Ở
theo lưu vực Hằng hà,
Có
ngàn vườn tược cùng là non xanh,
Rạch
sông uốn khúc chảy quanh,
Cây
cao bóng mát đơm cành quả, hoa.
Có
rừng tên gọi Già-da(1),
Và
miền đỏ thắm Bà-rà-bà sơn (2);
Sông
Phan-gu (3) nước trong ngần,
Lượn
theo vùng ấy, chảy gần Ưu-Lâu (4) ;
Chốn
nầy là cảnh hoang vu,
Bụi
gai động cát lù lù đó đây.
Cuối
cùng một cảnh rừng cây,
Tàng
cao, lá sậm hiện ngay giữa trời,
Một
con rạch ẩn dưới chồi,
Sen
xanh lẫn trắng bời bời cá, quy.
Dựa
bờ, thôn Xớ-ná-ni (5),
Nhà
tranh yên ổn, bao vây những dừa;
Dân
làng chất phát có thừa,
Quanh
năm chuyên việc cày bừa ruộng nương.
***
Miền
này yên tĩnh đủ đường,
Ở
nơi rừng vắng Phật thường nghĩ suy.
Người
đời trăm mối khổ nguy,
Mạng
căn nhiều lối, kinh nghì nhiều môn.
Xét
xem cầm thú sinh tồn,
Gẫm
trong thanh tĩnh chứa dồn huyền linh.
Ở
nơi cảnh giới u minh,
Có
nhiều bí mật phải phanh cho tường;
Nghĩ
cho cuộc sống bình thường,
Là
dây liên lạc hai đường viễn khơi (6):
Tỷ
như cầu móng trên trời,
Nối
liền hai áng mây lài hai bên;
Bỗng
đâu nhập cõi vô biên,
Các
màu cực đẹp tự nhiên rã lìa.
Tháng
này rồi đến tháng kia,
Ở
trong rừng ấy, sớm khuya tham thiền.
Mảng
ngồi lẳng lặng triền miên ,
Giờ
ăn đã tới, Ngài quên nhiều lần.
Có
khi ra khỏi định thần,
Bát
không để đó, tìm ăn sơ sài.
Trái
rừng vài quả bên Ngài ,
Khỉ
quơ, két mổ, rụng rơi khỏi cành.
Vậy
nên duyên úa dáng xanh,
Nhiệt
thành tuyệt thực thân hình mòn hao ;
Lần
hồi mất vẻ thanh tao,
Băm
hai tướng quý chẳng sao lộ bày.
Trẻ
trung Hoàng tử mọi ngày,
Bây
giờ còn lại xác gầy đáng thương!
Tỷ
như chiếc lá héo vàng,
Chẳng
còn giữ vẻ mịn màng tươi xanh.
***
Một
hôm đuối mất sức mình,
Ngã
ra trên đất như hình tử thi;
Hơi
thở dứt, mạch ngừng đi,
Toàn
thân lợt lạt, tứ chi chẳng dời,
Một
chàng mục tử đến nơi,
Thấy
Ngài nhắm mắt, nằm dài như đau;
Trời
giờ ngọ chiếu xuống đầu,
Chàng
đi bẻ nhánh dụm đâu che Người.
Sẵn
đem sữa nóng còn tươi,
Bóp
ra từng giọt nhểu môi cho Ngài.
Tránh
ra chẳng đụng hình hài,
E
thân hạ tiện phạm đời thanh cao (7).
Kinh
rằng những nhánh dụm vào,
Tức
thì hoa nở, mọc cao, trái đầy;
Bạc
vàng xen lẫn lùm cây,
Trông
như trướng gấm khi vua ngự hành.
Mục
đồng lễ kính chí thành,
Tưởng
Ngài là bực Thánh linh cõi Trời.
Thế
Tôn vừa lúc tỉnh lai,
Ngài
lần ngồi dậy muốn xơi sữa bò,
Mục
đồng phúc đáp đắn đo:
"Bạch
Ngài! không thể tiện cho sữa này,
Thủ-đà
(8) giai cấp tiện ti,
Đụng
Ngài, lo sợ nhiễm lây thân lành. "
Thế
Tôn phân giải đành rành:
"Nhu
cầu, trắc ẩn tạo thành bà con,
Sang,
hèn máu vẫn màu son,
Mặn
là nước mắt, há toan lựa dòng?
Ai
sanh trán sẵn điểm hồng (9),
Và
nơi cổ ngực lòng thòng dây linh?
Công
bằng thì được thăng vinh,
Gây
điều tệ ác, bị khinh, đọa đày.
Em
cho ta sữa hôm nay,
Chừng
ta thành Đạo em lây hưởng nhờ. "
Chàng
nghe vui khoái lòng tơ,
Hai
tay bưng sữa mà đưa Ngài dùng.
***
Một
hôm có một đám đông,
Những
trang thiếu nữ chung cùng đi qua;
Áo
quần lòe loẹt tố sa,
Ấy
là vũ nữ múa ca đền thờ.
Mấy
chàng nhạc sĩ theo đưa,
Chàng
này vỗ trống, cặm cờ lông công;
Chàng
kia thổi địch hiệp cùng,
Một
chàng trỗi nhịp tơ đồng ba dây.
Mấy
cô theo lối đường mây,
Từ
trên gò nổng xuống vầy lễ vui;
Dưới
chân, lục lạc khua hồi,
Trên
tay, vòng xuyến từng hồi chạm kêu.
Dây
đờn trỗi nhịp với tiêu,
Mấy
cô vũ nữ họa theo ít bài:
"Tiếng
đàn khởi bản thanh bai,
Tức
thời khiêu vũ hòa hài thêm vui;
Lên
cung, dùn, thẳng vừa hồi,
Ắt
làm thích thú khách ngồi dự xem.
So
cung, thẳng lắm chẳng êm,
Dây
đồng phải đứt, nhạc thêm bất thành;
Dây
dùn thì lại mất thinh,
Giữ
nơi Trung Đạo mới tinh sắt cầm."
Lời
ca vũ nữ bỗng trầm,
Hòa
cùng tiếng địch, tiếng cầm bay xa;
Dường
như hồ điệp phớt qua,
Lan
tràn khoảng trống rừng già đường truông,
Nào
dè giọng hát khéo luồn,
Thánh
nhơn ngồi tĩnh nghe luôn đủ bài.
***
Nhạc
đoàn đi phía trước Ngài,
Thế
Tôn ngước trán hùng oai phán rằng:
"Đây
là một chuyện thường hằng:
Kẻ
ngu thuyết dạy cho hàng trí khôn.
