Quyển
thứ hai
(Phần
2)
130.
Trả lời thư cư sĩ Cố Hiển Vi
[Sở dĩ] lệnh hữu[1] là ông X…. có những thứ tình kiến
đối với Phật học, và trong thư trả lời các hạ viết
đến mấy trăm câu, là vì đối với nhân quả, có - không,
sự - lý, tánh - tướng bị lầm loạn, cho nên đối với Kim
Cang, đối với Tịnh Độ đều chẳng thể nương theo lời
thành thật của Phật, Tổ để sanh khởi lòng tin, lầm lạc
đem chuyện trái nghịch lý để suy xét lý, muốn làm người
đại trí huệ lỗi lạc, chẳng chịu ép mình theo khuôn khổ
của hàng ngu phu, ngu phụ, tự cho mình bị lý chướng, nhưng
thật ra là nghiệp chướng nơi tâm. Như kẻ mù nhìn mặt trời,
trọn chẳng thấy được tướng ánh sáng, lại bảo người
thấy được [tướng sáng ấy] là hư vọng, há chẳng đáng
buồn lắm ư? Thứ tri kiến ấy chẳng dễ gì phá được.
Huống chi những gì Quang nói lời lẽ vụn vặt, khó thể thấu
triệt lý. Vì thế, sẽ càng làm cho người ta nghi ngờ, chỉ
tổn hại, chứ không có ích gì!
Muốn
chẳng tuân mạng, nhưng lại sợ bị trách móc, đành làm chuyện
tắc trách, bình luận xằng bậy, mong đừng gởi thư này đến
ông X… Nếu không, rất có thể khó tránh khỏi bị xé nát,
giẫm đạp. Nếu là những câu văn bình luận của Quang thì
đáng bị như vậy. Còn những câu trong ấy nếu không dẫn
kinh văn thì cũng đề cao ý nghĩa kinh, mà chữ nghĩa lại là
của quý báu nhất trong thế gian, lại bị ông ta giẫm đạp
thì chẳng những ông ta tự chuốc lấy tội chẳng cạn, mà
các hạ lẫn Quang cũng bị mắc tội không cạn.
Nay
tôi thay mặt các hạ, trả lời: Xem kỹ thư ông gởi đến,
mọi điều nghị luận có thể nói tóm gọn một lời: “Dùng
tri kiến phàm phu để suy lường xằng bậy Phật trí mà thôi!”
Vả nữa, chúng ta từ sống đến chết, trong là thân tâm,
ngoài là cảnh giới, nào có biết nguyên do của vật nào đâu!
Từ khi có tri thức đến nay, thấy người trước làm sao,
cũng làm theo như thế thì thân thể được thành lập, mọi
việc được trót lọt, thích đáng, thân tâm yên vui; từ lúc
sanh ra cho đến chết, thọ dụng tự tại. Nếu đối với
lời dẫn dụ của đức Như Lai, do chính mình chẳng biết
cội nguồn tri kiến Phật và cội nguồn của pháp Tịnh Độ,
dù Phật, Tổ nói lời thành thật cũng vẫn chẳng chịu nhân
đó phát sanh lòng tin thì hãy suy tìm xem: Các hạ suốt ngày
ăn cơm, suốt ngày mặc áo, nhưng cội nguồn của chuyện chống
đói, ngăn lạnh có biết hay là không? Nếu bảo là biết thì
người biết là ai, xin hãy chỉ ra xem! Nếu chỉ không được,
mà vẫn cứ ăn cơm mặc áo, noi theo quy củ do người đời
trước đã thành lập, thì sao đối với diệu pháp bậc nhất
để liễu sanh thoát tử lại cứ phải đòi tìm biết cho được
cội nguồn trước đã rồi mới chịu tin, trọn chẳng chịu
do lời thành thật của Phật, Tổ mà sanh lòng tin vậy?
Thêm nữa, các hạ có bệnh cần phải uống thuốc thì trước
tiên phải đọc hết các sách Bản Thảo[2], Mạch Quyết, hiểu
biết dược tánh, nguồn gốc bệnh, rồi thì mới căn cứ
trên bệnh tình để kê toa, sau đấy mới uống thuốc; hay
là ngay lập tức mời thầy lang chẩn mạch, lập tức uống
thuốc vậy? Nếu lập tức uống thuốc thì chuyện trị bệnh
và học Phật đâm ra mâu thuẫn lẫn nhau! Dù có đọc hết
Bản Thảo, Mạch Quyết, biết được dược tánh, nguồn gốc
bệnh, thì vẫn mâu thuẫn với chuyện học Phật. Vì sao vậy?
Bản Thảo, Mạch Quyết là tác phẩm của người đời trước;
ông chưa thể đích thân thấy được họ, sao lại tin lời?
Nếu bảo lời lẽ của Bản Thảo, Mạch Quyết chẳng thể
không tin thì lời của Phật, Tổ, thiện tri thức vì sao đều
chẳng tin, cứ muốn tự thấy rồi mới chịu tin? Theo sự
thấy biết của ông, nếu luận rạch ròi thì trước hết
phải thấy được thuốc sẽ chạy theo kinh[3] nào, trị bệnh
gì rồi mới chịu kê toa, uống thuốc, trọn chẳng thể dựa
theo những gì sách Bản Thảo, Mạch Quyết đã nói để kê
toa, uống thuốc! Vì sao vậy? Vì chưa thấy! Nay chưa thấy
được cội nguồn của chuyện dứt đói, chống lạnh, trị
bệnh, mà vẫn cứ ăn cơm, mặc áo, uống thuốc, còn cội
nguồn của Phật và Tịnh Độ do tự mình chưa đích thân
thấy nên chẳng chịu tin tưởng lời thành thật của Phật,
Tổ, là vì lẽ gì vậy? Một đằng vì liên quan đến tánh
mạng, dẫu chẳng biết cũng chẳng dám không làm như thế.
Một đằng là tự phụ cao minh, ắt phải thấy thấu suốt
rồi mới chịu tu trì pháp ấy.
Xưa
nay không biết bao kẻ hào kiệt lỗi lạc, do vì tri kiến này,
cả một đời chẳng được lợi ích thật sự nơi Phật pháp.
Ông ta nói những kẻ ngu phu, ngu phụ, thoạt đầu cũng chẳng
biết nhưng có thể nương theo quy củ của tiền nhân đã lập,
cắm cúi niệm Phật; do vậy, ngầm thông Phật trí, thầm hợp
đạo mầu, bèn được đới nghiệp vãng sanh hay đoạn Hoặc
vãng sanh, rồi sẽ ắt chứng Phật quả, huống hồ những
người đã biết được nguồn cội! Nhưng những kẻ tự mệnh
danh là lỗi lạc ấy, do nghi ngờ bèn phỉ báng, ắt sẽ bị
từ kiếp này sang kiếp khác đọa trong ác đạo dài lâu, bị
những kẻ ngu phu, ngu phụ niệm Phật vãng sanh thương xót,
muốn ra tay cứu giúp cũng không thể được! Vì sao? Do vì
ác nghiệp bất tín trong đời trước gây chướng ngại!
Trí
của các hạ như Can Tương, Mạc Gia[4], chặt ngọc như bùn.
Do chẳng khéo dùng trí ấy, khác nào dùng Can Tương, Mạc Gia
chém bùn nhưng chẳng thể chém được, uổng phí gươm bén,
chẳng đáng buồn ư? Phật pháp là tâm pháp, hết thảy pháp
thế gian chẳng thể sánh ví được! Những ví dụ chẳng qua
chỉ nhằm để con người lãnh hội ý nghĩa, há nên chấp
chết cứng nơi Sự, rồi coi hai đằng giống hệt như nhau
để luận bàn ư? Giơ cái quạt để ví mặt trăng, nhờ vào
cây lay động để chỉ gió, há có nên cầu quang minh nơi cái
quạt, tìm sự phe phẩy nơi cây cối, như thế có còn được
gọi là trí hay chăng? Mộng cảnh là giả, nhân quả là thật,
cũng chẳng ngại gì dùng mộng cảnh để sánh ví nhân quả,
coi chúng giống như nhau. Vì sao? Vọng tâm là nhân, mộng cảnh
là quả. Nếu không có vọng tâm, quyết chẳng có mộng cảnh.
Đấy là lời bàn luận quyết định không thay đổi được!
Tâm thiện - ác và sự tu trì là Nhân, được quả báo thiện
- ác và quả báo tu trì là Quả. Các hạ có tin hay không? Vọng
tâm làm nhân cho mộng nên được mộng cảnh. Cái tâm niệm
Phật là nhân để thành Phật, gần là được vãng sanh Tây
Phương, xa là rốt ráo viên thành Phật đạo. Điều này khiến
ông nghi ngờ hay khởi lòng tin vậy?
Chuyện
Phật rốt ráo là có hay không hãy tạm gác lại, các hạ cứ
muốn cật vấn Phật là có hay không, xin hỏi [bản thân] các
hạ rốt ráo là có hay không? Nếu bảo là không thì những
lời lẽ dông dài đây do ai thuật nói? Nếu bảo là có, xin
hãy chỉ ra người thuật nói là ai? Ngôn ngữ là do họng,
lưỡi và thức tâm kết hợp mà có văn tự, cũng do thức
tâm, tay, bút vận động mà hiện ra. Hai thứ này đều chẳng
ra ngoài Ngũ Uẩn Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, đều chẳng
phải là bản thân các hạ! Nếu lìa ngoài năm pháp này mà
chỉ ra được thì tôi sẽ chấp nhận câu hỏi “Phật rốt
ráo là có hay không?” của các hạ là câu hỏi đại trí
huệ! Nếu không chỉ ra được chính mình rốt ráo là có hay
không, cứ muốn biết “Phật là có hay không?” trước đã,
thì chính là câu hỏi cuồng vọng không đáng nói, chứ không
phải là câu hỏi tột cùng lý thiết thực cho chính mình vậy!
Phật rốt ráo là có, do phàm tình của ông chưa gột sạch,
nên trọn chẳng thể thấy được. Chính các hạ cũng là có,
do Ngũ Uẩn của ông chưa rỗng không nên cũng chẳng thể lìa
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức mà hòng chỉ ra đích xác được.
Kinh
Kim Cang dạy Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, phát tâm độ tận
hết thảy chúng sanh, khiến họ đều chứng Vô Dư Niết Bàn,
nhưng chẳng thấy có một chúng sanh nào được diệt độ.
Chẳng trụ vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để hành
bố thí. Bố thí đứng đầu Lục Độ, Vạn Hạnh. Nêu lên
bố thí thì trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí huệ cho đến vạn hạnh đều chẳng được trụ vào Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà tu. Chỗ này kinh văn nói đại
lược, chỉ nêu bố thí để bao gồm mọi điều khác. Không
trụ vào đâu để sanh cái tâm, không có tướng “ta, người,
chúng sanh, thọ giả”, tu hết thảy thiện pháp. Hãy nói xem:
Những lời như vậy là có tướng hay không có tướng? Tướng
quang minh rộng lớn như thế đầy lấp hư không mà lại bảo
là không thì có khác gì kẻ mù từ lúc mới lọt lòng?
Nói
“không một chúng sanh nào đắc độ, chẳng trụ tướng,
vô tướng, không trụ vào đâu” là muốn cho con người chẳng
vướng mắc vào tướng chấp trước dù phàm tình hay thánh
kiến. Nói “độ tận chúng sanh, hành bố thí, sanh tâm, tu
thiện pháp” là vì muốn cho con người xứng tánh tu tập
pháp tự lợi, lợi tha, ngõ hầu cả mình lẫn người cùng
được viên mãn Bồ Đề mới thôi! Chẳng nhìn thấy điều
này, lầm lẫn chấp vô tướng là rốt ráo, chính là cùng
một tri kiến với kẻ nhai bã hèm, há còn được gọi là
người có trí huệ ư? Sanh khởi lòng tin nào khó khăn gì,
trừ khử nghi hoặc há khó khăn chi, mà ông quyết định chẳng
khởi, quyết định chẳng trừ khử? Dù Phật đích thân thuyết
pháp cũng không thể làm gì được, huống chi bọn tôi là
phàm phu sát đất ư!
Muốn
biết Phật là giả hay thật thì sao không khởi tín đoạn
nghi đối với những lý lẽ đã luận, đối với những sự
việc đã chép trong Tịnh Độ Văn, Tây Quy Trực Chỉ[5]? Có
nên cho những ngôn luận, sự tích ấy đều là bịa đặt,
đồn thổi, chẳng đáng lọt vào mắt ư? Nếu thấy như vậy
thì linh hồn quyết định chẳng đọa vào năm đường kia,
chỉ đọa trong A Tỳ địa ngục đến tột cùng đời vị
lai, sẽ hưởng mãi vạc sôi, lò than, rừng gươm, núi đao
do tâm biến hiện ra, [coi những cảnh đó] giống như cảnh
vui đủ mọi thứ thọ dụng vậy, không gì sánh ví được!
