Chung
quanh Vương xá (1) đô thành,
Năm
non đẹp đẽ giương mình chở che:
Bai-ba-ra
(2) núi xanh lè,
Lác
thơm, thốt nốt bao che bên ngoài;
Bi-bu-la
(3) núi thứ hai,
Núi
Sa-xu-tí lai-rai dưới triền;
Ta-bô-hoăng
(4) có ao liền,
Nước
gương soi bóng, đá viên đen sì;
Đông
Nam núi Sái-la-ri (5)
Là
nơi diều ó kết bầy náu nương;
Rát-na-di-rí
(6) Đông-phương,
Núi
nầy bảo thạch thường thường hiện ra.
Một
đường cong quẹo lại qua,
Mặc
dầu lát đá, người ta đi mòn;
Băng
vườn trồng nghệ, tre tròn,
Dưới
cây hồng táo, xoài hòn, xoài thanh,
Đi
gần ngọc thạch trắng, xanh,
Những
hòn đá dựng, những cành hoa thơm,
Cuối
cùng, vách núi đứng chờm,
Phía
Tây quẹo lại, đá dòm chơi vơi;
Trong
là cảnh động thanh bai,
Nhiều
cây sung mọc, bao ngoài, phủ che.
Đến
đây bạn hãy kiêng dè,
Cổi
giày, cúi mặt, còn e lỗi niềm?
Bao
la cõi thế rộng kiêm,
Đây
là Thánh địa tôn nghiêm, báu mầu.
Chốn
nầy Đức Phật ngồi lâu,
Chịu
cơn nắng lửa, mưa dầu, tiết đông;
Chỉ
mang một tấm áo sồng,
Ăn
nhờ bá tánh nhủ lòng làm duyên.
Đêm
nằm trên cỏ tạm yên,
Sài
lang ngoài động liền liền sủa tru;
Rừng
trồi cọp đói gầm lâu,
Thế
Tôn vững chí ngồi tu đêm ngày.
Đem
thân vàng ngọc đọa đày,
Kiêng
ăn, cữ mặc, canh chày nghĩ sâu.
Trong
cơn thẳm định hằng lâu,
Trơ
như bàn thạch, mặc dầu ngồi yên.
Trên
đầu gối, sóc nhảy lên,
Con
chim cúc mẹ ấp bên chơn Thầy;
Bát
cơm để sẵn gần tay,
Bồ-câu
bu lại cả bầy mổ ăn.
***
Giữa
trưa, Ngài nhập định thần,
Nắng
nung mặt đất, vách ngăn nực nồng;
Trời
chiều tỏa ánh cuối cùng,
Ngài
không nhìn thấy vầng hồng miền Tây.
Màn
đêm bao phủ cỏ cây,
Bầu
trời tinh tú đó đây nháng ngời,
Trống
chiêng thành thị bời bời,
Chim
mèo kêu hú, nhiều nơi tranh giành.
Cảnh
tình ban tối diễn quanh,
Ngài
không nghe thấy, vì mình nghĩ suy.
Đến
khuya còn hãy ngồi đây,
Bấy
giờ mặt đất tiếng gì cũng êm.
Chỉ
trừ những vật ăn đêm,
Bụi
cây bò lết lại thêm kêu gào;
Những
niềm sợ, oán rêu rao,
Tham
lam, sẻn, giận lết vào tâm si.
Kế
Ngài ngủ tạm vài thì,
Trời
chưa rựng sáng, thường khi thức rồi.
Ra
nơi hòn đá lặng ngồi,
Nhìn
xem thế giới đương hồi ngủ mê;
Mắt
Ngài bừng chói sáng ghê;
Tâm
tư bao quát mọi bề chúng sanh;
Trên
đồng gợn sóng xanh xanh,
Tiếng
xì xào khiến giựt mình những ai;
Mọi
người thức giấc ban mai,
Phương
Đông lố thấy cảnh trời lạ thay!
Ban
đầu màn tối còn dày,
Kế
lần lần sáng, đổi thay nhiều màu,
Sau
cùng tỏ rõ làu làu,
Thái
dương lộ chiếu địa cầu ánh vui.
***
Tu Tiên
hạnh chẳng thụt lùi,
Ngài
chào Mặt Nhựt vừa hồi mọc ra;
Kế
làm lễ tắm đó là,
Theo
con đường quẹo mà qua thị thành.
Làm
theo khất sĩ hạnh lành,
Tay
ôm bình bát đi quanh các đường.
Trông
Ngài tướng Thánh phi thường,
Nhơn
dân chen chúc cúng dường rất mau.
Thấy
Ngài đi đứng ở đâu,
Mấy
bà sai trẻ lạy hầu dưới chơn:
Chúng
hôn chéo áo, cười mơn,
Kính
dâng sữa, bánh Thượng nhơn thọ dùng.
Tướng
đi khả ái, thung dung,
Mặt
mày sáng rỡ vì lòng Đại Bi;
Vẻ
người lo lắng tràn đầy,
Lo
cho đồng loại đó đây khắp cùng.
Nhiều
cô thiếu nữ nhìn trông,
Đem
lòng luyến ái, mơ màng oai nghi.
Nhưng
Ngài ôm bát đắp y,
Chúc
nguyền thí chủ rồi thì về non;
Ngài
cùng đạo sĩ vầy tròn,
Nghe
và hỏi Lý để còn đạt thông.
***
Rát-na-di-rí
non tòng,
Ở
lưng chừng núi, mắt trông xuống thành;
Trên
là động cốc u thanh,
Nhiều
thầy tu ẩn chuyên hành khổ thân:
Xác
nầy nghịch với hồn thần,
Thể
như con vật mình cần trói, thâu;
Phải
nhiều khổ hạnh ghê sầu,
Đến
khi hết cảm khổ đau mới đành,
Các
thầy khảo kẹp thần kinh,
Cũng
như ngục tối đương hành tội nhơn.
