói trắng, bọt đường lửa than.
Trên
xe Thái tử ngồi an;
Kế
là điềm bốn, long nhan thấy vầy:
Một
bánh xe, tự nó quây,
Tum
bằng vàng thiệt, căm đầy bửu châu;
Trên
vành, chữ lạ thành câu,
Bánh
xe quay mãi, lửa mầu phóng ra;
Lại
thêm có tiếng nhạc ca,
Từ
trong Luân bảo ngâm nga tiêu thiều.
Điềm
năm trống lớn là điều,
Nửa
đường thành phố, nửa chiều núi non;
Tay
cầm dùi sắt nện luôn.
Hoàng
nam đánh trống, bon bon tiếp liền,
Dường
như sấm sét chuyển rền,
Không
gian tràn ngập, thấu lên tận trời.
Sáu
là điềm Tháp cao vời,
Vượt
trên đô thị, nóc thời mây bao;
Đạt-Đa
đứng đảnh Tháp cao,
Rải
ra bốn hướng trân hào bửu châu;
Ngọc
như mưa giội trên đầu,
Mọi
người chạy đến, giành nhau báu nầy.
Cái
điềm thứ bảy là đây:
Lòng
vua lo sợ, nghe đầy tiếng than;
Sáu
người khóc kể kêu van,
Nghiến
răng, bụm mặt, chứa chan mạch sầu.
***
Bảy
điềm vua thấy trước sau,
Những
thầy bói giỏi giải mầu chẳng xong.
Vua
bèn tỏ nỗi hận lòng:
"Nhà
ta có nạn, chẳng ông nào rành!
Thánh
Tiên cho thấy mộng linh,
Nhưng
không ai biết biện trình tương lai."
Kinh
thành ưu lự cảm hoài,
Vì
vua thấy mộng chẳng ai biết bàn.
Một
ông tu sĩ ẩn nhàn,
Áo
choàng da thú, miệng loan trước đền:
"Đưa
ta vào tới Bệ tiền,
Mộng
vua, ta biết giải liền kiết hung."
Bảy
điềm lạ vừa nghe xong,
Đạo
nhơn ứng tiếng, khiêm cung, kính nhường:
"Chào
mừng gia quyến Đại-vương,
Phước
lành sáng rỡ, nhựt quang chẳng bì!
Bảy
điềm vua sợ trước đây,
Tức
là triệu chứng việc hay sắp vời.
Điềm
đầu cờ hiệu vua Trời,
Giương
ra rồi bị tơi bời vất tung;
Đó
là đạo cũ cáo chung,
Một
nền Đạo mới vẫy vùng hiện ra;
Thánh
Tiên gẫm cũng như ta,
Thay
ngôi đổi vị hẳn là luật xưa;
Kiếp
kỳ sánh tợ ngày giờ,
Lâu
rồi cũng hết, tiếp hờ kiếp sau.
Mười
con voi lớn theo nhau,
Bước
đi rúng động địa cầu: điềm hai,
Nghĩa
là Mười món Trí tài,
Của
Ngài Thái tử bỏ đời vương gia ;
Trí
Ngài chấn động sơn hà,
Ngài
đem Chơn lý bủa ra khắp cùng.
Bốn
con tuấn mã hơi nồng,
Kéo
xe sáng chói thẳng xông lên đường ;
Đó
là bốn lý oai cường,
Đưa
Ngài Thái tử tới phương ánh ngời.
Bánh
xe quay chuyển chẳng ngơi,
Tum
vàng ở giữa, vành ngoài chữ linh ;
Đó
là Luân bảo Pháp lành,
Hoàng
nam sẽ chuyển, chúng sanh thỏa nhìn.
Trống
to, dùi sắt nện lên,
Đạt-Đa
đứng đánh, tiếng rền khắp nơi;
Điềm
này là biểu hiệu Lời
Ngài
đem truyền bá cho đời hiểu thông.
