THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
ÁNH SÁNG Á CHÂU - THE LIGHT OF ASIA
Tác giả: Sir Edwin Arnold
Pháp dịch: L. Sorg - Việt dịch: Đoàn Trung Còn 
.
  Phần thứ sáu - GIÁC NGỘ Book the Sixth - Enlightenment
Ở theo lưu vực Hằng hà,
Có ngàn vườn tược cùng là non xanh,
Rạch sông uốn khúc chảy quanh,
Cây cao bóng mát đơm cành quả, hoa.
Có rừng tên gọi Già-da(1),
Và miền đỏ thắm Bà-rà-bà sơn (2);
Sông Phan-gu (3) nước trong ngần,
Lượn theo vùng ấy, chảy gần Ưu-Lâu (4) ;
Chốn nầy là cảnh hoang vu,
Bụi gai động cát lù lù đó đây.
Cuối cùng một cảnh rừng cây,
Tàng cao, lá sậm hiện ngay giữa trời,
Một con rạch ẩn dưới chồi,
Sen xanh lẫn trắng bời bời cá, quy.
Dựa bờ, thôn Xớ-ná-ni (5),
Nhà tranh yên ổn, bao vây những dừa;
Dân làng chất phát có thừa,
Quanh năm chuyên việc cày bừa ruộng nương.

***

Miền này yên tĩnh đủ đường,
Ở nơi rừng vắng Phật thường nghĩ suy.
Người đời trăm mối khổ nguy,
Mạng căn nhiều lối, kinh nghì nhiều môn.
Xét xem cầm thú sinh tồn,
Gẫm trong thanh tĩnh chứa dồn huyền linh.
Ở nơi cảnh giới u minh,
Có nhiều bí mật phải phanh cho tường;
Nghĩ cho cuộc sống bình thường,
Là dây liên lạc hai đường viễn khơi (6):
Tỷ như cầu móng trên trời,
Nối liền hai áng mây lài hai bên;
Bỗng đâu nhập cõi vô biên,
Các màu cực đẹp tự nhiên rã lìa.
Tháng này rồi đến tháng kia,
Ở trong rừng ấy, sớm khuya tham thiền.
Mảng ngồi lẳng lặng triền miên ,
Giờ ăn đã tới, Ngài quên nhiều lần.
Có khi ra khỏi định thần,
Bát không để đó, tìm ăn sơ sài.
Trái rừng vài quả bên Ngài ,
Khỉ quơ, két mổ, rụng rơi khỏi cành.
Vậy nên duyên úa dáng xanh,
Nhiệt thành tuyệt thực thân hình mòn hao ;
Lần hồi mất vẻ thanh tao,
Băm hai tướng quý chẳng sao lộ bày.
Trẻ trung Hoàng tử mọi ngày,
Bây giờ còn lại xác gầy đáng thương!
Tỷ như chiếc lá héo vàng,
Chẳng còn giữ vẻ mịn màng tươi xanh.

***

Một hôm đuối mất sức mình,
Ngã ra trên đất như hình tử thi;
Hơi thở dứt, mạch ngừng đi,
Toàn thân lợt lạt, tứ chi chẳng dời,
Một chàng mục tử đến nơi,
Thấy Ngài nhắm mắt, nằm dài như đau;
Trời giờ ngọ chiếu xuống đầu,
Chàng đi bẻ nhánh dụm đâu che Người.
Sẵn đem sữa nóng còn tươi,
Bóp ra từng giọt nhểu môi cho Ngài.
Tránh ra chẳng đụng hình hài,
E thân hạ tiện phạm đời thanh cao (7).
Kinh rằng những nhánh dụm vào,
Tức thì hoa nở, mọc cao, trái đầy;
Bạc vàng xen lẫn lùm cây,
Trông như trướng gấm khi vua ngự hành.
Mục đồng lễ kính chí thành,
Tưởng Ngài là bực Thánh linh cõi Trời.
Thế Tôn vừa lúc tỉnh lai,
Ngài lần ngồi dậy muốn xơi sữa bò,
Mục đồng phúc đáp đắn đo:
"Bạch Ngài! không thể tiện cho sữa này,
Thủ-đà (8) giai cấp tiện ti,
Đụng Ngài, lo sợ nhiễm lây thân lành. "
Thế Tôn phân giải đành rành:
"Nhu cầu, trắc ẩn tạo thành bà con,
Sang, hèn máu vẫn màu son,
Mặn là nước mắt, há toan lựa dòng?
Ai sanh trán sẵn điểm hồng (9),
Và nơi cổ ngực lòng thòng dây linh?
Công bằng thì được thăng vinh,
Gây điều tệ ác, bị khinh, đọa đày.
Em cho ta sữa hôm nay,
Chừng ta thành Đạo em lây hưởng nhờ. "
Chàng nghe vui khoái lòng tơ,
Hai tay bưng sữa mà đưa Ngài dùng.

***

Một hôm có một đám đông,
Những trang thiếu nữ chung cùng đi qua;
Áo quần lòe loẹt tố sa,
Ấy là vũ nữ múa ca đền thờ.
Mấy chàng nhạc sĩ theo đưa,
Chàng này vỗ trống, cặm cờ lông công;
Chàng kia thổi địch hiệp cùng,
Một chàng trỗi nhịp tơ đồng ba dây.
Mấy cô theo lối đường mây,
Từ trên gò nổng xuống vầy lễ vui;
Dưới chân, lục lạc khua hồi,
Trên tay, vòng xuyến từng hồi chạm kêu.
Dây đờn trỗi nhịp với tiêu,
Mấy cô vũ nữ họa theo ít bài:
"Tiếng đàn khởi bản thanh bai,
Tức thời khiêu vũ hòa hài thêm vui;
Lên cung, dùn, thẳng vừa hồi,
Ắt làm thích thú khách ngồi dự xem. 
So cung, thẳng lắm chẳng êm,
Dây đồng phải đứt, nhạc thêm bất thành;
Dây dùn thì lại mất thinh,
Giữ nơi Trung Đạo mới tinh sắt cầm."
Lời ca vũ nữ bỗng trầm,
Hòa cùng tiếng địch, tiếng cầm bay xa;
Dường như hồ điệp phớt qua,
Lan tràn khoảng trống rừng già đường truông,
Nào dè giọng hát khéo luồn,
Thánh nhơn ngồi tĩnh nghe luôn đủ bài.