Tỳ
kheo (7), Du chỉ (8) lâm sơn,
Các
thầy Phạm chí (9) cô đơn, ốm gầy.
Thầy
nầy dở hỏng hai tay,
Để
luôn như vậy đêm ngày thịt teo;
Tay
đờ, lắt léo rụi queo,
Như
thân cây héo có đèo cành khô.
Thầy
kia nắm cứng tay vô,
Lâu
ngày móng nhọn phủng nhô khỏi lòng (10).
Có
thầy đi dép cặm chông,
Hoặc
dùng đá bén xẻ hông, trán, đùi;
Hoặc
là lấy lửa tự thui,
Cây
gai, sắt nhọn đem giùi thịt da.
Bùn
tro mình mẩy trét thoa,
Nằm
trên đống rác, áo là giẻ tơi.
Có
người ở chỗ thây phơi,
Ngồi
trên giàn hỏa tại nơi nhị tỳ;
Chung
quanh diều ó có bầy,
Kêu
la trên mảnh tử thi vụn vằn.
Xi-hoa,
tên một vị thần,
Có
người niệm cả ngàn lần ngày đêm;
Ngồi
lâu, chơn bại như nêm,
Quanh
mình rắn quấn lại thêm hú rền.
Nhóm
người ghê tởm như trên,
Phơi
mình dưới nắng, ghẻ lên đầy đầu;
Mắt
ghèn, gân rút, úa xàu,
Dường
như kẻ chết để lâu năm ngày!
Ở
đây nằm cứng một thầy,
Đong
ngàn hột thóc tự tay mình lường.
Rồi
nhai từng hột thấy thương,
Lâu
ngày chết đói là thường đó a!
Một
người nghiền đậu nát ra,
Ăn
cùng lá đắng, tránh quà ngọt ngon.
Có
thầy khốn khổ hư mòn,
Thân
hình tự hủy, chẳng còn mắt, môi;
Chơn
què, tai điếc hỡi ơi,
Cam
bề khổ hạnh để bồi phước sau!
Thế
Tôn ngó một thầy tu,
Là
người thượng-thủ, giây lâu phán rằng:
"
Các ông chịu khổ ai bằng!
Trải
qua nhiều tháng tôi hằng ở đây.
Tôi
tầm Chơn lý cao vi,
Các
ông lại chỉ rõ hay ép mình.
Đời
người xấu tệ hẳn đành,
Tại
sao lại phải thêm hành khổ thân?"
Thầy
kia nhỏ nhẹ phân trần:
"Kinh
rằng nếu kẻ thịt gân hãm kềm,
Chịu
đau càng bữa càng thêm,
Đến
chừng hơi thở sắp êm muốn ngừng,
Chỉ
chờ cái chết đáng mừng,
Khổ
hành như vậy, tội phừng cũng tiêu;
Thần
hồn trong sạch phiêu phiêu,
Vượt
lò lửa thảm, cao siêu ngàn trùng".
Đông
cung khi ấy phán cùng:
"Kìa
vầng mây nổi như nhung trên trời,
Cất
mình khỏi sóng biển khơi,
Rồi
như giọt lệ mưa rơi phũ phàng;
Kế
theo đường hiểm, ngách, mương,
Kinh,
ngòi, sông, rạch mà sang Hằng hà;
Cuối
cùng trở lại biển xa,
Là
nơi mây ấy tách ra lúc đầu,
Thánh
hiền khổ hạnh khá lâu,
Kế
là hưởng phước, rồi sau cũng hoàn.
Há
không phải thế mà bàn?
Có
lên phải xuống, mua an thì xài,
Máu
dùng để chuộc cảnh Trời,
Xong
rồi, lao khổ lại vời chẳng thôi. "
Thầy
kia than thở bồi hồi:
"Khổ
lao trở lại, biết ôi thế nầy ?
Chúng
tôi chẳng chắc chuyện gì,
Tối
rồi, lại sáng, nguy đi yên về.
Xác
thân là vật chán chê,
Làm
cho Thần Trí khó bề lên cao,
Muốn
cho hồn hưởng phước hào,
Hãy
đem khổ vắn đổi trao vui bền!"
Đạt-Đa
chận lại, hỏi lên:
"Dẫu
cho phước lạc báo đền triệu năm,
Rồi
ra tàn tạ, bặt tăm,
Hoặc
chăng có cảnh bao lăm chẳng dời?
Các
huynh hoan hỷ trả lời:
Thần
Tiên địa vị có đời đời chăng?"
Mấy
sư Du-chỉ đáp rằng:
"Riêng
ngài Đại-Phạm thường hằng trên ngôi,
Thần
Tiên có số mà thôi."
Bấy
giờ Đức Phật khuyên đôi ba điều:
"Dường
như trong sạch, dám liền,
Quý
ông hãy ráng tỏ chiều thông minh.
Bỏ
đi những lối hủy mình,
Há
đem sầu thảm mà rinh mơ mòng?
Hồn
tôn trọng, xác phế vong,
Gớm
nhờm, đày đọa, hủy trong thân hình,
Chẳng
kham đảm phụ trí minh,
Ác
vàng chưa lặng, bỏ mình đường xa!
Tỷ
như tuấn mã thuần hòa,
Trải
cơn vất vả cũng là bỏ đi;
Buồn
thay tu sĩ các thầy,
Cảnh
xưa lao nhọc phá chi tan tành ?
Nơi
nầy song dũ bao quanh,
Cho
nguồn ánh sáng đặng mình trông ra:
Rạng
đông lố dạng chăng là?
Phía
nào đường tốt để mà dời chơn?"
Mấy
thầy ẩn sĩ la rân:
"Chúng
tôi chọn nẻo, rồi lần chơn đi;
Dẫu
cho lửa dữ phủ đầy,
Sẵn
lòng chờ chết, cớ chi thối từ?
Đường
nào tốt, Ngài biết ư ?