Một
ngôi Tháp vượt chín từng,
Nghĩa
là kinh Phật lướt xông tít mù;
Từ
trên Tháp, rải bửu châu,
Đó
là Pháp thí phàm phu, thiên, thần.
Sáu
người thê thảm khóc rân,
Tay
thì bụm mặt, than thân phận mình;
Đó
là điềm bảy chứng minh,
Sáu
thầy ngoại đạo hẳn đành chịu thua;
Lý
minh, lẽ vững giúp vua,
Hoàng
nam bác bẻ thuyết thô Sáu Thầy.
Tâu
Thánh Chúa! Hãy mầng đi!
Vua
giàu đệ nhất chẳng bì Đông cung.
Mặc
dầu người đắp nâu sòng,
Còn
hơn áo mịn vàng ròng phô trương.
Ấy
là mộng điệp Đại vương!
Bảy
ngày đêm nữa, việc đương hiện bày."
Dứt
lời, đạo sĩ kiếu đi,
Tám
lần cúi xá, lại quỳ ba phen.
Vua
sai sứ giả đi liền,
Kiếm
tìm ông Đạo, của tiền thưởng công.
Trở
về tâu trước đền rồng:
"Chúng
tôi theo lão vào trong Nguyệt từ [9],
Chim
mèo xám đậu bàn thờ,
Chúng
tôi vào đó từ từ nó bay."
Thiên
thần âu cũng có khi,
Hiện
thân chim chóc như vầy biết đâu!
Vua
cho rằng lạ, ưu sầu,
Ngài
bèn xuống lệnh: siêng hầu Đông-cung;
Bày
thêm nhiều cuộc vui nồng,
Buộc
tâm Hoàng tử ở vùng điện xinh.
Lại
tăng binh giữ cửa thành,
Nhưng
ai ngăn nổi sức linh số phần?
Bấy
giờ Hoàng tử muốn cần,
Nhìn
xem cuộc sống nhơn dân, thế tình;
Cảnh
nầy rất đẹp, rất xinh,
Nếu
không chạm phải tình hình Thời gian.
Trình
vua Tinh Phạn lời van:
"Xin
Cha cho Trẻ viếng an kinh thành;
Kỳ
rồi Cha khiến dân lành,
Dẹp
người khổ não, chỉ dành cảnh vui.
Nhưng
con đã hiểu rõ rồi,
Đó
là chẳng phải khúc nôi cuộc đời.
Nay
con muốn biết mọi nơi,
Chúng
dân, đường xá, sanh nhai, nghiệp nghề.
Phụ
vương cho Trẻ trọn bề,
Cải
trang ra khỏi vườn huê du nhàn.
Cho
con thong thả hoàn toàn,
Mai
nầy thầy tớ liệu toan lên đường."
Giữa
triều vua phán rõ ràng:
"Kỳ
nhì du ngoạn ắt chàng sửa sai?
Tự
do Hoàng tử dạo chơi,
Để
chàng thăm viếng mọi nơi thỏa tình.
Các
quan rồi sẽ phúc trình,
Lòng
Chàng biến chuyển, trở thành ra sao."
***
Bữa
sau, giờ ngọ khai mào,
Hoàng
nam, Xa-Nặc tiêu dao ra đền,
Ấn
vua nhìn thấy ở trên,
Quân
canh vội mở chốt then cửa ngoài.
Khách
thương một vị thảnh thơi,
Một
thầy thơ ký gót hài theo sau:
Đạt-Đa,
Xa-Nặc, kẻ hầu,
Hai
người cải dạng, ai đâu mà dè?
Trên
đường thẳng tới đề huề,
Xen
cùng bá tánh chợ quê đủ mùi.
Thị
thành cảnh vật buồn vui,
Thầy
trò thấy đủ lần hồi như đây:
Đường
đi xinh lịch giải bày,
Kẻ
qua, người lại, rù rì, xôn xao.