***

Nhạc đoàn đi phía trước Ngài,
Thế Tôn ngước trán hùng oai phán rằng:
"Đây là một chuyện thường hằng:
Kẻ ngu thuyết dạy cho hàng trí khôn.
Cứu đời, muốn trỗi nhạc ngôn,
Nhưng ta lại kéo thẳng chồn sợi dây.
Bây giờ Chơn lý hiển bày,
Mắt ta mờ đục nào hay thấy tường?
Sức ta tới mức cùng đường,
Chính là phải lúc ta đương cần dùng.
Ước mong có kẻ ứng cung,
Nếu ta thác sớm đời không hưởng gì."

***

Ở trong xóm Xớ-ná-ni,
Có người thôn trưởng hành vi hiền từ.
Bò dê, tiền bạc có dư,
Thường hay bố thí cho chư bần hàn. 
Cả nhà vui vẻ bằng an,
Tu-Đà-Xa (10) vợ khôn ngoan mỹ miều,
Hiền lương trung hậu đáng yêu,
Nói lời êm dịu, có chiều cao vinh.
Thật là hạt ngọc tốt lành,
Thờ chồng trọn đạo, gia đình yên vui.
Chỉ còn một nỗi buồn thôi :
Chưa sanh trai trẻ tiếp mồi lửa hương.
Nàng hay chiêm bái điện đường,
Lục-mi (11) thần nữ nàng thường cúng dâng.
Linh-gam (12) đá dựng to vầng,
Nhiều đêm trăng tỏ nàng tầng đến nơi,
Đi quanh thần đá kính mời:
Hương hoa, cơm bánh đồng thời cầu con.
Nàng còn cúng vái cơm ngon,
Đồ ăn mỹ vị bát toàn vàng y.
Hiến cho thần chúa rừng cây,
Nếu nàng sanh hạ hài nhi nối dòng.
Bây giờ đã được thỏa lòng,
Con trai ba tháng nằm trong bọc nàng.
Tu-Xà-Đa bước vội vàng, 
Vào rừng cúng lễ Thần hoàng tạ ơn.
Tay nầy bồng trẻ báu trân,
Tay kia vịn lấy thức ăn trên đầu.
Ra-Đa (13) là một gái hầu,
Đã đi từ trước quét lau đàn nầy.
Quấn dây thắm trọn thân cây,
Rồi nàng đi đến trình bày chủ nhơn:
"Thưa cô! kìa vị linh thần,
Hiện ra ngồi đó, tay chân kiết già.
Quanh đầu ánh sáng chói lòa,
Vẻ người cao lớn, hiền hòa anh linh.
Phúc thay cô cháu chúng mình,
Gặp hàng tiên thánh thình lình như nay! "
Ngỡ là Thần chúa rừng cây, 
Tu-Xà-Đa sợ, lạy quỳ vái van:
"Thánh linh sức rộng phước ban,
Nay Ngài hiện lại, chúng con thấy tường ;
Xin Ngài nhận lễ tầm thường,
Thức ăn bằng sữa, trắng dường tuyết đông. "
Múc đồ vào bát vừa xong, 
Rưới lên tay Phật nước hồng thơm tho. 
Ngài ngồi lẳng lặng ăn no,
Tu-Xà cung kính, đứng cho xa Ngài.
Thức ăn công hiệu không hai ,
Làm cho sanh lực phục lai tức thì.
Đêm ngày kiêng cữ bấy nay,
Chỉ là giấc mộng, còn gì hại đâu?
Thân tráng kiện, tâm vững mầu, 
Quyết còn cất cánh, há cầu nghỉ yên?
Tỷ như chim chán cảnh hèn, 
Bỏ lìa sa mạc, làm quen giang hà. 
Mặc tình lượn lại bay qua,
Nước trong tẩy sạch cổ và đầu chim.
Thấy Ngài mặt mũi trang nghiêm ,
Nàng càng tôn kính, hỏi thêm mấy lời:
"Phải chăng Thiên chủ là Ngài?
Lễ con hiến cúng hợp xơi chăng là? "
Thế Tôn phán hỏi Tu-Xà:
"Thức ăn đem đó vốn là món chi? "
Tu-Xà-Đa bạch tức thì:
"Chuồng bò có sẵn đủ bầy trăm con,
Thảy đều đẻ, sữa căng tròn, 
Tự tôi nặn lấy, nuôi còn năm mươi;
Năm mươi bò trắng sữa tươi, 
Tôi dùng bổ dưỡng hai mươi lăm bò.
Kế dùng sữa ấy đem cho,
Mười hai bò khác uống no nê lòng,
Rồi đem sữa ấy chuyển dùng,
Dưỡng nuôi sáu lứa đẹp trong các bầy.
Cuối cùng nặn sữa bò nầy,
Nấu trong nồi bạc, gia vì chất thơm,
Chiên đàn trộn lộn với cơm,
Hiệp thành một món mà đơm cúng dường.
Trước tôi phát nguyện rõ ràng,
Nếu sanh nam tử, liệu lường lễ chay.
Nay tôi có đứa con này,
Đời tôi hạnh phúc đủ đầy vậy thôi. "

***

Thế Tôn dở nhẹ vải nôi,
Rờ đầu đứa bé, miệng vui phán rằng:
"Nguyện ngươi phước lạc, an bằng,
Nguyện cho đứa trẻ đời hằng nhẹ lo.
Công ngươi giúp mỗ rất to,
Ta người đồng loại, chớ cho là Thần.
Vốn ta Thái tử anh quân,
Nay làm lữ khách dò lần Quang minh.
Sáu năm khổ nhọc tu hành, 
Cũng chưa nhìn thấy ánh linh chói  lòa.
Sẽ tầm cho đặng đó mà,
Ánh kia vừa lố, thân ta ngã nhào,
Khỏe nhờ thực phẩm nàng trao,
Đồ ăn rất bổ vì vào nhiều thân.
Cũng như sanh tử lắm lần, 
Người thêm tấn hóa, bớt phần u mê.
Phải chăng nàng những chấp nê,
Cuộc đời đủ sức tạo bề sướng vui?
Sống đời, tình ái thế thôi,
Chỉ hai món ấy đủ rồi phải chăng? "