Nếu
không thì cứ thư thư phản hồi! "
***
Ngài
đành từ giã, than ôi,
Người
ta sợ chết, lôi thôi sợ hoài.
Có
người lại muốn sống dai,
Nhưng
không dám mến cuộc đời mình đây,
Họ
bèn hành khổ thân nầy,
Đặng
làm đẹp dạ các vì Thần Tiên?
Họ
sa Địa ngục triền miên,
Lửa
nầy chưa dứt, đốt liền lửa sau ?
Hoặc
cơn cuồng tín rất sâu,
Thần
hồn dễ bỏ xác đau đớn nầy?
Đạt-Đa
phân tỏ như vầy:
"Hỡi
hoa đồng nội, cánh xây theo trời!
Khoái
vui dưới ánh sáng ngời,
Thỏa
thay hương dịu, sắc tươi áo là.
Chưa
từng thấy một đóa hoa,
Bỏ
đời trong sạch, liệng xa sắc lành!
Ớ
nầy các cội dừa xinh!
Ngọn
toan lên tới trời xanh kia là,
Chí
lâm hít gió Hy-ma ?
Cùng
luồng gió mát biển xa thổi vào.
Hỡi
dừa có bí thuật nào,
Thích
vui từ thuở mới chào ngày xuân?
Nay
dừa có trái đeo thân,
Chuyển
tàu lá rậm như ngân ca cầm.
Kìa
loài vui chốn thọ lâm,
Chim
sâu, anh võ, phi cầm các ngươi!
Há
chê mạng sống hiện thời,
Cũng
không khổ hạnh, tìm đời tốt sau,
Người
ta, chúa tể hoàn cầu,
Giết
loài chim chóc, đứng đầu thông minh,
Trí
người nuôi bởi máu tanh,
Gia
tăng trong sự khổ mình hại thân."
***
Thế
Tôn đương nói vân vân,
Bụi
bay lên núi quây quần như mây.
Chiên
dê đen trắng một bầy,
Từ
từ bước tới lại hay nghỉ ngừng:
Con
thì ăn cỏ ven rừng,
Con
thì tách lộ, lưng chừng suối khe.
Có
con ra khỏi bạn bè,
Mục
đồng kêu lại, đá que chọi liền;
Tiếp
đưa đoàn thú thuận hiền,
Từ
trên gò nổng xuống miền đồng quê.
Đôi
chiên theo mẹ dựa kề,
Một
con trúng đá, mà tê liệt giò;
Máu
tuôn, phải nhắc cò cò,
Con
kia vượt trước, mẹ lo chạy càn;
Cảnh
tình chiên mẹ bất an,
Theo
con nầy, sợ lạc đàn con kia.
Thế
Tôn nhìn thấy việc ni,
Ôm
con chiên bệnh, vân vi mấy lời:
"Yên
lòng, hỡi mẹ chiên ơi!
Ta
bồng con bậu, theo ngươi lên đường;
Dầu
xa, ta cũng coi thường,
Thà
rằng cứu giúp thú đương ngặt mình.
Còn
hơn cùng bạn tu hành,
Trong
hang ngồi ngắm thế tình khổ đau."
Hỏi
chư mục tử lời sau:
"Cớ
chi trời xế dẫn đầu chiên dê?
Chiều
tà người thú đề huề,
Hồi
nào đã có luật lề nầy ư ?"
Mấy
người sằn-dã đáp từ :
"Trăm
dê hiệp với trăm trừu nầy đây,
Chúng
tôi được lệnh dắt đi,
Đức
vua sẽ giết đêm ni tế thần."
Đức
Thầy vội để lời phân:
"Ta
cùng đến đó, theo chân các người."
Dưới
ánh nắng, bụi mịt trời,
Ôm
con chiên nhỏ, thảnh thơi bước đều.
Kìa
con chiên mẹ chăm chìu;
Bí
be nhỏ nhẹ mà theo chơn Ngài.
***
Cả đoàn
đến mé sông dài,
Một
nàng thiếu phụ tỏ lời nỉ non:
"Hôm
qua, Ngài đoái đến con,
Tấm
thân cô quạnh chỉ còn một trai,
Dưới
hoa, trẻ dại, giỡn chơi,
Bỗng
đâu rắn lại quấn ngoài cổ tay.
Lưỡi
le như chỉa ghê thay;
Con
tôi cười cợt, quấy rầy lưỡi kia;
Trẻ
liền nín lạnh, xanh lè,
Tại
sao hết giỡn, môi lìa sữa tôi?
Kẻ
nầy nói: Bị nọc rồi;
Kẻ
kia lại bảo: Chết thôi còn gì!
Tiếc
con, há để mất đi,
Tôi
tìm hỏi thuốc duy trì mắt xanh.
Dấu
răng nhỏ tí khó minh,
Rắn
kia cợt giỡn, há đành cắn sao?
Một
người mách: "Ở non cao,
Có
ông Đạo sĩ thanh tao, áo vàng;
Kìa
Ngài đi tới trên đàng,
Hỏi
cho con bậu phép phương cứu nàn."
Đến
Ngài, tôi khiếp sợ than,
Dở
lên tấm vải che làn mặt con.
Tôi
xin thành kính, cúi lòn,
Hỏi
Ngài linh dược, giữ còn anh nhi.
Ngài
không hất hủi tôi đi,
Nhưng
Ngài nhìn trẻ, mà đầy lòng yêu;
Tay
Ngài rờ nó nhẹ chiều,
Kế
Ngài kéo vải phủ đều mặt tai,
Dạy
rằng : "Thiếu phụ nàng ơi!
Ta
rành môn thuốc cứu đời, mẹ, con,
Tô-la
(11) hột cải hỏi đôn,
Tránh
nhà của kẻ bà con từ trần,
Ráng
xin hột cải thuốc thần,
Đó
Ngài phán dạy ân cần với tôi".
Mỉm
cười, Phật đáp: "Thế thôi,
Mà
nàng kiếm giống được rồi hay chưa?"
