Sáng
Thứ Hai
Ngày
hôm qua chúng ta đã cố gắng càng nhiều càng tốt để tâm
của chúng ta đi vào trạng thái tĩnh lặng tỉnh thức tự
nhiên. Chúng ta cố gắng thực hiện công việc này để chúng
ta có thể nhìn ra được những căn bệnh tinh thần của chúng
ta. Bằng cách để tâm an trú trong trạng thái tự nhiên, chúng
ta có thể khám phá ra những chiếc mền bản ngã vĩ đại
và những u mê của tâm, từ đó chúng ta sẽ khám phá ra chúng
qua chính những kinh nghiẹâm của chúng ta. Nếu chúng ta không
đi vào trạng thái này, chúng ta không thể nhìn ra được những
vấn đề khó khăn, những rắc rối của chúng ta, đặc biệt
là những nguyên nhân cốt tủy sâu kín nhất của những vấn
đề này.
Trong
những lúc lầm lẫn u mê, tất cả những gì mà chúng ta nghĩ,
làm... cũng đều nằm trong tình trạng mê lầm dị đoan, do
đó chúng ta đã cho khổ đau là khoái lạc. Chúng ta đã không
còn nhận định ra được u mê, mù quáng là gì. Vì thế, mỗi
khi chúng ta cố gắng giải quyết những khó khăn của chúng
ta thì cũng như gãi những chỗ ngứa ở trên da. Khi gãi, chúng
ta cảm thấy khoan khoái, dễ chịu, nhưng khi ngừng lại chúng
ta mới biết là nó đang đau kinh khủng.
Chúng
ta đã thiền trong ngày hôm qua rồi hôm nay. Chúng ta đã để
tâm đi vào trạng thái tự nhiên của nó mới chỉ một lần,
trong một vài phút. Chỉ một lần mà đã đủ để nhìn
ra được những lầm lẫn ở trong đó. Nếu chỉ một lần
mà đã đủ thì tại sao chúng ta lại cần tiếp tục thiền
định sau khi chúng ta đã chấm dứt lớp học này? Tại sao
chúng ta nên tiếp tục thiền nữa, nữa, nhiều thêm nữa...trong
những ngày tháng sau này?
Khi
một người bị bệnh phải vào bệnh viện, bác sĩ cho dùng
thuốc, căn bệnh có hết ngay lập tức sau khi dùng thuốc một
vài lần không? -Có? Bệnh ung thư có hết ngay sau khi dùng thuốc
một vài lần không? Không thể được! Bệnh tinh thần
cũng y như vậy. Chúng ta cần phải đi vào an trú trong trạng
thái tự nhiên của tâm càng nhiều càng tốt, nữa, nữa, nhiều
nữa, thật nhiều nữa...
Lặp
lại thiền định và kinh nghiệm lại những chứng nghiệm
là một điều vô cùng quan trọng. Nhiều người trong chúng
ta đã từng có những kinh nghiệm thoải mái, an lạc của sự
tịch tĩnh an nhiên. Tôi chắc chắn rằng qúy vị ở đây cũng
đã có những kinh nghiệm này --không ? Nhưng những cơn gió
mù quáng luôn luôn thổi đến; khi cơn lốc thổi qua là bao
nhiêu kinh nghiệm ngừng lại, tan biến và chúng ta không còn
kinh nghiệm đó nữa. Nó là như vậy. Qúy vị vẫn nghe tôi
đấy chứ?
Khi
chúng ta có những kinh nghiệm tốt, chúng ta vui, cảm thấy
an lành và chúng ta luôn luôn cân bằng được những kinh nghiệm
trong từng giây phút. Nhưng rồi có những cơn gió lốc mù
quáng và những tư tưởng sai lầm thổi đến, chúng tràn đến,
chúng ập đến rất mạnh làm cuốn đi tất cả. Chúng ta không
thể lấy lại được những giây phút an lành, thoải mái nữa.
Đó là lý do tại sao chúng ta nên lặp đi lặp lại trạng
thái tự nhiên của tâm chúng ta, như vậy mỗi ngày kinh nghiệm
của chúng ta mỗi vững mạnh thêm cho đến khi nào chúng ta
có thể chuyển hóa được toàn diện vấn đề trong tận gốc
rễ sâu thẳm nhất của nó để thấu hiểu được bản
thể của chúng ta là gì, bản lai diện mục là gì.
Một
cách tổng quát, tôi chắc chắn rằng tất cả qúy vị ở
đây đều rất khỏe mạnh và có một đời sống vững vàng.
Trông qúy vị thật là khỏe mạnh: cơ thể, thân xác của
qúy vị không có bệnh tật gì. Nhưng tôi không muốn nói về
vấn đề này. Những khó khăn rắc rối đang lẩn quất ở
đâu đây mặc dù chúng ta đang vui vẻ khỏe mạnh. Mặc dù
chúng ta đang sống rất an bình, không có gì gọi là căng thẳng
hay bệnh tật, nhưng mầm mống của giận dữ, mất thăng bằng
và tật nguyền cũng đang ở đây. Chúng đang ở đây mặc
dầu chúng ta coi như vững vàng lắm. Đó là lý do tại sao
chúng ta cần và nên an trú thường xuyên trong bản tính tự
nhiên của tâm chúng ta. Do đó, chúng ta có thể nhìn thấu
suốt, nhìn thật rõ ràng được chúng ta đang có bệnh và
khám phá được chúng ta đang mang một chiếc mền u mê qúa
nặng nề. Chúng ta có thể nhìn ra rất rõ ràng vấn đề này,
vì thế chúng ta nên để cho tâm của chúng ta thường an trú
trong bản tính tỉnh thức tự nhiên của nó. Hãy lên đường.
Nhờ
khám phá ra được chiếc mền mù quáng nặng nề và những
quan niệm sai lầm mà chúng ta có được sức mạnh để thiền
định và vun đắp được ý chí vững vàng để đem đời
sống của chúng ta vào con đường ngay thẳng của cuộc sống.
Khi chúng ta biết được tường tận những vấn đề khó khăn
rắc rối của chính chúng ta, từ đó chúng ta có thể thông
cảm được với những người chung quanh chúng ta. Vì để
tâm an trú trong trạng thái tự nhiên của nó, chúng ta có được
trí huệ, trí huệ có cơ hội được phát triển. Khi có trí
huệ chúng ta thấu hiểu được người khác cũng đang mang
một chiếc mền bản ngã rất nặng nề như chúng ta, nhìn
thấy họ là chúng ta hiểu ngay. Chúng ta sẽ cảm thấy thương
họ, từ đó chúng ta bắt đầu cảm được tình yêu đang
dâng trào trong trái tim ta và lòng từ bi của chúng ta sẽ khởi
phát mãnh liệt, sẽ dạt dào dâng lên mãnh liệt.
Khi
chúng ta nhận ra được điều này, chúng ta liền nói, “ Tôi
muốn được hạnh phúc, tôi muốn được giải thoát khỏi
cái tâm ràng buộc của tôi. Nhưng ai có thể giải phóng tôi?
Cái gì có thể cứu thoát tôi? ” Phật giáo quan niệm rằng
Thượng đế không thể giải thoát anh, Phật không thể giải
thoát anh, những vị lạt ma không thể giải thoát anh. Chỉ
có chính anh mới có thể giải thoát được cho anh mà thôi!
Giải thoát là chính anh! Chính anh, chính trí huệ trong sáng
của anh và chính lòng từ bi của anh, đó là sự hiểu biết
về chiếc mền nặng nề của chính anh và của những người
khác, chiếc mền nặng nề là sự chấp ngã mù quáng
của tất cả mọi người. Đây là con đường giải thoát,
đây mới là sự bắt đầu chân thật nhất, đây mới thực
sự là qui y.
Bây
giờ qúy vị đã hiểu chưa? Phật Pháp là một đối tượng
để chúng ta qui y, phải không? Phật Pháp giải thoát chúng
ta ra khỏi những trầm uất của cuộc đời và những bất
mãn của cuộc sống. Nhưng giải thoát như thế nào? Câu hỏi
là “làm thế nào?” Đức Phật đã chỉ cho chúng ta phương
pháp để đi vào trạng thái tự nhiên, để an trú trong tâm
bản nhiên. Ngài chỉ cho chúng ta làm thế nào để có trí
huệ, làm thế nào để có lòng từ bi. Chúng ta hãy thực hành
những phương pháp này và làm cho chúng mỗi ngày mỗi phong
phú hơn, phong phú hơn và phong phú hơn nữa. Chúng ta hãy chăm
sóc đóa hoa trí huệ của chúng ta, chúng ta hãy vun tưới cho
đóa hoa từ bi của chúng ta để chúng mỗi ngày mỗi tăng
trưởng thêm, mỗi lớn mạnh thêm.
Càng
có trí huệ, càng đến gần với sự thật hơn, càng phát
triển được lòng từ bi hơn, càng giảm được những
bất mãn trong cuộc đời hơn và càng bớt cô đơn hơn. Đó
là con đường qui y. Nếu không như vậy, dù Đức Phật có
xuất hiện ra ngay bây giờ, đổ nước trên đỉnh đầu chúng
ta rồi niệm mật chú để thanh tẩy chiếc mền lầm lạc
của chúng ta... Ngài cũng không thể tẩy rửa chúng đi được,
phải không quý vị? Đó không phải là cách dậy bảo của
Ngài.
Qui
y Phật Pháp là một việc làm rất quan trọng. Tại sao? Khi
chúng ta bị mệt, chúng ta dùng thuốc, chúng ta mới chỉ giảm
được cái đau nhất thời của cái mệt. Khi bị bệnh thần
kinh, chúng ta uống thuốc an thần, phải không? Một cái tâm
bất an mà đi qui y trong liều thuốc an thần thì không có hiệu
nghiệm chút nào, qui y không đúng cách thì không giải quyết
được những rắc rối, không thực tình qui y thì những vấn
đề của đời sống vẫn còn đó. Không thực sự hiểu qui
y là gì thì sẽ không có tinh tấn trên con đường thiền định.
Nhờ ý chí dũng mãnh, chúng ta đã có một vài kinh nghiệm
về tiến trình dẫn đến trạng thái trong sáng, về việc
chứng nghiệm được sự trong sáng, hiểu được cái gì là
những vấn đề tương đối của chúng ta và về thực tại
tuyệt đối mà chúng ta có thể đạt được. Do đó, ngay bây
giờ chúng ta cần phải có một sự quyết tâm. Rồi chúng
ta mới có thể khám phá ra được, có thể hiểu được sự
qui y vĩ đại chính là Đạo Pháp, đó chính là trí huệ, lòng
từ bi, tình yêu bao la không bờ bến. Đó chính là con đường
chân thật, đó mới là Đạo pháp chân chính. Đó là con đường
chuyển hóa, con đường thăng tiến chính chúng ta. Sự thương-thân-trách-phận-vô-minh
chỉ có thể giải quyết tạm thời, nó không thể thay đổi,
không thể thăng tiến chúng ta được. Chúng không dẫn chúng
ta đi đến đâu cả. Chúng chỉ làm chúng ta thêm đần độn,
u mê.
Đó
là lý do tại sao sự quyết tâm lại vô cùng quan trọng. Nó
cho chúng ta sức mạnh. Mỗi khi chúng ta có một kinh nghiệm
tốt, chúng ta nên ghi nhận nó ở trong tâm của chúng ta. Chúng
ta cần sự xác nhận này và cần sự quyết tâm này. Chúng
ta nên nghĩ: “Đây là con đường tôi cần phải theo để
giải quyết tất cả những vấn đề của tôi trong cuộc sống.