Những
người buôn bán ngồi vào,
Đậu,
mè, gia vị sắp bao quanh mình,
Khách
mua khi đã thuận tình,
Lần
trong dãy thắt xuất trình đồng ngân.
Nữa
là tính thiệt đo hơn,
Bên
thì nói thách, bên lần giảm đi.
Tiếng
la eo óc chốn ni,
Khiến
người nép tránh cho đây qua lề.
Bánh
xe bằng đá nặng nề,
Bò
to chậm bước, đồ kê gập ghềnh.
Những
người khiêng kiệu co quanh,
Vừa
đi vừa hát ân tình, ca dao.
Những
phu đội vác bôn đào,
Cổ
to, lưng rộng, dạt dào mồ hôi.
Mấy
trang nội trợ lui cui,
Ôm
ghè từ giếng mà lui về nhà.
Nhiều
cô thiếu phụ nữa là,
Bồng
con dưới nách hết ra lại vào.
Hàng
bánh mứt, ruồi xôn xao,
Kìa
người thợ dệt rạt rào đưa thoi.
Cối
xay nghiến bạt, bột lòi,
Chó
đi thơ thẩn kiếm moi đồ thừa.
Thợ
làm binh khí sớm trưa,
Tạo
nên áo giáp phòng ngừa chiến tranh.
Thợ
rèn đốt lửa ngọn xanh,
Nướng
cây cuốc sắt, trui thanh giáo dài.
Trong
trường, giáo thọ giảng bài,
Trẻ
con họ Thích hợp lời ca ngâm,
Ngồi
vòng bán nguyệt, nghiêm thâm,
Học
qua lịch sử cả trăm Thánh Thần.
Mấy
người thợ nhuộm áo quần,
Đem
phơi ngoài nắng đủ ngần trắng xanh.
Quân
nhân đương lúc bộ hành,
Thuẫn,
gươm khua động cạch canh đó mà.
Những
người chăn giữ lạc đà,
Ngồi
trên cổ bướu, lại qua vóc mình.
Bà-la-môn
nết hạnh lành,
Sát-lỵ,
Phệ-xá với ngành Thủ-la;
Bốn
hàng ấy ở nước nhà,
Tu
hành, trị quốc, thương gia, ruộng vườn.
Ở
đây, quần chúng chen bươn,
Nhìn
nhà dụ dẫn phô trương độc xà;
Người
nầy nói chuyện vui pha,
Cườm
tay để rắn quấn ba bảy vòng;
Kèn
bầu, người thổi dài dòng,
Khiến
con rắn dữ vẫy vùng múa men.
Đàng
kia, một đám trống kèn,
Tàn
tơ, ngựa đẹp, dân hiền vu qui,
Trước
thần, hoa quả sẵn bày,
Nàng
nầy cầu tự hoặc vì viễn phu.
Xa
xa, dãy tiệm đồng thau,
Thợ
đem đập nắn đèn dầu, nồi niêu,
Thầy
trò Hoàng tử dắt dìu,
Dưới
tường chùa miễu dài theo cửa đền;
Cuối
thành quách, có rạch bên,
Hai
người qua đó, bước lên nhịp cầu.
***
Bên đường
bỗng có tiếng sầu :
"Quí
ngài tế độ, đỡ đầu tôi lên ;
Ôi
thôi! cứu vớt một phen,
Không
thì tôi chết ở trên vệ đường!"
Ấy
người Bệnh dịch thảm thương,
Rẩy
run, lăn lộn, bụi vương áo quần ;
Trên
mình nổi mụt đỏ rần,
Mồ
hôi khắp trán, miệng lần rút co;
Đương
cơn nguy kịch đáng lo,
Mắt
thì lơ láo, hẹn hò giờ đi!
Cỏ
bên lộ, cố bám ghì,
Gượng
mà chỗi dậy, rồi thì té ngay;
Tứ
chi run rẩy ghê thay,
Miệng
đành kêu thốt: "Ai hay cứu dùm!".