Tôi
ôm thân lạnh, trẻ thơ,
Núi
rừng, thành thị, đến thưa từng nhà:
"Cho
tôi hột cải tô-la ".
Bạn
nghèo thương mến, lấy ra tặng liền.
Nhưng
tôi tiếp hỏi chẳng quên :
"Trong
nhà trước đã qui tiên người nào:
Vợ,
chồng, con, cái, cần lao?"
Họ
đồng đáp lại: "Chị sao hỏi kỳ?
Thác
nhiều, sống ít đó chi"
Tôi
bèn trả cải, lần đi mỗi nhà.
Kẻ
nầy nói: "Cải đây là,
Nhưng
mà đứa tớ ngày qua mãn phần".
Kẻ
nọ bảo : "Ấy vật cần,
Nhưng
chồng tôi đã lánh trần từ lâu".
Có
kẻ thốt: "Giống sẵn hầu,
Mà
người trồng tỉa chết đâu mùa rồi ".
"Qui
hoàn hột cải vậy thôi,
Nhà
nào lại chẳng có người tử vong?
Tôi
đành để trẻ bờ sông,
Lạy
Ngài cầu thuốc để hòng cứu con."
Phật
rằng: "Cô chớ lo toan,
Thuốc
nầy chẳng được, lại còn thuốc kia,
Trẻ
thơ vú mẹ đã lìa,
Từ
hôm qua ngủ giấc hòe ngàn thu.
Nay
nàng nên biết lấy câu:
Khắp
trong thế giới khóc sầu như ngươi;
Khổ
riêng dầu nặng mười mươi,
Hòa
đồng chung chịu, lưng vơi nhiều phần,
Ta
đành tuôn hết huyết thân,
Nếu
công việc ấy dứt ngăn lệ nàng,
Nếu
thông bí mật phũ phàng,
Khiến
tình Luyến ái đeo mang khổ sầu.
Kẻ
đưa người đến giàn lầu,
Cũng
như đoàn thú dê trừu thấy đây.
Ta
đương tìm kiếm Lẽ nầy;
Nàng
về an táng tử thi con mình. "
***
Mục
đồng, Thái tử vào thành,
Trên
sông Xô-Ná (12) quang minh cuối cùng!
Bóng
to tỏa xuống lộ trung,
Lòn
theo cửa lớn có đông lính tuần,
Ngài
ôm chiên nhỏ đến gần,
Làm
cho lính tráng tần ngần trở lui.
Người
ta sắp đặt xe rồi,
Kẻ
buôn, người bán, mừng vui nhìn Thầy:
Thợ
rèn đương nện, ngừng tay,
Chức
công buông cửi, ký nầy nghỉ biên.
Kìa
người đổi bạc, lãng tiền,
Bạch
ngưu ăn lúa người quên giữ gìn;
Sữa
tươi tràn chảy khỏi bình,
Mấy
người bán sữa cố nhìn Tôn nhan.
Nhiều
cô tựu hội hỏi han :
"Ông
kia ôm lễ có doan lạ thường!
Vốn
Ngài Đế-Thích đó ư?
Hay
là Chúa thượng hiện cư Thiên đường ?"
Mấy
người khác nói rõ ràng:
"
Thượng nhơn ở núi với hàng tu Tiên."
Ngài
đi, trí nghĩ triền miên:
"Tiếc
thay thiếu kẻ chăn chiên giữ trừu!
Chúng
đi đêm tối mịt mù,
Không
người dắt nẻo, dao tu sẵn bày,
Khác
chi đoàn thú hiện đây,
Chiên
ta biết nói, thú nầy lại câm!
Có
người tâu lệnh Muôn năm:
"Một
nhà ẩn sĩ giáng lâm kinh thành;
Dắt
theo đoàn vật hy sinh,
Mà
vua định hiến chư Linh nơi đàn".
***
Tế phòng
vua đã ngự an,
Bạch-y
tu sĩ (13) bày ban tụng trì ;
Bàn
thờ đặt giữa phòng nầy,
Trên
thì ngọn lửa mấy thầy khéo nung,
Trầm
hương giụm lại, ngọn xông,
Vì
vèo, quày liếm rượu nồng, mỡ tươi.
Một
dòng suối đỏ, đặc, lười,
Lượn
quanh giàn hỏa, khói khươi nực nồng.
Đó
là huyết thú chảy ròng,
Mặc
dầu thấm cát, cũng không bớt gì.
Một
con dê cái nằm ghì,
Thân
hình lốm đốm, sừng thì nhô ra;
Kề
dao trên cổ dê ta,
Mấy
ông thầy cúng ngâm nga mấy lời :
"Kính
trình Thần Thánh đến nơi!
Tần-Bà
Đại Đế đương thời khởi dâng.
Quí
vì nên tỏ lòng mừng,
Trong
dòng máu đỏ, thịt hừng thơm tho.
Tội
vua từ nhỏ đến to,
Xin
đem đổ trút vào cho dê nầy;
Thiêu
dê, thiêu cả tội lây,
Bây
giờ tôi sắp ra tay một lần".
Nhẹ
nhàng, Phật bảo vua Tần :
"Đừng
cho kẻ ấy sát thân mạng nầy".
Đồng
thời, Ngài tháo hết dây,
Chẳng
ai ngăn cản Bực đầy oai phong.
Kế
Ngài xin phép giải thông :
Mọi
người đều dễ dứt xong mạng đời;
Bảo
tồn thì chẳng có ai;
Chúng
sanh ham sống, so tài đấu tranh;
Sống
là quí báu, tốt xinh,
Phận
hèn cũng thích đời sanh kéo dài.
Lòng
lành tôn trọng cuộc đời,
Thương
người yếu thế, chống loài cường gian.
Ngài
thay đoàn thú, thở than,
Đem
lời phương tiện kêu oan, phân trần:
Loài
người van vái Thiên Thần,
Đối
cùng thú vật, không phần xót thương.
Những
loài sanh sống thế thường,
Thảy
đều liên đới bởi đường tông thân;
Thú
mà mình giết để ăn,
Vẫn
thường dâng nạp những phần sữa, lông.
Chúng
tin ta thật trọn lòng,
Nhưng
ta cắt cổ mà không ngại gì!
Ngài
nương Kinh điển giải bày:
Có
người đời tới đọa đày thú, chim;
Thú,
cầm mang lốt hiện kim,
Mãn
đời rồi sẽ tấn lên làm người.
Tế
sanh là phạm tội rồi,
Vì
mình chận cuộc Luân hồi định phân.
Phật
bèn phán tiếp ân cần:
Há
đem huyết rửa tinh-thần được ư?
Thánh
Tiên nếu sẵn hiền từ,
Ắt
không ham thích máu chư thú cầm;
Các
ngài nếu có ác tâm,
Máu
không mua chuộc mà tầm hiến dâng!
Tội
làm thì trả mới ưng,
Lẽ
nào đổ trút trên lưng thú lành ?
Chiếu
theo Nhân Quả rành rành:
Thiện
thì thiện trả, ác đành ác lai;
Thân
làm, miệng nói, lòng khai,
Báo
nương ba nghiệp, không sai lạc gì;
Cùng
nhau liên tiếp ba thì (14),
Nhân
đi, Quả lại, vần xây chẳng ngừng.
Từ
Bi, Phật giải đúng chừng,
Lại
thêm cốt cách, lẫy lừng oai nghiêm.
Đồ
trang bị đã dẹp dìm,
Trên
tay thầy cúng còn triêm máu hồng!
Đức
vua tỏ vẻ khiêm cung,
Đến
gần, tay chắp ngưỡng trông, vái chào.
***
Bấy
giờ, Đức Phật truyền trao:
Thế
gian hưởng phước thanh cao thâm trầm,
Nếu
chư vạn vật hảo tâm,
Kết
giao, yêu mến, không tầm ăn nhau.
Hạt
vàng, trái láng, cải rau,
Lại
thêm nước sạch, mặc dầu no nê.
Lời
Ngài phán dạy cao xuê,
Khiến
chư tu sĩ bỏ bê cúng thờ.
Hôm
sau có sắc chỉ đưa,
Truyền
rao bằng miệng, lại vừa khắc ghi:
"Đức
vua tuyên lệnh như vầy:
Súc
sanh bị giết xưa rày để ăn,
Hoặc
dùng cúng tế Thiên Thần,
Từ
nay cấm nhặt sát thân mạng nào.
Cần
gì món thịt thú sao ?
Mạng
sinh vốn một, vật nào khác ta!
Từ
bi nên bủa ra xa,
Ta
thương súc vật như là thương thân."
Đó
là sắc chỉ định phân,
Chúng
sanh từ đấy hưởng ân thái bình,
Loài
người, chim chóc, súc sinh,
Vui
nghe đức Phật giảng kinh sông Hằng.
***
Tâm Ngài
bác ái công bằng,
Đối
cùng mọi vật sức năng sinh tồn,
Thú
cầm vẫn có tâm hồn,
Cũng
như người thế, khổ buồn, sướng vui.
Trong
Kinh, có chép việc rồi:
Thuở
xưa Đức Phật làm người La-môn (15),
Ở
gần Đa-lít (16) hương thôn,
Trong
Muôn-đa (17) động đương lâm hạn càn.
Ruộng
đồng lúa chết khô khan,
Ao
hồ theo trảng lại hoàn đất teo.
Cỏ
rau, cây cối héo queo,
Chúng
sanh xuống núi qua đèo kiếm ăn.
Một
con cọp cái đói nằm,
Bốn
bề vách đá nắng hâm nực nồng;
Lưỡi
le khỏi miệng lòng thòng,
Thở
hơi hào hển, mắt trông xanh lè;
Áo
rằn xếp lớp phủ che,
Xương
sườn lộ ngắn như tre mái nhà;
Cọp
con đôi trẻ rên la,
Kéo
chằng, rút rỉa vú đà cạn khô.
Mẹ
gầy liếm trẻ như ru,
Thấy
con thiếu sữa, bèn tru vang rền.
Trước
tình cảnh thảm như trên,
Thế
Tôn từ ái phát lên ý nầy:
"Mau
dùng phương tiện sẵn đây,
Cứu
thân cọp mẹ với bầy hai con.
Chiều
nay chúng chẳng sống còn,
Nếu
không vật thực tươi giòn cấp cho.
Không
ai thương xót liệu lo,
Cọp
nầy thiếu máu, nằm co chết gầy.
Nếu
ta tiếp dưỡng thú nầy,
Chẳng
ai bị hại, riêng đây thiệt mình;
Cảnh
tình thúc giục hy sinh,
Tấm
lòng từ ái há đành hư hao? "
Nghĩ
rồi đức Phật chẳng nao:
Cổi
giầy, bỏ trượng, bạch bào, với khăn,
Cổi
luôn dây quí đạo căn (18),
Bước
ra khỏi bụi, đi phăng đến gần.
Đứng
trên cát, Ngài tỏ phân:
"Ớ
trang hổ mẫu! đồ cần ăn đây."
Thú
đương hấp hối tỉnh ngay,
Hét
gầm, nhảy tới, lật xây tặng phần;
Cẳng
vồ, móc thịt ra ăn,
Máu
theo móng hổ tua văng ra ngoài,
Hơi
nồng thú mẹ hòa hài,
Với
hơi hấp hối đức Ngài Từ-Bi !
***
Chẳng
riêng độ chúng hôm nay,
Dứt
ngăn việc sát tế tay ác thần,
Ngàn
xưa Phật đã thi ân,
Cứu
loài sinh vật qua cơn tử nàn.
Vua
Tần (19) nghe tiếng đồn loan:
Ngài
là Thái-tử mưu toan Đạo lành.
Vua
cầu Ngài ở với mình:
"Thân
là Hoàng tử, há hành khổ sao ?
Tay
Ngài để nắm quyền cao,
Sướng
gì ôm bát, nhà nào cũng xin?
Đông
cung, Trẫm sẽ nhận nhìn,
Dạy
dân giúp nước, rồi gìn giữ ngôi,
Đền
vua, Ngài ngự với tôi,
Trẫm
tầm thục nữ sánh đôi với Ngài."
Đạt-Đa
chí hướng chẳng dời,
Đáp
rằng: "Việc ấy ta thời hưởng qua;
Bỏ
mà tầm Lý sâu xa,
Dẫu
ngôi Đế-Thích, lòng ta chẳng màng.
Đã
toan làm bực Pháp vương,
Rừng
Già-da (20) ấy ta đương tiến hành;
Chốn
nầy tu tập chẳng thành,
Tuy
dày khổ hạnh, có Kinh, bạn hiền,
Chừng
nào đắc Đạo vẹn tuyền,
Bấy
giờ trở lại đáp đền nghĩa ông."
***
Đi quanh
Thái-tử ba vòng,
Vua
Tần đỉnh lễ, cầu mong cho Ngài.
U-Ran
huy hóa (21) đến nơi,
Lòng
Ngài chưa vững, mặt Ngài xanh xao;
Sáu
năm tầm tỏi công lao,
Thân
hình ốm yếu, hư hao thảm phiền.
Ngài
còn ghé viếng chư hiền:
A-la-ra
(22), Ú-ra (23) miền cao sơn ;
Viếng
luôn Năm vị Đạo-nhơn,
Luận
bàn, vấn đáp, họ còn tự ty;
Đồ
theo Kinh điển xưa ni,
Không
cầu Giải thoát, tôn vì Phạm thiên,
Trí
căn họ vẫn đảo điên,
Càng
nghe càng chán, Ngài liền tách xa,
Chú
Thích
(1)
Vương xá (Rajagriha): Kinh đô nước Ma-kiệt-đề (Magatha). Vua
Tần-bà-la-sa (Bimbasâra) trị vì ở đó hồi đức Phật ra
đời.Thuở ấy, tại Ấn-độ thành Vương xá là oai vinh hơn
hết, vì vua Tần-bà-sa-la là chúa tể ở Ấn Độ.
(2)
Bai-ba-ra (Baihâra).
(3)
Bi-bu-la (Bipoula).
(4)
Ta-bô-hoăng (Topovan).
(5)
Sái-la-ri (Sailâgiri).
(6)
Rát-na-di-ri (Ratnagiri).
(7)
Tỳ-kheo (bhikchou,bhiksou) : những người phát nguyện cử kiêng
ba mục đích của người đời : vui sướng, giầu sang, tình
ái. Tu trì đạo lý; dứt bỏ lòng ham muốn, lòng lo sợ, tánh
tự cao.
(8)
Du-chỉ (Yoghis) : Những thầy tu luyện Du-già là các phương
pháp để đạt trí huệ, bỏ ảnh hưởng của vật chất đối
với tâm linh, dứt trừ bản ngã.
(9)
Phạm-chí (brahmacharis): thầy tu khổ hạnh phái Bà-la-môn.
(10)
Móng tay đâm thủng ngang lòng bàn tay mà trổ ra ngoài.
(11)
Tô-la (Tôla) : Cân lường Ấn độ, nặng bằng một ru-pi (roupie)
tức tám grammes.
(12)
Xô-ná (Sona).
(13)
Mấy thầy Bà-la-môn mặc lễ phục trắng.
(14)
Ba thì : Quá khứ, Hiện-tại, Vị-lai.
(15)
La-môn, tức Bà-la-môn (Brahmane), người đạo Bà-la-môn trong
chủng tánh Bà la-môn.
(16)
Đa-lít (Dâlidd).
(17)
Muôn-Đa (Mounda).
(18)
Dây quí đạo căn; Tiếng pháp dịch: cordon sacré, sợi dây
quấn bằng ba sợi chỉ mà người dòng Bà-la-môn đeo nơi cổ,
trước ngực, tượng trưng dòng quí phái tu sĩ, lãnh đạo
tinh thần. Người Bà-la-môn, khi được tám tuổi thì thọ
lễ đeo dây ấy.
(19)
Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisâra) ở thành Vương-xá (Rajagriha)
(20)
Già-da (Gâya).
(21)
U-ran huy-hó (Ouralvilva)
(22)
A-la-ra (Alâra)
(23)
Ú-ra (Oudra).
|
Round
Rajagriha five fair hills arose,
Guarding
King Bimbasâra's sylvan town:
Baibhâra
green with lemon-grass and palms;
Bipulla,
at whose foot thin Sarsuti
Steals
with warm ripple; shadowy Tapovan,
Whose
steaming pools mirror black rocks, which ooze
Sovereign
earth-butter from their rugged roofs
South-east
the vulture-peak Sailâgiri;
And
eastward Ratnagiri, hill of gems.
A
winding track, paven with footworn slabs,
Leads
thee by safflower fields and bamboo tufts
Under
dark mangoes and the jujube-trees,
Past
milk-white veins of rock and jasper crags,
Low
cliff and flats of jungle-flowers, to where
The
shoulder of that mountain, sloping west,
O'erhangs
a cave with wild figs canopied.
Lo!
thou who comest thither, bare thy feet
And
bow thy head! for all this spacious earth
Hath
not a spot more dear and hallowed. Here
Lord
Buddha sate the scorching summers through,
The
driving rains, the chilly dawns and eves;
Wearing
for all men's sakes the yellow robe,
Eating
in beggar's guise the scanty meal
Chance-gathered
from the charitable; at night
Couched
on the grass, homeless, alone; while yelped
The
sleepless jackals round his cave, or coughs
Of
famished tiger from the thicket broke.