Cứ
muốn biết Phật là giả hay thật, [cho] những gì Tịnh Độ
Văn và Tây Quy Trực Chỉ đã nói đều chẳng phải thật,
chỉ có điều gì mình đích thân thấy được, chứng được
mới là thật thì nay tôi đem một sự hỏi ông, ông phải
thẳng thắn đáp lời, chẳng được hàm hồ trả lời qua
loa. Ông Vương Thiết San ở Bắc Thông Châu vào triều Thanh
trước kia từng làm Phiên Đài ở Quảng Tây. Khi ấy, Quảng
Tây rất nhiều thổ phỉ. Lúc ông Vương coi việc binh ở tỉnh
ấy, liền lập kế tiễu trừ phỉ đảng, giết hại rất
nhiều. Bốn năm trước, ông mắc bệnh rất nặng, vừa chợp
mắt bèn thấy mình ở trong nhà tối. Cái nhà ấy rất to lại
rất tối, quỷ vô số đều ùa tới bức bách, ông bèn hoảng
kinh, thức dậy. Một lúc sau chợp mắt lại thấy cảnh như
thế, lại kinh hãi tỉnh giấc. Suốt ba ngày đêm chẳng dám
nhắm mắt, người đã thở thoi thóp. Nhân đó, vợ ông ta
khuyên dụ: “Ông như vậy làm sao khá được? Ông niệm nam
mô A Di Đà Phật đi! Niệm Phật sẽ khỏe ngay!” Thiết San
vừa nghe lời ấy bèn cố sức niệm, được một chốc bèn
thiếp đi, ngủ được đẫy giấc, không còn thấy cảnh tượng
gì nữa, bệnh cũng dần dần được lành. Do đó, ông ta ăn
chay trường, niệm Phật. Năm trước, Thiết San và Trần Tích
Châu có lên núi [Phổ Đà] đích thân kể chuyện này với
Quang.
Nếu
các hạ lâm vào cảnh ấy, có cần phải biết “Phật là
thật hay giả” trước đã rồi mới chịu niệm, hay là vừa
nghe bèn niệm liền? Nếu lúc ấy chẳng rảnh để xét xem
“Phật là giả hay thật” rồi mới niệm thì nay sao lại
xét ngôn luận sự tích của tiền nhân dạy người là giả
hay thật, nhất loạt coi đó là vọng? Chỉ cầu lấy điều
không chánh yếu, vin vào cái tâm cảnh lờ mờ mê man này để
rồi phải khóc lóc ư? Phú quý còn có thể coi như chiếc giày
rách, sao chẳng thể coi chấp trước này cũng giống như chiếc
giày rách, bỏ cho hết sạch đi? Ông tưởng thứ tri kiến
ấy là cửa ngõ để nhập đạo ư? Không biết nó chính là
đường để đọa vào A Tỳ địa ngục đấy! Dùng mộng ví
với Phật, vọng tâm là nhân, mộng cảnh là quả. Ví niệm
Phật là nhân, vãng sanh thấy Phật là quả, há có nên lấy
sáu thí dụ[6] trong kinh Kim Cang để làm chứng?
Phàm
ngôn ngữ, văn tự thế gian tuy mỗi chữ là một sự, nhưng
chẳng ngại gì cùng nêu lên cái cao quý lẫn cái hèn kém,
cùng chỉ cả sự tốt lẫn điều xấu. Như một chữ Tử,
dùng để chỉ riêng mình Phu Tử (tức Khổng Tử) cũng được,
mà dùng để chỉ một kẻ bình thường cũng được, mà dùng
để chỉ con cái cũng được. Cần phải dựa vào văn cảnh
để hiểu nghĩa, trọn chẳng thể giải thích Phu Tử cũng
có nghĩa là con cái. Cõi Phật là mộng cảnh đợi khi nào
các hạ thành Phật hãy nói. Bây giờ mà nói như vậy thì
chỉ tổn hại chứ không ích lợi gì! Sự - lý, tánh - tướng,
có - không, nhân - quả hỗn độn chẳng phân; chỉ nên học
theo ngu phu, ngu phụ, cắm cúi niệm Phật, chí cung, chí kính,
chỉ nên thành khẩn, lâu ngày chầy tháng, nghiệp tiêu trí
rạng, chướng tận, phước cao. Cái tâm nghi ấy triệt để
rớt mất thì Phật có hay là không, chính mình có hay là không,
đường nẻo vào cửa Phật, căn cứ đích xác nơi bờ kia,
cần gì phải hỏi ai khác nữa! Nếu chẳng chuyên tâm dốc
chí niệm Phật, chỉ hiểu đôi phần từ miệng người khác
bàn bạc thì cũng giống như xem kinh Kim Cang nhưng chẳng biết
Thật Tướng. Xem Tịnh Độ Văn, Tây Quy Trực Chỉ chẳng sanh
tín tâm là do nghiệp chướng trong tâm nên chẳng thể lãnh
hội. Như kẻ mù nhìn mặt trời, cố nhiên mặt trời ở trên
không, thấy được [mặt trời] là nhờ có mắt. Kẻ không
thấy quang minh và lúc chưa thấy không khác gì nhau. Nếu mắt
được sáng lại, vừa nhìn liền thấy tướng quang minh. Một
pháp Niệm Phật chính là pháp thiết yếu nhất để mắt được
sáng lại. Muốn thấy tướng quang minh hãy nên dốc cạn lòng
thành nơi pháp này, ắt sẽ có lúc được thỏa nguyện điều
mình ấp ủ.
Muốn
đích thân thấy được Chân Ngã, mà chẳng phải là bậc đại
triệt đại ngộ thì sẽ không thể nào thấy được! Muốn
chứng nhưng nếu chẳng đoạn Hoặc chứng Chân sẽ không thể
nào được. Muốn viên chứng mà Tam Hoặc[7] chẳng đoạn sạch,
nhị tử[8] không vĩnh viễn mất thì sẽ không thể nào đạt
được. Nếu luận về nơi chốn thì các hạ sẽ luân hồi
bao kiếp dài lâu, cũng như những lời cật vấn trái lý hiện
thời đều là nhờ vào sức của Chân Ngã để thực hiện;
do trái nghịch giác, xuôi theo trần lao nên chẳng thể chân
thật thọ dụng. Ví như cái đầu của chàng Diễn Nhã, châu
nơi vạt áo[9], từ đầu đến cuối chưa hề mất, lầm sanh
sợ hãi, lầm chịu nghèo cùng. Người niệm Phật lâm chung
được Phật tiếp dẫn, chính là chúng sanh và Phật cảm ứng
đạo giao. Tuy chẳng lìa tưởng tâm, nhưng cũng chẳng được
nói đó chỉ là tâm tưởng biến hiện, trọn chẳng có chuyện
Phật - thánh nghênh tiếp! Tâm tạo địa ngục thì lúc lâm
chung tướng địa ngục sẽ hiện. Tâm tạo cõi Phật thì lúc
lâm chúng tướng cõi Phật sẽ hiện!
Nói
“tướng tùy tâm hiện” thì được, còn bảo “chỉ có
tâm không cảnh” thì chẳng thể được. “Chỉ có tâm không
cảnh” thì phải là bậc Đại Giác Thế Tôn đã viên chứng
duy tâm nói ra thì mới không mắc lỗi gì. Nếu các hạ nói
sẽ đọa vào đoạn diệt tri kiến thì sẽ là tà thuyết phá
hoại pháp môn tu chứng của Như Lai. Chẳng thể không thận
trọng. Nếu mỗi điều đều nói cặn kẽ sẽ quá tốn bút
mực, biết một điều sẽ suy được ba điều kia chẳng còn
sót nghĩa nào!
131.
Trả lời thư cư sĩ Tạ Thành Minh ở Tứ Xuyên
Vừa
nhận được thư, biết Nho - Phật tâm pháp nơi quý địa do
một vai ông gánh vác, mừng rỡ, vui sướng không chi bằng.
Chuyện ông khen ngợi Bất Huệ gần như rớt vào kiểu cách
khách sáo thế tục, khoe mắt cá quý hơn bảo châu, đúng là
coi tấc gỗ trội hơn lầu cao khiến người thẹn thùng không
chỗ lánh. Quang chỉ là một ông Tăng tầm thường, không có
pháp gì để tự dùng, thường ăn xin nơi cửa bậc trưởng
giả đại phú, thấy những cơm thừa canh cặn bị vứt bỏ
bèn nhặt lấy để tự nuôi thân. Ai không hiềm hôi chua thì
cũng đem những thứ ấy trao lại. Từ Úy Như nghĩ những thứ
ấy có ích cho người đói nên nhiều lần lưu truyền; tuy
ý nghĩa có thể chấp nhận được, nhưng văn từ chẳng đáng
xem, chẳng ngờ rốt cuộc làm bẩn mắt xanh của các hạ,
cảm thấy hổ thẹn khôn xiết!
Bộ
Văn Sao hèn tệ được in hai lần là vì mùa Hè, Úy Như về
cưu tang mẹ, rời Bắc Kinh, nhờ người bạn giảo chánh, đối
chiếu. Do người hiểu biết ấy không chú tâm, nên đến nỗi
sai ngoa mấy mươi chỗ. Mùa Xuân năm ngoái, Úy Như lại yêu
cầu Thượng Hải Thương Vụ Ấn Thư Quán in soạn riêng và
giữ lại bản lưu (lần này giảo chánh, đối chiếu khá kỹ
càng), đến tháng Giêng mùa Xuân năm nay in xong. In được hai
ngàn bộ, chưa hết tháng Giêng đã bán sạch. Nhà in bận bịu
nên chưa rảnh để in lần nữa. Về sau, do những người muốn
thỉnh sách nhiều lần thôi thúc, nhà in bèn thừa dịp rảnh
rỗi in trước một ngàn cuốn để cung ứng. Đợi sau này
rảnh rỗi sẽ in nhiều hơn, nay kính dâng lên ông hai bộ,
mong ông hãy xét duyệt. So với hai lần in ở Bắc Kinh, bản
in lần này nhiều hơn ba mươi thiên. Trong bộ sách này, những
ý chỉ “chánh tâm thành ý, dốc lòng thành, cạn lòng kính”
cũng được phát huy đại lược hòng đối trị thói hướng
ngoại mong cầu cũng như cái bệnh phóng túng không kiêng dè
của người hiện thời, cũng có ích đôi chút cho người sơ
học. Nếu bậc thông Tông, thông Giáo trông thấy không khỏi
phát ói. Nhưng nếu quả thật họ ói sạch những thứ thức
ăn nặng nề chẳng tiêu của Tông, của Giáo, thì những thứ
cơm thừa canh cặn này cũng có thể bồi bổ nguyên khí, đợi
khi nào sức lực sung túc sẽ lại dùng tiệc vua thì mới được
lợi ích thật sự.
Ở
Tứ Xuyên, nếu có những người chẳng hiềm hôi chua thì hãy
nên thay cho chi nhánh Thương Vụ Ấn Thư Quán đại diện phát
hành ở đó cũng được. Các pháp môn Luật, Giáo, Thiền,
Tịnh, pháp nào hợp căn cơ ư? Hãy nên lắng lòng đọc kỹ
Tịnh Độ Quyết Nghi Luận[10] sẽ tự biết đại khái; nay
tôi chẳng viết kỹ. Còn như bảo dùng Phật pháp hỗ trợ
đạo Nho, cùng hành hai pháp ngõ hầu hết thảy mọi người
đối với pháp thế gian là chân Nho, đối với pháp xuất
thế là chân Thích. Nếu là bậc đại thông gia thì Thiền
Tịnh song tu, nhưng phải lấy Tịnh Độ làm chánh. Nếu là
hạng người bình thường, cũng bất tất phải nghiên cứu
rộng rãi các kinh luận sâu xa, uyên áo, chỉ nên đừng làm
các điều ác, vâng làm các điều thiện, nhất tâm niệm Phật
cầu sanh Tây Phương là được rồi! Những người này chẳng
bỏ nghiệp tại gia nhưng kiêm tu pháp xuất thế. Tuy dường
như là bình thường không kỳ lạ gì, nhưng lợi ích chẳng
thể nghĩ bàn! Ấy là vì ngu phu, ngu phụ cắm cúi niệm Phật
liền sẽ ngầm thông Phật trí, thầm hợp đạo mầu, so với
những bậc đại thông gia dò đoán, suy lường, suốt ngày
thần thức miệt mài trong vòng phân biệt, thì lợi ích càng
nhiều hơn. Vì thế, ngu phu, ngu phụ niệm Phật dễ được
lợi ích. Bậc đại thông gia nếu có thể buông xuống toàn
thân, cũng dễ được lợi ích. Nếu chỉ suy lường nghĩa
lý sẽ chẳng được lợi ích, trái lại còn thành bệnh, và
có kẻ còn chưa được nói đã được, nhập vào bọn cuồng
nữa kia!