***

Tu-Xà-Đa đáp lại rằng:
"Bạch Ngài! bụng dạ thiếp hằng nhỏ nhoi,
Đám mưa thưa thớt hẹp hòi,
Làm cho hoa huệ nước oi đầy tràn.
Chồng vui ve, trẻ cười ran,
Nhà thường hòa ái, phước ban đủ rồi. 
Tháng ngày thích thú lần trôi, 
Lo tròn nội trợ là tôi thỏa lòng.
Trời lố mọc, tôi thức xong,
Nguyện cầu, dâng cúng chư vong thánh thần.
Sửa vườn, tưới nước, vun phân,
Kêu người ăn ở chia phân việc làm.
Giữa trưa chồng thiếp đi nằm,
Đầu kê bụng vợ đương cầm quạt quơ.
Trời chiều phẳng lặng như tờ, 
Vợ chồng đoàn tụ, thiếp đưa bánh mời.
Dưới đèn chong ánh sao trời, 
Nguyện cầu, chuyện vãn rồi thời ngủ nghê.
Sống đầy hạnh phúc, phải lề,
Tôi còn roi chút trai kề lửa hương.
Trong Kinh có dạy rõ ràng:
Ai trồng cây mát che đàng mà đi,
Cùng là đào giếng cứu nguy, 
Sanh trai tuấn tú, thác thì siêu thăng.
Tôi tin Kinh điển lẽ bằng,
Vốn không trí tuệ cho bằng Thánh xưa;
Các Ngài biết rõ huyền cơ, 
Luận đàm đạo lý với chư linh thần.
Tôi nay suy xét cân phân,
Thiện thì thiện đến, ác lần ác theo.
Sự tình như vậy thảy đều,
Xưa nay khắp chốn một chiều như trên.
Cội lành, trái ngọt mọc lên,
Cây loài độc địa, quả nên đắng chằng.
Tôi xem: dữ tạo thù hằn,
Làm lành vầy bạn, nhẫn bằng yên thân.
Đến khi mình tách cõi trần,
Cũng là có đủ phước phần như nay,
Biết đâu càng được thêm hay,
Lúa gieo một hột, sanh rày năm mươi.
Trong rừng cây nhỏ yếu lười,
Ẩn hoa chiêm-bặc, sắc tươi trắng vàng.
Có khi sự khổ đa mang, 
Người không nhẫn nỗi lang thang bụi hồng. 
Tỷ như con thiếp mạng chung,
Tim này sẽ nát, mà không tiếc gì!
Bấy giờ hôn hít tử thi, 
Rồi theo phu tướng mà đi khắp cùng.
Cam lòng giữ vẹn chữ tòng,
Chờ chồng thác trước mới mong tới mình.
Một mai nếu mất bạn tình,
Tôi lên giàn hỏa, hai hình đồng thiêu.
Kinh xưa có chép dạy điều:
Phụ nhơn tử tiết mà theo với chồng,
Tình yêu như vậy đắc công,
Muôn năm chồng hưởng phước trong Thiên đường.
Cho nên lòng thiếp vui thường,
Không lo, không sợ, xót thương nghèo hèn,
Làm lành tùy phận nhỏ nhen,
Tuân theo pháp luật, giữ bền lạc quan."
Thế Tôn ứng tỏ lời ban;
"Ngươi cho bài học cả ngàn vị sư;
Dầu cho giản dị danh từ,
Nhưng còn thông rõ hơn chư khóa trình.
Thà ngươi không có học hành,
Miễn là nghĩa vụ, công bình vẹn xong.
Sống đời như một cụm bông,
Bóng ngươi che mát, giữ trông trẻ nầy.
Ánh quang Chơn lý gắt gay,
Không dùng chiếu diệu lá cây mịn màng;
Phải chờ nhiều thuở khác sang,
Lá hoa sẽ trổ vinh quang dưới trời.
Ngươi tôn ta bực đức tài,
Ta nay kính trọng ngươi thời hảo tâm;
Ngươi thông đường lối chẳng lầm,
Như chim câu nọ xa xăm biết về.
Giúp người hy vọng giữ bề,
Ngươi còn chỉ cách tu tề chí cao.
Nguyện ngươi được phước dồi dào,
Nguyện ta thành đạt công lao cứu trần!
Vốn ngươi tưởng mỗ là Thần;
Xin ngươi hộ niệm ân cần cho ta."

***

Nàng rằng: "Tôi rất thiết tha
Cầu Ngài Đạo nghiệp cao xa mau thành!"
Nàng vừa nhìn đứa con mình,
Nó đưa hai cánh hoan nghinh đức Thầy!
Bấy giờ, Ngài khoẻ khoắn ngay,
Nhờ dùng món bổ vừa dâng của nàng. 
Ăn xong, đứng dậy gọn gàng,
Ngài đi đến một cội tàng lớn kia;
 Cây nầy, sau gọi Bồ-Đề (14)
Tươi xanh muôn thuở chứng ghi Đạo Lành.
Cội cây, Chơn lý viên thành,
Đó là tiền định sẵn dành Thánh ngôi.
Đức Thầy vẫn biết vậy rồi,
Nghiêm trang bước tới, sắp ngồi dưới cây.
Ớ nầy trần thế đó đây!
Tỏ niềm vui thoả vì Thầy đến nơi!
Tàng cao giăng rộng trên khơi,
Rễ như cột trụ điện đài thông nhau;
Đất đai cảm động Lẽ mầu,
Trổ sanh hoa đẹp, cỏ màu xanh tươi.
Cành cây hạ xuống che Người,
Gió sông thổi tới, đượm rười mùi sen.
Cọp, beo, heo, lộc lẫn xen,
Đêm nay hòa thuận, nhìn xem mặt Ngài.
Một con rắn độc hiện lai,
Tỏ niềm cung kính mà quơi cái đầu.
Mấy con bướm đẹp đủ màu,
Lắc lư đôi cánh, quạt hầu Thế-tôn.
Chim diều đánh rớt mồi ngon,
Sóc rằn chuyền nhánh, ngó dòm Như lai.
Chim hoành hoạch dựa ổ dài,
Kêu lên vui vẻ, chào Ngài Thích Ca.
Giống bay, giống chạy xướng ca,
Đến loài bò lết cũng là hân hoan.
Dưới mặt đất, trên không gian,
Hòa đồng tiếng hát, ngân loan mấy lời:
"Kính chào Cứu thế Thương đời!
Giận, Kiêu, Dục, Sợ, Nghi ngờ dẹp lui!
Hiến thân cho thế hẳn rồi,
Vậy Ngài bước tới mà ngồi Cội cây;
Thế trần hộ niệm Ngài đây,
Chúng nhờ đức Phật dứt dây khổ nàn.
Ngài nên chinh phục hoàn toàn!
Nay là đêm chót thế gian trông chờ!"