By
day and night here dwelt the World-honored,
Subduing
that fair body born for bliss
With
fast and frequent watch and search intense
Of
silent meditation, so prolonged
That
ofttimes while he mused -- as motionless
As
the fixed rock his seat -- the squirrel leaped
Upon
his knee, the timid quail led forth
Her
brood between his feet, and blue doves pecked
The
rice-grains from the bowl beside his hand.
Thus
would he muse from noontide -- when the land
Shimmered
with heat, and walls and temples danced
In
the reeking air -- till sunset, noting not
The
blazing globe roll down, nor evening glide,
Purple
and swift, across the softened fields;
Nor
the still coming of the stars, nor throb
Of
drum-skins in the busy town, nor screech
Of
owl and night-jar; wholly wrapt from self
In
keen unravelling of the threads of thought
And
steadfast pacing of life's labyrinths.
Thus
would he sit till midnight hushed the world
Save
where the beasts of darkness in the brake
Crept
and cried out, as fear and hatred cry,
As
lust and avarice and anger creep
In
the black jungles of man's ignorance.
Then
slept he for what space the fleet moon asks
To
swim a tenth part of her cloudy sea;
But
rose ere the False-dawn, and stood again
Wistful
on some dark platform of his hill,
Watching
the sleeping earth with ardent eyes
And
thoughts embracing all its living things,
While
o'er the waving fields that murmur moved
Which
is the kiss of Morn waking the lands,
And
in the east that miracle of Day
Gathered
and grew. At first a dusk so dim
Night
seems still unaware of whispered dawn,
But
soon -- before the jungle-cock crows twice --
A
white verge clear, a widening, brightening white,
High
as the herald-star, which fades in floods
Of
silver, warming into pale gold, caught
By
topmost clouds, and flaming on their rims
To
fervent golden glow, flushed from the brink
With
saffron, scarlet, crimson, amethyst;
Whereat
the sky burns splendid to the blue,
And,
robed in raiment of glad light, the King
Of
Life and Glory cometh!
Then
our Lord,
After
the manner of a Rishi, hailed
The
rising orb, and went -- ablutions made --
Down
by the winding path unto the town;
And
in the fashion of a Rishi passed
From
street to street, with begging-bowl in hand,
Gathering
the little pittance of his needs.
Soon
was it filled, for all the townsmen cried,
"Take
of our store, great sir!" and "Take of ours!"
Marking
his godlike face and eyes enwrapt;
And
mothers, when they saw our Lord go by,
Would
bid their children fall to kiss his feet,
And
lift his robe's hem to their brows, or run
To
fill his jar, and fetch him milk and cakes.
And
ofttimes as he paced, gentle and slow,
Radiant
with heavenly pity, lost in care
For
those he knew not, save as fellow-lives,
The
dark surprised eyes of some Indian maid
Would
dwell in sudden love and worship deep
On
that majestic form, as if she saw
Her
dreams of tenderest thought made true, and grace
Fairer
than mortal fire her breast. But he
Passed
onward with the bowl and yellow robe,
By
mild speech paying all those gifts of hearts,
Wending
his way back to the solitudes
To
sit upon his hill with holy men,
And
hear and ask of wisdom and its roads.
***
Midway
on Ratnagiri's groves of calm,
Beyond
the city, but below the caves,
Lodged
such as hold the body foe to soul,
And
flesh a beast which men must chain and tame
With
bitter pains, till sense of pain is killed,
And
tortured nerves vex torturer no more --
Yogis
and Brahmacharis, Bhikshus, all
A
gaunt and mournful band, dwelling apart.
Some
day and night had stood with lifted arms,
Till
-- drained of blood and withered by disease --
Their
slowly-wasting joints and stiffened limbs
Jutted
from sapless shoulders like dead forks
From
forest trunks. Others had clenched their hands
So
long and with so fierce a fortitude,
The
claw-like nails grew through the festered palm.
Some
walked on sandals spiked; some with sharp flints
Gashed
breast and brow and thigh, scarred these with fire,
Threaded
their flesh with jungle thorns and spits,
Besmeared
with mud and ashes, crouching foul
In
rags of dead men wrapped about their loins.
Certain
there were inhabited the spots
Where
death-pyres smouldered, cowering defiled
With
corpses for their company, and kites
Screaming
around them o'er the funeral-spoils:
Certain
who cried five hundred times a day
The
names of Shiva, wound with darting snakes
About
their sun-tanned necks and hollow flanks
One
palsied foot drawn up against the ham.
So
gathered they, a grievous company;
Crowns
blistered by the blazing heat, eyes bleared,
Sinews
and muscles shrivelled, visages
Haggard
and wan as slain men's, five days dead;
Here
crouched one in the dust who noon by noon
Meted
a thousand grains of millet out,
Ate
it with famished patience, seed by seed,
And
so starved on; there one who bruised his pulse
With
bitter leaves lest palate should be pleased;
And
next, a miserable saint self-maimed,
Eyeless
and tongueless, sexless, crippled, deaf;
The
body by the mind being thus stripped
For
glory of much suffering, and the bliss
Which
they shall win -- say holy books -- whose woe
Shames
gods that send us woe, and makes men gods
Stronger
to suffer than Hell is to harm.
Whom
sadly eying spake our Lord to one,
Chief
of the woe-begones: "Much-suffering sir!
These
many moons I dwell upon the hill --
Who
am a seeker of the Truth -- and see
My
brothers here, and thee, so piteously
Self-anguished;
wherefore add ye ills to life
Which
is so evil?"
Answer
made the sage:
"
Tis written if a man shall mortify
His
flesh, till pain be grown the life he lives
And
death voluptuous rest, such woes shall purge
Sin's
dross away, and the soul, purified,
Soar
from the furnace of its sorrow, winged
For
glorious spheres and splendor past all thought."
"Yon
cloud which floats in heaven," the Prince replied,
"Wreathed
like gold cloth around your Indra's throne,
Rose
thither from the tempest-driven sea;
But
it must fall again in tearful drops,
Trickling
through rough and painful water-ways
By
cleft and nullah and the muddy flood,
To
Gunga and the sea, wherefrom it sprang.
Know'st
thou, my brother, if it be not thus,
After
their many pains, with saints in bliss?
Since
that which rises falls, and that which buys
Is
spent; and if ye buy heav'n with your blood
In
hell's hard market, when the bargain's through
The
toil begins again!"
"It
may begin,"
The
hermit moaned. "Alas! we know not this,
Nor
surely anything; yet after night
Day
comes, and after turmoil peace, and we
Hate
this accursed flesh which clogs the soul
That
fain would rise; so, for the sake of soul,
We
stake brief agonies in game with Gods
To
gain the larger joys."
"Yet
if they last
A
myriad years," he said, "they fade at length,
Those
joys; or if not, is there then some life
Below,
above, beyond, so unlike life
It
will not change? Speak! do your Gods endure
For
ever, brothers?"
"Nay,"
the Yogis said,
"Only
great Brahm endures: the Gods but live."
Then
spake Lord Buddha: "Will ye, being wise,
As
ye seem holy and strong-hearted ones,
Throw
these sore dice, which are your groans and moans,
For
gains which maybe dreams, and must have end?
Will
ye, for love of soul, so loathe your flesh,
So
scourge and maim it, that it shall not serve
To
bear the spirit on, searching for home,
But
founder on the track before nightfall,
Like
willing steed o'er-spurred? Will ye, sad sirs,
Dismantle
and dismember this fair house,
Where
we have come to dwell by painful pasts;
Whose
windows give us light -- the little light --
Whereby
we gaze abroad to know if dawn
Will
break, and whither winds the better road?"
Then
cried they, "We have chosen this for road
And
tread it, Rajaputra, till the close
Though
all its stones were fire -- in trust of death.
Speak,
if thou know'st a way more excellent;
If
not, peace go with thee!"
Onward
he passed,
Exceeding
sorrowful, seeing how men
Fear
so to die they are afraid to fear,
Lust
so to live they dare not love their life,
But
plague it with fierce penances, belike
To
please the Gods who grudge pleasure to man;
Belike
to balk hell by self-kindled hells;
Belike
in holy madness, hoping soul
May
break the better through their wasted flesh.
"Oh,
flowerets of the field!" Siddârtha said,
"Who
turn your tender faces to the sun --
Glad
of the light, and grateful with sweet breath
Of
fragrance and these robes of reverence donned
Silver
and gold and purple -- none of ye
Miss
perfect living, none of ye despoil
Your
happy beauty. Oh, ye palms! which rise
Eager
to pierce the sky and drink the wind
Blown
from Malaya and the cool blue seas,
What
secret know ye that ye grow content,
From
time of tender shoot to time of fruit,
Murmuring
such sun-songs from your feathered crowns?
Ye,
too, who dwell so merry in the trees --
Quick-darting
parrots, bee-birds, bulbuls, doves --
None
of ye hate your life, none of ye deem
To
strain to better by foregoing needs!
But
man, who slays ye -- being lord -- is wise,
And
wisdom, nursed on blood, cometh thus forth
In
self-tormentings!"
While
the Master spake
Blew
down the mount the dust of pattering feet,
White
goats and black sheep winding slow their way,
With
many a lingering nibble at the tufts,
And
wanderings from the path, where water gleamed
Or
wild figs hung. But always as they strayed
The
herdsman cried, or slung his sling, and kept
The
silly crowd still moving to the plain.
A
ewe with couplets in the flock there was,
Some
hurt had lamed one lamb, which toiled behind
Bleeding,
while in the front its fellow skipped,
And
the vexed dam hither and thither ran,
Fearful
to lose this little one or that;
Which
when our Lord did mark, full tenderly
He
took the limping lamb upon his neck,
Saying,
"Poor woolly mother, be at peace!
Whither
thou goest I will bear thy care;
'Twere
all as good to ease one beast of grief
As
sit and watch the sorrows of the world
In
yonder caverns with the priests who pray."
"But,"
spake he to the herdsmen, "wherefore, friends!
Drive
ye the flocks adown under high noon,
Since
'tis at evening that men fold their sheep?"
And
answer gave the peasants: "We are sent
To
fetch a sacrifice of goats five score,
And
five score sheep, the which our Lord the King
Slayeth
this night in worship of his gods."
Then
said the Master: "I will also go!"
So
paced he patiently, bearing the lamb
Beside
the herdsmen in the dust and sun,
The
wistful ewe low-bleating at his feet.
Whom,
when they came unto the river-side,
A
woman -- dove-eyed, young, with tearful face,
And
lifted hands -- saluted, bending low:
"Lord!
thou art he," she said, "who yesterday
Had
pity on me in the fig-grove here,
Where
I live lone and reared my child; but he
Straying
amid the blossoms found a snake,
Which
twined about his wrist, whilst he did laugh
And
tease the quick forked tongue and opened mouth
Of
that cold playmate. But, alas! ere long
He
turned so pale and still, I could not think
Why
he should cease to play, and let my breast
Fall
from his lips. And one said, 'He is sick
Of
poison;' and another, 'He will die.'
But
I, who could not lose my precious boy,
Prayed
of them physic, which might bring the light
Back
to his eyes; it was so very small
That
kiss-mark of the serpent, and I think
It
could not hate him, gracious as he was,
Nor
hurt him in his sport. And some one said,
'There
is a holy man upon the hill --
Lo!
now he passeth in the yellow robe
Ask
of the Rishi if there be a cure
For
that which ails thy son.' Whereon I came
Trembling
to thee, whose brow is like a god's,
And
wept and drew the face cloth from my babe,
Praying
thee tell what simples might be good.
And
thou, great sir! didst spurn me not, but gaze
With
gentle eyes and touch with patient hand;
Then
draw the face-cloth back, saying to me,
'Yea!
little sister, there is that might heal
Thee
first, and him, if |