Tôi sẽ không qui y vì những kết qủa của nó. Có thể tôi
sẽ nhận những kết qủa tạm thời trong việc qui y này; tôi
sẽ nhận lãnh nó để chấm dứt những khao khát xấu xa của
tôi. Nhưng chỉ có sự qui y bằng tấm lòng chân thành tận
sâu thẳm tâm trí tôi mới đem đến cho tôi sự hoàn mãn vĩnh
cửu không bao giờ hết; nó đến qua Đạo Pháp, qua những
lời dậy bảo của Phật. Chính Đức Phật đã khám phá ra
đại huệ này, lòng từ bi này và tình thương bao la vô bờ
bến này, nó đến từ trí huệ bao la của chính Ngài. Chỉ
có con đường này mới giúp tôi được.” Hãy quyết tâm
một cách mãnh liệt, hãy lên đường một cách quyết liệt!
Như
vậy mỗi khi chúng ta gặp một chút bực tức hay mỗi khi xuống
tinh thần, chúng ta sẽ có sức mạnh để giúp chúng ta tìm
cách chiến thắng được những khó khăn , thay vì than vãn:
“Trời ơi, giúp con, hu hu hu...” Chúng ta hãy là bác sĩ cho
chính chúng ta, chúng ta hãy là ông thầy chữa bệnh tâm thần
cho chính chúng ta.
Đạo
pháp có nghĩa là đang-đụng-vào-sự-thật, đang-là-sự-thật,
đang-là-trí-huệ, đang-là-tình-yêu, nó đang ở trong chúng
ta. Đạo pháp có nghĩa là chúng ta làm cho những cái “đang”
này lớn lên, lớn hơn lên, bao la ra. Chúng ta có thể
cảm nhận được, “Bây giờ tôi như thế này, nhưng từ
nay tôi có thể đi xa hơn, xa hơn và xa hơn. Tôi có thể nhìn
thấy con đường viên mãn vô cùng vững chắc ở ngay
trong tâm tôi. Tôi có thể thành tựu được.”
Tình
trạng viên mãn này của tâm thức có thể gọi là trạng thái
(cảnh giới) Phật. Chúng ta cảm thấy chúng ta đang trên đường
đạo hướng về: “ Tâm tôi đã bị đóng từ lâu, nhưng
bây giờ tôi có thể mở và phát triển được nó. Tôi sẽ
được giải thoát.” Chúng ta đang nối một đường giây
giao tiếp, chúng ta có thể thấy được 5 cảnh giới - có
thể bây giờ chúng ta đang ở cảnh giới thứ hai, nhưng rồi
chúng ta sẽ thấy tất cả con đường dẫn thẳng tới sự
giải phóng. “ Đây rồi, tôi sẽ lành mạnh hơn, thảnh thơi
hơn, tâm hồn tôi sẽ cởi mở hơn, thoải mái hơn, sẽ không
còn lầm lẫn, sẽ không còn chiếc mền nặng nề trên đôi
vai, sẽ không còn chấp cái tôi. Tôi có thể phát triển được.”
Chúng
ta có thể nhận ra được chúng ta sẽ tinh tấn như thế nào
bởi vì chúng ta biết được chúng ta đang ở chỗ nào trên
con đường đạo. Đó là một cảm nghĩ rất quan trọng, thay
vì lúc nào cũng bi quan “ Tôi chẳng có hy vọng, tôi
đã mất hết hy vọng. Tôi vô minh. Tôi là người tàn phế.”
Nếu chúng ta nghĩ chúng ta là người tàn phế thì cuộc đời
còn lại của chúng ta sẽ trở nên tàn phế bởi vì chúng
ta tin chúng ta như vậy. Điều này không đúng chút nào. Thật
sự chúng ta có trí huệ; chúng ta có tình yêu; chúng ta có
lòng từ bi - chúng ta đã có sẵn tất cả những thứ đó
rồi ! Chúng ta chỉ cần vun tưới, chăm sóc để chúng tươi
tốt hơn, lớn hơn, lớn hơn nữa mỗi ngày.
Chúng
ta cần phải biết điều quan trọng này. Chúng ta không nên
nghĩ chúng ta là những người bị ruồng rẫy, bị vất bỏ.
Qúy vị có biết rằng khoa học nói con người là một vật
được sáng tạo không? -Không? Như vậy chúng ta là một
con vật phải không? Là một con vật được sáng tạo? Qúy
vị có biết không? Qúy vị cho tôi một cảm tưởng chúng
ta là một loài quá thấp như là một con giun, con dế. Theo
quan điểm của Phật giáo thì có một sự khác biệt rất
lớn giữa con người và con giun, giữa con người và con vật.
Theo
Phật giáo, con người hoàn toàn khác con vật, con người
có một trình độ tâm thức phát triển rất cao. Con người
đã phát triển trí tuệ ở một tầm mức rất cao và cũng
có một lòng thương yêu rất cao. Chúng ta nên xác nhận điều
này và đừng bao giờ nghĩ, “ Tôi là con heo, tôi là con gà,
tôi là con rắn.” Thực qúa sai lầm khi nghĩ như vậy bởi
vì chúng ta hoàn toàn có những cái khác với loài vật. Chúng
ta có những giá trị mà chúng ta nên nhìn nhận.
Bên
Aâu Mỹ, khi qúy vị tốt nghiệp, đến dịp sinh nhật hay đến
một ngày đặc biệt nào, người ta thường hay tổ chức tiệc
để chức mừng qúy vị. Nếu có những ngày đặc biệt hay
những sự kiện cần nhớ, qúy vị đều ghi vào sổ. Nhưng
khi có một kinh nghiệm đặc biệt về sự giải thoát thì
chẳng có một sự chúc mừng nào. Nó có vẻ như, “ Nếu
không có ai chú ý thì tôi cũng chẳng để ý làm gì.” Theo
ý kiến của riêng tôi, mỗi khi chúng ta có một kinh nghiệm
nào về sự hiểu biết, về sự giác ngộ... chúng ta nên ghi
nhận giây phút đó. Cho nó một dấu ấn. Đó là lúc để
ghi nhớ ngày giờ của một sự kiện đặc biệt xảy ra. Đối
với tôi, kinh nghiệm về con đường đưa đến giác ngộ thì
đáng ghi nhớ hơn là những kỷ niệm của trần gian như ngày
ra trường, ngày sinh nhật...
Mong
rằng qúy vị hiểu điều tôi muốn nói. Mỗi khi có một kinh
nghiệm nào, hãy ghi nhận nó, xác định giá trị của nó,
trau dồi nó, phát triển nó. Chúng ta cần có sự quyết tâm
mãnh liệt để chúng ta khỏi mất chúng mỗi khi cơn lốc trần
gian ào ạt đến, qúy vị có nhớ không? Mỗi khi cơn lốc
u mê tràn đến, nó sẽ cuốn đi mọi giá trị.
Giống
như sự huấn luyện một lực sĩ. Hết ngày này qua ngày khác,
hết năm này qua năm khác, có khi mất cả 10 năm để dạy
một lực sĩ nhảy cao. Ngày hôm nay nhảy thấp, ngày mai cao
hơn, ngay mốt cao hơn, rồi sẽ cao hơn nữa, hơn nữa. Họ
có được can đảm bởi vì họ kinh nghiệm được từng bước
tiến bộ của họ, như vậy họ sẽ quyết tâm hơn. Thêm một
lần kinh nghiệm là thêm một lần quyết tâm, là lòng tin tưởng
vào sự chiến thắng sẽ càng thêm vững bền.
Sự
tu tập của chúng ta cũng như vậy, chúng ta rèn luyện ở bên
trong này (Lạt ma chỉ vào tim của ngài). Mỗi khi thiền định
là mỗi lần chúng ta đi vào cuộc chiến giữa bản ngã (cái
tôi) và tâm bản nhiên. Đây phải chăng là một sự tranh đấu,
đúng không? Chúng ta hãy làm việc một cách khoa học và cần
phân tích hiện trạng một cách thông suốt. Mỗi khi có kinh
nghiệm về sự trong sáng, hãy chắc chắn rằng sự u mê, mù
quáng đã được tẩy rửa, như vậy chúng ta sẽ có thêm một
tu chứng, thêm một gía trị. Càng nhiều tu chứng thì con đường
giải thoát càng rõ ràng, càng thênh thang, thoải mái. Hãy suy
nghĩ điều này. Hãy tự chúc mừng cho sự thành đạt của
chúng ta, ở ngay trong chính căn phòng mà chúng ta đang thiền.
Chúng ta có thể tự nói với chúng ta: “ Ô, đây rồi, con
đường là như vậy, ô, nó là như vậy....” Có thể người
bạn bên cạnh sẽ cho rằng chúng ta điên vì chúng ta nói một
mình! Nhưng đôi khi nó rất có lợi. Tôi nghĩ rằng đó là
điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm.
Như
vậy chúng ta có hai kiểu qui y. Chúng ta lệ thuộc vào thực
phẩm, quần áo và tiền bạc, nhưng đó không phải là cách
qui y tối thượng, không phải là sự lệ thuộc miên viễn.
Qui y tối thượng có nghĩa là chúng ta thực hiện một điều
gì đó ở bên trong chúng ta, phát triển trí huệ của chính
chúng ta ở bên trong này, lòng từ bi ở trong này và tình yêu
ở tận bên trong này (Lạt ma chỉ vào trái tim của ngài).
Có hai thứ qui y, qui y tối hậu và qui y tầm thường; cả
hai loại này cùng xảy ra một lúc trong cuộc đời của chúng
ta. Nó thật là quan trọng. Nó thật là cần thiết.
Càng
trú ẩn lâu trong tình trạng tự nhiên của sự tỉnh thức
trong sáng, càng thấu hiểu được luân hồi và niết bàn,
càng sớm nhìn rõ được thái độ ích kỷ của sự bám víu
vào bản ngã, và đây là đầu mối của tất cả mọi khổ
đau trong cuộc đời. Chúng ta chỉ có thể khám phá được
tình trạng này khi chúng ta ở trong thiền định, trong trạng
thái thanh tịnh. Thí dụ, anh sẽ biết được tại sao anh khóc
trong năm ngoái khi người bạn gái từ giã anh, anh sẽ hiểu
rất rõ lý do tại sao anh đau khổ. Nếu không có những giây
phút an trú trong tĩnh lặng, chúng ta không thể nào hiểu được
tại sao chúng ta khóc, chúng ta sầu khổ.
Nếu
anh tự hỏi anh một cách bình thường, “ Năm ngoái, tại
sao tôi khóc khi cô ta bỏ tôi?” câu trả lời có thể là,
“ Bởi vì tôi yêu cô ta.” Phải vậy không? Đó là
một câu trả lời qúa thường, có vẻ như gian dối. Anh tự
dối lừa anh bởi vì câu trả lời đúng nhất phải là: “
Bởi vì ý tưởng ‘tự-thương-xót-anh’ anh đang đặt vào
cô ta ! Bởi vì anh biết anh sẽ mất cô ta! ” Đó là sự
thật! Nó có liên hệ đến cái tôi; đó là cái mà tôi sẽ
mất; nên tôi khóc. Đó chính là sự thật, là lý do đúng
nhất, chứ không phải “Tôi yêu cô ta, nên tôi khóc.” Đây
là điều không thật chút nào.
Theo
quan điểm của Phật giáo, chúng tôi hiểu một cách trong sáng,
chân thật rằng: tình yêu có nghĩa là mong muốn cho người
khác được hạnh phúc, mong muốn cho người khác có những
giây phút thoải mái. Đó là tình yêu. Khi người yêu của
anh bỏ anh, anh khóc, điều đó không có nghĩa là anh thông
cảm, chia sẻ cảm tình với cô ta và mong muốn cho cô ta được
vui vẻ thoải mái. Thực ra, anh đã chỉ muốn cho anh được
khoan khoái. Thực là một điều trái ngược.