Một
pháp tham Thiền chẳng phải là pháp con người hiện thời
nên học. Dù có học cũng chỉ thành tri kiến văn tự, quyết
chẳng thể nhanh chóng sáng tỏ tự tâm, đích thân thấy tự
tánh. Vì sao vậy? Một là không có thiện tri thức đề trì[11],
quyết trạch[12] cho, hai là kẻ học chẳng biết căn cội của
Thiền. Tuy gọi là tham Thiền, nhưng thật ra là hiểu lầm.
Trong những bài Tông Giáo Bất Nghi Hỗn Lạm Luận (Luận về
sự chẳng nên lẫn lộn giữa Tông và Giáo) và Tịnh Độ
Quyết Nghi Luận, Quang đã chỉ bày đại khái. Con người hiện
thời bất luận thượng, trung, hạ căn đều phải chuyên chú
tận lực giữ vẹn luân thường, đề cao lòng kính, giữ lòng
thành, tin sâu nhân quả, rộng hành các điều thiện, nhất
tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Một pháp nhân quả chính
là lò luyện lớn lao để nung phàm luyện thánh của thánh
nhân thế gian lẫn xuất thế gian. Nếu thoạt đầu chẳng
xét thấu nhân quả thì sau khi thông Tông, thông Giáo, vẫn
còn có chuyện hiểu lầm nhân quả. Hễ hiểu lầm nhân quả
thì đọa lạc ắt có phần, không do đâu siêu thăng được!
Đừng cho lý này là thiển cận rồi coi thường. Như Lai thành
Chánh Giác, chúng sanh đọa tam đồ đều chẳng ra ngoài nhân
quả.
Nhưng
phàm phu tâm lượng nhỏ nhoi rất có thể sẽ chẳng lãnh hội
được những chuyện đại nhân quả nói trong kinh, nên lấy
chuyện nhân quả thế gian làm phương tiện để nhập vào
sự thù thắng; như Văn Xương Âm Chất Văn, Thái Thượng Cảm
Ứng Thiên v.v… (ở Trung Hoa Thư Cục có Cảm Ứng Thiên Vựng
Biên là tác phẩm chú giải bậc nhất về Cảm Ứng Thiên
từ xưa đến nay, văn và lý đều hay, có hai bản), hãy đọc
nhuần, nghĩ kỹ rồi hành theo thì ai nấy đều có thể thành
lương dân, ai nấy đều được liễu sanh thoát tử. Năm ngoái,
Quang từng khắc An Sĩ Toàn Thư (trong Văn Sao có hai bài tựa,
có thể biết được đại khái), tồn bản ở Dương Châu,
các chỗ phát hành kinh đều có lưu thông, quả thật là một
bộ sách quan trọng khiến cho đời yên dân lành vậy.
Niệm
Phật trọng tại vãng sanh, niệm đến cùng cực cũng có thể
minh tâm kiến tánh, chứ không phải Niệm Phật hoàn toàn chẳng
ích gì cho đời hiện tại. Xưa kia, Minh Giáo Tung thiền sư[13]
công khóa mỗi ngày niệm mười vạn thánh hiệu Quán Âm; về
sau, đối với mọi kinh sách thế gian không cần đọc đều
biết. Nên xem Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục mới biết được sự hay khéo của việc niệm Phật,
trong bộ Văn Sao dở tệ của Quang từng nhắc đến nhiều
lần. Cư sĩ bảo [niệm Phật] là vô ích cho đời hiện tại
tức là không những ông chưa thấu hiểu sâu xa các kinh luận
Tịnh tông mà đối với bộ Văn Sao của Quang cũng chỉ cưỡi
ngựa xem đèn, chưa bỏ công đọc kỹ.
Luật
không phải chỉ là những sự việc thuộc về mặt thô mà
thôi; nếu chẳng chú trọng lòng kính, giữ lòng thành thì
cũng là phạm luật, nhưng nhân quả là cốt lõi của Luật.
Nếu ai không biết nhân quả và lầm lẫn nhân quả thì đều
là phạm Luật. Người niệm Phật khởi tâm động niệm thường
hợp với Phật thì Luật, Giáo, Thiền, Tịnh cùng hành cả.
Phải biết: Hết thảy các pháp môn đức Như Lai đã dạy
đều phải đoạn Hoặc chứng Chân mới hòng liễu sanh tử,
trọn chẳng có chuyện Hoặc nghiệp chưa đoạn mà được
liễu thoát.
Riêng
trong pháp môn Niệm Phật, người đoạn Hoặc vãng sanh sẽ
mau chứng Pháp Thân; người còn đủ Hoặc nghiệp vãng sanh
cũng đã siêu lên địa vị thánh. Một đằng cậy vào Tự
Lực, một đằng là nương theo Phật Lực, lại kiêm Tự Lực.
Hai đằng khó - dễ, khác nào trời với vực. Thường có kẻ
thông minh xem tràn lan sách Thiền, biết được mùi vị ấy
bèn muốn lấy Thiền làm tánh mạng, muốn làm bậc cao nhân
thông suốt. Đấy đều là hạng chẳng biết căn cội của
Thiền và Tịnh, lầm lạc tự cho mình là cao quý. Tri kiến
như thế trọn chẳng thể nương theo! Nếu nương theo tri kiến
ấy, sợ rằng dù trải qua số kiếp nhiều như bụi trần
vẫn không có hy vọng gì được liễu sanh thoát tử! Mong hãy
xem kỹ bộ Văn Sao của Quang ắt sẽ biết.
132.
Thư gởi cư sĩ Ngô Bích Hoa
Tâm tánh của bọn ta giống hệt như Phật, chỉ do mê trái
nên luân hồi chẳng ngơi. Như Lai thương xót, tùy cơ thuyết
pháp, khiến cho khắp mọi hàm thức theo đường trở về nhà.
Pháp môn tuy nhiều, nhưng trọng yếu chỉ có hai, tức là Thiền
và Tịnh liễu thoát dễ nhất. Thiền chỉ có Tự Lực, Tịnh
kiêm Phật Lực. So sánh hai pháp, thì Tịnh khế cơ nhất. Như
người vượt biển, nhờ vào thuyền bè, mau đến được bờ
kia, thân tâm thản nhiên. Chúng sanh đời Mạt chỉ kham hành
được pháp này. Nếu không thì là trái cơ, nhọc nhằn nhưng
khó thành! Phát đại Bồ Đề, sanh chân tín nguyện, suốt
đời giữ vững, chỉ nghĩ đến Phật, niệm đến cùng cực,
tình kiến mất sạch, tuy niệm mà vô niệm, diệu nghĩa Thiền
Giáo triệt để hiển hiện, đợi đến lúc lâm chung được
Phật tiếp dẫn, thẳng lên Thượng Phẩm, chứng Vô Sanh Nhẫn.
Có một bí quyết tha thiết bảo ban: “Cạn lòng thành, tận
lòng kính”, mầu nhiệm làm sao!
133.
Trả lời thư cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ nhất)
Nói “ngoài việc trường trai niệm Phật ra, nên giữ quy luật”,
chính là tận sức hiếu [với cha mẹ], hòa thuận [cùng anh
em], chuyên chú trọn hết luân thường, đừng làm các điều
ác, vâng làm các điều thiện, chẳng để lòng động niệm
nơi tà vạy, hư ngụy, hễ làm việc cho người bèn trọn hết
chức trách, gặp kẻ hữu duyên bèn khuyên lơn khiến cho nhập
đạo. Những hành tướng ấy chẳng cần phải nêu ra hết,
chỉ khuyên ông nên đọc Ấn Quang Văn Sao và An Sĩ Toàn Thư
sẽ tự biết.
Phải
biết: Làm đệ tử Phật, phàm những hành vi đều phải vượt
trỗi những hành vi thế tục, thì chính mình mới hưởng lợi
ích thật sự, khiến cho người ta trông vào thấy là lành.
Nếu miệng nói tu hành, tâm ôm ấp những điều bất thiện,
đối với cha mẹ, anh em và hết thảy mọi người trên cõi
đời chưa thể trọn hết bổn phận thì người như thế gọi
là thiện nhân giả dối; nhân địa đã hư ngụy, làm sao đạt
lợi ích thật sự cho được! Cái học của thánh hiền đều
khởi đầu từ cách vật trí tri, thành tâm chánh ý, huống
chi muốn liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh ư? Về
“cách vật trí tri” nên xem bài tựa bản in lại cuốn chú
giải Tứ Thư của ngài Ngẫu Ích và bài tựa sách Liễu Phàm
Tứ Huấn của ông Viên Liễu Phàm.
Xưa
kia, ông Bạch Cư Dị hỏi Ô Khoa thiền sư: “Thế nào là
đại ý của Phật pháp?” Ngài Ô Khoa đáp: “Đừng làm các
điều ác, vâng làm các điều thiện”. Ông Bạch nói: “Hai
câu ấy đứa trẻ lên ba cũng nói như thế được!” Ngài
Ô Khoa nói: “Tuy đứa trẻ lên ba nói được, ông lão tám
mươi làm không được!” Phải biết lời này chính là lời
nói tổng quan thiết yếu cho hết thảy những ai học Phật
pháp. Các điều ác, những điều thiện đều là từ tâm địa
mà luận, chứ không chuyên chỉ về sự thực hành nơi mặt
sự tướng mà thôi. Trong tâm địa trọn chẳng khởi ác thì
toàn thể là thiện, niệm Phật như thế hơn công đức của
người bình thường niệm Phật trăm ngàn vạn ức lần. Muốn
được tâm địa “chỉ thiện không ác” thì trong hết thảy
thời, hết thảy chỗ, phải chú trọng lòng kính, giữ lòng
thành như đối diện Phật, trời, mới hòng đạt được!
Nếu tâm vừa phóng túng thì các ý niệm không đúng pháp sẽ
theo nhau khởi lên.
134.
Trả lời thư cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ hai)
Trong phần giải quyết mối nghi về Quyền, Thật, Tiệm, Đốn
của sách Tây Phương Lộ (con đường Tây Phương), trước
hết phải giảng rõ bốn chữ Quyền, Thật, Tiệm, Đốn; rồi
mới luận đến niệm Phật, tham Thiền là Quyền, hay Thật,
là Tiệm hay Đốn thì mới trọn chẳng bị nghi ngờ nghĩa
lý! “Quyền” có nghĩa là Như Lai thuận theo căn cơ của
chúng sanh, bày ra phương tiện khéo léo. “Thật” có nghĩa
là Phật án theo những nghĩa chính tâm Ngài đã chứng mà nói.
“Đốn” là chẳng cần theo thứ tự, thẳng tắt, mau chóng,
hễ vượt khỏi liền chứng nhập ngay. “Tiệm” nghĩa là
dần dần tu cao lên, chứng nhập theo thứ tự, cần phải tốn
nhiều đời nhiều kiếp mới có thể đích thân chứng được
Thật Tướng.
Những
kẻ tham Thiền nói pháp Tham Thiền chính là pháp “chỉ thẳng
tâm người, thấy tánh thành Phật; do vậy, Thiền là Thật,
là Đốn”; nhưng chẳng biết Tham Thiền dù có đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới chỉ là thấy được vị
Phật Lý Tánh sẵn có trong tự tâm. Nếu là căn tánh đại
Bồ Tát thì hễ ngộ bèn chứng, tự có thể vĩnh viễn thoát
khỏi luân hồi, vượt thoát khỏi tam giới. Từ đấy, thượng
cầu, hạ hóa, dùng đó làm nền tảng để chuyện trang nghiêm
cả phước lẫn huệ. Loại căn tánh này nếu luận trong số
những người đại triệt đại ngộ thì cũng phải cả trăm
ngàn người mới có được một hai! Nếu căn khí kém hơn,
dù có thể diệu ngộ, nhưng Kiến Tư phiền não chưa thể
đoạn trừ thì vẫn ở trong tam giới chịu sống, chịu chết.
Đã bị sống - chết thì từ ngộ thành mê sẽ nhiều, từ
ngộ vào ngộ hiếm lắm! Do vậy, tuy pháp này là Thật, là
Đốn, nhưng nếu không đúng người cũng sẽ chẳng được
hưởng lợi ích thật sự nơi Thật, nơi Đốn, vẫn trở thành
pháp Quyền Tiệm mà thôi! Vì cớ sao? Do cậy vào tự lực!
Nếu tự lực mười phần đầy đủ thì còn may mắn nào hơn!
Hễ kém khuyết một chút sẽ chỉ ngộ được Lý Tánh, chẳng
thể đích thân chứng được Lý Tánh. Ngày nay, kẻ đại triệt
đại ngộ còn khó kiếm được, huống gì người chứng được
điều họ đã ngộ!