Cứu
đời, muốn trỗi nhạc ngôn,
Nhưng
ta lại kéo thẳng chồn sợi dây.
Bây
giờ Chơn lý hiển bày,
Mắt
ta mờ đục nào hay thấy tường?
Sức
ta tới mức cùng đường,
Chính
là phải lúc ta đương cần dùng.
Ước
mong có kẻ ứng cung,
Nếu
ta thác sớm đời không hưởng gì."
***
Ở trong
xóm Xớ-ná-ni,
Có
người thôn trưởng hành vi hiền từ.
Bò
dê, tiền bạc có dư,
Thường
hay bố thí cho chư bần hàn.
Cả
nhà vui vẻ bằng an,
Tu-Đà-Xa
(10) vợ khôn ngoan mỹ miều,
Hiền
lương trung hậu đáng yêu,
Nói
lời êm dịu, có chiều cao vinh.
Thật
là hạt ngọc tốt lành,
Thờ
chồng trọn đạo, gia đình yên vui.
Chỉ
còn một nỗi buồn thôi :
Chưa
sanh trai trẻ tiếp mồi lửa hương.
Nàng
hay chiêm bái điện đường,
Lục-mi
(11) thần nữ nàng thường cúng dâng.
Linh-gam
(12) đá dựng to vầng,
Nhiều
đêm trăng tỏ nàng tầng đến nơi,
Đi
quanh thần đá kính mời:
Hương
hoa, cơm bánh đồng thời cầu con.
Nàng
còn cúng vái cơm ngon,
Đồ
ăn
mỹ vị bát toàn vàng y.
Hiến
cho thần chúa rừng cây,
Nếu
nàng sanh hạ hài nhi nối dòng.
Bây
giờ đã được thỏa lòng,
Con
trai ba tháng nằm trong bọc nàng.
Tu-Xà-Đa
bước vội vàng,
Vào
rừng cúng lễ Thần hoàng tạ ơn.
Tay
nầy bồng trẻ báu trân,
Tay
kia vịn lấy thức ăn trên đầu.
Ra-Đa
(13) là một gái hầu,
Đã
đi từ trước quét lau đàn nầy.
Quấn
dây thắm trọn thân cây,
Rồi
nàng đi đến trình bày chủ nhơn:
"Thưa
cô! kìa vị linh thần,
Hiện
ra ngồi đó, tay chân kiết già.
Quanh
đầu ánh sáng chói lòa,
Vẻ
người cao lớn, hiền hòa anh linh.
Phúc
thay cô cháu chúng mình,
Gặp
hàng tiên thánh thình lình như nay! "
Ngỡ
là Thần chúa rừng cây,
Tu-Xà-Đa
sợ, lạy quỳ vái van:
"Thánh
linh sức rộng phước ban,
Nay
Ngài hiện lại, chúng con thấy tường ;
Xin
Ngài nhận lễ tầm thường,
Thức
ăn bằng sữa, trắng dường tuyết đông. "
Múc
đồ vào bát vừa xong,
Rưới
lên tay Phật nước hồng thơm tho.
Ngài
ngồi lẳng lặng ăn no,
Tu-Xà
cung kính, đứng cho xa Ngài.
Thức
ăn công hiệu không hai ,
Làm
cho sanh lực phục lai tức thì.
Đêm
ngày kiêng cữ bấy nay,
Chỉ
là giấc mộng, còn gì hại đâu?
Thân
tráng kiện, tâm vững mầu,
Quyết
còn cất cánh, há cầu nghỉ yên?
Tỷ
như chim chán cảnh hèn,
Bỏ
lìa sa mạc, làm quen giang hà.
Mặc
tình lượn lại bay qua,
Nước
trong tẩy sạch cổ và đầu chim.
Thấy
Ngài mặt mũi trang nghiêm ,
Nàng
càng tôn kính, hỏi thêm mấy lời:
"Phải
chăng Thiên chủ là Ngài?
Lễ
con hiến cúng hợp xơi chăng là? "
Thế
Tôn phán hỏi Tu-Xà:
"Thức
ăn đem đó vốn là món chi? "
Tu-Xà-Đa
bạch tức thì:
"Chuồng
bò có sẵn đủ bầy trăm con,
Thảy
đều đẻ, sữa căng tròn,
Tự
tôi nặn lấy, nuôi còn năm mươi;
Năm
mươi bò trắng sữa tươi,
Tôi
dùng bổ dưỡng hai mươi lăm bò.
Kế
dùng sữa ấy đem cho,
Mười
hai bò khác uống no nê lòng,
Rồi
đem sữa ấy chuyển dùng,
Dưỡng
nuôi sáu lứa đẹp trong các bầy.
Cuối
cùng nặn sữa bò nầy,
Nấu
trong nồi bạc, gia vì chất thơm,
Chiên
đàn trộn lộn với cơm,
Hiệp
thành một món mà đơm cúng dường.
Trước
tôi phát nguyện rõ ràng,
Nếu
sanh nam tử, liệu lường lễ chay.
Nay
tôi có đứa con này,
Đời
tôi hạnh phúc đủ đầy vậy thôi. "
***
Thế
Tôn dở nhẹ vải nôi,
Rờ
đầu đứa bé, miệng vui phán rằng:
"Nguyện
ngươi phước lạc, an bằng,
Nguyện
cho đứa trẻ đời hằng nhẹ lo.
Công
ngươi giúp mỗ rất to,
Ta
người đồng loại, chớ cho là Thần.
Vốn
ta Thái tử anh quân,
Nay
làm lữ khách dò lần Quang minh.
Sáu
năm khổ nhọc tu hành,
Cũng
chưa nhìn thấy ánh linh chói lòa.
Sẽ
tầm cho đặng đó mà,
Ánh
kia vừa lố, thân ta ngã nhào,
Khỏe
nhờ thực phẩm nàng trao,
Đồ
ăn rất bổ vì vào nhiều thân.
Cũng
như sanh tử lắm lần,
Người
thêm tấn hóa, bớt phần u mê.
Phải
chăng nàng những chấp nê,
Cuộc
đời đủ sức tạo bề sướng vui?
Sống
đời, tình ái thế thôi,
Chỉ
hai món ấy đủ rồi phải chăng? "
***
Tu-Xà-Đa
đáp lại rằng:
"Bạch
Ngài! bụng dạ thiếp hằng nhỏ nhoi,
Đám
mưa thưa thớt hẹp hòi,
Làm
cho hoa huệ nước oi đầy tràn.
Chồng
vui ve, trẻ cười ran,
Nhà
thường hòa ái, phước ban đủ rồi.