Đạt-Đa
chạy tới, lum khum,
Đỡ
người bạc phận, mắt trùm tình yêu.
Đầu
người ấp gối nâng niu [10],
Bóp
xoa êm dịu, thấy chiều tỉnh tươi.
Hỏi
thăm: "Có bớt chăng người?
Bệnh
chi mang lấy mà ngươi té nhào?
"Nầy
Xa-Nặc! bởi lẽ nào,
Người
kia hồi hộp, kêu gào, rên la?
Tại
sao va muốn nói ra,
Lưỡi
đơ miệng cứng, thật là thảm thương? "
Viên
ngự giả đáp tỏ tường :
"Tâu
Ngài! kẻ ấy đã vương Bệnh rồi.
Bất
hòa, tứ đại rối nùi,
Máu
me như thể nước sôi, lửa nồng.
Trái
tim xưa nhảy đều đồng,
Bây
giờ lúc chậm, lúc vùng đập lia,
Gân
như dây ná đứt lìa,
Nhượng
chân, thận, cổ hết bề cử đương.
Sắc
duyên, vui vẻ, tráng cường,
Bây
giờ tản mác xa đường còn chi!
Lúc
nầy cơn bệnh phát nguy,
Kìa
người mó máy như truy bệnh tình.
Đỏ
lòm, cặp mắt liếc quanh,
Nghiến
răng, nghẹt thở như mình ngộp hơi.
Người
kia muốn chết rồi đời,
Đương
khi hành bệnh, thác thời sao xong!
Bệnh
còn sát hại gân trong,
Tứ
chi hết cảm, bệnh hòng thoát ly,
Rồi
tầm chốn khác hành vi;
Nhưng
Ngài đừng có ôm chi người nầy,
Bệnh
tình có thể nhiễm lây,
E
Ngài chẳng khỏi vướng dây lan truyền."
Đông
cung tiếp tục vỗ khuyên,
Nhưng
Ngài cũng hỏi cơ duyên cho tường:
"Há
còn nhiều bệnh đáng thương?
Ta
đây có thể cũng vương chớ gì?"
Chàng
Xa-Nặc đáp tức thì:
"Mọi
người đều phải chứng nầy hoặc kia:
Tên
ghim, dao búa chém lìa,
Yếu
đau, ghẻ lác, đằm đìa phong đơn;
Có
người nóng lạnh từng cơn.
Hoặc
đau kiết lỵ, vân vân mọi đường."
Đông
cung mới hỏi rõ ràng:
"Đương
khi bệnh đến, mình thường thấy chăng? "
Chàng
Xa-Nặc ứng đáp rằng:
"Bệnh
như rắn ẩn, buông phăng cắn mình;
Lại
như cọp dữ đang rình,
Từ
trong bụi rậm thình lình phóng ra;
Bệnh
như lằn chớp trên xa,
Đánh
người bên nọ, dung tha bên nầy."
"-
Người đời há sợ hằng ngày?"
"-
Tâu lên Điện-hạ! như vầy chớ sao?"
"-
Thế thì không kẻ tự hào:
Đêm
nay ngon giấc, thức vào ngày mai?"
"-
Bạch Ngài! thật vậy chẳng sai,
Không
ai dám chắc tương lai của mình."
"-
Biết bao đau đớn chực rình,
Thân
hư, tâm khổ, rồi sinh cái Già!"
"-
Nếu mình sống được lâu xa."
"-
Ví bằng thiếu sức lướt qua bệnh trầm,
Hoặc
người chẳng muốn cự cầm,
Kẻ
mong kết thúc cái mầm khổ đau;
Hay
người chỉ biết rên sầu,
Cũng
như kẻ bệnh kê đầu tay ta ;
Hay
người tuổi đã quá già,
Đương
tình cảnh ấy, dứt ra thế nào ?"
"Bạch
Ngài! đành chết chớ sao!"
"-
Thế là cái Chết bước vào phải không?"