Một
pháp niệm Phật thông trên thấu dưới, vừa là Quyền vừa
là Thật, vừa Tiệm vừa Đốn, chẳng thể phê phán bằng
giáo lý thông thường. Trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới
đến chủng tánh A Tỳ đều nên tu tập (Đây gọi là “thông
trên thấu dưới” vậy!) Như Lai vì chúng sanh thuyết pháp,
chỉ muốn cho hết thảy chúng sanh liễu sanh thoát tử. Các
pháp môn khác bậc thượng căn có thể giải quyết ngay trong
một đời này, kẻ hạ căn bao kiếp vẫn khó thành được!
Chỉ có mình pháp này, bất luận căn tánh nào, đều vãng
sanh Tây Phương, liễu được sanh tử ngay trong đời này. Thẳng
chóng như thế đó, há gọi là Tiệm được ư? Tuy có căn
cơ nhưng chẳng phải là loại căn cơ như trong những pháp
viên đốn thông thường nên có vẻ giống như Tiệm. Nhưng
oai lực của pháp môn này nằm ở chỗ thệ nguyện của Như
Lai khiến cho những căn tánh hèn kém mau được đại lợi
ích. Lợi ích ấy hoàn toàn do cậy vào Phật từ lực.
Phàm
những kẻ giảng Thiền, nếu chưa nghiên cứu Tịnh Tông, không
ai chẳng miệt thị Tịnh Độ là thiển cận. Nếu nghiên cứu
Tịnh Tông sâu xa, ắt sẽ tận tâm kiệt lực hoằng dương,
há còn chấp trước vào những biện luận sai lầm Quyền,
Thật, Tiệm, Đốn để tự lầm, lầm người nữa ư? Niệm
Phật phải khéo phát tâm, tâm là chủ của sự tu trì. Nếu
hợp với Tứ Hoằng Thệ Nguyện thì niệm một câu Phật hiệu,
làm một chuyện lành, công đức vô lượng, vô biên. Huống
chi ba nghiệp thân - khẩu - ý luôn chú trọng lấy niệm Phật
để lợi sanh! Nếu tâm chỉ cầu tự lợi, chẳng muốn lợi
người, tuy làm nhiều việc, nhưng đạt được công đức
rất ít; huống chi lại đèo thêm ý niệm khuynh loát người,
hại người, cũng như cái tâm khoác lác, tự kiêu thì cái
tâm niệm Phật, điều thiện đã làm ấy cũng chẳng phải
hoàn toàn là không có công đức gì, nhưng thật ra trong trăm
ngàn vạn ức phần chỉ đạt được một phần, hay nửa phần,
nhưng cái lỗi ác niệm cũng chẳng nhỏ nhoi đâu! Vì vậy,
người tu hành đều phải khéo phát tâm, chứ không riêng gì
người niệm Phật!
Nếu
ước theo Thật Nghĩa rốt ráo để nạn (“nạn” nghĩa là
cật vấn) chuyện “lấy - bỏ” thì tức là chẳng biết
“rốt ráo không lấy không bỏ” chính là chuyện sau khi đã
thành Phật. Nếu chưa thành Phật thì trong khi ấy, đoạn Hoặc
chứng Chân đều thuộc về lấy - bỏ. Đã chấp nhận đoạn
Hoặc chứng Chân là lấy - bỏ thì sao không chấp nhận chuyện
lấy - bỏ trong việc bỏ Đông, lấy Tây, lìa cấu lấy tịnh?
Nếu trong pháp Tham Thiền, lấy - bỏ đều sai, thì trong pháp
Niệm Phật lấy - bỏ lại đều là đúng. Bởi một đằng
chuyên suy xét Tự Tâm, một đằng kiêm nhờ Phật lực. Những
người chẳng xét đến duyên do của pháp môn, lầm lẫn dùng
pháp Tham Thiền để phá pháp Niệm Phật, tức là dùng sai
ý nghĩa. Chuyện không lấy - bỏ vốn là Đề Hồ, nhưng người
muốn niệm Phật cũng chẳng lấy - bỏ thì lại thành độc
dược! Mùa Hạ mặc áo mỏng, mùa Đông mặc áo cừu, khát
uống, đói ăn, chẳng thể trái nghịch mà cũng chẳng thể
cố chấp, chỉ chọn lấy những gì thích nghi sẽ có lợi
ích không gì tệ hại! Chỉ mong ông dốc sức trọn hết luân
thường, chuyên chí niệm Phật. Nếu còn sức thì đối với
cha mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu v.v… tùy phần tùy sức
khuyên dạy, ngõ hầu họ đều cùng được lợi ích nơi Niệm
Phật để khỏi uổng dịp gặp gỡ trong kiếp sống này!
135.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ ba)
Phó
Đại Sĩ Ngữ Lục[14] sai ngoa không biết bao nhiêu mà kể,
lại thêm những bài kệ tụng trong ấy đa phần đề xướng
Thiền Tông, sợ ông không đủ học thức, nếu không nghi Đại
Sĩ nói sai cũng sẽ dựa theo ý kiến của chính mình hiểu
lầm ý Ngài thì tội lỗi vô lượng. Hãy nên đưa cho bậc
thông gia coi, còn ông ngàn vạn lần chớ nên xem! Nếu muốn
coi thì đợi đến năm sau, Hưng Từ pháp sư khắc ván in lần
thứ hai xong, mới lại thỉnh về coi. Thoạt đầu, Hưng Từ
pháp sư được bản này bèn giám định, khắc bản; năm ngoái
gởi cho Quang một bộ. Quang lắng lòng giảo chánh, khuyên thầy
ấy khắc bản khác. Thầy ấy định năm sau mới in, bản này
đáng nên đọc kỹ nhiều lần.
Sách
Hộ Pháp Lục[15] rất hay, nhưng không chuyên chú Tịnh Độ,
những chỗ sách ấy bàn về Thiền chớ nên hiểu sai, nhưng
đọc đến lời hay hạnh đẹp của bậc cao Tăng sẽ trưởng
dưỡng thiện căn. Đối với Vãng Sanh Luận Chú[16] nên chiếu
theo những gì Quang đã chỉ bày, có chiếu theo được hay chưa?
Cuốn sách này cả văn lẫn lý đều thật tuyệt, hãy nên
đọc kỹ.
Cái
tâm vọng tưởng của ông ngập trời trùm đất, không biết
lắng lòng niệm Phật, có thể nói là “hướng ngoại rong
ruổi tìm cầu, chẳng biết phản chiếu hồi quang”. Học
Phật như thế rất khó được lợi ích thật sự! Mạnh Tử
nói: “Đạo học vấn chẳng có gì khác, cầu sao buông được
cái tâm mà thôi!” Ông học Phật mà chẳng biết lắng lòng
niệm Phật, đối với Nho Giáo còn chưa thật sự tuân thủ,
huống gì đối với Phật giáo là pháp thật sự lắng lòng
ư? Quán Thế Âm Bồ Tát xoay trở lại nghe nơi Tự Tánh, Đại
Thế Chí Bồ Tát nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối,
kinh Kim Cang không trụ vào đâu để sanh tâm, chẳng trụ vào
Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để hành bố thí, cho đến
vạn hạnh; Tâm Kinh “soi thấy năm Uẩn đều không” đều
nhằm dạy cho con người diệu pháp “từ cảnh biết được
tâm” vậy. Nếu cứ một mực muốn xem rộng khắp hết thảy
thì sẽ không có lợi ích gì. Hễ nghiệp chướng chưa tiêu,
sẽ chưa đạt lợi ích ấy, mà trước hết còn bị mắc bệnh!
136.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ tư)
Những sách của ngài Vĩnh Minh có sách nào không hợp? Ông
hãy nên nghiêm túc niệm Phật. Một cuốn sách Tịnh Độ Thập
Yếu xem nhiều lần là đủ rồi, những thứ khác đợi đến
khi nào tài trí có thừa hãy thỉnh về mà đọc cũng chẳng
trễ tràng đâu! Niềm vui niệm Phật chỉ người thật sự
niệm Phật tự biết, nhưng cần phải chí thành khẩn thiết,
nhiếp tâm mà niệm, chẳng được chấp trước cảnh tướng
bên ngoài. Nếu không, tâm địa chẳng thông, quán đạo chẳng
rành, ma cảnh hiện tiền cũng chẳng hiểu rõ thì tệ lắm!
Hãy nhớ lấy, nhớ lấy nhé!
Nay
những người thật sự hoằng dương Tịnh Độ thật khó có
ai. Nếu đổi ý niệm “tham học với khắp các tri thức”
thành “nhất tâm niệm Phật” thì lợi ích lớn lao lắm!
Nếu không, sẽ thành ra nhọc nhằn, bôn ba mà thôi! Nên thỉnh
giáo nhiều ở chỗ Đế Pháp Sư (ngài Đế Nhàn), những người
khác Quang không biết. An Sĩ Toàn Thư đứng đầu các thiện
thư xưa nay, hãy nên khắc in phổ biến lưu truyền, nhờ đó
vãn hồi thế đạo nhân tâm. May là cư sĩ Vưu Tích Âm đã
cực lực chuyên lo quảng cáo, khuyên khắp mọi người in tặng,
nhân đó cho làm ra bốn khuôn in, tính in hai mươi, ba mươi
vạn bộ, ngõ hầu những chỗ quan trọng thuộc hai ngàn bốn
mươi mốt huyện trong toàn quốc và những người quan trọng
đều được xem đến, về sau sẽ càng lưu thông phổ biến
xa rộng hơn nữa. Nhưng thành sự tại trời, chẳng cần phải
tính trước, chỉ lấy chuyện cứu quốc cứu dân làm trọng,
tận lực mà làm đó thôi!
Niệm
Phật chẳng thể thuần nhất thì phải chế ngự tâm chẳng
cho nó đuổi theo bên ngoài, lâu dần sẽ tự có thể thuần
nhất. “Thành phiến” là thuần nhất không tạp. Đại trượng
phu nếu như văn chương trùm lấp thiên hạ, công nghiệp rền
vang vũ trụ, nhưng không thể đoạn Hoặc chứng Chân, liễu
sanh thoát tử là vì chấp vào cái bên ngoài, bỏ phế cái
bên trong, chấp vào cái ngọn hữu vi, bỏ sót cái gốc vô
vi. Người thế gian ai có thể vẹn toàn mọi điều, chúng
ta chỉ giữ lấy chuyện trọn hết luân thường, tận lực
tu Tịnh nghiệp mà thôi! Cần gì phải tính toán chi khác nữa!
137.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ năm)
Lúc niệm Phật, ai nấy hãy cốt sao thích hợp với mình. Nay
niệm Phật đường trong các tùng lâm đều trước hết niệm
kinh Di Đà, tụng kinh xong, niệm chú Vãng Sanh ba biến hoặc
một biến, sau đó mới cử bài kệ tán Phật, niệm kệ xong,
niệm tiếp “nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại
từ đại bi A Di Đà Phật”, liền vừa đi nhiễu vừa niệm.
Phải đi nhiễu từ Đông qua Nam, qua Tây rồi lên Bắc. Đó
là thuận chiều, là tùy hỷ. Nhiễu theo chiều thuận có công
đức, Tây Vực coi trọng nhất là đi nhiễu quanh. Phương này
(Trung Hoa) cũng thực hiện chuyện đi nhiễu cùng với lễ bái.
Nếu đi từ Đông sang Bắc, đến Tây, đến Nam là đi nhiễu
ngược chiều, có tội lỗi, chẳng thể không biết. Nhiễu
niệm một nửa [thời gian] rồi ngồi niệm thầm ước chừng
một khắc, lại niệm ra tiếng. Niệm xong lại quỳ niệm Phật
mười tiếng, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng
mỗi danh hiệu ba lượt. Sau đó, niệm bài văn phát nguyện.
Người tại gia sợ rằng thất nhỏ khó đi nhiễu thì đứng,
quỳ, ngồi niệm, đều án theo tinh thần mà định, đúng là
chẳng cần cậy người khác lập pháp tắc cho mình.
Niệm
nhưng không niệm, vô niệm mà niệm, niệm đến lúc tương
ứng thì tuy thường niệm Phật, nhưng trọn chẳng có tướng
khởi tâm động niệm (trước lúc tương ứng, chẳng khởi
tâm động niệm để niệm thì sẽ không có niệm). Tuy chẳng
khởi tâm động niệm, nhưng một câu Phật hiệu thường luôn
xưng niệm, hoặc ức niệm, vì thế nói “niệm mà vô niệm,
vô niệm mà niệm”. Chớ hiểu “vô niệm” là không niệm,
“vô niệm mà niệm” nghĩa là không có cái tướng khởi
tâm động niệm để niệm, nhưng vẫn niệm niệm không gián
đoạn, cảnh giới này thật chẳng dễ đạt được, chớ
có hiểu sai! Pháp quán tưởng tuy hay, nhưng phải biết rõ
tượng Phật ta thấy được vốn thuộc về duy tâm sở hiện.