Tháng
ngày thích thú lần trôi,
Lo
tròn nội trợ là tôi thỏa lòng.
Trời
lố mọc, tôi thức xong,
Nguyện
cầu, dâng cúng chư vong thánh thần.
Sửa
vườn, tưới nước, vun phân,
Kêu
người ăn ở chia phân việc làm.
Giữa
trưa chồng thiếp đi nằm,
Đầu
kê bụng vợ đương cầm quạt quơ.
Trời
chiều phẳng lặng như tờ,
Vợ
chồng đoàn tụ, thiếp đưa bánh mời.
Dưới
đèn chong ánh sao trời,
Nguyện
cầu, chuyện vãn rồi thời ngủ nghê.
Sống
đầy hạnh phúc, phải lề,
Tôi
còn roi chút trai kề lửa hương.
Trong
Kinh có dạy rõ ràng:
Ai
trồng cây mát che đàng mà đi,
Cùng
là đào giếng cứu nguy,
Sanh
trai tuấn tú, thác thì siêu thăng.
Tôi
tin Kinh điển lẽ bằng,
Vốn
không trí tuệ cho bằng Thánh xưa;
Các
Ngài biết rõ huyền cơ,
Luận
đàm đạo lý với chư linh thần.
Tôi
nay suy xét cân phân,
Thiện
thì thiện đến, ác lần ác theo.
Sự
tình như vậy thảy đều,
Xưa
nay khắp chốn một chiều như trên.
Cội
lành, trái ngọt mọc lên,
Cây
loài độc địa, quả nên đắng chằng.
Tôi
xem: dữ tạo thù hằn,
Làm
lành vầy bạn, nhẫn bằng yên thân.
Đến
khi mình tách cõi trần,
Cũng
là có đủ phước phần như nay,
Biết
đâu càng được thêm hay,
Lúa
gieo một hột, sanh rày năm mươi.
Trong
rừng cây nhỏ yếu lười,
Ẩn
hoa chiêm-bặc, sắc tươi trắng vàng.
Có
khi sự khổ đa mang,
Người
không nhẫn nỗi lang thang bụi hồng.
Tỷ
như con thiếp mạng chung,
Tim
này sẽ nát, mà không tiếc gì!
Bấy
giờ hôn hít tử thi,
Rồi
theo phu tướng mà đi khắp cùng.
Cam
lòng giữ vẹn chữ tòng,
Chờ
chồng thác trước mới mong tới mình.
Một
mai nếu mất bạn tình,
Tôi
lên giàn hỏa, hai hình đồng thiêu.
Kinh
xưa có chép dạy điều:
Phụ
nhơn tử tiết mà theo với chồng,
Tình
yêu như vậy đắc công,
Muôn
năm chồng hưởng phước trong Thiên đường.
Cho
nên lòng thiếp vui thường,
Không
lo, không sợ, xót thương nghèo hèn,
Làm
lành tùy phận nhỏ nhen,
Tuân
theo pháp luật, giữ bền lạc quan."
Thế
Tôn ứng tỏ lời ban;
"Ngươi
cho bài học cả ngàn vị sư;
Dầu
cho giản dị danh từ,
Nhưng
còn thông rõ hơn chư khóa trình.
Thà
ngươi không có học hành,
Miễn
là nghĩa vụ, công bình vẹn xong.
Sống
đời như một cụm bông,
Bóng
ngươi che mát, giữ trông trẻ nầy.
Ánh
quang Chơn lý gắt gay,
Không
dùng chiếu diệu lá cây mịn màng;
Phải
chờ nhiều thuở khác sang,
Lá
hoa sẽ trổ vinh quang dưới trời.
Ngươi
tôn ta bực đức tài,
Ta
nay kính trọng ngươi thời hảo tâm;
Ngươi
thông đường lối chẳng lầm,
Như
chim câu nọ xa xăm biết về.
Giúp
người hy vọng giữ bề,
Ngươi
còn chỉ cách tu tề chí cao.
Nguyện
ngươi được phước dồi dào,
Nguyện
ta thành đạt công lao cứu trần!
Vốn
ngươi tưởng mỗ là Thần;
Xin
ngươi hộ niệm ân cần cho ta."
***
Nàng
rằng: "Tôi rất thiết tha
Cầu
Ngài Đạo nghiệp cao xa mau thành!"
Nàng
vừa nhìn đứa con mình,
Nó
đưa hai cánh hoan nghinh đức Thầy!
Bấy
giờ, Ngài khoẻ khoắn ngay,
Nhờ
dùng món bổ vừa dâng của nàng.
Ăn
xong, đứng dậy gọn gàng,
Ngài
đi đến một cội tàng lớn kia;
Cây
nầy, sau gọi Bồ-Đề (14)
Tươi
xanh muôn thuở chứng ghi Đạo Lành.
Cội
cây, Chơn lý viên thành,
Đó
là tiền định sẵn dành Thánh ngôi.
Đức
Thầy vẫn biết vậy rồi,
Nghiêm
trang bước tới, sắp ngồi dưới cây.
Ớ
nầy trần thế đó đây!
Tỏ
niềm vui thoả vì Thầy đến nơi!
Tàng
cao giăng rộng trên khơi,
Rễ
như cột trụ điện đài thông nhau;
Đất
đai cảm động Lẽ mầu,
Trổ
sanh hoa đẹp, cỏ màu xanh tươi.
Cành
cây hạ xuống che Người,
Gió
sông thổi tới, đượm rười mùi sen.
Cọp,
beo, heo, lộc lẫn xen,
Đêm
nay hòa thuận, nhìn xem mặt Ngài.
Một
con rắn độc hiện lai,
Tỏ
niềm cung kính mà quơi cái đầu.
Mấy
con bướm đẹp đủ màu,
Lắc
lư đôi cánh, quạt hầu Thế-tôn.
Chim
diều đánh rớt mồi ngon,
Sóc
rằn chuyền nhánh, ngó dòm Như lai.
Chim
hoành hoạch dựa ổ dài,
Kêu
lên vui vẻ, chào Ngài Thích Ca.
Giống
bay, giống chạy xướng ca,
Đến
loài bò lết cũng là hân hoan.
Dưới
mặt đất, trên không gian,
Hòa
đồng tiếng hát, ngân loan mấy lời:
"Kính
chào Cứu thế Thương đời!
Giận,
Kiêu, Dục, Sợ, Nghi ngờ dẹp lui!
Hiến
thân cho thế hẳn rồi,
Vậy
Ngài bước tới mà ngồi Cội cây;
Thế
trần hộ niệm Ngài đây,
Chúng
nhờ đức Phật dứt dây khổ nàn.