"-
Bạch Ngài! chết đến đau cùng,
Bất
kỳ giờ khắc, xứ vùng đâu đâu.
Kẻ
nầy còn tới bạc đầu,
Phần
đông thống khổ, yếu đau, gầy mòn;
Nhưng
rồi ai cũng chẳng còn,
Kìa
xem cái Chết đương lòn bước qua!"
***
Đạt-Đa
Hoàng tử trông ra:
Đoàn
người chậm bước, lệ sa đằm đìa;
Hướng
theo phía rạch xa kia,
Một
người dẫn lộ lắc lia lọ sành,
Than
hồng chứa đựng đầy bình;
Phía
sau nhiều kẻ gia đình lần theo,
Mọi
đồ tang phục mang đeo,
Áo
quần xào xể, hò reo nằn nì:
"Ra-Ma!
Ngài hãy chứng tri,
Cầu
Ra-Ma đủ từ bi độ đời."
Sau
cùng, đến cái quan tài;
Tre
đan ở giữa, cán ngoài bốn cây;
Nằm
trên là một cái thây,
Chân
đưa phía trước, ốm gầy, cứng đơ:
Miệng
hủng xuống, mắt chẳng đưa,
Hông
sâu, nhăn nhó, bụi dơ đỏ vàng.
Vừa
khi tới ngã tư đàng,
Phu
khiêng quay cáng, đầu sang phía tiền;
"Ra-Ma",
hô lớn liền liền,
Chúng
đưa thi thể đến miền bờ sông.
Giàn
thiêu cất sẵn chờ trông,
Tử
thi đặt đó, chất chồng củi lên.
Xót
người nằm đó ngủ quên,
Dầu
cơn lạnh lẽo, cũng yên giấc hoè!
Nơi
trống trải, gió bốn bề,
Thân
hình để lộ chẳng che áo quần.
Bốn
bên, lửa bắt lần lần,
Ngọn
bò lên liếm bốn phần giàn thiêu.
Bỗng
nhiên lửa túa mạnh chiều,
Chụp
thây mà cắn, ngọn phèo phèo phun.
Thịt
da nứt lắt lẻo tung;
Khói
xông dầy đặc, sau cùng mỏng manh.
Tro
tàn tạ, đỏ rồi xanh,
Xương
thừa vài mảnh rắc quanh bên đàn.
Đông
cung tỏ vẻ phàn nàn:
"Đây
là kết cuộc nhơn gian chớ gì?"
Chàng
Xa-Nặc đáp lời ni:
"Ấy
là cảnh tượng chung qui người đời.
Trên
giàn một kẻ nằm dài,
Qua
cơn hỏa táng, sót vài miếng xương;
Mấy
con quạ đói kêu vang,
Chẳng
thèm mổ gặm, tầm đường bay đi.
Nhưng
mà người ấy trước đây,
Uống,
ăn, cười, giỡn, vui say ái tình,
Ở
đời, yêu cuộc sống sinh,
Rồi
thì ai biết tình hình xảy ra?
Một
cơn giông tố rừng già,
Trên
đường trật bước, ao sa thấm bùn;
Hoặc
rắn cắn, hoặc dao vung,
Cảm
hàn, xương cá, ngói tung nhằm đầu.
Cuộc
đời nhơn đó giảm thâu,
Người
ta phải chết, còn đâu tiếc hồi!
Uống,
ăn, vui, khổ, dứt rồi,
Môi
hôn chẳng cảm, lửa bồi chẳng đau.
Mũi
không ngửi biết nữa đâu,
Mặc
dầu thịt khét, mặc dầu hương hoa,
Miệng
không biết vị nữa là,
Tai
không nghe tiếng, mắt lòa hết trông.
Thân
bằng cố hữu khóc ròng,
Mau
thiêu xác ấy, kẻo mòng giòi bu!
Số
phần nhục thể vậy ru!
Xấu
hèn cũng chết, sang giàu cũng queo!