Nếu cho đó là cảnh bên ngoài sẽ rất có thể bị ma dựa
phát cuồng, không thể không biết [điều này]. “Duy tâm sở
hiện” là tuy những hình tướng ấy rành rành phân minh, nhưng
quả thật chẳng phải là vật cụ thể. Nếu nghĩ là cảnh
bên ngoài, coi nó là thật có thì liền thành ma cảnh. Nhắm
mắt hay mở mắt cứ thuận tiện là được!
Kiêm
trì thánh hiệu Quán Thế Âm đáng là pháp để nương tựa,
hết thảy mọi người đều nên tu như thế. Lúc làm lụng
chẳng thể “niệm đâu chú tâm vào đó” là vì chưa đạt
đến cảnh giới nhất tâm bất loạn nên tâm không thể dùng
vào hai việc cùng một lúc được, khó tránh khỏi bị gián
đoạn. Nếu có thể thường giữ được sự giác chiếu thì
không trở ngại gì. Con người ai nấy nên tuân thủ bổn phận,
ông trên còn có bà nội, có cha mẹ, dưới có em nhỏ, vợ
con, nhưng công việc cực nhàn, dễ dàng tu trì nhất, chẳng
thể chân thật, khẩn thiết dụng công trong cảnh ấy lại
vọng động mong muốn xuất gia tu hành. Nếu xuất gia thì ông
có được cơ duyên tốt như thế để chuyên tâm tu đạo hay
chăng? Ông chẳng biết xuất gia có công chuyện xuất gia, ai
mà có thể việc gì cũng chẳng cần phải ngó ngàng tới?
Ngay như Quang trọn chẳng có chuyện gì mà cũng gần như bận
bịu quanh năm, chẳng rảnh rỗi để chuyên tâm niệm Phật,
huống gì những người khác? Mong hãy tùy phận, tùy lực tu
trì, chớ mong tưởng chuyện ngoài bổn phận thì may mắn lắm!
138.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ sáu)
Người tu hành phải lắng lòng tịnh dưỡng. Ông tên là Tịnh
Am, sao chẳng nghĩ đến ý nghĩa của cái tên ấy, cứ một
mực vô sự bày ra chuyện, khiến cho hết thảy mọi người
chán nhàm, tự mình bụng dạ chương phềnh, chóng mặt, mệt
trí, lại chẳng biết tự giữ sức khỏe, đến nỗi thổ
huyết. Nhẹ thì sẽ thành bệnh dây dưa, nếu nặng thì ắt
đến nỗi tổn mạng, đâm ra khiến cho người ta nói: “Ông
học Phật tu hành chẳng những vô ích mà còn bị tổn hại”.
Từ đó, những kẻ vô tri bèn chê Phật pháp sai trái; nhân
đấy, phỉ báng, ngăn trở, đoạn mất thiện căn của người,
chứ họ đâu biết là vì ông chẳng y theo lời Phật dạy
để tu hành nên mới bị như thế. Ông phải tự biết tốt
- xấu!
Tu
hành chuyện gì phải tận hết sức mình, ngầm tu thầm khế
hợp thì mới nên. Bệnh của ông là do chính ông tự chuốc
lấy, nói gì bây giờ? Hãy gấp gáp sửa lỗi, nhiếp tâm niệm
Phật, ngay cả kinh cũng tạm thời chẳng nên xem. Một hai tháng
sau bèn được phục hồi. Nếu không, bèn tuyệt giao, ngày
sau gặp nhau, đối đãi với nhau như người đi trên đường
thấy nhau mà thôi!
139.
Thư trả lời thư cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ bảy)
Danh để biểu thị cái thực, có danh có thực cũng chẳng
lấy làm vinh, vì sao? Vì thuộc về bổn phận. Không có thật
mà được danh thì còn gì nhục bằng! Huống hồ muốn phô
trương dấy động cho người ta nghe biết, ắt phải đăng
trên khắp báo chí. Kẻ nào phô phang như thế, ắt phải nghi
ngờ, đoán định kẻ ấy là kẻ dối đời trộm danh vậy.
Ông chỉ biết một, chẳng biết đến hai, do vậy không thể
không bảo rõ một lần nữa. Ông tín tâm khá sâu, nhưng ưa
phô phang, ham giao du, ham kết giao, quả thật là đại chướng
ngại cho việc tu hành. Ông mới hơn hai mươi tuổi mà đã
kết giao như thế, sau này lúc học Phật thông suốt rồi,
suốt ngày sẽ chẳng thể rảnh rỗi! Mong ông hãy náu mình
ẩn tiếng, ắt được lợi ích vô lượng. Hãy coi chừng!
140.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ tám)
Đã nhiều lần răn nhắc ông nên náu mình, kín tiếng, nhất
tâm niệm Phật, nhưng rốt cuộc vẫn không chịu buông xuống
thói quen phô phang, Hiển Ấm đã đem bản thảo ghi những chuyện
đã biết cho đăng trên tờ Hải Triều Âm, đó đã là chuyện
không thông hiểu sự việc, ông lại lấy làm đắc ý, chẳng
phải là cũng chỉ nhằm cầu danh hay sao? Việc quyên góp in
Ấn Quang Văn Sao nên dừng lại, vì chưa phải là lúc ông nên
làm chuyện đó. Hãy nên lắng lòng niệm Phật, đừng cầu
đọc rộng khắp. Lệnh nội[17] đã phát tâm quy y, tôi bèn
đặt pháp danh là Khế Tịnh. Tên ấy có nghĩa là tuy hiện
thời chưa có công phu, nhưng đến lúc rảnh sẽ hành. Những
câu hỏi trong phần sau của thư ông quả thật đều là những
chuyện thiết yếu, chỉ vì ông chẳng lắng lòng niệm Phật
nên vẫn ngẩn ngơ chẳng biết đi về đâu. Ông hãy nên nghiêm
túc niệm Phật, lâu dần ắt tự biết, không cần ai bảo
cho nữa! Lệnh nội đã quy y, nên khiến cho bà ta tâm y theo
lời Phật, trừ khử tập khí nữ nhân, ngõ hầu được đại
lợi ích. Y theo lời Phật chính là nương vào Tứ Hoằng Thệ
Nguyện, và đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện.
Tuy chưa phải là bổn phận của bà ta, nhưng cố nhiên phải
nên phát cái tâm lợi mình lợi người. Trừ khử tập khí
nữ nhân, đừng chăm chút trang điểm, đừng ôm lòng dua vạy.
Đối với người trưởng thượng, hoặc kẻ ngang hàng đều
tận hiếu, tận tình hòa thuận. Như thế mới chẳng thẹn
là đệ tử Phật vậy!
141.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ chín)
Tiện Mông Sao[18] là tác phẩm được soạn bởi Mộ Liên pháp
sư ở núi Hồng Loa vào năm cuối triều Đạo Quang, Tịnh Độ
Quyết Nghi Luận đặc biệt mượn giọng điệu của Ngài để
phát khởi. Năm Dân Quốc thứ ba (1914), ông Địch Sở Thanh
gởi thư bảo tôi viết bài luận ấy để đóng góp tài liệu
cho Phật Học Tùng Báo. Quang trước đó đã không muốn dùng
cái tên Ấn Quang, nên bèn mượn tên ngài. Dưới tựa đề
ghi rằng “Di cảo của Hồng Loa Sơn Mộ Liên pháp sư, Vân
Thủy Tăng Thường Tàm[19] sao chép”; đến khi gởi cho ông
Mạnh Do thì đề là “mượn khẩu khí của Mộ Liên pháp
sư ở Hồng Loa”. Khi ông Úy Như ấn hành, cả hai thứ tiêu
đề ấy đều bị lược bỏ mất, nên ông mới nghi Ấn Quang
đã từng soạn sách ấy; trước kia đã hỏi, nay trình bày
rõ.
Tâm vốn không có hình tượng, nhưng sâm la vạn tượng đều
do tâm hiện. Tâm vốn không có pháp (pháp là sự, phàm những
gì có thể gọi tên đều gọi chung là “pháp”), nhưng hết
thảy các pháp đều do tâm hiển hiện. Vì thế, mới nói:
“Không có hình tượng nhưng là chủ của muôn hình tượng,
không có pháp nhưng là tông của các pháp” (Tông có nghĩa
là quy thú (hướng về), như sông ngòi chảy xuôi về biển.
Tông lại có nghĩa là chủ thể, bởi các pháp không pháp nào
chẳng lấy tâm làm thể vậy), chúng sanh và Phật đồng thể,
nào có sai biệt! Nếu sai biệt sao gọi là “đồng” được!
Ông lẫn lộn Tướng, Dụng với Thể, nên mới hỏi câu ấy.
Chúng
sanh và Phật về Thể vốn không hai, chỗ bất đồng chính
là mê - ngộ, thuận - nghịch nơi Tướng và Dụng của Thể.
Chúng sanh mê nghịch đối với Thể, còn Phật, Bồ Tát ngộ
thuận theo Thể. Mê - ngộ, thuận - nghịch nơi Tướng và Dụng
bèn thành khác biệt một trời một vực. Ngài Phổ Hiền dùng
mười đại nguyện vương khuyến tấn Thiện Tài và Hoa Tạng
hải chúng, hãy nên xem Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm sẽ tự
biết. Trong bộ Văn Sao của Quang chỗ nào cũng nói đến [điều
này], sao chẳng lãnh hội? Về bốn cõi của Cực Lạc thì
kẻ đới nghiệp vãng sanh sống trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ,
người đã đoạn Kiến Tư Hoặc sống trong Phương Tiện Độ,
người phá được vô minh sống trong cõi Thật Báo. Người
đoạn sạch vô minh sống trong cõi Tịch Quang.
Thêm nữa, cõi Thật Báo là ước trên quả báo cảm được
mà nói. Tịch Quang là ước trên lý tánh chứng được mà
nói, vốn cùng là một cõi, nhưng giảng như thế để cho người
ta dễ hiểu. Do vậy, kẻ phần chứng thuộc về Thật Báo,
còn người mãn chứng thuộc về Tịch Quang, chứ thật ra trong
hai cõi đều có phần chứng và mãn chứng. Trong Văn Sao cũng
nói cặn kẽ điều này. Cõi Đồng Cư tuy có đủ ba cõi kia,
nhưng người chưa đoạn Hoặc chỉ thọ dụng được cảnh
của Đồng Cư. Tuy là người đới nghiệp vãng sanh nhưng chẳng
thể gọi là phàm phu vì họ đã đều đắc ba thứ Bất Thoái.
Đây chính là lý luận thông thường, muốn so sánh với sở
chứng của người được vãng sanh Cực Lạc thì cứ đọc
kỹ sẽ tự biết.
Sự
Trì là tin có Phật A Di Đà ở Tây Phương, tuy chưa đạt “tâm
này làm Phật, tâm này là Phật”, nhưng quyết chí cầu sanh
như con nhớ mẹ, không lúc nào tạm quên. Đây là chưa đạt
lý tánh nhưng chỉ tu trì theo mặt Sự. Lý Trì là tin Tây Phương
A Di Đà Phật tâm ta sẵn có đủ, do tâm ta tạo. “Tâm có
đủ” nghĩa là tâm ta vốn sẵn đủ lý ấy. “Tâm tạo”
là nương vào lý “tâm có đủ” ấy để khởi tu, thì lý
ấy mới hiển hiện. Do vậy, gọi là “tạo”. “Tâm đầy
đủ” chính là Lý Thể, “tâm tạo” chính là Sự Tu. “Tâm
đầy đủ” chính là “tâm này là Phật”; “tâm tạo”
chính là “tâm này làm Phật”. “Tâm này làm Phật” bèn
xứng tánh khởi tu; “tâm này là Phật” bèn toàn tu nơi tánh.
Tu đức hữu công, tánh đức mới hiển. Tuy ngộ lý nhưng
vẫn chẳng phế sự thì mới là chân tu. Nếu không, bèn rớt
vào tri kiến cuồng vọng chấp lý phế sự! Do vậy, mới nói:
“Dùng cái hồng danh tự tâm sẵn đủ, do tâm tạo ra, để
buộc tâm nơi cảnh, chẳng để cho tạm quên mất”. Giải
pháp này thiên cổ chưa từng có, quả thật là khế lý lẫn
khế cơ, lý sự viên dung, chẳng phải là bậc Pháp Thân đại
sĩ, ai có thể đạt đến điều này?