Khi
chúng ta ở trong trạng thái thanh tịnh, tự nhiên, chúng ta
có thể nhìn thấy rất rõ ràng cái ý tưởng tự ái của
chúng ta, những bám viú của chúng ta, chính những thứ này
làm chúng ta khóc, nó làm chúng ta sầu khổ, nó làm chúng ta
cô đơn, nó làm chúng ta tàn lụi. Qua kinh nghiệm này, nhờ
an trú trong tâm bản nhiên, chúng ta hiểu thấu được sự
trong sáng của tâm ta và chúng ta phát triển được lòng thương
yêu đến những người khác. Chúng ta hãy suy nghĩ, “ Tôi
như một người bị tàn phế. Cái ý tưởng tự thương thân
trách phận của tôi, những bám víu của tôi đã làm tôi khóc
lóc như một đứa trẻ con. Tôi như một đứa con nít. Tôi
đã mất hết hy vọng. Hãy nhìn tôi. Hãy nhìn vào tâm trạng
của tôi. Đúng vậy ! cũng giống như tôi, bao nhiêu người
khác cũng đang sầu khổ, bao nhiêu người khác cũng đang có
những tư tưởng sai lầm này. Họ không biết được sự thật,
họ không có cơ hội để có được những phút giây thanh
tịnh này.” Chúng ta cảm thấy thương họ, lòng trắc ẩn
của chúng ta phát khởi lên, tâm từ bi của chúng ta bắt đầu
hoạt động, tình yêu chân thật của chúng ta bắt đầu xuất
hiện. Chúng ta mong ước cho mọi người thông hiểu và từ
bỏ những sai lầm của họ và đi vào trú ẩn trong tâm an
lạc của họ. Phật giáo gọi đây là Bồ đề tâm (bodhicitta).
Citta
có nghĩa là trái tim, tâm; trong trái tim của chúng ta, chúng
ta hãy dành một chỗ cho những người khác, chúng ta thương
họ, chúng ta mong muốn cho họ đạt được sự hạnh phúc
trường cửu, đừng bám víu vào những u mê, ích kỷ. Chúng
tôi gọi đó là bồ đề tâm. Do đó chúng ta hiểu được
rằng thiền định sản xuất ra lòng yêu thương, lòng từ
bi, tâm bồ đề, bởi vì chúng ta nhận ra được những vấn
đề của họ, chúng ta nhìn thấy sự đau khổ của họ.
Trong
lúc thiền, hãy cố gắng an trú trong trạng thái trong sáng
thanh tịnh. Khi những cơn gío bắt đầu thổi tới --
gió bám víu, gió tham lam, gió chấp ngã... -- chúng ta khó có
thể an trú trong dòng tâm thức trong sạch được, nên chúng
ta hãy chỉ theo dõi tình trạng này. Đừng bối rối than vãn,
” Oâi chao, sao khủng khiếp thế này ! Sao nhiều thứ đến
thế này ! Những cơn lốc cuộc đời xuất hiện tàn bạo
qúa, làm sao yên tịnh được bây giờ, tôi không thể ngồi
yên được! ” Thay vì than vãn, thay vì bồn chồn, hãy nghĩ
đến hàng triệu người cũng đang đau khổ như vậy mà phát
khởi lòng từ bi đến với họ.
Trước
tiên hãy nhìn vào kinh nghiệm của mình đang có rồi chia sẻ
kinh nghiệm này với những người khác: “ Có rất nhiều
người cũng như tôi.” Trong chiều hướng đó, lòng từ bi
sẽ mở rộng, chúng ta sẽ luôn luôn ở trong tâm trạng yêu
thương trắc ẩn. Hãy an trú trong trạng thái đó, phương pháp
thiền này được gọi là thiền định với bồ đề tâm.
Thiền
với bồ đề tâm. Bất cứ nguồn năng lượng trong sáng nào
đến, hãy gửi cho tất cả mọi người mà nhận lấy tất
cả những nguồn năng lượng khổ đau, những rắc rối của
họ -- ung thư, tàn tật, bất mãn, cô đơn... -- bằng những
làn khói đen đi vào tim chúng ta. Chúng ta trao đổi sự trong
sạch của chúng ta bằng những xấu xa của những người khác.
Đây
là một ơn ích bởi vì những nguồn năng lực đen tối chính
là những đặc tính bám víu của chúng ta mà chúng ta đang
cố gắng tẩy trừ. Chúng ta muốn tránh né ung thư, bệnh tật,
nhiễm trùng. Chúng ta muốn trừ khử những tình trạng không
hài lòng càng nhiều càng tốt bởi vì những bám víu và ích
kỷ của chúng ta. Vì thế mỗi khi chúng ta được an trú trong
tâm bản nhiên trong sáng, chúng ta hãy nghĩ đến người khác
mà gửi đến họ những nguồn năng lượng yêu thương, an
lành, bằng những làn ánh sáng trắng đến với họ. Rồi
chúng ta hãy nhận lại những sự khó khăn, cô đơn của họ
vào trái tim của chúng ta qua những làn khói đen và những
hơi độc vào trái tim của chúng ta. Hãy làm như vậy bằng
tất cả tấm lòng chân thành qua những kinh nghiệm của chúng
ta. Đó là lý do chúng tôi gọi thiền bằng tâm bồ đề.
Bodhi
có nghĩa là mở, “ rộng mở ”, Citta là “ trái tim, tâm
“, như vậy bodhicitta (tâm bồ đề) có nghĩa là hãy có một
tâm rộng mở, một trái tim rộng mở. Hãy mở tâm bao la. Đây
là một vấn đề vô cùng quan trọng mà chúng ta phải thông
suốt. Người Tây phương thường nói “ hãy có một tấm
lòng mở rộng, hãy mở tâm của anh ra, open your mind! ”
Có
rất nhiều cách để có một tấm lòng mở rộng; tuy nhiên,
có một tấm lòng mở rộng mà tôi muốn đề cập đến ở
đây là chúng ta hãy nhận định, hãy thấu hiểu rằng lòng
ích kỷ và bám víu của chúng ta đã đẩy chúng ta vào một
trại tập trung. Nó giống như trại tập trung nhốt người
Do thái -- không có cách nào để thoát ra được. Chúng ta bị
nhốt trong những cũi sắt đàng sau ba bốn hàng kẽm gai. Chúng
ta không thể trốn thoát được. Cũng giống như vậy, sự
bám víu và những thái độ ích kỷ là những chiếc song sắt
-- nó siết chặt, siết chặt chúng ta làm chúng ta đau đớn
vô cùng tận.
Chiếc
vòng sắt bám víu như thế này (lama đưa tay ra và cuốn xâu
chuỗi chung quang cổ tay ngài). Sự bám víu cuốn chung quanh
chúng ta chặt như vậy. Trái tim của chúng ta bị cuốn chặt
bởi sự bám víu. Đúng vậy, đó là sự thật. Tôi thực sự
thành thật khuyên quý vị hãy khám xét nó ngay bây giờ, tại
đây, ngay giây phút này. Sự bám víu làm chúng ta đau lắm,
đau lắm, đau không thể tưởng tượng nổi. Nó giống như
con dao, như cây kiếm đâm suốt trái tim chúng ta. Quý vị có
hiểu không? Nó đâm chúng ta 24 giờ trong từng ngày, thật
là khủng khiếp.
Sự
bám víu và ích kỷ làm chúng ta không bao giờ thoải mái, bất
cứ ở chỗ nào, bất cứ đi đến đâu. Dù đi ra biển, chúng
cũng đi theo. Dù đi leo núi, đi cắm trại, đi nghỉ mát, đi
du hí.... chúng cũng đi theo; bám víu và ích kỷ luôn luôn quấy
rầy chúng ta. Ngay cả đi đến nhà thờ, đền chùa thì sự
bám víu và ích kỷ cũng đi theo chúng ta. Chúng ta đã không
được tự do ở bất cứ một nơi nào. Quá khổ, quá đau,
đau khổ kinh khủng phải không quý vị?
Chỉ
vì chúng ta bám víu và ích kỷ nên chúng ta luôn luôn tự vệ.
Quý vị không tự vệ sao? Tự vệ có nghĩa là chúng ta luôn
nghĩ, “ Có thể cô ta đang lợi dụng tôi, tốt hơn mình hãy
đề phòng.” Hay là, “Có thể anh ta đang lợi dụng tôi,
tôi phải canh chừng mới được.” Quý vị có hiểu
không? Chúng ta luôn luôn tự vệ. Chúng ta luôn luôn nghĩ
rằng xã hội đang lợi dụng chúng ta, ông chủ đang lợi dụng
chúng ta, mẹ chúng ta đang lợi dụng chúng ta, ba chúng ta đang
lợi dụng chúng ta, bạn trai đang lợi dụng ta, bạn gái đang
lợi dụng ta; ông chồng đang lợi dụng ta; bà vợ đang lợi
dụng ta; hay chính ông sư Tây tạng này đang lợi dụng chúng
ta. Quý vị hiểu tôi muốn nói gì chứ? Cảnh sát đang lợi
dụng tôi; cả Chúa, cả Phật cũng đang lợi dụng tôi....!
Chúng
ta quá sợ hãi, sợ hãi những cái không cần thiết. Có lẽ
qúy vị cho rằng tôi nói qúa đáng, nhưng đây, tôi sẽ nói
cho qúy vị biết nó như thế nào. Tôi không nói qúa đáng
đâu. Cho tới khi nào chúng ta còn bám víu và còn ích
kỷ, chúng ta sẽ chẳng có thoải mái, ngay cả khi qúy vị
đang ở bên cạnh người yêu của qúy vị, bên vợ, bên chồng
của qúy vị hay bên cha mẹ của qúy vị. Chúng ta sẽ chẳng
có sự thoải mái bởi vì chúng ta còn có những ý tưởng
tự thương thân phận mình, nó như một con dao. Từ khi sinh
ra đến ngày nay, 24 giờ trong một ngày, con dao cứ ở bên
chúng ta, nó đâm thấu trái tim chúng ta.
Tôi
cảm thấy như vậy. Có thể qúy vị cho tôi là một nhà sư
điên cuồng? Đúng như vậy, tôi thực sự cảm thấy như vậy.
Nhưng mỗi khi chúng ta bắt đầu mở tấm lòng của chúng ta
ra với người khác, mỗi khi chúng ta bắt đầu nghĩ, “ Tất
cả mọi người đều tốt, vì họ tốt như thế nên tôi còn
sống được đến ngày hôm nay. Mẹ tôi qúa tốt với tôi,
người đã cho tôi thân thể này, ba tôi thực tốt với tôi,
người đã cho tôi thức ăn hàng ngày. Vì mọi người làm
việc vất vả nên tôi mới có quần áo mặc, cơm ăn. Vì thế
tôi mới sống được. Nói một cách thành thật, cả cuộc
đời của tôi đều tùy thuộc vào những người khác. Tất
cả mọi người là nguồn vui cho tôi.” là ngay lập tức chúng
ta sẽ thở được một cách khoan khoái hơn.
Mỗi
khi chúng ta mở rộng tấm lòng ra thêm một chút là chúng ta
sẽ thở khoan khoái thêm một chút, chính bởi vì sự bám víu
và lòng ích kỷ của chúng ta đã làm chúng ta khó thở, làm
chúng ta nghẹt thở. Hãy nhìn thẳng vào xã hội Tây phương,
đó là một thí dụ rất điển hình. Họ làm ra qúa nhiều
thứ rồi họ tự kiêu tự đại về những thành qủa đó,
kết qủa là họ qúa lo lắng, sợ mất đi những tài sản
đó. Chúng ta có thể tự nhìn ra vấn đề này. Đó là lý
do tại sao những thái độ bám víu và ích kỷ của con người
đã là những vấn đề vô cùng khó khăn và rắc rối mà chúng
ta không thể nào tưởng tượng nổi. Chúng ta có thể nhìn
thấy rất rõ, nó qúa tệ.