Cứ
như Kinh điển mà theo,
Tử
sanh luân chuyển, biết gieo chốn nào?
Rồi
còn trở lại làm sao ?
Còn
cơn tử khổ, còn vào hỏa thiêu!
Nhơn
gian luẩn quẩn bấy nhiêu,
Cái
vòng như vậy là điều tử sanh."
***
Đạt
Đa ngước mặt trời xanh,
Mắt
Ngài chiếu giọt lệ lành Thần Tiên.
Kế
Ngài nhìn xuống đất liền,
Đượm
nồng đức tánh Từ Hiền Xót Bi.
Nhìn
trời nhìn đất liền khi,
Dường
như Ngài muốn nối vầy dưới trên.
Uy
nghi Ngài mới đứng lên,
Dáng
người bác ái, sức bền tự tin.
Hô
rằng: "Trần lụy ta nhìn,
Lưới
sanh tử khổ bủa ghì chẳng tha.
Hoàn
cầu mang bệnh trầm kha,
Lạc
là giả dối, phước là trêu ngươi.
Lao
đao cực nhọc kiếp người,
Vui
chưa tròn hưởng, Khổ vùi tấm thân.
Trẻ
thấy đó, lão lại gần,
Người
yêu vật mến vội phân tách mình.
Sống
rồi thì chết rã hình,
Kế
là tiếp tục sanh thành đôi nơi,
Bánh
xe luân chuyển chẳng ngơi,
Trong
vòng Sanh Tử người đời mãi lâm:
Ham
chi vui sướng lạc lầm,
Để
rồi thọ khổ thân tâm đủ đường .
Ta
đây cũng đã bị lường,
Nhìn
đời tốt đẹp cũng dường lạch sông;
Dưới
ánh nắng, nước xuôi dòng,
Lờ
đờ mãi mãi như không vội vàng.
Sông
đời nước chảy ngang tàng,
Vội
tuôn vườn ruộng, nhập hàng biển dơ!
Bức
màn án mắt thuở giờ,
Nay
đà bị xé, rách trơ rã rời.
Ta
từng theo hạnh người đời,
Nguyện
cầu Tiên Thánh các Ngài chẳng nghe!
Hẳn
là có sự chở che,
Ai
ai cũng muốn nhờ về Sức Linh!
Biết
đâu các đấng như mình,
Cũng
đều cầu nguyện, nhờ bênh vực giùm!
Thánh
Thần sức yếu chẳng trùm,
Không
phương cứu kẻ lum khum khẩn cầu!
Ta
không nỡ để khóc sầu,
Nếu
ta đủ sức đỡ đầu đắc chơn!
Phạm
Thiên tạo hóa thế gian,
Tại
sao bỏ chúng lâm nàn thế ni?
Vì
Ngài có đủ quyền uy,
Bỏ
đời chẳng cứu, tốt gì mà khoe?
Nếu
Ngài thế lực kém bề,
Xưng
danh Thiên Chủ khó nghe lắm mà!
Nầy
Xa Nặc! trở về nhà,
Mắt
ta xem đủ, nữa là thế thôi!"
***
Vua nghe
thuật rõ khúc nôi,
Truyền
ba tốp lính canh ngoài cửa cung;
Không
ai ra khỏi, vào trong,
Ngày
đêm đều vậy, cho xong hạn kỳ;
Vì
vua nằm mộng trước đây,
Giữ
cho qua khỏi số ngày thì êm.
________________________________________
[1]
Tchitra, tên cô cung nữ vừa hát.
[2]
thứu : chim ó (vautour).
[3]
Tần-bà-sa-la (Bimbasâra): Vị vua lớn nhứt ở Ấn-Độ hồi
đời Phật.
[4]
Toulsi: giống cây thơm có tánh cách thiêng liêng. Mỗi gia đình
Ấn-Độ quí trọng cây ấy một cách đặc biệt; Khi người
Ấn Độ phát thệ trước tòa họ phải ăn một lá toulsi do
một thầy Bà-la-môn trao ra .
[5]
Nhựt thần (Souryadéva): Thần mặt trời.
[6]
Su-đà-na (Souddhôdana) dịch nghĩa: Tịnh-Phạn, cha của Thái
tử Tất-đạt-đa.
[7]
La-vệ tức Ca-tỳ-la vệ (Kapilavastou), kinh đô vua Tịnh-Phạn.
[8]
Mặt trời là tượng trưng đức Đế Thiên Đế Thích (Indra)
.
[9]
Nguyệt từ : Đền thờ Thần Mặt trăng (Tchandra, La lune).
[10]
Thái-tử ôm đầu người bệnh kê lên đầu gối của Ngài.
|
In
which calm home of happy life and love
Ligged
our Lord Buddha, knowing not of woe,
Nor
want, nor pain, nor plague, nor age, nor death,
Save
as when sleepers roam dim seas in dreams,
And
land awearied on the shores of day,
Bringing
strange merchandise from that black voyage.
Thus
ofttimes when he lay with gentle head
Lulled
on the dark breasts of Yasôdhara,
Her
fond hands fanning slow his sleeping lids,
He
would start up and cry, My world! Oh, world!
I
hear! I know! I come ! And she would ask,
"What
ails my Lord?" with large eyes terror-struck
For
at such times the pity in his look
Was
awful, and his visage like a god's.
Then
would he smile again to stay her tears,
And
bid the vinas sound; but once they set
A
stringed gourd on the sill, there where the wind
Could
linger o'er its notes and play at will --
Wild
music makes the wind on silver strings --
And
those who lay around heard only that;
But
Prince Siddârtha heard the Devas play,
And
to his ears they sang such words as these: --
We
are the voices of the wandering wind,
Which
moan for rest and rest can never find;
Lo!
as the wind is so is mortal life,
A
moan , a sigh, a sob, a storm, a strife.
Wherefore
and whence we are ye cannot know,
Nor
where life springs nor whither life doth go:
We
are as ye are, ghosts from the inane,
What
pleasure have we of our changeful pain?
What
pleasure hast thou of thy changeless bliss?
Nay,
if love lasted, there were joy in this;
But
life's way is the wind's way, all these things
Are
but brief voices breathed on shifting strings.
O Maya's
son! because we roam the earth
Moan
we upon these strings; we make no mirth,
So
many woes we see in many lands,
So
many streaming eyes and wringing hands.
Yet
mock we while we wail, for, could they know,
This
life they cling to is but empty show;
'Twere
all as well to bid a cloud to stand,
Or
hold a running river with the hand.
But
thou that art to save, thine hour is nigh!
The
sad world waiteth in its misery,
The
blind world stumbleth on its round of pain;
Rise,
Maya's child! wake! slumber not again!
We
are the voices of the wandering wind:
Wander
thou, too, O Prince, thy rest to find;
Leave
love for love of lovers for woe's sake
Quit
state for sorrow, and deliverance make.
So
sigh we, passing o'er the silver strings,
To
thee who know'st not yet of earthly things;
So
say we; mocking, as we pass away,
These
lovely shadows wherewith thou dost play.
Thereafter
it befell he sate at eve
Amid
his beauteous Court, holding the hand
Of
sweet Yasôdhara, and some maid told --
With
breaks of music when her rich voice dropped --
An
ancient tale to speed the hour of dusk,
Of
love, and of a magic horse, and lands
Wonderful,
distant, where pale peoples dwelled,
And
where the sun at night sank into seas.
Then
spake he, sighing, "Chitra brings me back
The
wind's song in the strings with that fair tale.
Give
her,
Yasôdhara, thy pearl for thanks.
But
thou, my pearl! is there so wide a world?
Is
there a land which sees the great sun roll
Into
the waves, and are there hearts like ours,
Countless,
unknown, not happy -- it may be --
Whom
we might succor if we knew of them?