Vì
Sự Trì dẫu chưa ngộ lý nhưng há có thể ra ngoài Lý được
ư? Bất quá là hành nhân chưa thể viên ngộ tự tâm. Hễ
đã ngộ thì Sự chính là Lý, há nào phải cái Lý được
ngộ chẳng nằm trong Sự? Lý chẳng lìa Sự, Sự chẳng lìa
Lý, Lý - Sự vô nhị! Như thân và tâm con người, cả hai thứ
cùng sử dụng một lúc, trọn chẳng hề có chuyện thân và
tâm đây kia tách rời nhau, người đã đạt dù có muốn chẳng
dung hợp cũng không được! Còn tri kiến cuồng vọng chấp
Lý phế Sự thì chẳng thể dung hợp được. Toàn chân thành
vọng, toàn bộ vọng chính là chân, do giống như toàn thể
nước biến thành sóng, toàn thể sóng chính là nước. Nước
là tướng tịnh, sóng là tướng động. Động - tịnh tuy khác,
tánh ướt vốn đồng. Suốt ngày tùy duyên, suốt ngày bất
biến; suốt ngày bất biến nhưng suốt ngày tùy duyên.
Giống
như hư không trọn chẳng có các tướng, nhưng mây đùn bèn
tối, mặt trời chiếu bèn sáng tỏ. Bụi do gió thổi dậy
nên bẩn thỉu, bụi do mưa gột bèn sạch sẽ. Hư không là
bất biến, chẳng ngại tùy thuận các duyên, thành ra sáng
- tối, trong - đục. Tuy là sáng - tối, trong - đục khác nhau,
nhưng bản thể của hư không trọn chẳng biến đổi. Hiểu
rõ điều này sẽ tùy thuận cái duyên ngộ tịnh để tạo
cõi Phật sẵn có trong tự tâm, bỏ cái duyên mê nhiễm để
diệt sáu cõi và tam giới huyễn hiện trong chính cái tâm này
(đây chính là ước theo mười pháp giới mà nói, nên bảo
lục đạo là sáu cõi và tam thừa là ba cõi, chớ nên hiểu
lầm!) Tâm này trọn khắp thường hằng, hệt như hư không.
Chúng ta do mê nhiễm nên khởi các chấp trước; ví như hư
không bị vật ngăn ngại nên chẳng thể trọn khắp, chẳng
thường hằng vậy. Nhưng chẳng trọn khắp, chẳng thường
hằng chính là chấp trước vọng hiện, há nào phải hư không
thật sự bị vật chướng ngại nên chẳng thể trọn khắp,
chẳng thể thường hằng! Do vậy, cái tâm phàm phu và cái
tâm bất sanh bất diệt mà đức Như Lai đã chứng trọn chẳng
khác gì nhau. Có khác là vì phàm phu mê nhiễm nên thành ra
như vậy, chứ không phải tâm thể vốn có biến đổi!
Tịnh
Độ của Phật Di Đà hoàn toàn ở trong một niệm tâm tánh
của chúng ta, tâm ta sẵn có Phật Di Đà. Đã là tâm ta sẵn
có thì cố nhiên phải nên thường niệm. Đã có thể thường
niệm thì sẽ cảm ứng đạo giao, tu đức hữu công, tánh
đức mới hiển hiện. Sự - Lý viên dung, chúng sanh và Phật
chẳng hai; do vậy, nói: “Dùng cái tâm sẵn có Phật của
ta để niệm đức Phật tâm ta sẵn có, lẽ đâu đức Phật
sẵn có trong tâm ta lại chẳng ứng với cái tâm ta sẵn có
Phật?” Những điều đã nói đến trong phần sau của thư
ông viết đều là vì chẳng hiểu: Thật sự chẳng có tự
tướng, thuận theo mê nhiễm nên cái Thể ấy biến thành vọng.
Vọng vốn không có tự tánh, bởi lẽ bản thể của mê nhiễm
vốn là chân. Hai câu “suốt ngày tùy duyên, suốt ngày bất
biến” và “suốt ngày bất biến, suốt ngày tùy duyên”
soi rọi lẫn nhau, tán trợ lẫn nhau. Do tâm ông không có chánh
trí nên nghi hai điều ấy là mâu thuẫn. Niệm Phật xong, bèn
khởi [ý niệm] ta - người chính là tự sanh chướng ngại.
Phàm người hành đạo Bồ Tát, phải phát Tứ Hoằng Thệ
Nguyện. Nếu có được cái tâm Tứ Hoằng Thệ Nguyện thì
dù cảnh ta - người có phát, trong tâm địa rốt cuộc vẫn
chẳng khởi chấp trước ta - người. Khởi ta - người đều
là do tâm trụ vào tướng, chẳng biết ý chỉ vi diệu “tâm
Bồ Tát không trụ vào đâu, hành lục độ vạn hạnh, thượng
cầu hạ hóa”. Những điều vừa nói trên đây nếu tự lãnh
hội được thì tốt; nếu như không thể lãnh hội thì cứ
lắng lòng niệm Phật đến lúc nghiệp tiêu trí rạng, sẽ
tự hiểu biết rõ ràng, chẳng cần phải chuyên chú hỏi ai
khác nữa!
142.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ mười)
Pháp danh của lệnh ái[20] nên đặt là Phước Trinh. Trinh là
chánh, là gốc đức hạnh của phụ nữ. Nếu có thể nhất
tâm niệm Phật khiến cho phiền não Hoặc nghiệp tiêu diệt
hết sạch, công đức, trí huệ triệt để phơi bày toàn thể,
cũng như đức hạnh trinh lương của người nữ không bị
bên ngoài làm nhiễm, chánh đáng nghiễm nhiên tự lập. Vì
thế, kinh Dịch nói: “Trinh giả, sự chi cán dã” (Trinh là
cái cốt lõi của sự). “Cán” chính là cái thân chánh của
cây cối. Vì thế, người tu hành đạt được chánh thân Bồ
Đề, thì đạo nghiệp sẽ tự thành tựu, tự được trọn
đủ phước huệ. Tuy đứa bé chưa thể đạt được như vậy,
nhưng mong mỏi như thế nên đặt tên như vậy đó, mong nó
sẽ nghĩ đến ý nghĩa của cái tên rồi cuối cùng cũng đạt
được như vậy thì sau này sẽ là vợ hiền của người ta,
là mẹ hiền của người ta, giúp chồng thành tựu đức hạnh,
dạy con cái từ khi còn đang mang thai, vẻ vang nào hơn? Lệnh
nội đã quy y, nên siêng năng tu trì, chớ để hữu danh vô
thật, thì may mắn lắm! Kinh lướt qua mắt tức là đã duyệt
rồi, chớ nên xem rồi vướng mắc vào đó. Nếu có cần xem
thì cũng mong nên xem ít, chỉ lấy việc niệm Phật để đối
trị tập khí, tiêu nghiệp làm trọng. Nghiệp tiêu rồi thì
hễ xem sách, vừa đọc liền lãnh hội được chỗ mầu nhiệm.
Đây là ước theo sự đạt được diệu pháp mà luận. Người
đời nay căn tánh hèn kém, xem nhiều sẽ lan man, không nơi
nương tựa, tâm tình lắm mối phân vân, khó thể tương ứng
được!
143.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ mười một)
Hai lần bão lốc, các xứ bị tai ương, Phổ Đà cũng thế.
Ấy là do chúng sanh đồng phận ác nghiệp chiêu cảm mà ra.
Chẳng biết quý trạch[21] phòng ốc ra sao? Cư Khoa đang độ
tuổi tráng niên, phong thái thuần hậu, đáng làm pháp khí
nhập đạo. Quang vì người khác trọn chẳng chấp trước.
Ai trước đó nghĩ Quang đáng tin tưởng được bèn chẳng
ngại kết giao, sau cho rằng Quang chẳng thể tin được bèn
chẳng ngại tuyệt giao. Đến - đi mặc người, tôi vốn không
để tâm đến chuyện kết giao hay cự tuyệt. Người khác
dạy người đa phần chú trọng dốc sức nơi chỗ huyền diệu,
còn Quang dạy người đa phần phát huy ý chỉ “tận hết
bổn phận”. Nếu chẳng thể tận hết bổn phận thì dù
có thấu triệt tận nguồn tột đáy mọi sự trong Thiền,
trong Giáo, cũng chỉ thành một kẻ khiến cho tam thế chư Phật
bị oan mà thôi! Huống chi còn có sự chưa thể tột nguồn
thấu đáy ư!
Cư
Quân đã đến núi này rồi, cần gì tháng Bảy lại phải
lên đây? Qua lại nhiều lượt, lộ phí tiêu dùng tốn kém
biết là bao nhiêu! Xin đừng tới nữa! Nếu có nghi vấn thì
đã có cư sĩ Hiển Vi rồi! Nếu muốn hỏi Quang thì bưu điện
là tiện lợi nhất, cần gì lại phải lên đây, làm chuyện
vô ích khiến hại đến sự hữu ích! Nay vì Cư Quân đặt
pháp danh là Khế Tâm. Vì ông ta tên là Bỉnh Bàn, tự Thấu
Am. Nếu tâm ông ta quả thật ngay thẳng, kiên cố, chẳng động
như “bàn thạch” (đá tảng), lại còn “thấu đãng” (gột
rửa sạch) những chất nhơ bên ngoài thì bổn thể của cái
tâm sẽ tự hiển hiện. Chữ Tâm chỉ cho chân tâm thường
trụ, chứ không phải là cái tâm tùy duyên khởi lên tập
khí. Tâm tập khí chính là tình nhiễm, chứ không phải là
bổn thể!
144.
Thư trả lời cư sĩ Mã Khế Tây (thư thứ mười hai)
(răn
đừng in [danh hiệu Phật, Bồ Tát] lên vải bọc đệm quỳ
lễ[22])
Đương gia[23] của hạ viện đem thơ Nhậm Niên gởi đến
và gói hàng giao cho Quang, mới biết vải trơn được gởi
tới là nhờ Nhậm Niên in. Chuyện này tội lỗi đến cùng
cực, đem danh hiệu của Bồ Tát [in trên vải] làm đệm quỳ
để lễ, thuộc vào cái tội khinh nhờn đến cùng cực. Huống
chi có chỗ dùng vải ấy để bọc đệm ngồi. Năm Quang Tự
thứ hai mươi (1894), ở Phổ Đà tôi đã từng trông thấy.
Năm Quang Tự hai mươi mốt (1895) ở chùa A Dục Vương, tôi
lại thấy, thật là quái dị. Tôi bảo cùng điện chủ điện
Xá Lợi, ông ta bảo: “Đấy là tập quán của vùng Ninh Ba”.
Tự thẹn mình không có sức để cứu vãn thói ác đấy. Nếu
như Quang là chủ nhân một phương, ắt sẽ đi khắp chốn
nói rõ lỗi hại của chuyện này, ngõ hầu những ai có tín
tâm chỉ được lợi ích chứ không bị tổn hại. Người
gởi đã là bà con rất thân của ông, sao không thuật rõ tội
phước, mong ông ta chỉ dùng vải trơn để làm đệm quỳ
lễ, một là chẳng làm bẩn vải, hai là chỉ được lợi
ích không bị tổn hại. Vậy mới là có ích cho ông ta, có
nên theo thói tục im lặng chăng? Hãy thay tôi thỉnh cầu ông
ta! An Sĩ Toàn Thư in chữ ở cuối sách (bìa sau) ông còn chịu
nói đến tội lỗi, thế mà cái lỗi này còn lớn gấp trăm
ngàn vạn lần lỗi kia! Hãy nên bảo tường tận cùng hết
thảy những người tín tâm.
Ấn
ở chùa A Dục Vương đã hư nát chẳng thành dạng chữ nữa
(Đây chính là cái ấn mà Quang đã thấy trong năm Quang Tự
hai mươi mốt), quả thật là ấn chân thân xá-lợi bảo tháp
của Thích Ca Như Lai. Phổ Đà có mấy cái ấn, ấn vàng, ấn
ngọc chùa Pháp Vũ, đều là Quán Âm bảo ấn sắc tứ kiến
tạo Nam Hải Pháp Vũ thiền tự. Trong cõi tục, nếu con cháu
đem tên tuổi tổ phụ in trên đệm quỳ lễ, ắt bị quở
là ngỗ nghịch, huống hồ danh hiệu của Phật, Bồ Tát, đại
thánh nhân ư? Hãy nên tự đối trước kẻ thân tín, khuyên
họ chớ làm như thế, từ một truyền mười, từ mười truyền
trăm, truyền ngàn, truyền vạn, há chẳng thể diệt được
thói ác ấy hay sao? Phàm mọi chuyện đều do một người đề
xướng, mọi người hùa theo bèn thành tục lệ, há riêng mình
chuyện phản tà quy chánh là chẳng giống như vậy ư?
145.