Thực
là vô cùng quan trọng và khẩn thiết để khám phá ra chúng
càng sớm càng tốt và để thanh tẩy chúng càng nhanh càng
tốt. Như tôi đã trình bày trước kia, khi người tình bỏ
ra đi, chúng ta khóc bởi vì chúng ta ích kỷ. Nga sô sẽ tiến
chiếm Thụy điển, tại sao chúng ta có thể nghĩ được như
vậy? Tại sao chúng ta lại có tư tưởng này? Tại vì chúng
ta ích kỷ ! Qúy vị nghĩ đây là một chuyện tức cười sao?
Nói đùa vậy thôi. Nhưng thực ra dân Thụy điển đang tức
giận đây! đáng tiếc thay! Đó là con đẻ của lòng ích kỷ.
Phải vậy không? Suy nghĩ đi !
Tất
cả những lý do mà con người đánh nhau, tất cả những lý
do mà con người xung khắc với nhau đều bắt nguồn từ lòng
ích kỷ. Qúy vị có nghĩ rằng lý do mà chúng ta đánh nhau
là vì chúng ta muốn tranh giành sự lợi ích, sự hài lòng,
phải vậy không? Có phải nó bắt nguồn từ lòng ích kỷ
không? Vợ chồng đánh nhau, vì ích kỷ phải không? Vợ nói,
“ Tôi không được hài lòng vì anh.” Người chồng nói,
“ Tôi cũng không được hài lòng vì bà.” Họ bắt
đầu đổ lỗi cho nhau, họ bắt đầu trút trên đầu nhau
những lời sỉ vả. Tất cả những liên hệ của con người
đều có dính líu đến ích kỷ, đến những thái độ ích
kỷ và bám víu.
Bên
Tây phương, quý vị luôn luôn tin tưởng rằng cách mạng và
kỹ nghệ hóa sẽ tốt đẹp cho xã hội loài người, máy móc
hóa công việc thường ngày sẽ đem lại một xã hội tốt
đẹp. Quý vị muốn như vậy, bây giờ quý vị có như vậy.
Có thể ý kiến của tôi quá tiêu cực bởi vì tôi ích kỷ,
nhưng như quý vị đã thấy, vì quá lo lắng cho vấn đề làm
tiền nên sự thất nghiệp lại là một vấn đề quá nặng
nề. Thay vì trả tiền cho nhân viên, quý vị đã mua máy móc,
quý vị đã tiêu quá nhiều tiền cho máy nên tiền lương của
quý vị bị giảm bớt. Không? Không phải như vậy? Tôi không
chắc lắm.
Máy
móc dụng cụ quan trọng hơn hay con người quan trọng hơn?
Vì cuộc cách mạng kỹ nghệ hóa máy móc nên con người bị
thất nghiệp nhiều hơn. Khoa học có bằng chứng về vụ này
không? Tự căn bản, vấn đề này cũng do tâm ích kỷ mà ra.
Tiến bộ khoa học thì rất tốt nhưng chúng ta phải có
sự pha trộn đúng đắn, áp dụng hợp lý. Chúng ta đã tạo
ra những lỗi lầm vì những động lực ích kỷ
của chúng ta. Quý vị đừng trách tôi, tôi chỉ nghĩ như vậy
thôi.
Vì
hoàn cảnh sinh sống thay đổi theo máy móc nên tâm của con
người cũng bị ảnh hưởng lây. Chúng ta đã trở nên như
một cái máy, chúng ta đã mất dần tình người, chúng ta đã
mất dần những giá trị của con người vì chúng ta đã cho
con người cũng như là một cái máy. Thí dụ cô ta đến xin
tôi việc làm, tôi đối xử với cô ta như là một cái máy.
Khi tôi hỏi cô ta, “ Chị có sức khỏe không?” Tôi muốn
chắc chắn một điều là cô ta phải sản xuất được, như
một cái máy phải cho ra những sản phẩm mỗi ngày. Nếu thấy
cô ta có khả năng sản xuất mỗi ngày, tôi sẽ mướn cô
ta. Nếu cô ta không có khả năng đó, tôi sẽ không mướn
cô ta. Phương thức làm việc là như vậy. Đáng tiếc thay,
chẳng có một chút tình người.
Điều
mà tôi cố gắng trình bày và giải thích là thái độ ích
kỷ của chúng ta qúa cao, nó đã làm cho đời sống của con
người trở nên mỗi ngày mỗi đau khổ hơn. Tất cả những
vấn đề của con người đều bắt nguồn từ lòng ích kỷ
mà ra. Do đó, nhờ an trú trong sự tỉnh thức trong sáng của
tâm bản nhiên mà chúng ta có thể nhận định được tất
cả những vấn đề của con người, từ đó chúng ta mới
có thể phát triển tâm từ bi, tâm bồ đề đến tất cả
mọi chúng sinh.
Trưa
Thứ Hai
Nếu
chúng ta có lòng từ bi thương yêu mọi người, cho dù một
chút thôi thì ơn ích cũng rất nhiều. Đó là lý do tại sao
động năng thúc đẩy lại rất quan trọng. Trong Phật giáo,
chúng tôi nhận thấy rằng có những hành động rất khó phân
biệt tốt hay là xấu dù nó có tính cách tôn giáo hay không
có tính cách tôn giáo. Tốt hay xấu hoàn toàn tùy thuộc vào
thái độ của chúng ta. Đàng sau mỗi một hành động là cả
một tiến trình hoạt động ở bên trong tâm chúng ta. Mỗi
một hành động đều tùy thuộc lẫn nhau (nghiệp và duyên
khởi) và do thái độ của tâm chúng ta làm cho sự kiện đó
tốt hay xấu.
Tôi
cho qúy vị một thí dụ. Có một thương gia rất giầu đến
cúng dường tu viện, ông ta gửi tâm ý đến mười phương
tám hướng để cầu danh lợi (động năng thúc đẩy)
Ngoài kia có một kẻ ăn xin cũng đi vào cúng dường nhưng
với một tâm ý rất đơn sơ, chất phác (động năng thúc
đẩy). Người ăn xin chào và chúc tụng người giầu để
làm ông ta vui thích. Vị thương gia dâng rất nhiều tiền bạc
cho buổi lễ, rồi các vị sư bắt đầu tới hành lễ. Nhưng
khi vị chủ tế dâng lời tế lễ, ông chỉ nhắc đến tên
người ăn xin ở mãi tận ngoài kia mà chẳng hề nêu tên người
giầu có này. Vì tất cả những lễ vật, tiền bạc mà người
giầu dâng cúng trong buổi lễ đều vì một lý do duy nhất
là cầu danh lợi. Oâng ta làm tất cả những công việc này
với một tâm ý, với một thái độ kiêu căng không thành
thật.
Đây
là một thí dụ rất tốt. Coi như người giầu có đã làm
một việc tốt, coi như đây là một nghi lễ tôn giáo, nhưng
như chúng ta biết, bên ngoài là một hành động tôn giáo nhưng
bên trong lại là tâm ý của qủy. Kẻ nghèo khó chẳng làm
gì cả, ông ta chỉ có lòng chân thành. Động năng là lòng
chân thành trong sạch nên ông ta nhận được rất nhiều ơn
ích.
Có
lẽ thí dụ của tôi không được đúng lắm với tâm người
Thụy điển bởi vì ở đây không có ăn mày ! Tôi nên lấy
một thí dụ khác thích hợp với người Thụy điển -- nhưng
tôi không biết lịch sử của qúy vị. Tôi mong rằng qúy vị
hiểu tôi muốn trình bày cái gì. Một hành động coi có vẻ
tốt ở bên ngoài nhưng bên trong lại vô cùng xấu.
Thường
thường, nếu chúng ta có một tấm lòng thương người chân
thành, dù chỉ một chút xíu như cho một ly nước cũng đủ
mang lại cho chúng ta nhiều ơn ích. Phải vậy không? Một hành
động tự nó không tốt không xấu, cái động lực ở bên
trong mới quan trọng hơn, bởi vì động lực từ mẫn có tác
dụng cởi mở và giúp chúng ta thanh tẩy tâm ích kỷ. Đó
là ý nghĩa và đó là những gì tôi muốn nói với qúy vị.
Nó có rõ ràng không? Qúy vị có thí dụ nào hay không? Qúy
vị có hiểu không? Nếu qúy vị đã hiểu, tôi không cần
phải đưa ra thí dụ nào khác nữa.
Nên
nhớ rằng những động lực trong đời sống và động lực
của từng hành động mới là những nguyên nhân thúc đẩy,
hành động tự nó không là gì cả. Hành động chỉ là những
gì chúng ta đang làm ở bên ngoài, cái gì ẩn sâu ở bên trong
mới thực sự là nguyên nhân chuyển động, cái đó làm cho
hành động trở thành tốt hay xấu.
Ngày
hôm qua chúng ta đã nói về những động lực tốt sẽ mang
đến hành động tốt, những động lực xấu sẽ dẫn đến
những hành động xấu; vậy cái gì là một hành động
tốt, cái gì là một hành động xấu? Chúng ta không thể nói,
“ hành động của tôn giáo thì tốt, không tôn giáo thì xấu.”
Chúng ta không thể nói như vậy được -- nó qúa mù mờ, phải
không?
Một
hoạt động của tôn giáo mà mang tâm quỷ thì có gì tốt
đâu. Qúy vị có nghe tôi không? Chúng ta đã có bao nhiêu cuộc
chiến tranh? Hiện tại bây giờ trên thế giới có bao nhiêu
cuộc chiến -- thánh chiến? Đó là qủy. Chúng ta
tuyên bố, “ Tôi phải tham chiến bởi vì nó phá đạo của
tôi.” Đó chỉ là một sự hợp lý hoá. Đó là điên
cuồng, ngu si!
Người
Tây tạng chúng tôi có lối nói diễu, người con sau khi giết
cha mẹ rồi nó đi giải thích tại sao nó giết. Nó giải thích,
nhưng hành động này không đúng. Cũng giống như vậy,
thời nay có rất nhiều người có đạo hay không có đạo
đã gây ra rất nhiều vấn đề cho nhân loại bởi vì họ
không hiểu được những hoạt động căn bản của tôn giáo
là gì. Đâu có tôn giáo nào dậy chúng ta đi giết người,
làm tổn thương cho người khác hay tiêu diệt người khác?
Có tôn giáo nào dậy như vậy không?
Khi
những người có đạo gây ra một cuộc chiến tranh tôn
giáo, họ tuyên bố, “Chúng đã tàn phá đất nước tôi và
tôn giáo của chúng tôi. Do đó chúng tôi phải bảo vệ, chúng
tôi phải giết họ.” Khi họ tuyên bố như vậy cũng chính
là lúc họ phá hủy tôn giáo của họ.
Theo
quan niệm của tôi -- tôi là một nhà sư Tây tạng -- khi người
Trung hoa đến, nếu tôi nói, “ Ô, người Trung hoa tàn phá
tôn giáo của tôi, tôi phải tiêu diệt hết người Trung hoa.”
Nếu tôi làm như vậy tôi đã tự giết chính tôi và tôn giáo
của tôi. Đó là sự hiểu biết của tôi, đó là sự diễn
giải của tôi.