Ofttimes
I marvel, as the Lord of day
Treads
from the east his kingly road of gold,
Who
first on the world's edge hath hailed his beam,
The
children of the morning; oftentimes,
Even
in thine arms and on thy breasts, bright wife,
Sore
have I panted, at the sun's decline,
To
pass with him into that crimson west
And
see the peoples of the evening.
There
must be many we should love -- how else?
Now
have I in this hour an ache, at last,
Thy
soft lips cannot kiss away: oh, girl!
O
Chitra! you that know of fairyland!
Where
tether they that swift steed of the tale?
My
palace for one day upon his back,
To
ride and ride and see the spread of the earth
Nay,
if I had yon callow vulture's plumes --
The
carrion heir of wider realms than mine --
How
would I stretch for topmost Himalay,
Light
where the rose-gleam lingers on those snows,
And
strain my gaze with searching what is round!
Why
have I never seen and never sought?
Tell
me what lies beyond our brazen gates."
Then
one replied, "The city first, fair Prince!
The
temples, and the gardens, and the groves,
And
then the fields, and afterwards fresh fields,
With
nullahs, maidâns, jungle, koss on koss;
And
next King Bimbasâra's realm, and then
The
vast flat world, with crores on crores of folk."
"Good,"
said Siddârtha, "let the word be sent
That
Channa yoke my chariot --at noon
Tomorrow
I shall ride and see beyond."
***
Whereof
they told the King: "Our Lord, thy son,
Wills
that his chariot be yoked at noon,
That
he may ride abroad and see mankind."
"Yea!"
spake the careful King, "'tis time he see!
But
let the criers go about and bid
My
city deck itself, so there be met
No
noisome sight; and let none blind or maimed,
None
that is sick or stricken deep in years,
No
leper, and no feeble folk come forth."
Therefore
the stones were swept, and up and down
The
water-carriers sprinkled all the streets
From
spirting skins, the housewives scattered fresh
Red
powder on their thresholds, strung new wreaths,
And
trimmed the tulsi-bush before their doors.
The
paintings on the walls were heightened up
With
liberal brush, the trees set thick with flags,
The
idols gilded; in the four-went ways
Suryadeva
and the great gods shone
'Mid
shrines of leaves; so that the city seemed
A
capital of some enchanted land.
Also
the criers passed, with drum and gong,
Proclaiming
loudly, "Ho! all citizens,
The
King commands that there be seen to-day
No
evil sight: let no one blind or maimed,
None
that is sick or stricken deep in years,
No
leper, and no feeble folk go forth.
Let
none, too, burn his dead nor bring them out
Till
nightfall. Thus Suddhôdana commands."
So
all was comely and the houses trim
Throughout
Kapilavastu, while the Prince
Came
forth in painted car, which two steers drew,
Snow-white,
with swinging dewlaps and huge humps
Wrinkled
against the carved and lacquered yoke.
Goodly
it was to mark the people's joy
Greeting
their Prince; and glad Siddârtha waxed
At
sight of all those liege and friendly folk
Bright-clad
and laughing as if life were good.
"Fair
is the world," he said, "it likes me well!
And
light and kind these men that are not kings,
And
sweet my sisters here, who toil and tend;
What
have I done for these to make them thus?
Why,
if I love them, should those children know?
I
pray take up yon pretty Sâkya boy
Who
flung us flowers, and let him ride with me.
How
good it is to reign in realms like this!
How
simple pleasure is, if these be pleased
Because
I come abroad! How many things
I
need not if such little households hold
Enough
to make our city full of smiles!
Drive,
Channa! through the gates, and let me see
More
of this gracious world I have not known."
So
passed they through the gates, a joyous crowd
Thronging
about
the wheels, whereof some ran
Before
the oxen, throwing wreaths, some stroked
Their
silken flanks, some brought them rice and cakes,
All
crying, "Jai! jai! for our noble Prince!"
Thus
all the path was kept with gladsome looks
< |