Thư gởi đốc quân[24] Trần Bá Sanh ở Thiểm Tây
Quang là một gã Tăng tầm thường, trọn không có hành trạng
tốt đẹp nào. Tuy xuất gia đã bốn mươi mốt năm, lìa khỏi
đất Tần[25] ba mươi sáu năm, nhưng đạo nghiệp vẫn chưa
thành, không mặt mũi nào để gặp người cùng quê cũ, còn
dám cho phép mình quay về nữa ư? Năm ngoái được lọt mắt
xanh của các hạ, khiến cho Định Huệ hòa thượng sai Quang
về Tần hoằng dương pháp hóa. Quang tuy cảm cái tâm chẳng
chê bỏ, nhưng quả thật chẳng có tài đức đảm đương
trách nhiệm ấy. Do vậy, lấy cái nguyện đã lập ban đầu
“nếu đạo nghiệp chưa thành, dù chết già nơi đất khách
trọn chẳng quay lại đất Tần” để từ tạ. Các hạ gương
sáng treo cao, ắt sẽ thể tình lượng thứ cho. Kẻ bất tiếu[26]
như Quang còn được từ ái chấp thuận như thế, đủ thấy
cái tâm tôn trọng đức hạnh, thích đạo, vì pháp vì dân
của các hạ. Mùa Xuân năm nay, Thượng Hải Thương Vụ Ấn
Thư Quán có xuất bản bộ Ấn Quang Văn Sao, riêng gởi đến
ngài năm bộ để đáp tạ lòng yêu thương nồng hậu.
Người
dân đất Tần đáng gọi là lương thiện. Thói đời ngày
càng biến đổi, pháp luật bỏ phế, những phường du thủ
du thực bại hoại bèn mặc sức hoành hành, cấu kết với
những kẻ bại hoại nơi địa phương cướp đoạt hương
thôn, thê thảm chẳng nỡ nghe. Trong mấy năm gần đây, có
người từ đất Tần đến cho biết tình trạng hiện thời
của đất Tần, không thể không ứa lệ nghẹn ngào. Bởi
thổ phỉ xông đến gặp ai dư giả đôi chút bèn nung nướng,
kềm kẹp, không chuyện gì chẳng làm, miễn sao người ta phải
dâng sạch những gì đã tích cóp mới thôi. Người ta không
chịu nổi khổ, ắt phải hiến sạch. Nhưng người đã bị
hành hạ kiểu ấy, dẫu chưa chết ngay khi ấy cũng khó sống
lâu được. Có nhiều nhà giàu đều phải đào sâu ba thước
đất, phàm hầm lò tường vách đều bị hủy hoại để tìm
chỗ chôn vàng. Thói cướp đoạt hung tàn quá mức ấy quả
là từ ngàn xưa chưa từng nghe nói đến. Do quan phủ chẳng
ngăn chặn được, trăm họ không biết kêu vào đâu, thật
giống như ở mãi trong địa ngục, trọn chẳng có kỳ ra.
Đấy là bọn thổ phỉ lớn. Còn bè lũ thổ phỉ nhỏ, tuy
ít người hơn, nhưng cũng tàn khốc y hệt như thế. Chúng
thường đến cướp vào ban đêm, nên mỗi khi nghe tin tức
ấy, lúc trời sắp tối, mọi người đưa phụ nữ ra ngoài
thôn trước hoặc cho ẩn vào đồng lúa, rừng cây, hoặc nơi
mồ mả, dù mưa gió, tuyết, sương, cũng chẳng dám về. Trẻ
con kêu khóc bèn dùng đồ vật nhét vào miệng, thường có
đứa bị nghẹt thở chết luôn. Đàn ông thường núp ở trong
nhà, thổ phỉ kéo qua như lửa cháy rụi, không còn vật gì
sống sót được. Tình trạng khổ sở ấy nói chẳng thể
hết nổi, còn chẳng biết rốt cục sẽ ra sao?
Các
hạ tuy ở đất Tần, nhưng quả thật chưa nghe [những chuyện
ấy], bởi đi thì có quân lính ủng hộ, ở thì có lính bảo
vệ, chưa từng đích thân đi thăm hỏi, xem xét; trăm họ cũng
khó kêu nài, nên không cách chi biết được! Do vậy, phàm
những kẻ có của ăn của để đều bỏ đi nơi khác, đều
phải bỏ quê cha đất tổ, trốn tránh sang đất khách quê
người. Những người trốn sang Thượng Hải không biết là
bao nhiêu, huống chi các xứ khác! Chỉ một nạn thổ phỉ
đã khó chịu đựng nổi, lại thêm quân Tĩnh Quốc[27] đánh
nhau nhiều năm, đội quân ấy đi đến đâu cướp bóc tràn
lan, còn nói gì được nữa! Ô hô! Người xứ Tần do tội
gì mà phải mắc hung hiểm đến thế?
Các
hạ túc căn sâu dầy, tài thao lược rộng sâu, nên binh lính
suy tôn làm đốc soái. Tiếc là trong kiếp xưa, ít kết duyên
cùng người nên đa số nhân dân chẳng chịu mến mộ. Do vậy,
những kẻ chẳng lo cho nước, cho dân, lén gia nhập Nam Quân,
trở thành quân Tĩnh Quốc đối địch cùng các hạ. Tuy đánh
nhau mấy năm, chưa phân thắng bại. Quân hai bên đối địch,
tiếng đại bác như sấm, tiếng đạn bay như mưa, người
bị chết kẻ bị thương đều là đồng bào xứ Tần chúng
ta. Binh lính hai đoàn quân đi đến đâu, nhân dân bị cướp
đoạt tàn nhẫn cũng đều là đồng bào xứ Tần chúng ta.
Thương thay đồng bào, kêu trời không thấu, không lối chui
xuống đất, thân làm cá thịt, ai thương xót cho?
Quang
trộm nghĩ: Tuy các hạ địa vị tôn quý, quyền oai cao trọng,
ai dám khinh thường, nhưng thật ra trăm họ sợ thổ phỉ,
không phân thượng hạ, lỡ có kẻ muốn hành thích, sẽ chẳng
biết như thế nào? Huống chi quân Tĩnh Quốc đang phất cờ
gióng trống để chống cự ngài! May là các hạ túc phước
sâu dầy, chưa phải lo điều ấy! Nhưng quân hai bên đánh
nhau, cố nhiên nguy hiểm muôn bề! Nếu chẳng lo liệu, thì
hai vị cao đường (cha mẹ) và anh em, vợ con nương tựa vào
đâu? Huống chi tâm của địch nhân quyết khó thể nghĩ tình
hiếu hữu để bảo bọc cả nhà, chẳng chịu ra tay tàn sát
một phen ư? Mối hoạn hại cay đắng của trăm họ thảm độc
còn cạn, mối hoạn hại cay đắng của các hạ, thảm độc
càng sâu. Chánh phủ trung ương thiết tha nghĩ đến dân chúng,
cho rằng các hạ tuy tài đức cao sâu, nhưng chưa hợp lòng
người, nên mới có quân Tĩnh Quốc dấy lên. Nếu các hạ
chịu lui, ắt quân Tĩnh Quốc sẽ tự triệt thoái; vì thế
mới đặc phái Diêm đốc tướng thay thế.
Các
hạ đã từng trải, hãy nên nghĩ lại mấy năm gần đây,
cừu địch như rừng, tuy chưa bị thương, cũng rất nguy hiểm.
Dẫu cho quân oai lừng lẫy, quả thật là mộng mị chẳng
yên, dẫu muốn rút mình ra khỏi cũng không thể được. Nay
may sao có người khác thay thế, tự có thể trút bỏ được
trách nhiệm nặng nề, rút lui về vườn rẫy, tiêu dao an lạc,
dùng hiếu hữu để cai trị, vui với thiên chân của chính
mình, gác ra ngoài chuyện cạnh tranh, khuyến hóa kẻ tham tàn
kia. Tuy sống trong thời đại cạnh tranh, nhưng làm người
trong thời Hy - Hoàng[28]. Một là chẳng phụ sở học, hai là
vĩnh viễn đáp ứng lòng kỳ vọng của dân. Bỏ chuyên chế,
hưng khởi cộng hòa, triệt để tương ứng với danh xưng
tạo phước cho đồng bào, trọn chẳng trái nghịch. Há có
nên nghe lời xúi giục sai trái của những kẻ chẳng biết
đại thể, lầm lạc mong mỏi đoạt công danh mà cự tuyệt
chẳng nghe lệnh chánh phủ, đem binh chống cự, khiến cho nhân
dân lầm than, ngân sách đất nước trống rỗng? Dẫu cho các
hạ một trận thắng ngay, vẫn giữ được nguyên chức vị,
há có tránh khỏi về sau không bị các đội quân tấn công
hay chăng?
Phàm
vũ khí là thứ bất tường, thánh nhân bất đắc dĩ mới
phải dùng đến! Nay chẳng phải là chuyện bất đắc dĩ,
chỉ vì nghe lời kẻ dối trá, dua vạy, mong muốn giữ chắc
tước vị của chính mình, chẳng đoái hoài trăm họ thường
bị lầm than, nguyên khí quốc gia bị hao hớt. Hành vi như
thế khác nào như cái đích để bắn được dựng thẳng để
hứng lấy các mũi tên, há có nên hằng ngày đem thân mạng
tối trọng và cha mẹ, anh em, vợ con ra đánh đổi lẽ sống
trong tay cừu địch? Ấn Quang tuy ngu, cũng chẳng thấy đó
là cách hay. Dẫu thủy chung không lo lắng đến chuyện đó,
nhưng trong lúc đêm thanh lặng lẽ nghĩ suy, há không hổ thẹn
đối với những binh lính chết trận, người dân chết đói
ư?
Mạnh
Tử nói: “Tuy có trí huệ chẳng bằng nương theo thế. Tuy
có phương tiện, chẳng bằng được thời”. Tài trí, thao
lược của các hạ chính là trí huệ, phương tiện vậy. Dân
không bội phục, đua nhau nổi dậy chống lại, là vì đời
trước ít kết duyên cùng người. Nay cai trị chưa hợp lòng
người tức là không có cái thế nào để nương vào. Không
có thế gì để nương vào mà cứ cưỡng làm tức là chẳng
đắc thời vậy. Đại trượng phu muốn tạo đại công, lập
đại nghiệp, chưa hề có ai trên chẳng thuận theo thiên lý,
dưới chẳng hợp lòng người cả! Vì thế, Khổng Tử thấy
ra làm quan được bèn làm quan, nên thôi bèn thôi, cái gì nên
lâu thì lâu, cái gì nhanh được thì nhanh, đợi thời cơ thích
hợp, không gì chẳng thích đáng. Ngài từng bảo Nhan Uyên:
“Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng. Duy ngã dữ nhĩ hữu
thị phù” (Dùng đến thì ra sức, bỏ đi thì ẩn. Chỉ mình
ta với ngươi là được như vậy thôi!) Mong các hạ noi gương
Khổng Tử, coi cái địa vị Đốc Quân giống như nguồn tội,
chẳng những không khởi chiến sự, mà cũng chẳng sanh tâm
tiếc nuối thì không những dân Tần được nhờ mà quốc
gia cũng chẳng phải lo âu. Các hạ sẽ thật sự được phước
không ngằn mé, phước thừa đượm khắp hậu duệ. Nếu giữ
chắc ý kiến ấy, chẳng chịu nghĩ lại, ắt sẽ thành tượng
Kháng Long Hữu Hối[29] của quẻ Càn, tuy quý nhưng không có
địa vị, cao nhưng không có dân, sau này ắt phải hối hận.
Sau này có hối, há còn kịp chăng? Khổng Tử giải thích [quẻ
này] như sau: “Kháng là đức, biết tiến nhưng không biết
thoái, biết còn mà chẳng biết mất, biết được nhưng chẳng
biết mất. Chỉ mình thánh nhân biết tiến thoái tồn vong,
nhưng chẳng đánh mất lẽ chánh, chỉ có mỗi mình thánh nhân
ư?” Nhắc lại câu “chỉ mình thánh nhân ư” lần nữa
để con người suy nghĩ sâu xa học lấy. Dẫu các hạ chẳng
ở vào bậc thánh nhân, nhưng chẳng lẽ không xuôi theo cái
tốt, tránh cái xấu hay sao? Mong các hạ trên hãy nghĩ đến
chuyện nối tiếp dài lâu đức dầy của tổ tiên, dưới
nghĩ để lại hạnh phước cho con cháu, sanh ý tưởng tri túc,
mau dứt chiến sự thì nhân dân đất Tần mới còn sống sót
được. Cường bạo các nơi không cậy vào đâu hoành hành
được nữa! Tuy lui về ruộng rẫy, nhưng quả thật đã ban
ân trạch “xương khô được mọc thịt” cho dân Tần không
gì lớn lao hơn!