Chúng
ta nên hiểu cái gì là những hoạt động căn bản của tôn
giáo. Hành động chân thật chỉ có thể là lòng từ mẫn,
lòng yêu thương đem đến cho mọi người. Mặc dầu anh nói
rằng anh hành động vì tôn giáo, vì Phật, vì Chúa, vì Thượng
đế, vì tông phái, vì lý tưởng, nếu đó chỉ là những
gì phát khởi vì tự ái (động năng thúc đẩy) để rồi
anh giết người bằng dòng máu lạnh của anh thì anh không
phải là người đạo đức chút nào.
Đó
là lý do tại sao những lời dậy bảo của Đức Phật Thích
Ca lại chỉ chú ý nhiều đến vấn đề buông bỏ những sự
bám víu. Ngài còn nhấn mạnh rằng sự bám víu vào Thích Ca
Mâu Ni cũng là rác rưởi. Ngài rất khôn ngoan, rất trong
sáng trong vấn đề này. Ngài nói với những người theo Ngài
rằng Ngài không muốn bất cứ người nào bám víu vào Ngài.
Những người theo Ngài không nên bám víu, lệ thuộc vào những
giáo thuyết của Ngài. Ngài không muốn họ phải lệ thuộc
vào Phật hay Phật Pháp hay Tăng hay Bồ Tát. Ngài tuyên bố
đó là rác rưởi ---không trừ một ai. Bất cứ một sự bám
viú nào cũng là trở ngại cho tâm của con người. Nó phá
hủy sự an lành của con người. Trong kinh Bát Nhã Ba La Mật,
Ngài dạy phải chấm dứt tư tưởng chiếm hữu, ôm giữ,
bám víu vào Phật, vào Bồ Tát hay vào bất cứ cái gì như
là một toàn thể tự hữu. Tất cả đều là rác rưởi. Chúng
ta nên vất bỏ tất cả vào thùng rác. Phải vậy không? Đúng
như vậy !
Nếu
nhìn vào thế giới ngay bây giờ, chúng ta thấy chuyện gì
đang xẩy ra. Chính trị gia, họ là những người chẳng có
tôn giáo, họ lợi dụng tôn giáo, họ dùng tôn giáo để mưu
cầu lợi ích cho chính họ. Thực sự họ không thích giáo
lý một chút nào, họ không hiểu cốt tủy của tôn giáo là
gì, họ chỉ dùng những triết thuyết tôn giáo theo kiểu này
hay kiểu khác để làm lợi cho họ. Qúy vị vẫn nghe tôi đấy
chứ?
Đó
là chuyện tức cười, thật là nực cười. Họ dùng bất
cứ cái gì. Họ dùng giáo lý như là một cục kẹo, đưa phía
này, đẩy phía kia. Họ lợi dụng bất cứ cái gì, bất cứ
giáo lý nào, bất cứ hoàn cảnh nào. Mục đích của họ là
gây một sự mập mờ, rối trí trong lòng mọi người để
mọi người chống đối nhau, để mọi người không còn hòa
hợp với nhau. Họ chỉ muốn như vậy thôi. Nếu nhìn vào
những sinh hoạt của thế giới chúng ta sẽ nhận ra điều
này. Chúng ta sẽ học hỏi được rất nhiều khi chúng ta nhìn
sâu vào thế giới này. Chúng ta sẽ học được đạo pháp
thật ở trong đó, chúng ta sẽ học được tất cả mọi thứ
về tâm của con người, nó hiện hành như thế nào.
Chúng
ta hãy thực tế. Bây giờ chúng ta hãy thực hành. Chúng ta
thực hành cái gì đây? Hầu như tất cả chúng ta ở đây
đều đi làm, đều có những công việc phải giải quyết,
phải đối đầu; vậy mỗi buổi sáng khi vừa thức dậy,
chúng ta hãy tự hứa với chính mình: “ Hôm nay tôi sẽ cố
gắng hết sức của tôi để chia sẻ đời sống của tôi
với mọi người. Tôi sẽ làm bất cứ gì từ thể xác đến
tinh thần, cả cuộc đời tôi để lợi ích cho mọi người.”
Hãy hứa một cách thành thật, mạnh bạo và nghĩ, “ Nếu
gặp hoàn cảnh khó khăn, nếu có ai gây khó khăn cho tôi, tôi
sẽ không tức giận, không nổi nóng.”
Với
động năng mãnh liệt này thì ngay cả làm những công việc
nặng nhọc như đi thu rác trong thành phố, đi lượm rác trong
các đường phố, chúng ta cũng vẫn vui vẻ. Chúng ta đang làm
việc cho mọi người, cho sự lợi ích của tất cả con người.
Điều quan trọng là ở sự thúc đẩy, cái động năng ở
bên trong của chúng ta.
Tôi
nghĩ rằng sự phát triển, sự tạo dựng một động lực
tốt lành là vô cùng quan trọng, đặc biệt ở thế giới
Tây phương của chúng ta. Xã hội Tây phương chưa tạo được
những vị đại thiền gỉa. Họ chưa tạo được sự thiền
định vĩ đại. Qúy vị có hiểu không? Chúng ta chưa tạo
nên được những cơ hội đó, chưa có được những hoàn
cảnh đó. Nhưng chúng ta có thể dành đời sống của chúng
ta cho những người khác. Chúng ta có thể hy sinh cho người
khác, giúp đỡ người khác, phụng sự nhân loại. Công việc
này chúng ta có thể làm mỗi ngày.
Tôi
nghĩ, bằng đường lối này chúng ta sẽ sống thực hơn là
cứ nói, “Ô, tôi sẽ trở thành một đại thiền gỉa.”
Xã hội của chúng ta không dành cho những kiểu nói đó. Hãy
thực tế, hãy giúp đỡ tất cả mọi người. Chúng ta có
thể kiểm soát được sự nóng giận của chúng ta, sự ích
kỷ của chúng ta, sự bám víu của chúng ta. Chúng ta có thể
mở rộng và phụng sự mọi người càng nhiều càng tốt.
Điều này chúng ta có thể làm được.
Tôi
có một thí dụ rất tốt về người Thiên Chúa Giáo trong
cộng đồng chúng ta. Có rất nhiều người tốt trong tôn giáo
của qúy vị nhưng qúy vị không thấy họ. Qúy vị không thấy
những người tốt trong tôn giáo của qúy vị, họ có một
tấm lòng thương người bao la. Đối với tôi, Thiên Chúa Giáo
Tây phương đã hiến tặng rất nhiều. Có rất nhiều tín
đồ Thiên Chúa giáo đang phụng sự nhân loại với một tấm
lòng bao la vô bờ bến.
Bên
Đông phương, tôi nghĩ rằng không có nhiều vị sư hay ni cô
làm việc xã hội trong các trại cùi, bệnh viện ung thư hay
tình nguyện làm những công việc xã hội khác. Tôi không thấy
nhiều lắm. Tôi không có kinh nghiệm trong vấn đề này. Nhưng
bên trời Tây, tôi đã thấy rất nhiều người tình nguyện
giúp đỡ những người đang bị bệnh. Mặc dù có thể bị
lây bệnh, họ cũng đã hy sinh cả sinh mạng họ cho người
khác.
Tôi
nghĩ rằng nó rất tốt, rất đáng cho chúng ta ca tụng. Đối
với tôi như vậy là đủ rồi. Tôi không cần biết họ có
hiểu Phật giáo hay có là Phật tử hay không. Trong tâm của
họ, họ chỉ biết phụng sự cho người khác, họ hy sinh cả
một đời cho người khác. Chúng ta còn muốn gì hơn nữa,
còn có thể dâng hiến gì hơn được nữa. Qúy vị có những
thí dụ cao đẹp ở trong xã hội của qúy vị là có được
những người biết hy sinh cả đời mình cho người khác. Vì
những thí dụ sống động tốt đẹp này, chính chúng ta nên
cố gắng càng nhiều càng tốt, hãy buông bỏ tính ích kỷ
của mình đi để giúp đỡ người khác. Tôi nghĩ như vậy
mới thực tế, chúng ta có thể làm được. Chúng ta có thể
làm được! Nó sẽ làm tan biến đi những lầm lẫn và những
bất mãn của chúng ta.
Nói
như vậy là qúa đủ về tâm bồ đề rồi, qúa đủ về sự
buông xả rồi, từ biệt tâm bồ đề, từ biệt sự buông
xả, từ biệt động năng tốt, từ biệt từ biệt....
Bây
giờ, chúng ta hãy nói về trí huệ: trí huệ tính không (shunyata
wisdom). Trí tuệ rất đơn giản, vô cùng đơn giản. Hãy nhìn
nó theo chiều hướng này: Chúng ta có một đối tượng đáng
yêu --người khác là đối tượng đáng yêu của chúng ta.
Nhưng vấn đề là chúng ta đã ôm giữ nó như một thực thể
vững chắc. Chúng ta đã ôm giữ đối tượng yêu qúa chặt,
đối tượng ghét qúa chặt (chấp cái tôi và chấp vào đối
tượng, cái bị chấp --Dg ), như vậy chúng ta sẽ chẳng
giải quyết được vấn đề gì. Qúy vị đang nghe tôi đấy
chứ?
Chúng
ta có tình yêu, nhưng khi nào chúng ta còn ôm giữ nó qúa chặt
là chúng ta đã bị lầm lẫn, đã bị lừa gạt. Thí dụ,
trong tôn giáo Tây phương, chúng ta nói, “ Tôi yêu Chúa.”
Người ta dâng hiến trọn vẹn tình yêu cho Chúa. Nhưng nếu
chúng ta ôm giữ Chúa hay Phật như một thực thể thì sẽ
chẳng giải quyết được vấn đề gì --cái tôi vẫn còn
đó. Cái tôi (vấn-đề-tôi, chấp ngã) vẫn còn đó bởi vì
chúng ta đang chấp, đang nhận sự vật như là một thực thể
tự có.
Do
đó, cần phải có trí huệ. Một động năng trong sáng, một
tình yêu trong sạch giống như sự trang điểm, trang điểm
sắc đẹp -- nó làm cho mọi sự trông đẹp đẽ. Nó như vậy,
nhưng chúng ta cần có trí huệ để nhìn thấu qua được lớp
trang điểm đó, nhìn ra được sự thật. Chúng ta phải thực
sự nhìn thấu qua được cái gì đang xẩy ra ở bên trong lớp
vỏ trang điểm đó. Khi chúng ta nhìn ra được lớp vỏ tình
yêu giả tạo, nhìn ra được có một cái gì gỉa tạo đang
diễn xuất với tình yêu, thì với trí huệ chúng ta có thể
nhìn qua được đám mây mù tình yêu. Có nghĩa là chúng ta
sẽ nhìn được sự thật của tình yêu.
Trí
huệ đó, trí huệ bát nhã (prajna), rất cần thiết để cắt
đứt hoàn toàn ý niệm nhị nguyên. Tình yêu và động năng
trong sáng không đủ sức để cắt đứt tận gốc rễ của
vấn đề và của những ý niệm nhị nguyên. Chúng thuộc về
tình cảm; chúng không có triệu chứng, những dấu hiệu đến
rất chậm, để hoàn toàn cắt đứt chúng và để hoàn toàn
tẩy xoá những vấn đề, chúng ta cần phải có trí bát nhã.