***

 Màn đêm vừa phủ bụi mờ,
Cội cây đại thọ bấy giờ ngồi yên.
Ma-vương rất đổi ưu phiền,
Biết Ngài là Phật tới phiên đắc thành;
Ngài toan giải thoát chúng sanh,
Ra đi cứu độ hữu-tình trần ai.
Ma-vương liền phát lệnh sai
Âm binh, quỉ-mỵ các nơi tụ về.
Trích-Na, Ra-Gá, Ra-ti (15),
Các đoàn mê dục, ngu si, tham tàn,
Những phường u-ám, nhát gan,
Chúng sanh ghét Phật, mưu toan bất tường.
Dầu ai trí huệ phi thường,
Cũng không biết được chiến trường ra sao.
Quỷ ma dùng cách thế nào,
Đêm nay dẹp phá Lý cao Phật-đà?
Có khi giữa cuộc bão sa,
Sấm vang, sét giáng, chớp lòa bao giăng,
Dường như chỉa nhọn nhiều răng,
Bầu trời đỏ rực đứt phăng đủ chiều.
Khi dùng mưu chước mỹ miều,
Chúng cho xuất hiện sắc nhiều cảm mê.
Trỗi câu hát xướng tình huê,
Đem lời rủ rỉ dựa kề gợi duyên!
Có khi hứa hẹn oai quyền,
Hoặc cho Chơn-lý là phiền luống công.
Giặc ma như vậy ở trong,
Hay là cảnh tượng ngoài vòng thân tâm?
Các ngài thử xét thậm thâm,
Tôi theo Kinh cổ chép cầm thi ca.

***

 Mười điều tội lỗi hiện ra,
Có nhiều thế lực, Vua Ma kết bè.
Tội đầu, Vị-ngã (16) chẳng e,
Miễn mình cao vượt, há dè đến ai!
Xướng rằng: "Ngài tới Phật đài,
Mặc cho kẻ khác miệt mài âm u,
Miễn Ngài đầy đủ công tu,
Mau lên Thiên Thượng mặc dầu hưởng Vui."
Phật rằng: "Lẽ đó là tồi,
Bất công đưa lại lôi thôi tai nàn, 
Gạt ta, ngươi chớ có toan,
Hãy đi lừa kẻ chỉ an phận mình."
Tội hai, Nghi-hoặc (17) hẳn đành,
Kề bên tai Phật dỗ dành khúc nôi:
"Việc chi cũng ảnh bào thôi, 
Thấy xa hiểu rộng, than ôi ích gì!
Ngài theo bóng dáng đó chi,
Hãy đi cho khỏi chốn nầy còn hơn.
Đành cam, chẳng cứu người trần,
Làm sao cản được xa luân quay hoài?"
Phật rằng: "Nghi-hoặc chàng ơi!
Gã là nghịch tặc tinh bai hại người!
Ngụy tài đó đến vẹn mười,
Ta không bị gạt bởi ngươi đâu mà."
Chấp nê giới cấm (18) tội ba,
Tín tâm mù quáng, mê sa lạy quì;
Hiện thân phụ nữ một khi,
Có hai chìa khóa cầm tay lù lù:
Chìa nầy đóng cửa Ngục tù,
Chìa kia mở nẻo lên khu Thiên đường.
Nàng rằng: "Nếu đó can trường,
Dẹp như Kinh Kệ, phế hàng Thần Tiên,
Bỏ đi tượng ảnh trong đền,
Phá luôn tôn giáo từng phen hộ trì."
Phật rằng: "Ngươi xúi bỏ đi, 
Chẳng qua bỏ cái hình hay đổi dời:
Nhưng còn Chơn lý đời đời,
Vậy ngươi mau trở vào nơi tối mò."
Thứ tư, một gã thử dò,
Có tuồng dạn dĩ, ra trò lẳng lơ;
Ca-ma Vua cả tình tơ (19)
Tiên, Người kính phục, trông chờ duyên may.
Tươi cười, bước đến dưới cây,
Cung vàng cầm sẵn, kết dây hoa hồng;
Mang theo dục tiễn lòng thòng,
Mũi là năm ngọn lửa nồng đốt tâm.
Quanh chàng, trong khoảng sơn lâm,
Nhiều đoàn mỹ nữ mày tằm, mắt xinh,
Tay trổi nhạc, miệng ca tình,
Đêm thanh lẳng lặng nghe trình bản hay;
Chị Hằng, tinh tú ngừng xây,
Lắng nghe giọng hát tỏ bày, nguyệt hoa.
Các nàng cám dỗ Phật-đà,
Ca rằng: "Tam giới, đàn bà là hơn;
Mông thơm ngát, ngực hoa hờn,
Vóc mình đề đạm, cân phân thấy thèm,
Máu sôi vì mảnh thân em,
Lòng chàng nên chuộng, mà xem tót vời;
Thiên đường hẳn thật là nơi,
Người trần vui thỏa phước đời như Tiên.
Dầu cho lao khổ há phiền, 
Miễn là thú hứng liền liền đổi thay!
Khi cùng bạn ngọc choàng tay,
Trăm ngàn khổ não cũng bay mất rồi!
Một hơi thở sướng đủ thôi,
Trần-gian phó mặc, kề môi với nàng."
Miệng ca, tay múa dịu dàng,
Mắt ngời tình tứ, môi hường cười duyên.
Khiêu dâm vũ khúc tiếp liền,
Trích đôi hán ngọc, chơn tiên, tay mềm,
Dường như hoa lú lom lem,
Lộ màu, nhưng nhụy còn kèm ở trong 
Đêm thanh vũ nữ trổ hồng,
Há còn cảnh sắc mặn nồng hơn đây?
Mỗi cô lần đến cội cây, 
Cô sau càng đẹp, càng gây men tình.
Thưa Rằng: "Tất-Đạt đại huynh,
Em hầu bên bạn, miệng xinh hiến chàng;
Bạn nên nhìn thiếp rõ ràng,
Xuân xanh hương vị em đang vừa thì."
Thế Tôn trí chẳng lung lay,
Ca-ma thấy vậy, quơ cây cung thần.
Cả đoàn vũ nữ lui chân, 
Một hình tuyệt đẹp bước lần tới nơi:
Da-Du hiền nội của Ngài,
Mắt sa giọt thảm, đưa hai tay bầu.
Nàng rên ngọt dịu, ưu sầu,
Kêu tên Thái tử, yêu cầu thở than:
"Thưa Ngài em khổ muôn ngàn,
Xa nhau, em những lệ tràn vì ai!
Nhớ chăng hạnh phúc cả hai,
Cảnh nhà khoái lạc, sông dài Rô-hi ?
Nhiều năm chàng đã ra đi, 
Nay xin trở lại xum vầy với nhau!
Kề môi, dựa má, nghiêng đầu,
Dứt cơn mơ mộng, héo xàu đó đi.
Chàng nên đoái tới thiếp đây,
Vẫn là bạn ngọc những ngày ấp yêu!"
Phật rằng: "Hỡi bóng mỹ miều!
Giả làm hiền nội, đánh liều gạt ta.
 Không đành quở mắng đó a,
Vậy ngươi vội vã lánh xa cho rồi."
Trong rừng, dội tiếng như lôi,
Trọn đoàn  mỹ nữ đều lui gót hài.
Đương khi mưa gió mịt trời,
Tội tình tiếp tục tới nơi đủ mười:
Thứ năm, Sân (20) hiện ra người,
Ngực đầy những rắn bám bươi vú nàng;
Giận nhau hút gió kêu vang,
Xen cùng tiếng chửi rủa quàng chửi xiên.
Nàng Sân sức chẳng đáng kiêng,
Thánh nhơn nhìn tới, nàng liền nín ngay;
Rắn kia thun lại tức thì,
Răng tua lưỡi nhọn một khi thụt vào.
Sáu là Luyến Sắc giới (21) cao,
Hiện ra Thiên thượng cảnh nào cũng xuê.
Bảy là Vô-sắc ái (22) kia,
Mối lòng tham trước của bề siêu linh;
Công tu Giải thoát sắp thành,
Nhưng còn mong hưởng Thiên đình vô biên,
Tám là Kiêu-mạn (23) chẳng hiền,
Chín là Tự ái ưa thiên trong mình,
Thứ mười nữ tặc vô minh (24),
Dắc theo một lũ dị hình gớm ghê,
Lết bò, bay nhảy, cà tê,
Cũng như cóc nhái,  dơi kia đen sì.
Vô minh, nữ quái xấu hì,
Màn đêm vì nó, càng dày mịt thêm;
Núi non rúng động dưới thềm,
Gió gào, mây lủng, mưa đêm dầm dề.
Sao băng, đất động bốn bề,
Bầu trời chớp nháng, tiếng ghê vang rền:
Hăm he, nguyền rủa, kêu rên,
Quỉ thần Hắc-ám ứng lên phá Thầy.
         Phật-đà chẳng kể đếm chi,
Ngài ngồi an tĩnh, đức dày chở che ;
Giữ cơn giông tố nặng đè,
Cây Bồ-đề vẫn không hề động diêu,
Lá êm chiếu ánh đều đều, 
Cũng như những buổi trời chiều trăng trong, 
Hét la, chấn động hãi hùng,
Đạo tràng yên ổn như không việc gì.

***

Canh ba, cảnh vật thanh di,
Quỷ ma tản lạc, gió lay mát trời. 
Tam-Bồ-đề định (25) tới nơi, 
Thế Tôn nhìn thấy mọi đời đã qua;
Thấy gần rồi lại thấy xa,
Năm trăm năm chục số là tiền-thân.
Tỷ như người nọ đăng sơn,
Quay nhìn cảnh vật dưới chơn của mình:
Đây là đường nhỏ uốn quanh,
Dài theo vực, hố, rừng xanh rậm rì.
Nọ là mấy chỗ bưng, lầy,
Người từng mỏi mệt trở xây dưới bùn.
Kìa là mấy đảnh hãi hùng.
Thiếu đều trật té nhưng vùng gượng lên.
Dưới kia, đồng cỏ tươi bền, 
Động hang, thác nước gần bên ao hồ.
Ruộng đồng mút mắt tít mù,
Đó là khởi điểm lộ đồ non cao.
Lịch trình Phật chẳng khác nào,
Ngoái nhìn những thuở lao nhao, thấp hèn,
Lần lên đời đẹp đáng khen,
Đến nay đạt Cảnh cao ven trọn lành.
Tiền thân gieo giống đã đành,
Hậu thân gặt hái quả mình tạo ra.
Tạm ngừng, rồi lướt đường xa,
Duy trì phước cũ, lỗi qua phải đền;
Mỗi đời, lành tạo việc hên,
Dữ thì chuyện xấu theo bên thân mình.
Chết rồi chẳng dứt sự tình,
Thiếu, thừa tạm gác để dành về sau,
Đó là toán thuật rất mầu,
Phước kia tội nọ ghi sâu chẳng lầm;
Đến khi đời khác tái lâm,
Được, thua, thân, ý do mầm thuở xưa.

***

Nửa đêm khi ấy cũng vừa,
A-bì-nhã (26) trí thừa ưa đắc liền;
Phật nhìn khắp cả các miền :
Địa cầu, nhựt, nguyệt tiếp liên tinh thần;
Vô lường, vô số khó phân,
Thảy đều tuần tự chuyển vần tự nhiên.
Tỷ như biển cả vô biên,
Chứa nhiều hải đảo đứng yên ngàn đời;
Không gian ví tợ biển khơi,
Hoàn cầu như đảo số thời biết bao!
Thế Tôn thấy các ngôi sao,
Cái nào vua chúa, cái nào quan, dân;
Nhỏ hầu theo lớn hưởng ân,
Ở trong vũ trụ, tách phân từng đoàn,
Cùng nhau dìu dắt, bảo toàn,
Đem nguồn ánh sáng chiếu tràn lẫn nhau.
Ngài nhìn thấy cõi xa sâu,
Những ngôi nhỏ bé xây hầu ngôi to,
Cứ theo thế ấy lần dò,
Mà sanh năm, tháng, ngày, giờ phân minh.
Ngài tường tuổi thọ chư tinh,
Đó là kiếp số (27) nhơn tình khó thông.
Các ngôi tinh tú đều đồng :
Sanh rồi Trụ, Dị, Diệt cùng nối nhau.
Phật nhìn từ chỗ chí sâu,
Lần lên đỉnh thượng hoàn cầu mỗi nơi ;
Lặng xem hình thức, chuyển dời,
Pháp nghi chế-định khiến sai âm thầm,
Pháp nầy thế lực cao thâm,
Tối tăm nhờ đó đi tầm quang minh;
Tử rồi thì lại hoàn sinh,
Trống không thành có, sắc hình hiện ra;
Vật chi trước đã xấu xa,
Lần hồi tốt đẹp, sau là toàn chân.
Pháp nầy có trật tự ngầm,
Không ai ban bố, cản ngăn được nào;
Còn hơn các vị Tiên cao,
Toàn quyền, bất biến, không sao luận bàn.
Quyền nầy tạo tác, phá tan, 
Tạo ra trở lại, trị an muôn loài.
Tốt xinh, thành thật, ích đời,
Là ba lẽ Đạo hạp nơi quyền hành.
Thuận theo đạo ấy là lành,
Ví bằng chống nghịch, chẳng thành công đâu.
Côn trùng tùy phận há cầu?
Chim diều xớt thịt để hầu nuôi con;
Sương mai chói, ánh sao tròn,
Cũng đem công tác xen bò việc chung,
Sanh rồi, kế đến tử vong,
Con người phải biết thác trong nhơn nghì;
Ở ăn hạp lễ chúng vì,
Giúp nhơn cứu vật trong khi lâm nàn;
Đừng làm trở ngại Tuần-hoàn,
Chớ ngăn sức tiến muôn ngàn tánh linh.
Lý như vậy, Ngài thấy rành,
Giữa đêm ngồi tĩnh dưới cành cây cao.

***

Canh tư vừa mới bước vào,
Phật tường khổ não mạng nào cũng mang.
Ác tà với khổ dựa nương,
Làm cho đình trệ bước đường chánh chơn.
Tỷ như khói với bợn nhờn,
Làm cho nghẹt lửa trong cơn luyện vàng.
Trước là Khổ đế (27) hiện tuờng,
Khổ là cái bóng, đời thường mang đeo,
Mình đi cái Khổ đi theo,
Khổ mà lìa được, mạng teo dứt liền.
Có nhiều trạng thái Khổ phiền:
Mới sanh, khôn lớn, tật nguyền, già nua.
Yêu thương với lại oán thù,
Vui chơi cực nhọc, được thua, giựt giành,
Không ai khỏi bị khổ hành, 
Nều mình chẳng có Đạo lành đón ngăn.
Hết vui thì khổ lằn-nhằn,
Bề ngoài sung sướng, tâm căn khổ sầu.
Vô-minh, lẽ ấy hiểu sâu,
Tức là xa lánh mưu mô gạt mình;
Chẳng còn yêu thích đời sanh,
Mà người có thể tự mình thoát ly.
Mắt bền chiếu thấy như vầy:
Vô-minh (28) duyên trước, Hành (29)  nầy tới sau;
Thức (30) rồi Danh Sắc (31) nối nhau,
Kế là Lục-Nhập (32) , Xúc (33)  câu, Thọ (34) tình.
Giận, mừng, vui, não, ghét, ganh.
Kế là cái Ái (35) phát sanh, mong cầu :
Thanh nhàn, phước lạc, sang, giàu,
Danh cao, nghiệp cả, gồm thâu nước nhà,
Thiếp thê, tình ái mặn mà,
Món ngon, vật lạ, tố sa, đền đài,
Dòng quí phái, há nhường ai,
Đấu tranh mau dễ hoặc dài thời gian.
Thánh hiền cắt Ái dây oan,
Chẳng tầm, chẳng hại, chẳng toan tranh giành;
Dằn lòng trả nợ tiền sanh,
Dứt trừ phiền não, Nghiệp (36) mình sạch trong;
Bấy giờ người chẳng cần mong,
Cuộc đời sẽ tới ở trong Tiên, Người;
Hoặc là tạo một đời tươi,
Khổ sầu vi tế lần hồi tiêu tan.
Con Đường đi đã vẹn toàn,
Chẳng còn bị gạt bởi đoàn ảo hư ;
Ngũ-ấm (37) há dối nữa ư?
Các dây trói buộc (38) , cắt trừ đã xong,
Chẳng còn luẩn quẩn trong Vòng,
Một phen tỉnh giác, toại lòng, hết mê.
Lớn hơn đại đế ngôi xuê,
Các Trời há dễ sánh bề phước an;
Dứt rồi kiếp sống lầm than,
Được Đời sống mới : Niết bàn viễn miên,
Cảnh nầy khoái lạc hơn Tiên,
Lìa xa khổ não, ưu phiền, đổi thay.

***

Rạng đông bỗng hiện ra ngay,
Chiến công của Phật tô bày hiển vang.
Kìa chòm lửa rực Đông Phương.
Phủng qua những bức nhung trường tối đen.
Sao mai mờ mịt lặn chen,
Những lằn ánh tỏ túa xen nhiều vùng. 
Núi non mờ ám xa trông,
Là nơi chào đón vầng hồng trước tiên.
Trăm hoa còn hãy ngủ yên,
 Dưới lằn gió ấm, mắt hiền hé ra.
Quang minh lẹ bước đến ta,
Lướt theo ngọn cỏ là đà dưới sương ;
Đêm rồi hạt lệ thảm thương,
Sáng nay, sương hóa kim-cương chói ngời.
Ánh vui tỏa khắp đất đai,
Vàng ròng viền ở phía ngoài mây đen.
Tàu dừa như tụi tò-ten,
Cúi mình niềm nở đón khen ánh vàng;
Ánh soi khoảng trống rừng hoang,
Soi dòng sông rộng xem dường bửu châu ;
Chiếu sang nai lộc bụi sâu,
Bảo rằng : Trời đã bắt đầu ban mai.
Ở trong tổ ấm trên khơi,
Chim còn gục mỏ dưới hai cánh mình,
Hào quang phớt mặt, nhủ rành :
"Các con! Hãy ngắm cảnh xinh ban ngày."
Muôn chim khởi sự trình bày,
Bản ca điệu hát đó đây chào mừng :
Tiếng nầy như sáo xa chừng,
Tiếng kia như trổi vang lừng quốc ca ;
Tiếng như đờn ngọt phớt qua,
Tiếng như chát chúa, tiếng la vang rền ;
Có con rủ rỉ êm đềm,
Có con như tỏ nổi niềm ái ân.

***

Đêm rồi Phật thắng Ma quân,
Sáng nay cảnh vật hỷ hân trong ngoài.
Nhứt là ở giữa nhơn loài,
Hiện ra khí hậu hòa hài, thanh cao,
Kẻ hung bạo cất con dao,
Những tay trộm cướp bỏ bao ngọc vàng ;
Kẻ buôn bạc đếm đàng hoàng,
Ác thì hóa thiện, thiện đương trọn lành.
Các vua chiến đấu tạm đình,
Kẻ mang bệnh hoạn cất mình cười reo ;
Mạng chung hơi thở cheo leo,
Hở môi cười nụ, tuân theo số phần.
Bình minh đem lại vẻ hân,
Cảnh vui dường ấy do căn lạ thường.
Da-Du (39) ngồi ở bên giường,
Nét vui bỗng hiện trên gương mặt sầu,
Dường như bà cảm lẽ sâu:
Hết cơn bỉ cực, bắt đầu thới lai.
An vui khắp cả mọi nơi,
Thần linh mừng rỡ tỏ lời xướng ca.
Chư thiên ở cõi cao xa,
Hô rằng: "Công việc hẳn là xong xuôi!"
Thầy tu, dân chúng nối đuôi,
Cho là đại sự mà vui vẻ nhìn.
Từ nơi rừng bụi, lầy sình,
Tấm lòng Bác Ái mặc tình phát huy.
Hươu rằn ăn cỏ chẳng nghi,
Gần bên cọp mẹ, con bầy bú đeo;
Đoàn heo lại với đoàn cheo,
Cùng nhau uống nước quanh theo bờ hồ.
Thỏ nương gọp đá ra vô,
Chim ưng đứng đó mỏ đùa dưới lông.
Rắn nằm hơ dưới ánh nồng,
Da ngời như ngọc, móc không ló ngoài.
Diều ngơ cho cưởng vãng lai,
Cò xanh mơ mộng, cá chơi gần mình.
Chim sâu đậu nghỉ trên cành,
Để cho doàn bướm mặc tình trở xây.
Tinh thần đức Phật cảm lây,
Loài người thú vật, chim bay bốn bề.
Ngài còn ngồi cội Bồ đề,
Thắng rồi giặc Quỷ, phước về Nhơn gian.
Quang minh của Phật lan tràn,
Sánh cùng mặt nhựt, cả ngàn lần hơn.

***

Thế Tôn đứng dậy, hân hân,
Xướng lên tiếng Kệ, xa gần nghe qua:
"Ta đà ở khắp từng nhà,
Mảng tìm gia chủ cất tòa ngục giam;
Đấu tranh cực mãi phải cam,
Nay ta biết được người làm nhà đây.
Người ôi! thôi chớ đắp xây,
Vách tường chứa đựng những bầy khổ đau;
Từ nay, chớ dựng nóc lầu,
Đừng đâm đà nữa, vì đâu còn nhà!
Cột rường gãy hết rồi mà!
Vô minh huyễn hoặc tạo ra môn đình!
Nay ta đến chỗ cao vinh,
Mục tiêu Giải thoát đã tranh đoạt rồi."(40)

Chú Thích
(1) Già-da (Gâya).
(2) Bà-ra-ba (Barabar).
(3) Phan-gu (Phalgou).
(4) Ứu-lâu-tần-loa (Ourouvelaya).
(5) Xớ-ná-ni ( Senânni).
(6) Cuộc sống nối liền cho hai cảnh cách nhau: cảnh thanh tĩnh và cảnh u-minh vừa nói trên.
(7) Bên Ấn-độ theo tục lệ Bà-la-môn, người giai cấp dưới chẳng dám đụng người giai cấp trên, e mình làm hoen ố sự trong sạch của người.
(8) Thủ-đà (Soudra): Bên Ấn-độ theo truyền thống Bà-la-môn, có bốn hạng người; Tứ chủng : 1. Bà-la-Môn chủng; 2. Sát-đế-lỵ chủng; 3. Phệ-xá chủng; 4. Thủ đà chủng. Thủ-đà cũng viết: Thú-đà-la, là giai cấp làm ruộng rẫy, nông dân. Ngoài ra còn có giai cấp cùng đinh (chiên-đà-la).
(9) Người hạng Bà-la-môn và hạng Sát-đế-lỵ có vẽ giữa trán một điểm đỏ, để tượng trưng; điểm đỏ ấy kêu là Tin-ca (Tilka).
(10) Tu-xà-da (Soudjâta, Sujata).
(11) Lục-mi (loukshmi), nữ thần ban bố sự phong phú thạnh vượng, vợ của Thần Vishou (Tỳ-nữu).
(12) Linh-gam (lingam) đá nhọn đầu, biểu hiện Sức tạo tác.
(13) Ra-da (Radha).
(14) Bồ-đề (Boudhi)  : Vì Phật đắc Bồ-đề (Đạo) nơi cội cây ấy, nên về sau người ta gọi là cây Bồ-đề. Ấy là cây Pipal, ficus religiousa, hiện còn ở gần tỉnh Bihar ngày nay (Bodh Gaya, Bồ đề đạo tràng).
(15) Trishna, Raga, Arati.
(16) Vị-Ngã, Ngã-kiến, Pháp : Égoisme, Moi; Phạn : Attavâda ; chỉ kể mình là trọng.
(17) Nghi-hoặc: Pháp : Doute; Phạn : Visikitcha; Hồ nghi đối với chánh pháp.
(18) Chấp-nê Giới cấm (Phạn: Silabbat-paramâsa) : chấp nệ giới hạnh nhỏ mà bỏ Đại-đạo, ham lễ bái cầu nguyện mà không tĩnh tâm Giải-thoát.
(19) Phạn : Kama, lòng ái-dục, mong cuộc vui sướng tình ái vợ chồng, vui thích Năm dục (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc) trong Dục-giới, từ cảnh Người tới cảnh Tiên.
(20) Sân : Pháp : Haine ; Phạn : Patigha.
(21) Luyến Sắc-giới, Phạn: Rouparaga, Thích hưởng các cảnh Thần Tiên trong cõi Sắc giới, cao hơn Dục-giới (Kama).
(22) Vô-sắc-ái tức Vô-sắc-giới-ái, Vô-sắc-giới-dục ; Phạn : Arouparaga. Lòng mong hưởng cảnh Tiên Vô-sắc giới. Vô-sắc giới có  bốn cảnh từ thấp đến cao là : 1) Không-vô biên xứ  2) Thức vô-biên xứ  3) Vô-sở hữu xứ  4) Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
(23) Kiêu mạn : Phạn : Mano ; Pháp : Orgueil.
(24) Tự-ái: Phạn : Ouddhatcha ; Pháp : Amour-propre.
(25) Vô-minh : Phạn : Avidya ; Pháp : Ignorance.
(26) Tam-Bồ-đề-định: Phạn : Sammâ-Sambouddh. Cũng viết : Tam- miệu Tam-Bồ-đề ; Dịch nghĩa: Chánh-đẳng Chánh-giác.
(27) A-bì-nhã: Abhidjna. Đắc cảnh trí nầy, Phật nhìn thấy các thế giới, các tinh tú trong hoàn vũ. Cũng như đắc phép định Sammâ-Sambouddh nói trên, Phật thấy đủ các tiền thân của Ngài. 
(28) Kiếp hay Kiếp ba (Kalpa); Dịch-giả Arnold chú giải: Một Kiếp có 4.320 triệu năm. Có Tiểu kiếp, Trung kiếp, Đại kiếp. Theo Phật học từ điển : 1 Tiểu kiếp: 16.800.000 năm ; 1 Trung kiếp: 336.000.000 năm; 1 Đại kiếp: 1.344.000.000 năm.
(29) Khổ đế: Chơn lý của sự Khổ : Phạn : Doukha-Sarya. Tất cả là Bốn đế (Tứ đế, Tứ diệu đế): Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
(30) Vô-minh: Phạn: Avidya ; Pháp : Ignorance, Illusion.
(31) Hành: Phạn: Sankhâra, Samskàrà ; Pháp: Impression, Penchant pervers ; Sự chuyển động trong tâm, sự toan tính nơi lòng.
(31) Thức: Phạn : Vijnànà ; Pháp: Conscience ; Sự biết.
(32) Danh sắc: Phạn: Nâma-Rupa ; Pháp: Nom et Forme ; Tức là thân tâm, ngũ uẩn : gồm Thọ, Tưởng, Hành, Thức, kêu là Danh; Sắc-tướng, hình chất, kêu là Sắc.
(33) Lục-nhập: Phạn : Sadâyatana ; Pháp: Six sens ; Sáu căn trong nhập với Sáu trần ngoài.
(34) Xúc: Phạn: Sparca ; Pháp: Contact ; Sự đụng chạm.
(35) Thọ: Phạn: Védana ; Pháp: Sensation, Vie des sens ; Thọ cảm thường tình của các căn.
(36) Ái: Phạn: Trisnà ; Pháp: Désir ; Ham muốn, ưa thích. Từ Vô-minh tới Ái là tám nhân duyên đầu trong Thập-nhị nhơn-duyên ; Còn bốn nhơn duyên nữa là: Thủ, Hữu, Sanh, Tử, Lão Bệnh.
(37) Nghiệp: Phạn: Karma. Tư tưởng và hành động từ các đời trước đến đời nầy hiệp thành một Sức, có thiện, có ác, hoặc toàn thiện.
(38) Ngũ-ấm, ngũ uẩn: Phạn: Skandas; Pháp: Cinq agrégats; Năm món ( Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) hiệp lại mà che khuất chơn lý, tự thể, làm cho chúng sanh luân-hồi.
(39) Dây trói buộc: Phạn: Oupâdânas; Pháp: Liens.
(40) Da-Du (Yasôdhara): Vợ cũ của đức Thích-Ca.
(41) Bài kệ trên đây mà tôi đã dịch nghĩa rộng, do theo chữ Pháp. Kinh chữ Hán gọi là "Tứ cú thành Đạo". Vừa khi thành La-hán hoặc thành Phật, mỗi vị đều có đọc bài Kệ nầy:
Chư lậu dĩ tận, 
Mọi sự phiền não đã hết,
Phạm hạnh dĩ lập; 
Đức hạnh thanh tịnh đã lập;
Sở tác dĩ biện, 
Việc làm của mình đã xong,
Bất thọ hậu hữu. 
Chẳng còn chịu thân sau nữa.
 

Thou who wouldst see where dawned the light at last,
North-westwards from the "Thousand Gardens" go
By Gunga's valley till thy steps be set
On the green hills where those twin streamlets spring
Nilâjan and Mohâna; follow them,
Winding beneath broad-leaved mahúa-trees,
'Mid thickets of the sansár and the bir,
Till on the plain the shining sisters meet
In Phalgú's bed, flowing by rocky banks
To Gâya and the red Barabar hills.
Hard by that river spreads a thorny waste,
Uruwelaya named in ancient days,
With sandhills broken; on its verge a wood
Waves sea-green plumes and tassels 'thwart the sky,
With undergrowth wherethrough a still flood steals,
Dappled with lotus-blossoms, blue and white,
And peopled with quick fish and tortoises.
Near it the village of Senáni reared
Its roofs of grass, nestled amid the palms, 
Peaceful with simple folk and pastoral toils.

There in the sylvan solitudes once more 
Lord Buddha lived, musing the woes of men, 
The ways of fate, the doctrines of the books, 
The lessons of the creatures of the brake, 
The secrets of the silence whence all come, 
The secrets of the gloom whereto all go, 
The life which lies between, like that arch flung 
From cloud to cloud across the sky, which hath 
Mists for its masonry and vapory piers, 
Melting to void again which was so fair 
With sapphire hues, garnet, and chrysoprase. 
Moon after moon our Lord sate in the wood, 
So meditating these that he forgot
Ofttimes the hour of food, rising from thoughts
Prolonged beyond the sunrise and the noon
To see his bowl unfilled, and eat perforce
Of wild fruit fallen from the boughs o'erhead,
Shaken to earth by chattering ape or plucked
By purple parokeet. Therefore his grace
Faded; his body, worn by stress of soul,
Lost day by day the marks, thirty and two,
Which testify the Buddha. Scarce that leaf,
Fluttering so dry and withered to his feet