Ấn
Quang tài đức đều thiếu, nào dám mạo phạm oai phong, bất
quá muốn báo đáp các hạ một phen yêu thương nồng hậu,
ngõ hầu dân xứ Tần ít phải chịu tai nạn binh đao. Do vậy,
chẳng nề hà bị giết chóc, dâng lời thẳng lên ngài, nếu
ngài rủ lòng xét soi tấm lòng ngu thành thì dân Tần may lắm,
quốc gia may mắn lắm. Lại mong các hạ thiết thực nghĩ đến
đời sống của nhân dân, ắt sẽ suy xét nguyên do họa phước,
kết quả thiện ác. Một là để mở rộng bụng dạ, hai là
để hướng dẫn, cảm hóa đồng nhân, nên tự đem một bộ
Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Phật Học Tiệp Kính, Phật Học
Cơ Sở, Phật Học Khởi Tín Thiên, Phật Học Chỉ Nam, Lục
Đạo Luân Hồi Lục[30], mỗi thứ một bản gởi kèm theo thư,
mong ngài sẽ đọc vào những lúc nhàn hạ vô sự thì cái
đạo thành ý, chánh tâm, cùng lý tận tánh, siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử sẽ tự đạt được nơi tâm.
An
Sĩ Toàn Thư là thiện thư đứng đầu thiên hạ từ xưa đến
nay. Lưu tỉnh trưởng từng thỉnh bốn trăm bộ kết duyên,
sẽ bảo ông ta gởi cho các hạ đọc. Ngoài ra, Cảm Ứng Thiên
Vựng Biên cũng thuộc vào bậc nhất. Sách này tuy nghị luận
chẳng mười phần thấu triệt bằng An Sĩ Toàn Thư, nhưng
so trong các thiện thư, chưa thấy sách nào bằng được, huống
gì là hay hơn! Năm bộ sách kia đều từ cạn tiến vào sâu,
do nhân quả để liễu sanh tử, không căn cơ nào chẳng kể
đến, không pháp nào chẳng bao gồm. Người sâu sắc sẽ thấy
sách sâu sắc, tự có thể đoạn Hoặc chứng Chân. Người
nông cạn sẽ thấy chúng là nông cạn, cũng kham tiêu tai tăng
phước. Pháp không có tướng nhất định, tổn hại hay lợi
ích là do mỗi người. Người dốc chí tận tụy nơi đại
sự để mình được luôn trường tồn bao kiếp sẽ chẳng
cho là Quang lắm chuyện.
Phật
pháp một phen nghe đến, lợi ích vô tận. Ông Vương Thiết
San ở Bắc Thông Châu, từng làm chức Phiên Đài tỉnh Quảng
Tây đời nhà Thanh trước kia. Do cõi ấy thổ phỉ quá đông,
ông bèn lập cách tiêu diệt, giết hại không biết bao nhiêu
mà kể. Đến năm trước bị bệnh, vừa chợp mắt bèn thấy
thân ở trong nhà tối, vô số quỷ muốn đến bức bách khổ
não, bèn hoảng hốt tỉnh dậy. Lúc lâu sau chợp mắt, lại
thấy y hệt như thế, lại kinh hoảng thức dậy. Suốt ba ngày
ba đêm chẳng ngủ yên giấc như thế, người đã suy sụp
không kham nổi. Vợ ông ta dạy ông niệm “nam mô A Di Đà
Phật”, ông bèn cạn kiệt lòng thành niệm rõ, chưa được
một lúc lâu sau bèn ngủ thiếp đi, ngủ được đẫy giấc,
bệnh dần khỏi hẳn, mới biết công đức Niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn. Mùa Hè năm ngoái, ông Thiết San lên núi, chính
ông ta kể cùng Quang chuyện ấy. Quang đem chuyện này tỏ bày
cùng các hạ, cũng mong các hạ được lợi ích thật sự nơi
Niệm Phật.
146.
Thư trả lời cư sĩ X… ở Dũng Giang[31]
Chuyện
sắc dục là bệnh chung của người cả cõi đời, chứ không
riêng gì hạng trung hạ căn bị sắc mê hoặc. Dù là người
thượng căn nếu chẳng luôn canh cánh giữ gìn, luôn nghĩ kinh
sợ thì cũng khó khỏi bị mê hoặc. Thử xem từ xưa đến
nay bao nhiêu hào kiệt lỗi lạc, kham làm thánh làm hiền, chỉ
do chẳng phá được cửa ải này, đâm ra thành kẻ hạ ngu
bất tiếu, lại còn bị vĩnh viễn đọa trong ác đạo, chẳng
biết là bao nhiêu! Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu chúng sanh thuộc
sáu đường trong các thế giới tâm chẳng dâm sẽ chẳng bị
sống - chết tiếp nối. Ông tu tam-muội vốn để thoát trần
lao, dâm tâm không trừ, chẳng thể xuất trần được” Người
học đạo, vốn để thoát lìa sanh tử, nếu chẳng đau đáu
dứt trừ bệnh này thì khó thể thoát lìa sanh tử.
Ngay
như pháp môn Niệm Phật tuy có thể đới nghiệp vãng sanh,
nhưng nếu tập khí dâm cố kết sẽ bị cách ngăn cùng Phật,
khó thể cảm ứng đạo giao! Muốn tuyệt cái họa này, không
gì bằng trông thấy hết thảy nữ nhân đều khởi thân tưởng,
oán tưởng, bất tịnh tưởng:
1)
Thân tưởng là thấy người già coi như mẹ, thấy người
lớn hơn hơn coi như chị, thấy người trẻ hơn coi như em
gái, thấy trẻ nhỏ coi như con. Dục tâm dẫu lừng lẫy chẳng
dám khởi ý niệm bất chánh đối với mẹ, chị, em, con. Xem
hết thảy nữ nhân đều là mẹ, chị, em, con của mình thì
lý bèn chế ngự dục, dục không do đâu phát được!
2)
Oán tưởng là phàm thấy gái đẹp bèn khởi tâm ái; do tâm
ái đó bèn đọa ác đạo, chịu khổ bao kiếp chẳng thể
thoát lìa. Như thế thì những gì gọi là mỹ lệ, kiều mị
so ra còn độc hại hơn giặc cướp, cọp, sói, rắn độc,
bò cạp độc, phê sương, trầm độc[32] gấp trăm ngàn lần.
Với những oan gia cực đại ấy vẫn cứ quyến luyến mơ
tưởng, há chẳng phải là kẻ mê gấp bội ư?
3)
Bất tịnh là vẻ đẹp lộng lẫy động lòng người chỉ
là một lớp da mỏng bên ngoài. Nếu bóc lớp da ấy đi thì
chẳng dám nhìn: xương, thịt, máu mủ, phân, tiểu, lông, tóc,
đầm đìa, ròng ròng, trọn không có vật gì đáng cho người
khác yêu mến được! Nhưng do lớp da mỏng bao bọc, nên lầm
sanh ái luyến; bình đẹp đựng phân, người ta chẳng muốn
nâng niu. Nay lớp da mỏng của mỹ nhân chẳng khác cái bình
đẹp đẽ, những thứ được bọc trong đó còn gớm ghiếc
hơn phân nữa! Há nên yêu mến lớp da bên ngoài, quên đi những
thứ bẩn thỉu chứa bên trong da, lan man khởi vọng tưởng
ư? Nếu chẳng khăng khăng kiêng sợ, đau đáu trừ khử tập
khí ấy, sẽ chỉ thấy tư chất mỹ lệ khiến cho mũi tên
ái lọt thấu xương chẳng thể nhổ được. Thường luôn
như thế, lại muốn chết đi chẳng vào bụng người nữ sẽ
chẳng thể được! Vào trong bụng người nữ còn tạm được,
chứ vào trong bụng súc sanh cái biết làm sao đây? Thử suy
nghĩ đến điều này, tâm thần kinh hãi.
Nhưng
muốn thấy cảnh mà chẳng khởi nhiễm tâm thì phải trong
lúc chưa thấy cảnh, thường khởi ba thứ tưởng này; khi
thấy cảnh sẽ tự có thể chẳng bị cảnh chuyển. Nếu không,
dẫu không thấy cảnh, ý vẫn vấn vương, rốt cục vẫn bị
tập khí dâm dục ràng buộc. Vì thế, phải nỗ lực gột
trừ các tập khí ác nghiệp thì mới có phần được tự
do. Mỗi ngày ngoại trừ lúc làm việc ra, chuyên tâm niệm
danh hiệu Phật. Sáng chiều đối trước Phật, cạn lòng thành,
trọn lòng kính, khẩn thiết sám hối tội nghiệp từ vô thỉ
đến nay. Hành như thế lâu ngày sẽ có lợi ích chẳng thể
nghĩ bàn mà không hề hay biết. Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có
chúng sanh nhiều dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế
Âm Bồ Tát liền được lìa dục”, sân khuể, ngu si cũng
thế. Do vậy, ta biết: Chí thành niệm thánh hiệu Di Đà, Quán
Thế Âm thì ba Hoặc tham - sân - si sẽ tự tiêu trừ. Thêm
nữa, cõi đời nay đang hoạn nạn, ngoại trừ việc niệm
Phật ra, cần phải niệm thêm thánh hiệu Quán Thế Âm, trong
âm thầm sẽ có sự xoay chuyển chẳng thể nghĩ bàn, ngõ hầu
chẳng đến nỗi khi túc nghiệp hiện tiền, không cách gì
đối phó. Lại nên thường đọc những sách dạy về kiêng
dâm, nhân quả, báo ứng, xa lìa những bạn bè cuồng loạn,
phóng đãng, hèn tệ thì trong tâm được chánh, sự dụ hoặc
bên ngoài dứt tuyệt, sẽ tự có thể thành tựu tịnh nghiệp
vậy! Hãy gắng lên!
147.
Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như
Nhận được thư nhưng công việc bộn bề, chưa thể trả
lời được. Quang tuy vì thái phu nhân sáng chiều hồi hướng,
há nào thật sự có ích cho thái phu nhân? Chỉ mong thái phu
nhân thương cho một niệm chân thành của tôi, lôi kéo Di Đà,
Quán Âm đến cứu vớt tôi. Các hạ ngợi khen tôi quá lẽ,
khôn ngăn khiến cho người ta thẹn thùng. Lệnh đệ cũng đã
phát tâm, xin hãy vì ông ta diễn giảng, đủ biết đời trước
đã cùng gieo thiện căn, tương lai cùng làm anh em muôn kiếp
trong Liên Trì Hải Hội, mừng mừng tủi tủi. Bài thuốc cai
thuốc phiện đăng báo nên đăng nhiều kỳ suốt năm thì người
ta mới biết rộng rãi được. Nên kêu gọi những người
có tài lực cùng làm. Nếu một người trang trải phí tổn,
e không đủ sức kéo dài.
Cách
tóm gọn bộ Văn Sao hủ bại đều nên làm sao cho hợp lý,
bởi thư Quang đã viết đều chỉ nhằm cho một người nào
đó, nếu phổ cập đại chúng thì phải trọn không có chỗ
trở ngại nào mới khỏi chuốc lấy lời gièm chê. Những
chỗ chỉ trích những thứ cuồng vọng của bọn con cái của
ma nên dùng cách trình bày tóm lược, sao cho phù hợp với
văn thể. Nhưng nay đa phần môn đồ Thiền Tông chẳng biết
Thiền, nếu chẳng chỉ ra những hình tích thật sự đơm đặt
đồn thổi của bọn họ, môn đồ Thiền Tông sẽ cho là Quang
báng Thiền. Ngay cả đối với bài Tông Giáo Bất Nghi Hỗn
Lạm Luận (luận về Tông và Giáo chẳng nên xen trộn), bọn
Thiền giả chẳng hiểu Tông phong cũng cho là báng Thiền. Kiến
thức của đồ chúng nhà Thiền đa phần đều là như thế
cho nên pháp Thiền mới bị suy sụp sát đất.
Gần
đây, Phật pháp lưu thông, cư sĩ Vương Hoằng Nguyện[33] ở
Triều Châu rất ham Mật Tông; y theo đó tu trì, hơi có hiệu
nghiệm, đối với các tông khác tuy chưa thông tỏ hoàn toàn,
nhưng đã mon men ngoài bờ rào. Ông ta dịch cuốn Mật Giáo
Cương Yếu[34] của Nhật Bản rồi in ra, gởi cho tôi hai bộ.
Nay tôi gởi cho ông một bộ, mong ông tùy hỷ. Nhưng ông ta
là người hoằng truyền Mật Tông, nên thiên về đề cao Mật
Tông, ước theo giáo mà luận, cố nhiên chẳng trở ngại lớn
lao gì. Nhưng nếu xét trên pháp môn Tịnh Độ độ khắp ba
căn, thuyết giáo tương ứng với căn cơ mà luận thì cố
nhiên khác hẳn nhau. Những điều Vương Hoằng Nguyện đã
viết trong thư gởi đến đều là ước theo giáo bỏ sót căn
cơ. Quang gởi thư cho ông ta ước trên căn cơ để luận sự
lợi ích của g