Chúng
ta đã nói về những phóng tưởng, những vọng tưởng: chúng
ta đã đặt để những dự tính mù mờ trong đầu chúng ta
và trên người khác, cả tốt lẫn xấu, mà chẳng thèm tìm
hiểu sự thật. Thí dụ, khi nhìn một đối tượng đẹp ở
chung quanh chúng ta, chúng ta hãy theo dõi xem tâm chúng ta đang
làm việc như thế nào? cái gì đang diễn ra ở trong tâm của
chúng ta? Chúng ta sẽ thấy tâm của chúng ta đang cho thêm những
gía trị vào đối tượng đó, rồi chúng ta bám chặt lấy
những gía trị đó: “Thật là tuyệt vời. Đúng là cái mà
tôi muốn.” Chúng ta sáng tạo ra đủ thứ kiểu. Chúng ta
tự sáng tạo ra những ý niệm về sắc đẹp, chúng ta bám
chặt lấy những ý niệm đó rồi chúng ta đem cái ý niệm
đó ra áp dụng, đặt để trên những đối tượng, trên những
sự vật. Từ những ý niệm có sẵn này chúng ta bắt đầu
dự tính, mơ mộng hết chuyện này đến chuyện khác, sáng
chế hết cái này đến cái khác. Đối tượng tự nó không
có một ý niệm vững chắc nào, tất cả đều do tâm mà ra.
Do
đó, chúng ta cần lưỡi gươm trí huệ vô cùng sắc bén để
chém đứt tất cả những vọng tưởng mà đi vào sự thật.
Mỗi khi chúng ta nhìn một đối tượng đẹp, chúng ta chỉ
nhìn nó bằng những ý niệm vững chắc đã có sẵn. Tâm không
còn một chỗ trống nào. Cái đẹp đã bị lệ thuộc vào
sự trang điểm, nhưng chúng ta đã không biết đến điều
này. Cái đẹp đã tùy thuộc vào nước, đất, chất nhờn,
máu, xương..., nó tùy thuộc vào những hợp chất (phấn xáp)
vừa kể trên. Nhưng chúng ta đã không chấp nhận, không nhận
thức được cái đẹp là một sự kết hợp tùy thuộc vào
những yếu tố khác này. Chúng ta chỉ nghĩ PAM! đây là sắc
đẹp, chúng ta không thừa nhận cái đặc tính tùy thuộc của
những hiện tượng. Chúng ta đã không nghĩ đến cái thật
hiện đang có trong đối tượng.
Đó
là lý do chúng ta u mê, đó là lý do tại sao chúng ta nhận
huyễn ảo làm sự thật. Đó là lý do tại sao chúng ta cần
phải hiểu luật duyên khởi để phá vỡ, để chặt đứt
tất cả những ý niệm sẵn có về cái đẹp. Rồi chúng ta
mới có thể nhìn ra được sự thật. Nếu không như vậy,
vô minh vẫn là vô minh, u mê vẫn chỉ là u mê. Cái đẹp là
cái đẹp, nó đang ở đâu đó, chân thiện mỹ là chân thiện
mỹ, nó đang ở đâu đó, nhưng chúng ta đã vẽ thêm vào,
đã tô thêm vào rồi đi gọi cái tùy thuộc đó, cái lớp
vỏ giả tạo đó là sắc đẹp. Nếu không có cái nhãn hiệu
của tâm chúng ta gắn cho thì chẳng có cái gì đẹp ở ngoài
kia cả. Đó là tất cả những gì mà chúng ta nên nhận thức,
nên nhận diện, rồi mỗi ngày, mỗi ngày chúng ta từ
từ buông bỏ những ý niệm nhị nguyên này đi.
Tôi
nghĩ rằng quý vị có thể tự phân tích được vấn đề
này. Theo ý kiến của riêng tôi, nếu chỉ nói, nếu chỉ ngồi
nghe về vấn đề này thì không đủ. Chúng ta cần phải phân
tích chúng ngay bây giờ, ngay tại đây, thì chúng ta mới thấy
được rất nhiều điều tức cười đang diễn ra trong tâm
của chúng ta. Chắc chắn quý vị sẽ nhìn thấy chúng ngay
bây giờ.
Dù
mạnh hay yếu, những ý niệm sân (ganh ghét) và những ý niệm
tham (tham lam, tham vọng, ước muốn, bám víu, chôïp giật ...)
của chúng ta không tùy thuộc vào sự thật của đối tượng.
Hãy lấy một thí dụ, giả sử tôi giận cô kia hay anh kia.
Tôi đang tạo nên sự tức giận mãnh liệt, mỗi lúc một
mãnh liệt hơn trong tôi. Tôi càng tức giận bao nhiêu thì họ
lại càng xấu xa, đáng ghét bấy nhiêu. Quý vị có hiểu không?
Đây là những điều xẩy ra trong tâm của tôi. Tôi không tha
cho họ một chút nào vì sự tức giận đang lớn dần ở trong
tôi. Rồi bất chợt họ biến thành một cái gì rất xấu
xa.
Sự
xấu xa này chẳng có gì liên quan đến họ. Đó chỉ là vọng
tưởng của tôi. Họ chẳng thay đổi chút nào - dĩ nhiên họ
vẫn là họ, họ không có một chút thay đổi nào. Nhưng vì
cái tôi của tôi và cái tức giận của tôi qúa cao, nên tôi
bày đặt ra đủ thứ chuyện: “ Thằng cha đó quá tệ, nó
quá xấu vì nó thế này, thế này... Con đó quá tồi vì nó
thế này, thế này... Chúng quá ích kỷ, chúng quá nóng tính,
chúng không xài được vì thế này, thế này...” Mỗi ngày
chúng ta mỗi tăng thêm lòng ganh ghét thì họ lại càng giống
con quái vật hơn.
Tâm
chúng ta cũng làm việc theo chiều hướng khác. Nếu chúng ta
thích người nào, chúng ta khen, “Trời, em đẹp quá, cái mũi
của em thật là xứng với mặt em, thật là tuyệt,” hay “
giọng nói của anh quá ngọt ngào,” “ cô ta thật là diễm
ảo.” Tâm của chúng ta đã cho bất cứ cái gì của
họ cũng hoàn toàn tốt đẹp. Do đó, bất cứ cái gì anh ta
làm, cô ta làm, nụ cười, bất cứ cái gì, tất cả năm đối
tượng nhận thức - hình dáng, mầu sắc, mùi, vị, tiếng
nói - đều quá tuyệt hảo. Vì chúng ta đã muốn như vậy
nên mỗi lần chúng ta nhìn thấy họ, gặp họ là mỗi lẫn
sắc đẹp của họ lại tăng lên. Chẳng có cái gì đụng
chạm đến sự thật của họ, toàn là những điều mà chúng
ta tạo ra cho họ. Chúng ta đã tạo ra một sắc đẹp, một
đức tính không thể tưởng tượng nổi, “Anh ta đẹp trai
quá chừng, anh ta tốt ơi là tốt ” ngay cả “anh ta là một
thiền sư lỗi lạc.”
Có
rất nhiều học trò của tôi đến tâm sự với tôi về bạn
trai, bạn gái của họ. Họ nói họ như thế nào, họ cởi
mở làm sao. Họ nói, “ Lạt ma, con có người yêu như thế
này, thế này; con cảm thấy như thế này, thế này.”
Họ diễn tả tất cả mọi thứ cho tôi --tôi cười! Với
tôi, tôi nhìn được tất cả những gì đang xẩy ra trong tâm
họ. Họ tưởng tượng cô ta như một nàng tiên, hay như một
vị thần. Oâi chao! Quý vị đã nghe như vậy bao giờ chưa?
Theo
tôi, tất cả chỉ là nhị nguyên -- ý niệm nhị nguyên, ý
niệm không rõ ràng, không trong sáng. Chúng ta cứ đặt để
cái tốt hay cái xấu trên những đối tượng, đó chỉ là
những phóng tưởng của chúng ta, những vọng tưởng của
chúng ta. Để nhận diện được những vọng tưởng này, chúng
ta cần có trí tuệ sắc bén -- đó là lý do tại sao chúng
ta đi vào sự tự nhiên, tâm trong sáng, tâm bản nhiên. Khi
đó chúng ta mới biết chúng ta đã vọng tưởng như thế nào,
đã u mê bao nhiêu, rồi chúng ta sẽ cười chính chúng ta, sẽ
cười trên sự ngớ ngẩn của chính mình.
Khi
chúng ta biết được những vọng tưởng này, chúng ta sẽ
không ngờ được. Chúng ta sẽ nói với chính mình, “ Thực
là điên, tôi đã làm những gì? Tôi đã sơn cái thế giới
này, tôi đã sơn cái xã hội này, tôi đã sơn cả loài người,
tôi đã sơn những sự liên hệ của tôi với người khác,
tôi đã tự sơn phết cho những ràng buộc này.” Chúng ta
sẽ nhìn thấy rất rõ những lớp sơn phết này. Đó là lý
do tại sao chúng ta cần thật nhiều trí tuệ để nhận diện
thế giới huyễn ảo này mà chúng ta đang chạy lòng vòng ở
trong đó, hết ngày này qua ngày khác, hết giờ này qua giờ
khác, 24 giờ trong một ngày. Chúng ta đã u mê như vậy đó.
Chúng ta đã tin vào những gì xuất hiện chung quanh chúng ta
là hạnh phúc hay không hạnh phúc, xấu xa hay đẹp đẽ. Chúng
ta đã không nhận diện ra chúng là những phóng tưởng của
chính chúng ta. Chúng ta đã tin chúng, chúng ta đã cho chúng
là sự thật, là những thực thể hiện hữu. Chúng ta đã
ngoan cố cho thế giới này là vững chắc, bền chặt không
có gì thay đổi được.
Mỗi
khi những năng lượng ô nhiễm (vọng tưởng, tham, sân, si,
kiêu mạn...) gia tăng ở bên trong chúng ta là những ý niệm
kiên cố (về cái đẹp hay cái xấu) cũng trở nên bền chặt,
lúc đó chúng ta chỉ nhìn thấy đối tượng ở mức độ
cao nhất của cái đẹp hay cái xấu. Cho tới khi nào những
sự u mê bền vững này còn mạnh, còn ở mức cao độ thì
chúng ta cũng vẫn còn nhìn những đối tượng ở vị trí
đó. Khi mức độ ô nhiễm giảm xuống thì cái đẹp hay cái
xấu của đối tượng cũng đi xuống.
Tất
cả những sự kiện này cho chúng ta biết một điều là chúng
ta phải làm một cái gì với cái ngã chấp, với cái tôi (năng
lượng bị ô nhiễm) ở bên trong chúng ta. Tôi nghĩ rằng đây
là một vấn đề vô cùng quan trọng mà chúng ta cần phải
biết, cần phải hiểu, cần phải tập trung vào. Cái tôi,
đây là một sự lường gạt, một sự phỉnh lừa, gian xảo,
mưu kế, mưu mẹo, một trò khéo léo... Tất cả chỉ là một
trò lừa bịp khổng lồ, ở ngay đây (Lạt ma chỉ vào trái
tim của ngài). Mưu mẹo diễn ra ngay ở đây, sự phỉnh lừa
xẩy ra ngay ở đây để rồi chúng ta thổi phồng ra ở bên
ngoài này (Lạt ma chỉ chung quanh ngài). Đó là vấn đề. Đó
là sự thật. Nó vô cùng quan trọng.
Đầu
tiên, chúng ta tạo ra một đối tượng tuyệt hảo, nhưng thời
gian qua đi, nguồn năng lượng giảm xuống, chúng ta nghĩ, “
Ồ, có lẽ cái này không phải là cái hoàn hảo nhất,” nên
chúng ta lại bắt đầu đi tìm kiếm ở chung quanh. Trước
nhất chúng ta nghĩ cái này là cái tốt nhất trên thế
giới, rồi từ từ với thời gian, khi mà nguồn năng lực
giảm dần đi, chúng ta bắt đầu so sánh, chúng ta bắt đầu
đặt lại giá trị. Đó là tư tưởng nhị nguyên. Chúng ta
có một cái này ở đây, rồi chúng ta lại có một cái khác
(đến rất tự nhiên), ngay lập tức sự so sánh bắt đầu
xẩy ra. Chúng ta so sánh hai sự kiện, hai cái, hai hiện tượng...
như vậy hai sự kiện xung đột nhau ở trong tâm của chúng
ta, hai hiện tượng tự mâu thuẫn ở trong tâm của chúng ta.