Ngài
nên chinh phục hoàn toàn!
Nay
là đêm chót thế gian trông chờ!"
***
Màn
đêm vừa phủ bụi mờ,
Cội
cây đại thọ bấy giờ ngồi yên.
Ma-vương
rất đổi ưu phiền,
Biết
Ngài là Phật tới phiên đắc thành;
Ngài
toan giải thoát chúng sanh,
Ra
đi cứu độ hữu-tình trần ai.
Ma-vương
liền phát lệnh sai
Âm
binh, quỉ-mỵ các nơi tụ về.
Trích-Na,
Ra-Gá, Ra-ti (15),
Các
đoàn mê dục, ngu si, tham tàn,
Những
phường u-ám, nhát gan,
Chúng
sanh ghét Phật, mưu toan bất tường.
Dầu
ai trí huệ phi thường,
Cũng
không biết được chiến trường ra sao.
Quỷ
ma dùng cách thế nào,
Đêm
nay dẹp phá Lý cao Phật-đà?
Có
khi giữa cuộc bão sa,
Sấm
vang, sét giáng, chớp lòa bao giăng,
Dường
như chỉa nhọn nhiều răng,
Bầu
trời đỏ rực đứt phăng đủ chiều.
Khi
dùng mưu chước mỹ miều,
Chúng
cho xuất hiện sắc nhiều cảm mê.
Trỗi
câu hát xướng tình huê,
Đem
lời rủ rỉ dựa kề gợi duyên!
Có
khi hứa hẹn oai quyền,
Hoặc
cho Chơn-lý là phiền luống công.
Giặc
ma như vậy ở trong,
Hay
là cảnh tượng ngoài vòng thân tâm?
Các
ngài thử xét thậm thâm,
Tôi
theo Kinh cổ chép cầm thi ca.
***
Mười
điều tội lỗi hiện ra,
Có
nhiều thế lực, Vua Ma kết bè.
Tội
đầu, Vị-ngã (16) chẳng e,
Miễn
mình cao vượt, há dè đến ai!
Xướng
rằng: "Ngài tới Phật đài,
Mặc
cho kẻ khác miệt mài âm u,
Miễn
Ngài đầy đủ công tu,
Mau
lên Thiên Thượng mặc dầu hưởng Vui."
Phật
rằng: "Lẽ đó là tồi,
Bất
công đưa lại lôi thôi tai nàn,
Gạt
ta, ngươi chớ có toan,
Hãy
đi lừa kẻ chỉ an phận mình."
Tội
hai, Nghi-hoặc (17) hẳn đành,
Kề
bên tai Phật dỗ dành khúc nôi:
"Việc
chi cũng ảnh bào thôi,
Thấy
xa hiểu rộng, than ôi ích gì!
Ngài
theo bóng dáng đó chi,
Hãy
đi cho khỏi chốn nầy còn hơn.
Đành
cam, chẳng cứu người trần,
Làm
sao cản được xa luân quay hoài?"
Phật
rằng: "Nghi-hoặc chàng ơi!
Gã
là nghịch tặc tinh bai hại người!
Ngụy
tài đó đến vẹn mười,
Ta
không bị gạt bởi ngươi đâu mà."
Chấp
nê giới cấm (18) tội ba,
Tín
tâm mù quáng, mê sa lạy quì;
Hiện
thân phụ nữ một khi,
Có
hai chìa khóa cầm tay lù lù:
Chìa
nầy đóng cửa Ngục tù,
Chìa
kia mở nẻo lên khu Thiên đường.
Nàng
rằng: "Nếu đó can trường,
Dẹp
như Kinh Kệ, phế hàng Thần Tiên,
Bỏ
đi tượng ảnh trong đền,
Phá
luôn tôn giáo từng phen hộ trì."
Phật
rằng: "Ngươi xúi bỏ đi,
Chẳng
qua bỏ cái hình hay đổi dời:
Nhưng
còn Chơn lý đời đời,
Vậy
ngươi mau trở vào nơi tối mò."
Thứ
tư, một gã thử dò,
Có
tuồng dạn dĩ, ra trò lẳng lơ;
Ca-ma
Vua cả tình tơ (19)
Tiên,
Người kính phục, trông chờ duyên may.
Tươi
cười, bước đến dưới cây,
Cung
vàng cầm sẵn, kết dây hoa hồng;
Mang
theo dục tiễn lòng thòng,
Mũi
là năm ngọn lửa nồng đốt tâm.
Quanh
chàng, trong khoảng sơn lâm,
Nhiều
đoàn mỹ nữ mày tằm, mắt xinh,
Tay
trổi nhạc, miệng ca tình,
Đêm
thanh lẳng lặng nghe trình bản hay;
Chị
Hằng, tinh tú ngừng xây,
Lắng
nghe giọng hát tỏ bày, nguyệt hoa.
Các
nàng cám dỗ Phật-đà,
Ca
rằng: "Tam giới, đàn bà là hơn;
Mông
thơm ngát, ngực hoa hờn,
Vóc
mình đề đạm, cân phân thấy thèm,
Máu
sôi vì mảnh thân em,
Lòng
chàng nên chuộng, mà xem tót vời;
Thiên
đường hẳn thật là nơi,
Người
trần vui thỏa phước đời như Tiên.
Dầu
cho lao khổ há phiền,
Miễn
là thú hứng liền liền đổi thay!
Khi
cùng bạn ngọc choàng tay,
Trăm
ngàn khổ não cũng bay mất rồi!
Một
hơi thở sướng đủ thôi,
Trần-gian
phó mặc, kề môi với nàng."
Miệng
ca, tay múa dịu dàng,
Mắt
ngời tình tứ, môi hường cười duyên.
Khiêu
dâm vũ khúc tiếp liền,
Trích
đôi hán ngọc, chơn tiên, tay mềm,
Dường
như hoa lú lom lem,
Lộ
màu, nhưng nhụy còn kèm ở trong
Đêm
thanh vũ nữ trổ hồng,
Há
còn cảnh sắc mặn nồng hơn đây?
Mỗi
cô lần đến cội cây,
Cô
sau càng đẹp, càng gây men tình.
Thưa
Rằng: "Tất-Đạt đại huynh,
Em
hầu bên bạn, miệng xinh hiến chàng;
Bạn
nên nhìn thiếp rõ ràng,
Xuân
xanh hương vị em đang vừa thì."
Thế
Tôn trí chẳng lung lay,
Ca-ma
thấy vậy, quơ cây cung thần.
Cả
đoàn vũ nữ lui chân,
Một
hình tuyệt đẹp bước lần tới nơi:
Da-Du
hiền nội của Ngài,
Mắt
sa giọt thảm, đưa hai tay bầu.
Nàng
rên ngọt dịu, ưu sầu,
Kêu
tên Thái tử, yêu cầu thở than:
"Thưa
Ngài em khổ muôn ngàn,
Xa
nhau, em những lệ tràn vì ai!
Nhớ
chăng hạnh phúc cả hai,
Cảnh
nhà khoái lạc, sông dài Rô-hi ?
Nhiều
năm chàng đã ra đi,
Nay
xin trở lại xum vầy với nhau!
Kề
môi, dựa má, nghiêng đầu,
Dứt
cơn mơ mộng, héo xàu đó đi.
Chàng
nên đoái tới thiếp đây,
Vẫn
là bạn ngọc những ngày ấp yêu!"
Phật
rằng: "Hỡi bóng mỹ miều!
Giả
làm hiền nội, đánh liều gạt ta.
Không
đành quở mắng đó a,
Vậy
ngươi vội vã lánh xa cho rồi."
Trong
rừng, dội tiếng như lôi,
Trọn
đoàn mỹ nữ đều lui gót hài.
Đương
khi mưa gió mịt trời,
Tội
tình tiếp tục tới nơi đủ mười:
Thứ
năm, Sân (20) hiện ra người,
Ngực
đầy những rắn bám bươi vú nàng;
Giận
nhau hút gió kêu vang,
Xen
cùng tiếng chửi rủa quàng chửi xiên.
Nàng
Sân sức chẳng đáng kiêng,
Thánh
nhơn nhìn tới, nàng liền nín ngay;
Rắn
kia thun lại tức thì,
Răng
tua lưỡi nhọn một khi thụt vào.
Sáu
là Luyến Sắc giới (21) cao,
Hiện
ra Thiên thượng cảnh nào cũng xuê.
Bảy
là Vô-sắc ái (22) kia,
Mối
lòng tham trước của bề siêu linh;
Công
tu Giải thoát sắp thành,
Nhưng
còn mong hưởng Thiên đình vô biên,
Tám
là Kiêu-mạn (23) chẳng hiền,
Chín
là Tự ái ưa thiên trong mình,
Thứ
mười nữ tặc vô minh (24),
Dắc
theo một lũ dị hình gớm ghê,
Lết
bò, bay nhảy, cà tê,
Cũng
như cóc nhái, dơi kia đen sì.
Vô
minh, nữ quái xấu hì,
Màn
đêm vì nó, càng dày mịt thêm;
Núi
non rúng động dưới thềm,
Gió
gào, mây lủng, mưa đêm dầm dề.
Sao
băng, đất động bốn bề,
Bầu
trời chớp nháng, tiếng ghê vang rền:
Hăm
he, nguyền rủa, kêu rên,
Quỉ
thần Hắc-ám ứng lên phá Thầy.
Phật-đà chẳng kể đếm chi,
Ngài
ngồi an tĩnh, đức dày chở che ;
Giữ
cơn giông tố nặng đè,
Cây
Bồ-đề vẫn không hề động diêu,
Lá
êm chiếu ánh đều đều,
Cũng
như những buổi trời chiều trăng trong,
Hét
la, chấn động hãi hùng,
Đạo
tràng yên ổn như không việc gì.
***
Canh ba,
cảnh vật thanh di,
Quỷ
ma tản lạc, gió lay mát trời.
Tam-Bồ-đề
định (25) tới nơi,
Thế
Tôn nhìn thấy mọi đời đã qua;
Thấy
gần rồi lại thấy xa,
Năm
trăm năm chục số là tiền-thân.
Tỷ
như người nọ đăng sơn,
Quay
nhìn cảnh vật dưới chơn của mình:
Đây
là đường nhỏ uốn quanh,
Dài
theo vực, hố, rừng xanh rậm rì.
Nọ
là mấy chỗ bưng, lầy,
Người
từng mỏi mệt trở xây dưới bùn.
Kìa
là mấy đảnh hãi hùng.
Thiếu
đều trật té nhưng vùng gượng lên.
Dưới
kia, đồng cỏ tươi bền,
Động
hang, thác nước gần bên ao hồ.
Ruộng
đồng mút mắt tít mù,
Đó
là khởi điểm lộ đồ non cao.
Lịch
trình Phật chẳng khác nào,
Ngoái
nhìn những thuở lao nhao, thấp hèn,
Lần
lên đời đẹp đáng khen,
Đến
nay đạt Cảnh cao ven trọn lành.
Tiền
thân gieo giống đã đành,
Hậu
thân gặt hái quả mình tạo ra.
Tạm
ngừng, rồi lướt đường xa,
Duy
trì phước cũ, lỗi qua phải đền;
Mỗi
đời, lành tạo việc hên,
Dữ
thì chuyện xấu theo bên thân mình.
Chết
rồi chẳng dứt sự tình,
Thiếu,
thừa tạm gác để dành về sau,
Đó
là toán thuật rất mầu,
Phước
kia tội nọ ghi sâu chẳng lầm;
Đến
khi đời khác tái lâm,
Được,
thua, thân, ý do mầm thuở xưa.
***
Nửa
đêm khi ấy cũng vừa,
A-bì-nhã
(26) trí thừa ưa đắc liền;
Phật
nhìn khắp cả các miền :
Địa
cầu, nhựt, nguyệt tiếp liên tinh thần;
Vô
lường, vô số khó phân,
Thảy
đều tuần tự chuyển vần tự nhiên.
Tỷ
như biển cả vô biên,
Chứa
nhiều hải đảo đứng yên ngàn đời;
Không
gian ví tợ biển khơi,
Hoàn
cầu như đảo số thời biết bao!
Thế
Tôn thấy các ngôi sao,
Cái
nào vua chúa, cái nào quan, dân;
Nhỏ
hầu theo lớn hưởng ân,
Ở
trong vũ trụ, tách phân từng đoàn,
Cùng
nhau dìu dắt, bảo toàn,
Đem
nguồn ánh sáng chiếu tràn lẫn nhau.
Ngài
nhìn thấy cõi xa sâu,
Những
ngôi nhỏ bé xây hầu ngôi to,
Cứ
theo thế ấy lần dò,
Mà
sanh năm, tháng, ngày, giờ phân minh.
Ngài
tường tuổi thọ chư tinh,
Đó
là kiếp số (27) nhơn tình khó thông.
Các
ngôi tinh tú đều đồng :
Sanh
rồi Trụ, Dị, Diệt cùng nối nhau.
Phật
nhìn từ chỗ chí sâu,
Lần
lên đỉnh thượng hoàn cầu mỗi nơi ;
Lặng
xem hình thức, chuyển dời,
Pháp
nghi chế-định khiến sai âm thầm,
Pháp
nầy thế lực cao thâm,
Tối
tăm nhờ đó đi tầm quang minh;
Tử
rồi thì lại hoàn sinh,
Trống
không thành có, sắc hình hiện ra;
Vật
chi trước đã xấu xa,
Lần
hồi tốt đẹp, sau là toàn chân.
Pháp
nầy có trật tự ngầm,
Không
ai ban bố, cản ngăn được nào;
Còn
hơn các vị Tiên cao,
Toàn
quyền, bất biến, không sao luận bàn.
Quyền
nầy tạo tác, phá tan,
Tạo
ra trở lại, trị an muôn loài.
Tốt
xinh, thành thật, ích đời,
Là
ba lẽ Đạo hạp nơi quyền hành.
Thuận
theo đạo ấy là lành,
Ví
bằng chống nghịch, chẳng thành công đâu.
Côn
trùng tùy phận há cầu?
Chim
diều xớt thịt để hầu nuôi con;
Sương
mai chói, ánh sao tròn,
Cũng
đem công tác xen bò việc chung,
Sanh
rồi, kế đến tử vong,
Con
người phải biết thác trong nhơn nghì;
Ở
ăn hạp lễ chúng vì,
Giúp
nhơn cứu vật trong khi lâm nàn;
Đừng
làm trở ngại Tuần-hoàn,
Chớ
ngăn sức tiến muôn ngàn tánh linh.
Lý
như vậy, Ngài thấy rành,
Giữa
đêm ngồi tĩnh dưới cành cây cao.
***
Canh tư
vừa mới bước vào,
Phật
tường khổ não mạng nào cũng mang.
Ác
tà với khổ dựa nương,
Làm
cho đình trệ bước đường chánh chơn.
Tỷ
như khói với bợn nhờn,
Làm
cho nghẹt lửa trong cơn luyện vàng.
Trước
là Khổ đế (27) hiện tuờng,
Khổ
là cái bóng, đời thường mang đeo,
Mình
đi cái Khổ đi theo,
Khổ
mà lìa được, mạng teo dứt liền.
Có
nhiều trạng thái Khổ phiền:
Mới
sanh, khôn lớn, tật nguyền, già nua.
Yêu
thương với lại oán thù,
Vui
chơi cực nhọc, được thua, giựt giành,
Không
ai khỏi bị khổ hành,
Nều
mình chẳng có Đạo lành đón ngăn.
Hết
vui thì khổ lằn-nhằn,
Bề
ngoài sung sướng, tâm căn khổ sầu.
Vô-minh,
lẽ ấy hiểu sâu,
Tức
là xa lánh mưu mô gạt mình;
Chẳng
còn yêu thích đời sanh,
Mà
người có thể tự mình thoát ly.
Mắt
bền chiếu thấy như vầy:
Vô-minh
(28) duyên trước, Hành (29) nầy tới sau;
Thức
(30) rồi Danh Sắc (31) nối nhau,
Kế
là Lục-Nhập (32) , Xúc (33) câu, Thọ (34) tình.
Giận,
mừng, vui, não, ghét, ganh.
Kế
là cái Ái (35) phát sanh, mong cầu :
Thanh
nhàn, phước lạc, sang, giàu,
Danh
cao, nghiệp cả, gồm thâu nước nhà,
Thiếp
thê, tình ái mặn mà,
Món
ngon, vật lạ, tố sa, đền đài,
Dòng
quí phái, há nhường ai,
Đấu
tranh mau dễ hoặc dài thời gian.
Thánh
hiền cắt Ái dây oan,
Chẳng
tầm, chẳng hại, chẳng toan tranh giành;
Dằn
lòng trả nợ tiền sanh,
Dứt
trừ phiền não, Nghiệp (36) mình sạch trong;
Bấy
giờ người chẳng cần mong,
Cuộc
đời sẽ tới ở trong Tiên, Người;
Hoặc
là tạo một đời tươi,
Khổ
sầu vi tế lần hồi tiêu tan.
Con
Đường đi đã vẹn toàn,
Chẳng
còn bị gạt bởi đoàn ảo hư ;
Ngũ-ấm
(37) há dối nữa ư?
Các
dây trói buộc (38) , cắt trừ đã xong,
Chẳng
còn luẩn quẩn trong Vòng,
Một
phen tỉnh giác, toại lòng, hết mê.
Lớn
hơn đại đế ngôi xuê,
Các
Trời há dễ sánh bề phước an;
Dứt
rồi kiếp sống lầm than,
Được
Đời sống mới : Niết bàn viễn miên,
Cảnh
nầy khoái lạc hơn Tiên,
Lìa
xa khổ não, ưu phiền, đổi thay.
***
Rạng
đông bỗng hiện ra ngay,
Chiến
công của Phật tô bày hiển vang.
Kìa
chòm lửa rực Đông Phương.
Phủng
qua những bức nhung trường tối đen.
Sao
mai mờ mịt lặn chen,
Những
lằn ánh tỏ túa xen nhiều vùng.
Núi
non mờ ám xa trông,
Là
nơi chào đón vầng hồng trước tiên.
Trăm
hoa còn hãy ngủ yên,
Dưới
lằn gió ấm, mắt hiền hé ra.
Quang
minh lẹ bước đến ta,
Lướt
theo ngọn cỏ là đà dưới sương ;
Đêm
rồi hạt lệ thảm thương,
Sáng
nay, sương hóa kim-cương chói ngời.
Ánh
vui tỏa khắp đất đai,
Vàng
ròng viền ở phía ngoài mây đen.
Tàu
dừa như tụi tò-ten,
Cúi
mình niềm nở đón khen ánh vàng;
Ánh
soi khoảng trống rừng hoang,
Soi
dòng sông rộng xem dường bửu châu ;
Chiếu
sang nai lộc bụi sâu,
Bảo
rằng : Trời đã bắt đầu ban mai.
Ở
trong tổ ấm trên khơi,
Chim
còn gục mỏ dưới hai cánh mình,
Hào
quang phớt mặt, nhủ rành :
"Các
con! Hãy ngắm cảnh xinh ban ngày."
Muôn
chim khởi sự trình bày,
Bản
ca điệu hát đó đây chào mừng :
Tiếng
nầy như sáo xa chừng,
Tiếng
kia như trổi vang lừng quốc ca ;
Tiếng
như đờn ngọt phớt qua,
Tiếng
như chát chúa, tiếng la vang rền ;
Có
con rủ rỉ êm đềm,
Có
con như tỏ nổi niềm ái ân.
***
Đêm
rồi Phật thắng Ma quân,
Sáng
nay cảnh vật hỷ hân trong ngoài.
Nhứt
là ở giữa nhơn loài,
Hiện
ra khí hậu hòa hài, thanh cao,
Kẻ
hung bạo cất con dao,
Những
tay trộm cướp bỏ bao ngọc vàng ;
Kẻ
buôn bạc đếm đàng hoàng,
Ác
thì hóa thiện, thiện đương trọn lành.
Các
vua chiến đấu tạm đình,
Kẻ
mang bệnh hoạn cất mình cười reo ;
Mạng
chung hơi thở cheo leo,
Hở
môi cười nụ, tuân theo số phần.
Bình
minh đem lại vẻ hân,
Cảnh
vui dường ấy do căn lạ thường.
Da-Du
(39) ngồi ở bên giường,
Nét
vui bỗng hiện trên gương mặt sầu,
Dường
như bà cảm lẽ sâu:
Hết
cơn bỉ cực, bắt đầu thới lai.
An
vui khắp cả mọi nơi,
Thần
linh mừng rỡ tỏ lời xướng ca.
Chư
thiên ở cõi cao xa,
Hô
rằng: "Công việc hẳn là xong xuôi!"
Thầy
tu, dân chúng nối đuôi,
Cho
là đại sự mà vui vẻ nhìn.
Từ
nơi rừng bụi, lầy sình,
Tấm
lòng Bác Ái mặc tình phát huy.
Hươu
rằn ăn cỏ chẳng nghi,
Gần
bên cọp mẹ, con bầy bú đeo;
Đoàn
heo lại với đoàn cheo,
Cùng
nhau uống nước quanh theo bờ hồ.
Thỏ
nương gọp đá ra vô,
Chim
ưng đứng đó mỏ đùa dưới lông.
Rắn
nằm hơ dưới ánh nồng,
Da
ngời như ngọc, móc không ló ngoài.
Diều
ngơ cho cưởng vãng lai,
Cò
xanh mơ mộng, cá chơi gần mình.
Chim
sâu đậu nghỉ trên cành,
Để
cho doàn bướm mặc tình trở xây.
Tinh
thần đức Phật cảm lây,
Loài
người thú vật, chim bay bốn bề.
Ngài
còn ngồi cội Bồ đề,
Thắng
rồi giặc Quỷ, phước về Nhơn gian.
Quang
minh của Phật lan tràn,
Sánh
cùng mặt nhựt, cả ngàn lần hơn.
***
Thế
Tôn đứng dậy, hân hân,
Xướng
lên tiếng Kệ, xa gần nghe qua:
"Ta
đà ở khắp từng nhà,
Mảng
tìm gia chủ cất tòa ngục giam;
Đấu
tranh cực mãi phải cam,
Nay
ta biết được người làm nhà đây.
Người
ôi! thôi chớ đắp xây,
Vách
tường chứa đựng những bầy khổ đau;
Từ
nay, chớ dựng nóc lầu,
Đừng
đâm đà nữa, vì đâu còn nhà!
Cột
rường gãy hết rồi mà!
Vô
minh huyễn hoặc tạo ra môn đình!
Nay
ta đến chỗ cao vinh,
Mục
tiêu Giải thoát đã tranh đoạt rồi."(40)
Chú
Thích
(1)
Già-da (Gâya).
(2)
Bà-ra-ba (Barabar).
(3)
Phan-gu (Phalgou).
(4)
Ứu-lâu-tần-loa (Ourouvelaya).
(5)
Xớ-ná-ni ( Senânni).
(6)
Cuộc sống nối liền cho hai cảnh cách nhau: cảnh thanh tĩnh
và cảnh u-minh vừa nói trên.
(7)
Bên Ấn-độ theo tục lệ Bà-la-môn, người giai cấp dưới
chẳng dám đụng người giai cấp trên, e mình làm hoen ố sự
trong sạch của người.
(8)
Thủ-đà (Soudra): Bên Ấn-độ theo truyền thống Bà-la-môn,
có bốn hạng người; Tứ chủng : 1. Bà-la-Môn chủng; 2. Sát-đế-lỵ
chủng; 3. Phệ-xá chủng; 4. Thủ đà chủng. Thủ-đà cũng
viết: Thú-đà-la, là giai cấp làm ruộng rẫy, nông dân. Ngoài
ra còn có giai cấp cùng đinh (chiên-đà-la).
(9)
Người hạng Bà-la-môn và hạng Sát-đế-lỵ có vẽ giữa
trán một điểm đỏ, để tượng trưng; điểm đỏ ấy kêu
là Tin-ca (Tilka).
(10)
Tu-xà-da (Soudjâta, Sujata).
(11)
Lục-mi (loukshmi), nữ thần ban bố sự phong phú thạnh vượng,
vợ của Thần Vishou (Tỳ-nữu).
(12)
Linh-gam (lingam) đá nhọn đầu, biểu hiện Sức tạo tác.
(13)
Ra-da (Radha).
(14)
Bồ-đề (Boudhi) : Vì Phật đắc Bồ-đề (Đạo) nơi
cội cây ấy, nên về sau người ta gọi là cây Bồ-đề. Ấy
là cây Pipal, ficus religiousa, hiện còn ở gần tỉnh Bihar ngày
nay (Bodh Gaya, Bồ đề đạo tràng).
(15)
Trishna, Raga, Arati.
(16)
Vị-Ngã, Ngã-kiến, Pháp : Égoisme, Moi; Phạn : Attavâda ; chỉ
kể mình là trọng.
(17)
Nghi-hoặc: Pháp : Doute; Phạn : Visikitcha; Hồ nghi đối với
chánh pháp.
(18)
Chấp-nê Giới cấm (Phạn: Silabbat-paramâsa) : chấp nệ giới
hạnh nhỏ mà bỏ Đại-đạo, ham lễ bái cầu nguyện mà không
tĩnh tâm Giải-thoát.
(19)
Phạn : Kama, lòng ái-dục, mong cuộc vui sướng tình ái vợ
chồng, vui thích Năm dục (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc) trong
Dục-giới, từ cảnh Người tới cảnh Tiên.
(20)
Sân : Pháp : Haine ; Phạn : Patigha.
(21)
Luyến Sắc-giới, Phạn: Rouparaga, Thích hưởng các cảnh Thần
Tiên trong cõi Sắc giới, cao hơn Dục-giới (Kama).
(22)
Vô-sắc-ái tức Vô-sắc-giới-ái, Vô-sắc-giới-dục ; Phạn
: Arouparaga. Lòng mong hưởng cảnh Tiên Vô-sắc giới. Vô-sắc
giới có bốn cảnh từ thấp đến cao là : 1) Không-vô
biên xứ 2) Thức vô-biên xứ 3) Vô-sở hữu xứ
4) Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
(23)
Kiêu mạn : Phạn : Mano ; Pháp : Orgueil.
(24)
Tự-ái: Phạn : Ouddhatcha ; Pháp : Amour-propre.
(25)
Vô-minh : Phạn : Avidya ; Pháp : Ignorance.
(26)
Tam-Bồ-đề-định: Phạn : Sammâ-Sambouddh. Cũng viết : Tam-
miệu Tam-Bồ-đề ; Dịch nghĩa: Chánh-đẳng Chánh-giác.
(27)
A-bì-nhã: Abhidjna. Đắc cảnh trí nầy, Phật nhìn thấy các
thế giới, các tinh tú trong hoàn vũ. Cũng như đắc phép định
Sammâ-Sambouddh nói trên, Phật thấy đủ các tiền thân của
Ngài.
(28)
Kiếp hay Kiếp ba (Kalpa); Dịch-giả Arnold chú giải: Một Kiếp
có 4.320 triệu năm. Có Tiểu kiếp, Trung kiếp, Đại kiếp.
Theo Phật học từ điển : 1 Tiểu kiếp: 16.800.000 năm ; 1 Trung
kiếp: 336.000.000 năm; 1 Đại kiếp: 1.344.000.000 năm.
(29)
Khổ đế: Chơn lý của sự Khổ : Phạn : Doukha-Sarya. Tất
cả là Bốn đế (Tứ đế, Tứ diệu đế): Khổ đế, Tập
đế, Diệt đế, Đạo đế.
(30)
Vô-minh: Phạn: Avidya ; Pháp : Ignorance, Illusion.
(31)
Hành: Phạn: Sankhâra, Samskàrà ; Pháp: Impression, Penchant pervers
; Sự chuyển động trong tâm, sự toan tính nơi lòng.
(31)
Thức: Phạn : Vijnànà ; Pháp: Conscience ; Sự biết.
(32)
Danh sắc: Phạn: Nâma-Rupa ; Pháp: Nom et Forme ; Tức là thân
tâm, ngũ uẩn : gồm Thọ, Tưởng, Hành, Thức, kêu là Danh;
Sắc-tướng, hình chất, kêu là Sắc.
(33)
Lục-nhập: Phạn : Sadâyatana ; Pháp: Six sens ; Sáu căn trong
nhập với Sáu trần ngoài.
(34)
Xúc: Phạn: Sparca ; Pháp: Contact ; Sự đụng chạm.
(35)
Thọ: Phạn: Védana ; Pháp: Sensation, Vie des sens ; Thọ cảm thường
tình của các căn.
(36)
Ái: Phạn: Trisnà ; Pháp: Désir ; Ham muốn, ưa thích. Từ Vô-minh
tới Ái là tám nhân duyên đầu trong Thập-nhị nhơn-duyên
; Còn bốn nhơn duyên nữa là: Thủ, Hữu, Sanh, Tử, Lão Bệnh.
(37)
Nghiệp: Phạn: Karma. Tư tưởng và hành động từ các đời
trước đến đời nầy hiệp thành một Sức, có thiện, có
ác, hoặc toàn thiện.
(38)
Ngũ-ấm, ngũ uẩn: Phạn: Skandas; Pháp: Cinq agrégats; Năm món
( Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) hiệp lại mà che khuất chơn
lý, tự thể, làm cho chúng sanh luân-hồi.
(39)
Dây trói buộc: Phạn: Oupâdânas; Pháp: Liens.
(40)
Da-Du (Yasôdhara): Vợ cũ của đức Thích-Ca.
(41)
Bài kệ trên đây mà tôi đã dịch nghĩa rộng, do theo chữ
Pháp. Kinh chữ Hán gọi là "Tứ cú thành Đạo". Vừa khi thành
La-hán hoặc thành Phật, mỗi vị đều có đọc bài Kệ nầy:
Chư
lậu dĩ tận,
Mọi
sự phiền não đã hết,
Phạm
hạnh dĩ lập;
Đức
hạnh thanh tịnh đã lập;
Sở
tác dĩ biện,
Việc
làm của mình đã xong,
Bất
thọ hậu hữu.
Chẳng
còn chịu thân sau nữa.
|
Thou
who wouldst see where dawned the light at last,
North-westwards
from the "Thousand Gardens" go
By
Gunga's valley till thy steps be set
On
the green hills where those twin streamlets spring
Nilâjan
and Mohâna; follow them,
Winding
beneath broad-leaved mahúa-trees,
'Mid
thickets of the sansár and the bir,
Till
on the plain the shining sisters meet
In
Phalgú's bed, flowing by rocky banks
To
Gâya and the red Barabar hills.
Hard
by that river spreads a thorny waste,
Uruwelaya
named in ancient days,
With
sandhills broken; on its verge a wood
Waves
sea-green plumes and tassels 'thwart the sky,
With
undergrowth wherethrough a still flood steals,
Dappled
with lotus-blossoms, blue and white,
And
peopled with quick fish and tortoises.
Near
it the village of Senáni reared
Its
roofs of grass, nestled amid the palms,
Peaceful
with simple folk and pastoral toils.
There
in the sylvan solitudes once more
Lord
Buddha lived, musing the woes of men,
The
ways of fate, the doctrines of the books,
The
lessons of the creatures of the brake,
The
secrets of the silence whence all come,
The
secrets of the gloom whereto all go,
The
life which lies between, like that arch flung
From
cloud to cloud across the sky, which hath
Mists
for its masonry and vapory piers,
Melting
to void again which was so fair
With
sapphire hues, garnet, and chrysoprase.
Moon
after moon our Lord sate in the wood,
So
meditating these that he forgot
Ofttimes
the hour of food, rising from thoughts
Prolonged
beyond the sunrise and the noon
To
see his bowl unfilled, and eat perforce
Of
wild fruit fallen from the boughs o'erhead,
Shaken
to earth by chattering ape or plucked
By
purple parokeet. Therefore his grace
Faded;
his body, worn by stress of soul,
Lost
day by day the marks, thirty and two,
Which
testify the Buddha. Scarce that leaf,
Fluttering
so dry and withered to his feet
|