Đó là lý do mà chúng ta gọi nó là ý niệm nhị nguyên.
Cho
tới khi nào chúng ta còn nằm trong vòng ý niệm nhị nguyên
thì chúng ta không bao giờ, không thể nào tìm được sự hoàn
hảo, sự tuyệt đối. Tôi có thể quả quyết với qúy vị,
tôi có thể thách đố qúy vị, cho tới khi nào qúy vị còn
chơi cái trò nhị nguyên này ở trong tâm của qúy vị thì
qúy vị sẽ không có một con đường nào để kiếm tìm sự
toàn hảo: ở tôn giáo, ở vô tôn giáo hay ở bất cứ sự
vật nào. Đó là triết lý của Phật giáo, đó là tâm lý
học của Phật giáo đã được khám phá ra. Luôn luôn có sự
xung đột giữa hai sự kiện ở trong tâm của chúng ta.
Thí
dụ, từ đầu chúng ta không có xe. Rồi chúng ta mua một cái
xe bình thường để di chuyển. Ngày hôm sau chúng ta nhìn thấy
một cái xe khác thì cái xe mà chúng ta mới mua không còn là
cái xe tốt nhất nữa. Ai có thể làm cho một thương gia giầu
có ở thế giới Tây phương này thỏa mãn với một chiếc
xe? Oâng ta không bao, không bao giờ thỏa mãn. Đó là lý do
tại sao kỹ nghệ xe hơi cứ thay đổi hoài, thay đổi một
chút này, một chút kia, mục đích là chạy theo thị hiếu,
theo thời trang của khách hàng. Tất cả những kiểu mẫu quần
áo, tất cả những kiểu xe, tất cả những sáng chế hay tất
cả những nhà máy ở xã hội Tây phương đều nói lên, đều
là những thí dụ điển hình cho đặc tính nhị nguyên huyễn
ảo này của tâm. Phải vậy không, thưa qúy vị?
Thực
ra, chúng ta đã có thể nhìn thấy tất cả những cái đó
từ khi chúng ta sinh ra cho đến ngày hôm nay, chúng ta đã hoàn
toàn sinh sống trong cái gỉa tạo, ảo vọng đó của thế
giới. Chúng ta đã tin tưởng vào những nhãn quan của cái
tôi của chính chúng ta về một thế giới đầy huyễn ảo
và đầy gỉa dối. Chúng ta đã sống như vậy đó, phải không
qúy vị?
Thật
là khủng khiếp! Có phải chúng ta đang sống trong một thế
giới gỉa tạo phải không? Qúy vị cảm thấy thế nào? Qúy
vị có nhận thấy rằng qúy vị đang sống trong một thế
giới huyễn ảo của chính cái tôi của qúy vị từ khi sinh
ra cho đến ngày hôm nay và sẽ còn tiếp tục sống như vậy
cho tới lúc chết không? Hãy khảo nghiệm một cách khoa học
ngay bây giờ, ở đây. Qúy vị có cảm thấy như vậy không?
(một số người nói có, một số người trả lời không).
Lạt
ma: Qúy vị có nhận thấy như vậy không?
Thính
gỉa: Thỉnh thoảng.
Lạt
ma: Thỉnh thoảng thôi sao? Chị có lý. Còn anh? Anh không
cảm thấy như vậy? Được rồi. Còn ông?
Thính
gỉa: Thỉnh thoảng.
Lạt
ma: Chỉ thỉnh thoảng? Cám ơn nhiều -- ông qúa thận
trọng.
Thính
gỉa: Thưa ngài, tôi quên cái nào là tốt cái nào là
xấu.
Lạt
ma: Được rồi. Còn bà cụ?
Thính
gỉa: Hầu như vậy.
Lạt
ma: Hầu như vậy nhưng đôi khi không? Còn anh?
Thính
gỉa: Thỉnh thoảng.
Lạt
ma: Thỉnh thoảng, được rồi. Thỉnh thoảng anh cảm
thấy gì? Xin lặp lại. Thỉnh thoảng anh cảm thấy anh hoàn
toàn sống trong một thế giới đầy ảo vọng của chính anh
phải không? Khi đó anh làm cái gì? Anh quyết định ra sao?
Thính
gỉa: Tôi nghĩ về nó.
Lạt
ma: Tốt qúa. Thực là tốt, chúc mừng anh. Cám ơn anh,
tốt qúa. Khi anh nghĩ về nó, anh có vượt qua được không?
Thính
gỉa: Thỉnh thoảng.
Lạt
ma: Nhưng thỉnh thoảng không được? Tốt. Anh còn trẻ
nhưng anh vẫn biết kiểm soát. Tốt qúa. Rồi anh cảm thấy
gì?
Thính
gỉa: Tôi không biết.
Lạt
ma: Đôi khi anh bỏ qua?
Thính
gỉa: Hai lần.
Lạt
ma: Hai lần? Được rồi. Như vậy anh không cảm thấy
anh đang sống trong một thế giới đầy ảo vọng?
Thính
gỉa: Tôi đã hiểu sai. Tôi nghĩ rằng ngài hỏi, nếu
chúng ta đang muốn rời khỏi thế giới hão huyền của chúng
ta?
Lạt
ma: Không, không, chúng ta đang sống trong nó. Đừng đi
ra, hãy ở lại thế giới huyễn ảo.
Thính
gỉa: Tôi không thể nói tôi đang rời khỏi nó bởi vì
tôi đang ở giữa nó.
Lạt
ma: Có lẽ ngôn ngữ của tôi không được rõ ràng lắm.
Khi qúy vị khám xét, khi qúy vị tự đặt câu hỏi về sự
thật, về sự liên hệ của qúy vị với thế giới, thế
giới nội tại và thế giới ngoại tại, về sự cảm nhận
mà qúy vị có giữa qúy vị và thế giới chung quanh thì qúy
vị có cảm thấy, có nhận thấy tâm của qúy vị đã tạo
ra một vài sự kiện hay không? Qúy vị có nghĩ: “ Tôi thế
này, thế giới chung quanh tôi như thế này, như vậy tôi nên
làm như thế này, như thế kia.” Rõ ràng không qúy vị? Tên
của anh là gì?
Thính
gỉa: Aino.
Lạt
ma: Aino, “ Tôi là Aino, tôi sẽ làm thế này, tôi sẽ làm
thế kia. Tôi như thế này. Đây là gía trị của tôi. Còn
thế giới thì như thế này, như thế kia. Nên tôi sẽ nhập
cuộc như thế này....”
Thính
gỉa: Và sự việc không xẩy ra như tôi nghĩ ....?
Lạt
ma: Tôi ví dụ nó xẩy ra đúng như anh dự tính về chính
anh và về thế giới chung quanh anh. Thì đó là cái mà anh hoàn
toàn cho nó là sự thật, phải không?
Thính
gỉa: Ồ...ư...ư...
Lạt
ma: Được rồi, bây giờ chúng ta mới thực sự nói chuyện.
Thính
gỉa: Nó không xẩy ra như tôi mong muốn nó như vậy,
không như tôi tưởng tượng.
Lạt
ma: Đó là lý do chúng ta đang sống trong một thế giới huyễn
ảo. Qúy vị hiểu không? Hoàn toàn hiểu? Đó là cái mà tôi
nói: mặc dầu tôi có thông minh đến thế nào đi nữa, mặc
dầu tôi có khôn ngoan đến thế nào đi nữa thì cái tôi của
chính tôi cũng đặt lên tôi một sự giới hạn. Tôi nói tôi
thế này, nên tôi dự tính như thế này, nhưng thế giới lại
như thế kia.
Tôi
nói, Thụy điển như thế này -- thực ra tôi không biết rõ
lịch sử của Thụy điển và người Thụy điển lắm-- nhưng
tôi vẫn tưởng tượng ra một nước Thụy điển khác; rồi
tôi sắp xếp những sự tưởng tượng đó lại với nhau.
Vì thế tôi đang sống với nước Thụy điển mà do tôi tưởng
tượng ra. Đó là ý nghĩa mà tôi muốn đề cập tới. Tôi
đang sống trong một thế giới mộng ảo. Phải vậy không?
Tôi
nghĩ rằng như vậy là qúa đủ cho đề tài này rồi.
Bây giờ chúng ta qua đề tài khác. Có bao nhiêu người trong
qúy vị nghĩ như vậy?
Thính
gỉa: Có, nhưng đôi lúc thôi, thưa ngài.
Lạt
ma: Chỉ đôi lúc thôi sao? Không phải luôn luôn? Khi nào
chị không sống trong thế giới mộng tưởng của riêng chị?
Khi nào chị ngủ, cái gì? Tốt, câu hỏi thật là hay. Tôi
muốn biết nó. Khi nào chị không sống trong thế giới mộng
ảo của chính chị? Khi chị còn trẻ?
Thính
gỉa: Không.
Lạt
ma: Đây là một sự học hỏi rất tốt. Chúng ta làm
việc một cách khoa học. Chúng ta làm việc theo tinh thần đại
học về kinh nghiệm của con người. Cô ta nói, cô ta đã sống
rất nhiều lần trong thế giới mộng ảo của cô ta nhưng
không phải luôn luôn như vậy. Câu hỏi của tôi là, khi nào
cô ta không sống trong thế giới mộng ảo của cô ta?
Thính
gỉa: Khi tôi thấy sự vật rất là kiên cố, vững chắc,
như căn phòng này, và hầu như tôi không có một ý tưởng
gì về nó.
Lạt
ma: Xin lỗi. Đợi một chút, chị hãy cẩn thận về những
gì chị đang nói (cười).
Thính
gỉa: Đôi khi tôi cảm thấy mọi vật thật là vững
chắc. Tôi có thể nắm bắt được nó, chứ không phải chỉ
ở trong đầu.
Lạt
ma: Khi nào chị không tạo nó ra ở trong đầu? Khi nào
chị không tự xác nhận chị là một cô gái Thụy điển trẻ
đẹp? Tôi nghĩ chị nên nghĩ lại, nên xác nhận lại -- chị
sẽ có một nhận xét lớn, theo tôi nghĩ.
Chúng
ta tưởng rằng khi chúng ta không suy nghĩ cái gì trong đầu
của chúng ta là chúng ta không sống trong thế giới huyễn
ảo. Điều này không đúng. Có hai cách nhận thức: ý thức
và vô thức, chúng ta dùng cách này hay cách kia, làm thế này
hay làm thế khác. Như vậy chúng ta luôn luôn sống trong một
thế giới mộng ảo.
Thính
gỉa: Nhưng dĩ nhiên, thế giới không hoàn toàn là huyễn
ảo. Tôi có ý nói, như ngài trình bày, chúng ta thấy nhân
loại đau khổ, có một sự thật nào ở trong đó, phải vậy
không? Có nghĩa, thế giới mà chúng ta nhìn thấy và thế giới
mà chúng ta tạo ra có một sự liên hệ nào đó đến một
thế giới thật. Chúng ta biết chúng ta tạo ra tất cả mọi
thứ, chúng có một sự liện hệ nào đó đến chúng ta và
thế giới. Như vậy, dĩ nhiên, cái gì mà chúng ta tạo ra là
ảo vọng của chúng ta trong sự tương quan, trong sự liên hệ
đến chúng ta.
Lạt
ma: Phải rồi, đúng lắm. Tôi nghĩ rằng nó đã được
sáng tỏ, phải không? Anh ta nói rằng, chúng ta đã tạo ra
một thế giới huyễn ảo, nhưng cùng một lúc cũng có những
sự thật. Những người đói và những người đau khổ
đang ở đó --có một cái gì đang ở đó-- nhưng khi chúng
ta bắt đầu phán đoán cái này tốt cái này xấu, là chúng
ta bắt đầu huyễn ảo. Mỗi khi chúng ta nói cái này tốt
cái kia xấu là chúng ta bắt đầu phủ một chiếc mền huyễn
ảo lên chúng. Đúng vậy? Được rồi, tôi nghĩ rằng chúng
ta đã sáng tỏ vấn đề.
Trong
Phật giáo, chúng tôi thường nói về trí huệ tính không.
Trí huệ có nghĩa là đang nhìn, là chúng ta đang hiểu thấu
(thẩm thấu) được những vấn đề, những trở ngại và
nhìn rõ được cái căn bản tự nhiên, cái bản lai diện mục
của chúng ta. Đó là tính không. Bản thể của quý vị và
bản thể của tôi không nhị nguyên. Vì thế khi chúng ta khám
phá ra được tính bản nhiên của mình là lúc chúng ta khám
phá ra toàn thể thực hữu, thực thể của tất cả chúng
sinh. Ngay tại lúc đó, tại kinh nghiệm đó, chúng ta không
có một chút vọng tưởng nào về cái tốt, cái xấu, về
quỉ ma, về tất cả mọi thứ. Không có một chút gì về
bạn xấu hay bạn tốt. Chúng ta không có một đối tượng
yêu, không có một đối tượng ghét; chúng ta duy nhất chỉ
là một (nhất thể). Tôi đang nói về một kinh nghiệm, một
chứng nghiệm.
Tôi
nghĩ như vậy là đủ rồi. Hãy đi đến kết luận. Mỗi khi
chúng ta để tâm của chúng ta trong trạng thái tự nhiên, trạng
thái tự nhiên của chính tâm thức chúng ta, thì nó sẽ dẫn
chúng ta đến một kinh nghiệm về một thực thể không có
tốt hay xấu, quỷ hay thần, bạn hay thù, một cách rất tự
nhiên, rất trực giác. Kinh nghiệm này dẫn đến tình trạng
không còn cái tôi, không còn tự thể. Những ý niệm vững
chắc sẽ biến mất. Đó là toàn thể vấn đề.
Khi
chúng ta có chứng nghiệm này, chúng ta không nên sợ hãi. Hãy
an trú trong trạng thái đó càng lâu càng tốt và hãy thấu
hiểu nó. Hãy hiểu thấu. Hãy thẩm thấu trạng thái này bằng
sự tỉnh thức mãnh liệt, đừng dùng trí thông minh. Hãy ở
trong trạng thái đó càng lâu càng tốt. Chúng ta sẽ khám phá
ra sự đồng nhất, không còn nhị nguyên (tất cả là một,
một là tất cả, nhất thể).
Bây
giờ tới phần đặt câu hỏi. Tôi xin ngừng ở đây để
cho qúy vị đặt câu hỏi. Điều tốt nhất là chúng ta hãy
đối thoại, không nên để một mình tôi nói.
Hỏi:
Tôi không hiểu một người như Đạt Lai Lạt Ma lại có thể
liên tục tái sinh trong khi Phật giáo chủ trương “vô ngã”
?
Lama:
Một câu hỏi rất hay. Trong tiếng Anh, danh từ “Ngã, tự
ngã, cái tôi ” có rất nhiều nghĩa khác nhau. Quan niệm của
Phật giáo về “ Không có một tự ngã” là không có
một cái tôi kiên cố, vững chắc. Khi anh qủa quyết “Tôi
là thế này”, anh đã tạo cho anh một đặc tính, nhưng anh
không hiện hữu như vậy, anh không sinh ra như vậy. Tại sao?
Bởi vì cái tôi của anh xác nhận phẩm tính của nó luôn
luôn như vậy, thường hằng, tự thể hiện, tự có, không
thay đổi. Nó xác nhận một “cái tôi” thường hằng, tự
hiện hữu, độc lập, trong khi “cái tôi” thực sự không
có những đặc tính đó. Đây chỉ là những vọng tưởng,
ảo tưởng của anh mà thôi. Rõ ràng không?
Hỏi:
Tại sao một người như Đức Đạt Lai Lạt Ma lại có thể
liên tục tái sinh và được xác nhận là từ một người?
Lama:
Điều này lại khác. Sự liên tục tái sinh này nói lên sự
hiện hữu liên tục của tâm thức, nhưng không thể tự nó
mà có được, nó không tự hiện hữu. Thí dụ chính anh, từ
khi sinh ra đến bây giờ, tâm thức của anh được thể hiện
một cách liên tục, nhưng sự thể hiện của nó không phải
là không có thay đổi.
Nếu
không còn câu hỏi nào nữa, chúng ta tiếp tục với nghi lễ
qui y. Nếu sau này qúy vị có câu hỏi nào khác, qúy vị liên
lạc với Karin. Bà ta sống ở đây, Sweden, hay qúy vị viết
thẳng cho tôi. Chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những
gì chúng tôi đã trình bày.
Thế
giới này qúa nhỏ, chúng ta không nên lo lắng. Tôi vẫn còn
gặp qúy vị. Tôi sẽ trở lại đây để lại đối thoại
với qúy vị về những điều tôi mới trình bày. Đây là
bổn phận và trách nhiệm của tôi, tôi cố gắng làm cho mọi
sự trở nên sáng tỏ càng nhiều càng tốt. Hãy viết cho tôi,
nếu qúy vị không chấp nhận những điều tôi trình bày,
tôi sẽ làm trong sáng tất cả những sự hiểu lầm, như vậy
được không?
Thính
gỉa: Ngài xử dụng luân xa (chakras) như thế nào?
Lama:
Luân xa? Tôi có luân xa. Anh có luân xa. Tất cả chúng ta đều
có luân xa. Đúng không? Nhưng hãy nhớ, tôi đã nói: Toàn thể
thân xác của chúng ta sẽ trở nên ánh sáng cầu vòng (rainbow),
chủng tử trắng OM sẽ ở nơi nào óc của chúng ta ở, chủng
tử đỏ AH ở cổ họng, chủng tử xanh HUM ở trái tim.
Hãy thiền định trên những chủng tử này. Đó là những
luân xa của chúng ta, chúng sẽ mở những trung tâm thần kinh
của chúng ta, chúng làm trái tim của chúng ta hết căng thẳng.
Những cột thắt ở trái tim sẽ được nới lỏng, chúng ta
gọi đó là mở. Phải vậy không? Đúng rồi.
Bất
cứ người nào muốn qui y cũng nên nhớ rằng qui y có nghĩa
là quyết tâm. Trước đây, chúng ta chạy theo (qui y) những
thú vui vật chất; bây giờ, chúng ta biết những điều đó
là sai lầm, chúng ta muốn thanh tẩy sự hiểu biết đó, muốn
trí tuệ được trong sáng. Trí tuệ trong sáng là đối tượng
để chúng ta qui y chứ không phải trí tuệ u mê lầm lạc.
Do đó, chúng ta quyết tâm từ bây giờ, ngay ngày hôm nay, càng
nhiều càng tốt, chúng ta qui y Đạo Pháp.
Theo
chiều hướng của vị kia, hãy quán tưởng đến luân xa trái
tim. Trong luân xa trái tim có vầng trăng, trên vầng trăng là
hình ảnh của trí tuệ trong sáng được thị hiện như Đức
Phật Thích Ca, với những tia sáng vàng long lanh chung quanh thân
Ngài. Quán tưởng như vậy và chúng ta qui y. Chúng ta qui y trong
trí tuệ vô cùng trong sáng của Ngài, Đạo Pháp và Phật tính.
Hãy
quyết tâm từ bây giờ về sau chúng ta sẽ qui y trong sự tỉnh
thức trong sáng của Đạo Pháp, thay vì chỉ chạy theo những
đối tượng trần gian, vật chất. Hãy quyết tâm một cách
thành thật và dũng mạnh. Hãy nhắm mắt lại và chân thành
quyết tâm.
Hãy
nghĩ: “ Tất cả quãng đời còn lại của tôi, tôi sẽ sống
an lành, tôi sẽ đi theo con đường giải thoát. Đặc biệt,
tôi sẽ kiểm soát thân khẩu ý của tôi và tôi sẽ thận
trọng trong tất cả mọi hành động của tôi trong cuộc sống.”
Hãy quyết tâm: “ Từ ái là con đường của tôi đi. Vì
thế, tôi sẽ không bao giờ làm hại ai, làm buồn lòng ai từ
bây giờ cho đến khi tôi chết.” Hãy trầm tư trong ý
tưởng này, hãy lắng đọng và thiền định.” Hãy thành
thật xác nhận: “ Qui y tận đáy tâm hồn là quan trọng,
con đường này sẽ dẫn tôi đến sự qui y vĩ đại, trường
cửu.”
Đừng
quên gửi lòng từ bi đến muôn vàn chúng sinh. Hãy quán tưởng
cha mẹ chúng ta, anh em và những người thân của chúng ta cũng
như muôn loài chúng sinh trong khắp vũ trụ đang ở chung quanh
chúng ta. Nguyện cho họ cũng đang qui y trong Đạo Pháp. Và
Chư vị Phật, Chư vị Bồ Tát trong mười phương cũng đang
ở chung quanh chúng ta, các Ngài đang độ trì, đang hướng
dẫn chúng ta trên con đường tu tập trong sự quyết tâm của
chúng ta.
Cùng
lúc đó, quán tưởng chủng tử OM của vị Phật đang ở trong
trái tim của chúng ta, những tia sáng màu trắng đang đến;
và từ luân xa trái tim của chúng ta, những tia sáng màu xanh
đang lan tỏa khắp người chúng ta. Hãy phát triển sự quyết
tâm: “ Từ bây giờ, tôi sẽ qui y Pháp trong tận đáy sâu
thẳm của tâm tôi (nội qui y), tôi sẽ qui y Phật để phát
triển Phật tính trong tận tâm tôi.” Cũng trong cùng
lúc đó, hãy tụng niệm những câu chú khi thiền (mọi người
bắt đầu tụng).
Từ
vị Phật trong trái tim của chúng ta có những tia sáng tỏa
ra để thanh tẩy tất cả những ô nhiễm trong thân khẩu và
ý của chúng ta ( Lama nhắc lại nhiều lần)
Có
đơn giản không qúy vị? Tất cả chỉ là như vậy. Qui y rất
là đơn giản. Chúng ta vừa nhận ra sự trong sáng của trí
huệ, Đạo Pháp. Mỗi khi chúng ta phát triển trí huệ này,
đó chính là qủa vị Phật. Hãy tự tin trong trí huệ của
riêng mỗi người chúng ta. Tất cả là như vậy. Hãy quyết
tâm đừng gây đau khổ cho bất cứ ai, hãy có một tấm lòng
từ bi, thương yêu muôn loài.
Kính
chào qúy vị. Cám ơn qúy vị nhiều lắm. Tôi thực sự hạnh
phúc được chia sẻ với qúy vị ở đây.
Cám
ơn nhiều lắm lắm.
Ánh
Sáng Đạo Pháp
nguyên
tác Light of Dharma của Lama Yeshe,
do
nhà sách Wisdom xuất bản.
Vô
Huệ Nguyên dịch
Email:
josephdynh@hotmail.com
XIN
HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG SINH TRONG
MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON KHÔNG GIỮ
LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON