Quyển
thứ hai
(Phần
4)
II.
LUẬN
1.
Tịnh Độ Quyết Nghi Luận
Thuốc
không quý - tiện, thuốc trị lành bịnh là thuốc hay. Pháp
không hơn - kém, pháp khế hợp căn cơ là pháp diệu. Thuở
xưa, căn tánh con người thù thắng, tri thức như rừng, tùy
ý tu một pháp đều có thể chứng đạo. Người đời nay,
căn tánh kém cỏi, tri thức hiếm hoi, nếu bỏ Tịnh Ðộ thì
chẳng nhờ vào đâu để được giải thoát. Tôi tự thẹn
nhiều đời, nhiều kiếp, ít gieo căn lành, phước mỏng, huệ
cạn, chướng nặng, nghiệp sâu; lúc đang cầu học hỏi lại
chẳng gặp thiện hữu, chưa được nghe đạo truyền tân[1]
của thánh hiền, lậm cái độc của Hàn, Âu[2] phế Phật.
Học vấn chưa thành, nghiệp lực đã hiện ra trước. Từ
đấy, bệnh nặng cả mấy năm, chẳng làm gì được. Nghĩ
kỹ thiên địa quỷ thần chiếu soi như thế, cổ kim thánh
hiền đông nhiều đến thế, huống chi Phật vốn chẳng có
quyền lực để ép người thuận theo; ắt phải nhờ vào vua
thánh, tôi hiền hộ trì thì đạo Phật mới có thể lưu truyền
khắp thiên hạ vậy. Nếu pháp ấy quả thật đúng như lời
họ Hàn, họ Âu: “Phật pháp trái nghịch thánh đạo, gây
hại cho Trung Quốc” thì chẳng những riêng vua thánh, tôi
hiền xưa nay chẳng dung thứ cho Phật pháp tồn tại nơi đời,
mà thiên, địa, quỷ thần cũng tru diệt chẳng còn sót từ
lâu rồi; nào phải đợi đến họ Âu, họ Hàn dùng lời hư
vọng để bác bỏ nữa!
Sách
Trung Dung nói: “Ðạo quân tử thì kẻ ngu phu, ngu phụ còn
có thể biết được, hành được”; còn như cái đạo đạt
đến mức cùng cực thì ngay cả thánh nhân cũng có chỗ chẳng
hay biết, chẳng thể thực hiện được nổi. Ông Âu, ông
Hàn tuy hiền, nhưng còn kém xa thánh nhân rất nhiều! Huống
gì có những điều thánh nhân còn chẳng biết chẳng hay! Phật
pháp nào có phải là pháp mà phàm tình, trí thế gian có thể
suy lường được nổi. Tôi bèn nhanh chóng sửa đổi tâm trước,
xuất gia làm Tăng, tự lượng sức mình: Nếu chẳng nương
vào sức thệ nguyện rộng lớn của đức Như Lai thì quyết
khó có thể ngay trong đời này thoát khỏi sanh tử. Từ ấy,
chỉ niệm Phật, chỉ cầu Tịnh Ðộ. Từ nhiều năm qua, tôi
đã lạm dự vào chốn giảng pháp, nhiều phen tham vấn các
bậc Thiền Ðức[3], chẳng qua là muốn làm sáng tỏ Ðệ Nhất
Nghĩa Ðế Tịnh Ðộ để làm tư lương[4] thượng phẩm vãng
sanh mà thôi. Hận rằng sức lực yếu ớt nên hạnh khó dũng
mãnh; nhưng tôi tín, nguyện kiên cố, không những các sư giảng
Thiền trong thế gian không thể lay chuyển tôi chút nào, dẫu
cho chư Phật hiện thân dạy tu pháp khác, tôi cũng chẳng chịu
bỏ pháp này nhận lấy pháp khác, trái nghịch cái tâm ban
đầu. Hiềm rằng túc nghiệp gây chướng ngại nên rốt cuộc
tôi chưa đạt được nhất tâm bất loạn để đích thân
chứng được Niệm Phật Tam Muội, thẹn thùng vô kể.
Một
ngày nọ có một Thượng Tọa, tham học Thiền tông đã lâu,
kiêm thông giáo lý, mắt xem bốn biển rỗng không, thề chứng
Nhất Thừa, noi gương Thiện Tài tham học khắp các tri thức,
đến Loa Sơn gõ cửa thất tôi. Khi ấy, tôi vừa xem tập Di
Ðà Yếu Giải thấy văn sâu lý thẳm, chẳng tiện cho kẻ
sơ cơ, mông muội, nên muốn thâu thập những giáo lý của
tông Thiên Thai để viết lời giải thích, ngõ hầu giúp bậc
sơ học dễ bề tiến bộ, chứ chẳng dám bắt chước cổ
đức hoằng xiển đạo mầu, chỉ toan tạo nhân duyên thâm
nhập chỗ thù thắng cho hậu học. Mừng có vị Thượng Tọa
ấy đến, nên tôi liền tặng ông ta một cuốn Yếu Giải,
rồi tỏ ý muốn viết lời giải thích. Nhân đấy, Thượng
Tọa bảo tôi:
- Một
cuốn Yếu Giải trước kia tôi đã từng xem, thấy trong ấy
viết rằng: “Tạng sâu thẳm của Hoa Nghiêm, cốt tủy bí
nhiệm của Pháp Hoa, tâm yếu của hết thảy chư Phật, kim
chỉ nam cho vạn hạnh của Bồ Tát đều chẳng ra khỏi kinh
này”. Những câu như vậy chẳng thể kể hết, thật đúng
chèn ép Tông (Thiền), Giáo (các tông phái khác như Hoa Nghiêm,
Thiên Thai...), quá khen Tịnh Ðộ, báng chánh pháp luân, khiến
chúng sanh nghi lầm! Chẳng hiểu đại sư Ngẫu Ích đã có
học thức thiên cổ hy hữu sao lại không trực chỉ nhân tâm,
hoằng dương Chỉ Quán. Trái lại, Ngài chấp vào thứ kiến
giải ấy khiến kẻ ngu phu, ngu phụ dùng đó như bùa hộ thân,
chỉ mong hàng Tăng, tục trong đời giữ một pháp buông bỏ
vạn hạnh; lấy vũng nước nơi dấu chân, bỏ cả biển rộng,
cùng bước vào nẻo mê, vĩnh viễn quay lưng với đường chánh,
đoạn diệt giống Phật, tội ngập cả trời. Muốn báo ân
Phật thì trước hết nên hủy diệt sạch sách này, sao thầy
còn tính viết lời giải thích để giúp cho sách ấy được
lưu thông vậy? Tâm giận ngùn ngụt, như đối diện cừu thù.
Tôi
đợi cho ông ta bình tĩnh lại, thong thả bảo rằng:
- Ông
coi lời giải thích này của ngài Ngẫu Ích là tội lỗi quá
nặng; ấy là chỉ biết ngọn, nhánh, chứ chẳng biết đến
cội, nguồn, như con chó khờ chạy theo hòn đất, như con ngỗng
chúa chẳng chọn sữa[5]. Phải biết cái lỗi ấy chẳng do
cuốn Yếu Giải này của ngài Ngẫu Ích mà thật sự là do
Phật Thích Ca, Phật Di Ðà, mười phương chư Phật và ba kinh
Tịnh Ðộ, kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, các kinh Ðại Thừa và
các vị đại Bồ Tát, tổ sư: Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh,
Long Thọ, Trí Giả, Thiện Ðạo, Thanh Lương, Vĩnh Minh v.v...
Nếu ông có thể làm đại pháp vương trừng trị tội ấy
thì lời ông sẽ được cả thế gian phụng hành; bằng không
thì kẻ dân ngu nơi rừng núi xưng bừa là hoàng đế, tự
chế pháp luật, bội phản luật vua, chẳng mấy chốc sẽ
bị diệt môn tru tộc vậy. Ông nói như thế là báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng, ngay đời này sẽ hãm vào A Tỳ địa
ngục thọ khổ bao kiếp, trọn không có lúc thoát ra. Cậy
chút phước trong quá khứ, tạo khổ báo bao kiếp. Hạng người
được tam thế chư Phật gọi là “đáng thương xót” chính
là ông vậy.
Ông
ta giật mình, nói:
- Thầy
bảo tội nơi đức Thích Ca, Di Ðà v.v... Sao mà lại trái nghịch
lý thường đến như thế? Xin thầy giải thích cặn kẽ nguyên
do. Nếu lý ấy thật sự thù thắng, tôi đâu dám chẳng tuân
theo!
Tôi
bảo:
- Như
Lai vì một đại sự nhân duyên nên xuất hiện trong đời.
Ðại sự nhân duyên vừa nói đó chính là muốn cho chúng sanh
khai, thị, ngộ, nhập[6] tri kiến của Phật, thẳng cho đến
khi thành Phật mà thôi; há còn có gì khác nữa đâu!
Khốn
nỗi chúng sanh căn tánh có lớn - nhỏ, mê có cạn - sâu, chẳng
thể tỏ thấu trực tiếp bản hoài của Phật. Do đó, đức
Phật mới thuận theo căn cơ đặt bày giáo pháp, đối bệnh
phát thuốc, vì lẽ thật mà bày ra phương tiện quyền biến,
khai Quyền hiển Thật[7]; [chỉ một pháp] Nhất Thừa mà bèn
nói ra các thuyết. Nếu có kẻ thiện căn thành thục thì sẽ
làm cho họ sanh lên được bờ kia; còn đối với kẻ ác nghiệp
sâu dày, sẽ khiến họ dần dần thoát khỏi trần lao, rủ
lòng tiếp dẫn; khéo khuyến dụ dần dần. Dẫu có dùng các
ví dụ như trời, đất, mẹ cha… cũng chẳng diễn tả nổi
chút phần [từ ân của Phật]. Hơn nữa, do hết thảy pháp
môn đều nhờ vào tự lực. Dẫu là kẻ túc căn thâm hậu
triệt ngộ tự tâm, nhưng nếu hai thứ Kiến Hoặc, Tư Hoặc
vẫn còn sót chút ít chưa hết thì vẫn sanh tử trong luân
hồi y như cũ không thoát được! Huống hồ là kẻ đã thọ
thai ấm, đối cảnh liền sanh chấp trước, từ giác đến
giác thì ít, nhưng từ mê vào mê lại nhiều. Bậc thượng
căn còn như vậy, đối với kẻ trung căn, hạ căn còn biết
nói sao nữa! Ðoạn Kiến Hoặc giống như cắt dứt dòng sông
rộng bốn mươi dặm, huống hồ là Tư Hoặc! Liễu sanh thoát
tử há có dễ đâu!
Do
vậy, [các pháp môn khác] chẳng thể độ trọn ba căn, thỏa
trọn bản hoài của Phật; chỉ có một pháp Niệm Phật Cầu
Sanh Tịnh Ðộ, chuyên cậy vào hoằng thệ nguyện lực của
Phật Di Ðà, chẳng cần biết đến thiện căn thành thục
hay chẳng thành thục, ác nghiệp nặng hay nhẹ; cứ hễ chịu
sanh lòng tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật thì lúc lâm
chung sẽ quyết định được Phật Di Ðà rủ lòng từ tiếp
dẫn, vãng sanh Tịnh Ðộ. Người thiện căn thuần thục sẽ
nhanh chóng viên thành Phật quả; dẫu là kẻ ác nghiệp nặng
nề cũng được dự vào dòng thánh. Ðấy chính là đạo cốt
yếu để độ sanh của tam thế chư Phật, là pháp mầu nhiệm
để thượng thánh lẫn hạ phàm cùng tu. Do vậy, các kinh Ðại
Thừa đều tuyên bày pháp trọng yếu này; lịch đại tổ
sư không vị nào chẳng tuân hành. Ông tự phụ Thiền - Giáo,
bảo xằng rằng hoằng dương Tịnh Ðộ là báng chánh pháp
luân, là đoạn diệt hạt giống Phật, đủ chứng tỏ ông
đã bị ma dựa vào thân, mất trí điên rồ, nhận mê là giác,
chỉ chánh bảo tà, là chủng tử địa ngục vậy!
Trong kiếp xưa, đức Thích Ca, đức Di Ðà từng phát đại
thệ nguyện độ thoát chúng sanh. Một vị thị hiện sanh nơi
uế độ, dùng cái uế, dùng điều khổ để chiết phục,
đưa đi; một vị an cư Tịnh Ðộ, lấy tịnh, lấy lạc để
nhiếp thọ hòng nhào luyện chúng sanh. Ông chỉ biết ngu phu,
ngu phụ vẫn có thể niệm Phật nên đến nỗi miệt thị
Tịnh Ðộ, sao chẳng xét suy: Trong phẩm Nhập Pháp Giới của
kinh Hoa Nghiêm, sau khi ngài Thiện Tài đã chứng ngộ gần bằng
chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát bèn dạy dùng mười đại nguyện
vương, hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới,
ngõ hầu viên mãn Phật quả. Lại còn khuyên dạy khắp Hoa
Tạng hải chúng[8] đó ư? Trong toàn thể Hoa Tạng hải chúng,
chẳng có một ai là phàm phu, Nhị Thừa, mà đều là bậc
Pháp Thân Ðại Sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị cùng phá
vô minh, cùng chứng pháp tánh, đều có thể nương vào bổn
nguyện luân hiện thân làm Phật trong thế giới không có Phật.
Hơn
nữa, trong biển Hoa Tạng có vô lượng Tịnh Ðộ, nhưng các
ngài đều hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế
giới thì đủ biết: Vãng Sanh Cực Lạc chính là huyền môn
để thoát khổ, là đường tắt để thành Phật. Vì vậy,
tự cổ chí kim, trong tất cả tùng lâm dù Thiền hay Giáo,
hay Luật, không nơi nào chẳng sớm tối trì danh hiệu Phật
cầu sanh Tây phương. Ông đã tham bái khắp các tùng lâm, ắt
hẳn hằng ngày cũng tu tập, cớ sao lại sanh hủy báng đến
thế! Sách Nho có nói: “Tu tập mà chẳng xem xét, dùng hằng
ngày mà không biết”, há không phải là nói đến hạng người
như ông hay sao? Hoa Nghiêm là vua của các kinh, vua trong Tam Tạng;
chẳng tin Hoa Nghiêm thì là nhất-xiển-đề[9]. Dẫu cho chẳng
đọa vào A Tỳ ngay khi còn sống thì khi báo hết sẽ quyết
định rớt vào Vô Gián. Tôi muốn thoát khổ nên cầu sanh
Tịnh Ðộ, ông muốn được khổ nên hủy báng Hoa Nghiêm.
Ông cứ giữ cái chí của ông, tôi hành cái đạo của tôi.
Tướng quân chẳng xuống ngựa, ai nấy tự ruổi theo đường
mình. Ðạo đã khác thì chẳng thể cùng bàn luận được!
Ông đi đi, tôi chẳng muốn trò chuyện với ông nữa!
Ông
ta đáp:
- Ðạo
quý ở chỗ hoằng thông, hễ nghi thì cần phải đoạn nghi,
sao thầy lại cự tuyệt đến thế? Tôi thường nghe “Tỳ
Lô Giá Na Như Lai ở khắp hết thảy chỗ, nơi đức Phật
ở gọi là Thường Tịch Quang”; chỉ cần chứng được Pháp
Thân thì đương xứ (ngay nơi người ấy đang ở) chính là
Tịch Quang Tịnh Ðộ. Sao lại phải dùng cái tâm sanh diệt
“bỏ Ðông lấy Tây” mới coi là được vậy?
Tôi
đáp:
- Ông
nói sao dễ dàng quá! Tuy đương xứ chính là Tịch Quang Tịnh
Ðộ, nhưng nếu chẳng phải là Trí Đoạn[10] đã đạt đến
rốt ráo, đã viên chứng pháp thân Tỳ Lô thì chẳng thể
đích thân thọ dụng triệt để được nổi! Các địa vị
như: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Ðẳng Giác,
cả bốn mươi mốt địa vị trong Viên Giáo vẫn là Phần
Chứng! Nếu ông đã chứng được trọn vẹn Tỳ Lô Pháp Thân
thì nói “đương xứ chính là Tịch Quang” cũng chẳng hại
gì; còn nếu chưa được như thế thì dẫu có nói đến thức
ăn và tính đếm của cải vẫn chẳng thể khỏi bị chết
vì đói lạnh được!
Ông
ta hỏi:
- “Duy
tâm Tịnh Ðộ, tự tánh Di Ðà” là điều trong Tông môn thường
nói chẳng lẽ là sai lầm hay sao?
Tôi
nói:
- Thuyết
đó của nhà Thiền chuyên chỉ về lý tánh, chứ chẳng bàn
đến sự tu. Vì sao vậy? Nhà Thiền muốn cho người ta trước
hết biết đến cái lý “chẳng dính mắc nhân quả, phàm
- thánh, chúng sanh và Phật tu chứng”. Sau đấy, mới y theo
lý đó mà phát khởi tu nhân hòng chứng quả, siêu phàm nhập
thánh. Ðấy chính là mặt Sự: Chúng sanh chứng thành Phật
đạo. Sao ông lẫn lộn Sự và Lý, tri kiến điên đảo đến
thế? Ông lại bảo bỏ Ðông lấy Tây là sanh diệt, nhưng
chẳng biết chấp Ðông phế Tây lại là đoạn diệt. Hễ
còn chưa chứng Diệu Giác thì có ai thoát khỏi lấy - bỏ?
Ba A Tăng Kỳ kiếp luyện hạnh, trăm kiếp tu nhân, thượng
cầu, hạ hóa, đoạn Hoặc chứng Chân, có việc gì chẳng
phải là chuyện lấy - bỏ đâu? Phải biết: Đức Như Lai
muốn cho hết thảy chúng sanh mau chứng Pháp Thân và Tịch
Quang, nên Phật mới đặc biệt khuyên trì danh hiệu Phật,
cầu sanh Tây phương vậy!
Hỏi:
- Sách
Hoa Nghiêm Hợp Luận[11] của Táo Bá Lý Trưởng Giả[12] nhận
định Tây phương Tịnh Ðộ chỉ [dành cho] hàng phàm phu còn
có một phần chấp tướng, chưa tin nổi thật lý Pháp Không.
Nếu chuyên ức niệm thì tâm sẽ được tịnh một phần,
sẽ được sanh Tịnh Ðộ. Pháp đó là Quyền pháp chứ chẳng
phải Thật pháp; cớ sao Hoa Tạng hải chúng lại cùng nguyện
vãng sanh? Ngài Táo Bá chứng thánh quả ngay trong hiện đời,
thần thông trí huệ chẳng thể nghĩ bàn; nhất quyết Ngài
phải là Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm thị hiện nên lời Ngài
nói nhất định chẳng sai lầm!
Ðáp:
- Tuy
ngài Táo Bá là Bồ Tát thị hiện, nhưng khi ấy kinh Hoa Nghiêm
chưa được truyền đến [Trung Hoa] trọn vẹn, Ngài chẳng
dự đoán được nên mới lập thuyết như vậy. Xét ra, ngài
Táo Bá tạo luận vào niên hiệu Khai Nguyên đời vua Ðường
Huyền Tông. Sau khi viết xong luận, Ngài liền nhập diệt;
phải hơn năm mươi năm sau, mãi đến năm Trinh Nguyên thứ
mười một (795) đời vua Ðức Tông, vua nước Ô Trà[13] ở
Nam Thiên Trúc mới dâng bộ Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm gồm bốn mươi cuốn bằng Phạn văn. Ðến năm Trinh
Nguyên thứ mười bốn (798), kinh mới dịch xong để lưu thông.
Ba mươi chín quyển trước tương ứng với phẩm Nhập Pháp
Giới [của bản] Hoa Nghiêm tám mươi cuốn, nhưng văn nghĩa
[trong bản Hoa Nghiêm bốn mươi quyển] có phần tường tận
hơn. Trong cuốn thứ tám mươi, ngài Thiện Tài nương vào sức
oai thần lực của ngài Phổ Hiền, sở chứng đã ngang với
ngài Phổ Hiền, ngang bằng chư Phật, nên ngài Phổ Hiền bèn
đọc cho nghe bài kệ khen ngợi công đức thắng diệu của
Như Lai. Do kinh văn đến đây chưa hết nên [pháp hội] chưa
kết thúc mà kinh [Bát Thập Hoa Nghiêm] đã hết. Kịp đến
khi phẩm Hạnh Nguyện truyền đến, trong cuốn thứ bốn mươi,
ngài Phổ Hiền dùng mười đại nguyện vương để khuyến
tấn Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng khiến cho họ hồi hướng
vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới; nói xong, Như Lai
khen ngợi, đại chúng phụng hành. [Ðến đây], kinh văn mới
hoàn bị. Vì lẽ đó, cổ đức mới đem quyển này đặt nối
theo sau tám mươi quyển kia để lưu thông, muốn cho kẻ hậu
học đều được thọ trì toàn bộ bản kinh vậy. Cổ đức
nói: “Một pháp Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ chỉ Phật
với Phật mới biết trọn vẹn, bậc Ðăng Ðịa Bồ Tát[14]
còn chẳng biết nổi ít phần”, chính là ý này. Pháp Tịnh
Ðộ tóm trọn hết thảy bậc thượng căn lợi khí chẳng
còn sót vậy.
Kinh
Ðại Tập dạy: ‘Ðời mạt pháp ức ức kẻ tu hành, hiếm
một ai đắc đạo. Chỉ nương theo pháp Niệm Phật thì mới
thoát khỏi sanh tử’; như vậy, pháp Tịnh Ðộ cũng thâu
nhiếp hết thảy thiên nhân, lục đạo cụ phược phàm phu[15]
chẳng còn sót gì! Ông tin ngài Táo Bá mà chẳng tin phẩm Hạnh
Nguyện và kinh Ðại Tập, tức là tuân theo cáo thị quyền
nghi một thuở của quan huyện, trái nghịch sắc chỉ của
hoàng đế muôn đời chẳng đổi. Sao mà chẳng biết tôn,
ty, khinh, trọng đến như thế ấy!
Hỏi:
-
Nếu đã là hải chúng thị hiện, sao lại phải đợi có kinh
truyền đến mới biết?
Ðáp:
- Hoằng
dương Phật pháp quả thật chẳng phải là việc dễ! Cần
phải có chứng cứ thì mới gây được lòng tin. Một bộ
kinh Hoa Nghiêm siêu việt các kinh, chẳng thể không có dẫn
chứng mà tự lập thuyết được!
Hỏi:
-
Lúc kinh Niết Bàn chưa truyền đến Trung Hoa, sao ngài Ðạo
Sanh[16] đã đề xướng trước là Nhất Xiển Ðề cũng có
Phật tánh. Há có nên bảo là ngài Táo Bá chẳng bằng ngài
Ðạo Sanh ư?
Ðáp:
- Xiển
Ðề nguyên là chúng sanh mà hết thảy chúng sanh đều có Phật
tánh thì sao riêng Xiển Ðề lại chẳng có? Bậc có trí thức
đều có thể dự đoán được điều này; còn chuyện vãng
sanh sẽ viên mãn Phật quả thì các kinh tuyệt chưa tuyên nói,
ai dám tự ý suy đoán dựng lên giáo nghĩa lạ lùng đó? Ðiều
thứ hai là Sự và Lý tuyệt đối chẳng ngang bằng như nhau
nên chẳng thể dẫn trường hợp này làm chứng. Còn về sở
chứng của hai vị thì chẳng phải điều bọn phàm phu thấp
sát đất ta có thể biết được nổi, nào dám hý luận! Phải
biết: Bồ Tát hoằng pháp hoặc thuận hoặc nghịch, dùng các
thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Biết đâu ngài Táo
Bá thị hiện không biết cốt là để đôn đốc sự tin tưởng
nơi người đời sau!
Hỏi:
-
Các sư Thiền tông đa số chê bỏ Tịnh Ðộ, đó là vì lẽ
gì?
Ðáp:
- Các
sư Thiền tông chỉ truyền Phật tâm nên tất cả ngôn thuyết
đều quy về hướng thượng. Ông đã tham Thiền nhiều năm
mà còn chẳng biết lẽ này thì sự hiểu biết của ông đều
là ác tri kiến phá hoại Thiền tông vậy.
Hỏi:
-
Tôi còn đang là phàm phu sát đất, dám đâu lung lăng! Ðấy
thật là lời lẽ của chư Tổ, quyết có thể lấy làm bằng
chứng. Lục Tổ nói: “Người Ðông phương tạo tội, niệm
Phật cầu sanh Tây phương. Người Tây phương tạo tội, niệm
Phật cầu sanh cõi nào?” Ngài Triệu Châu[17] nói: “Một
chữ Phật tôi chẳng thích nghe”. Lại nói: “Lão tăng niệm
Phật một tiếng, súc miệng ba ngày”. Phần nhiều các sư
Thiền tông có những câu nói như thế ấy thì thầy lại nói
như thế nào đây?
Ðáp:
- Lục
Tổ trực chỉ hướng thượng để cho người ta biết giữ
lấy tự tâm, còn ông lại chẻ văn giải nghĩa, biện luận
pháp môn tu trì; đấy là như câu nói “tưởng miếng xương
lừa có hình yên ngựa là cái cằm của cha”[18], lầm lẫn
quá thể! Ông phải biết là người ở Tây phương đã hết
sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc, tiến lên phá được Trần Sa
Hoặc và Vô Minh Hoặc. Họ chỉ có tấn tu, tuyệt đối chẳng
có chuyện tạo tội. Tổ nói “kẻ ấy cầu sanh cõi nào?”
là nếu trong lúc ấy mà chưa đoạn được Kiến Hoặc, Tư
Hoặc thì nương nhờ Phật từ lực, kẻ đới nghiệp vãng
sanh sẽ được sanh vào cõi Phàm Thánh Ðồng Cư Tịnh Ðộ.
Một phen đã sanh trong cõi kia rồi thì hai hoặc Kiến và Tư
sẽ triệt để tiêu diệt, giống như quăng miếng tuyết vào
lò lửa lớn, tuyết chưa rơi đến nơi đã biến mất. Thân
cận người đức hạnh thì ý niệm hèn tệ sẽ tiêu hết.
Nếu như Kiến Hoặc, Tư Hoặc đã hết sạch thì sẽ sanh vào
Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Ðộ; phá được một phần vô
minh thì sanh vào Thật Báo Vô Chướng Ngại Tịnh Ðộ. Vô
minh hết sạch, phước huệ viên mãn thì sẽ sanh vào Thường
Tịch Quang Tịnh Ðộ. Tại cõi này hiện chứng như thế thì
tại cõi kia tấn tu cũng sẽ như thế.
Sao
ông quá lo họ không có chốn để sanh về để rồi tự chướng
mình, chướng người, chẳng chịu cầu sanh? Nghe nói [người
khác] ăn bị mắc nghẹn bèn bỏ cả ăn đến nỗi chết mất
thì đúng là kẻ si trong thiên hạ không ai bằng ông! Ông chỉ
biết một câu của ngài Triệu Châu: “Một chữ Phật, ta
chẳng thích nghe” sao chẳng lấy luôn câu kế tiếp. Ông Tăng
hỏi: “Hòa thượng có vì người hay không?” Triệu Châu
nói: “Phật, Phật!” Ông chỉ muốn căn cứ vào câu ‘Niệm
Phật một tiếng, súc miệng ba ngày’ mà chẳng dựa theo câu:
“Hòa thượng được đại vương cúng dường như thế, sẽ
dùng gì để báo đáp?” Triệu Châu nói: “Niệm Phật”.
Sao lại chẳng y theo câu: “Tăng hỏi: ‘Mười phương chư
Phật còn có thầy hay chăng?’ Triệu Châu nói: ‘Có’. Hỏi:
‘Thầy của chư Phật là gì?’ Triệu Châu đáp: ‘A Di Ðà
Phật, A Di Ðà Phật’.
Ông
bảo phần nhiều các sư Thiền tông nói như thế, nhưng chẳng
biết lời đáp tương ứng căn cơ của nhà Thiền được gọi
là “cơ phong”, gọi là “chuyển ngữ”. Hỏi ở nơi đáp,
đáp ở nơi hỏi. Ông chẳng biết phản chiếu hồi quang, tham
cứu nơi chính mình, chỉ một bề nhai bã hèm, chạy theo hòn
đất, bao giờ mới liễu thoát được! Tôi xuất gia hơn ba
mươi năm, luôn nghe chư Tăng cùng nhắc những câu “Niệm
Phật súc miệng ba ngày, Phật hiệu chẳng thích nghe”, còn
câu “lấy Phật, Phật để độ người”, “dùng niệm Phật
báo ân”, “A Di Ðà Phật là thầy mười phương chư Phật”
tuyệt chưa từng nghe có ai nhắc đến một lần.
Ôi!
Những câu trên đều cùng từ một miệng thốt ra, nếu đã
cho những câu trước là thật và đáng tin thì những câu sau
cũng phải là thật và đáng tin, cớ sao chỉ chấp nhận lời
tổn, còn lời ích lại chống báng! Một thuận, một chống,
tự mâu thuẫn nhau. Phàm lời nói của ngài Triệu Châu đều
quy về bổn phận; những câu “Phật chẳng thích nghe” và
“Niệm Phật báo ân” đều là chuyển ngữ. Nếu có thể
ngay từ những câu đó biết được tự tâm thì mới biết
đạo của ngài Triệu Châu vượt khỏi thường tình, ý nghĩa
vượt ngoài ngôn ngữ, ắt sẽ cắm cúi niệm Phật suốt cả
ngày mà vẫn còn thấy là chưa đủ vậy! Nếu như đã không
được đích thân gặp ngài Triệu Châu, sao chẳng lấy việc
Niệm Phật để tu trì, há có nên chấp lấy câu bác Phật
làm căn cứ! Hễ niệm Phật thì ngay trong đời này sẽ thoát
khỏi luân hồi, trong tương lai quyết định thành Phật đạo.
Còn nếu nương theo lời bác Phật thì là báng Phật, báng
Pháp, báng Tăng; hiện đời tội nghiệp chất như núi, phước
huệ băng tiêu, khi mạng chung vĩnh viễn đọa trong A Tỳ chịu
khổ nhiều kiếp. Lẽ lợi - hại, được - mất thật là một
trời, một vực!
Nói
chung, người đời nay toàn là hạng phước mỏng, huệ cạn,
nghiệp nặng, chướng sâu; đối với điều được lợi ích
thì khủng khỉnh nghe; đối với điều khiến mình bị tổn
hại lại toàn thân rạp lạy (“được lợi ích, bị tổn
hại” là đối với những kẻ chưa ngộ, hiểu lầm mà nói,
chứ không phải pháp của cổ đức nói có tổn hay ích). Lời
chư sư đáp theo căn cơ thảy đều như thế, chẳng phiền
phải giải thích cặn kẽ. Ông bảo lời chân thành của Tổ
quyết có thể dùng làm bằng chứng thì sao chẳng tuân theo
lời ngài Bách Trượng[19]: “Tu hành thì niệm Phật là ổn
đáng!” Sao ông cũng lại chẳng tuân những quy củ ngài Bách
Trượng đã lập: cầu đảo cho vị Tăng mắc bệnh, tống
táng, thiêu hóa vị Tăng đã mất, [những quy củ ấy] chẳng
phải đều là hồi hướng vãng sanh Tịnh Ðộ đó ư? Có nên
bảo là: Ngài Bách Trượng chỉ muốn cho kẻ chết được
vãng sanh, chứ chẳng muốn kẻ sống cầu sanh hay sao! Sao ông
lại chẳng thuận theo tổ thứ mười bốn ở trời Tây là
ngài Long Thọ Bồ Tát: Như Lai huyền ký Bồ Tát sẽ vãng sanh,
khôi phục kinh Hoa Nghiêm từ long cung. Ngài tạo nhiều bộ
luận để riêng khen ngợi Tây phương như luận Tỳ Bà Sa[20]
khen ngợi Tịnh Ðộ là đạo “dễ tu chóng đạt” đó ư!
Sao ông lại chẳng tuân theo tổ thứ mười hai là Mã Minh Bồ
Tát: Trong phần cuối của luận Khởi Tín, Ngài có dạy phương
tiện tối thắng khiến người niệm Phật cầu sanh Tây phương
thường hầu Di Ðà, trọn chẳng thối chuyển? Sao ông lại
chẳng làm theo Nhị Tổ A Nan, Sơ Tổ Ca Diếp kết tập Tam
Tạng và các kinh Tịnh Ðộ? Nếu Tịnh Ðộ chẳng đáng là
pháp, có hại cho đời thì các Ngài há chẳng phân biệt tốt
- xấu vẫn giữ lại tạo thành nguồn tội cho hậu thế hay
sao? Thêm nữa, các kinh Ðại Thừa đều khen ngợi Tịnh Ðộ,
chỉ có kinh Tiểu Thừa là không có lấy một chữ nhắc đến.
Há nên bảo các kinh Ðại Thừa chẳng đáng là pháp sao?
Hơn
nữa, lúc đức Phật nói kinh Di Ðà, sáu phương hằng hà sa
số chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài khuyên tin
kinh này; có nên nói là sáu phương chư Phật cũng khiến cho
người ta mắc tội hay sao? Nếu như ông bảo chẳng thể không
tin các vị Lục Tổ, Triệu Châu... thì các ngài Long Thọ,
Mã Minh, A Nan, Ca Diếp, Thích Ca, Di Ðà, sáu phương chư Phật,
các kinh Ðại Thừa lại càng chẳng thể không tin! Nếu bảo
chư Phật, chư Tổ, các kinh đều chẳng đáng tin thì sao lại
tin lời Lục Tổ, Triệu Châu...? Thấy gần mà chẳng thấy
xa, biết nhỏ chẳng biết lớn, giống như kẻ nhà quê chỉ
nể thế lực ông huyện, chẳng biết oai đức của hoàng đế;
trẻ nhỏ thấy tiền đồng bèn chộp lấy, gặp ma-ni bảo
châu chẳng đoái hoài. Ông có biết bài Tứ Liệu Giản của
ngài Vĩnh Minh chỉ bày lẽ có - không, lợi - hại, được
- mất của Thiền và Tịnh hay chăng? Ngài Vĩnh Minh là hóa
thân của Phật Di Ðà, há lẽ nào Ngài đành để người khác
mắc tội báng chánh pháp luân, khiến cho chúng sanh nghi lầm,
đoạn diệt Phật chủng hay sao?
Ông
ta đáp:
- Bài
Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh quá chi ly, chẳng đáng để
làm khuôn phép, vì sao vậy? Ông ấy nói: “Có Thiền, có Tịnh
Ðộ, ví như cọp mọc sừng, hiện đời làm thầy người,
đời sau làm Phật, Tổ”. Nếu đúng như lời ông ta nói thì
phần đông các Thiền giả hiện tại đều khán câu “Người
Niệm Phật Là Ai?” Lại có vị trụ trong Niệm Phật Ðường
niệm Phật bao năm, họ có đều hiện đời là thầy của
người ta, kiếp sau liền thành Phật, Tổ hay chăng? Lại nói:
“Không Thiền có Tịnh Ðộ, muôn người tu muôn người đỗ,
nếu gặp Phật Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ?” Nay kẻ ngu
phu, ngu phụ chuyên niệm danh hiệu Phật đâu đâu cũng có;
chưa thấy mấy kẻ khi lâm chung hiện các tướng lành, được
Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Bởi vậy, tôi biết
Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh chẳng đáng coi là khuôn phép!
Tôi
nói:
- Sao
ông hấp tấp nuốt trộng quả táo, chẳng nếm mùi vị của
nó như thế. Liệu Giản của tổ Vĩnh Minh chính là cương
tông của Ðại Tạng, là khuôn phép tu trì. Trước hết phải
nhận thức đích xác thế nào là Thiền, thế nào là Tịnh?
Thế nào là Hữu, thế nào là Vô? Rồi mới phân tích theo
lời văn thì sẽ biết mỗi một chữ đều như trời tạo,
đất dựng, không chữ nào chẳng xác đáng, không chữ nào
có thể thay đổi được! Trong vòng mấy mươi năm lại đây,
tôi thấy lời lẽ các sư giảng Thiền đều giống hệt lời
của ông, chẳng khác chút nào! Kiến thức như thế thì đúng
là Thiền cùng Tịnh Ðộ mỗi ngày một suy tàn.
Hỏi:
-
Sao gọi là Thiền, Tịnh cùng với Hữu, Vô, cúi xin dạy rõ
cho!
Ðáp:
- Thiền
chính là Chân Như Phật tánh vốn sẵn có của chúng ta. Trong
nhà Thiền gọi đó là“bản lai diện mục trước lúc cha
mẹ chưa sanh ra”; nhưng nhà Thiền chẳng nói toạc ra, chính
là để người khác tham cứu tự chứng ngộ nên mới nói
như vậy. Ðó chính là tâm thể thuần chân, không Năng, không
Sở, vừa tịch, vừa chiếu, linh tri ly niệm vậy (Linh tri ly
niệm nghĩa là trọn chẳng có ý niệm nhưng luôn nhận thức
rõ ràng cảnh vật hiện tiền).
Tịnh
Ðộ là tín nguyện, trì danh, cầu sanh Tây phương, chứ chẳng
phải chỉ nói đến “Duy Tâm Tịnh Ðộ, Tự Tánh Di Ðà”.
“Có
Thiền” là tận sức tham cứu đến cùng cực, niệm tịch,
tình vong, thấy thấu suốt cái bản lai diện mục trước khi
cha mẹ sanh ra, minh tâm kiến tánh.
“Có
Tịnh Ðộ” là chân thật phát Bồ Ðề tâm, sanh tín, phát
nguyện, trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương. Thiền và
Tịnh Ðộ chỉ là ước theo giáo, ước theo lý. “Có Thiền”
và “có Tịnh Ðộ” là ước theo căn cơ, ước về tu. Về
giáo lý thời hằng nhiên như thế; Phật chẳng thể tăng,
phàm chẳng thể giảm. Xét về căn cơ, tu hành thì phải nương
vào giáo để khởi hạnh; hành cho đến khi chứng ngộ tột
cùng lý, sao cho thật có mới thôi! Điều thứ hai là xét về
văn từ tuy tương tự nhưng thật ra rất khác nhau, phải suy
xét kỹ càng, chớ có lẫn lộn! Nếu như tham Thiền nhưng
chưa ngộ hoặc ngộ chưa triệt để thì đều chẳng được
gọi là Có Thiền. Nếu như niệm Phật nhưng thiên chấp duy
tâm, không có tín, nguyện; hoặc có tín nguyện nhưng chẳng
chân thành, thiết tha, lơ là, hờ hững, làm cho lấy có; hoặc
hành tuy tinh tấn nhưng tâm mến luyến trần cảnh, hoặc cầu
đời sau sanh trong nhà phú quý để hưởng vui ngũ dục, hoặc
cầu sanh lên trời để hưởng phước lạc cõi trời, hoặc
cầu đời sau xuất gia làm Tăng, nghe một ngộ cả ngàn, đắc
Đại Tổng Trì, hoằng dương pháp đạo, phổ lợi chúng sanh
thì đều chẳng được gọi là Có Tịnh Độ.
Hỏi:
-
Xuất gia làm Tăng hoằng pháp lợi sanh lại có lỗi chi mà
cũng bị loại trừ?
Ðáp:
- Nếu
đã đoạn Kiến Tư Hoặc, đã liễu sanh tử, nương theo đại
nguyện luân, thị hiện sanh trong đời trược, thượng hoằng
hạ hóa, độ thoát chúng sanh thì được. Nếu như tuy có trí
nguyện nhưng chưa đoạn được Kiến, Tư Hoặc, dẫu cho lúc
ban đầu thọ sanh chẳng mê, cũng khó giữ [không mê] trọn
đời, nhiều đời. Tuy có thể hoằng pháp nhưng chưa chứng
Vô Sanh, tình chủng vẫn còn nên khi gặp cảnh đối duyên
khó tránh khỏi bị mê hoặc. Nếu đã mê theo cảnh mà còn
có thể mau giác ngộ thì trong cả vạn người chẳng có được
một, hai; từ mê vào mê, chẳng thể tự dứt, bao kiếp trầm
luân, thật là vô số! Vì nghĩa ấy, đức Như Lai mới dạy
người vãng sanh Tịnh Ðộ, gặp Phật, nghe pháp, chứng Vô
Sanh Nhẫn. Sau đó, nương theo Phật từ lực và tâm nguyện
của chính mình, trở vào Sa Bà độ thoát chúng sanh thì chỉ
có tiến chẳng thoái, có được không mất vậy. Chưa đoạn
Kiến Tư Hoặc mà trụ trong cõi này hoằng pháp thì các tông
khác không tông nào chẳng như vậy, chứ Tịnh Tông dứt khoát
chẳng chấp thuận. Ðời lắm kẻ cho rằng “tham Thiền là
Có Thiền, niệm Phật là có Tịnh Ðộ”; như vậy thì chẳng
những đã không hiểu Thiền, Tịnh, lại còn chẳng hiểu văn
nghĩa, cô phụ tấm lòng đại từ bi của ngài Vĩnh Minh Cổ
Phật, cắt đứt con đường tắt thoát khổ cho hành nhân đời
sau. Tự mình lầm, làm người lầm, gây hại nào có cùng cực?
Ðấy chính là nhận lầm vạch khắc ở đòn cân, sai suyển
hào ly, xa cách như trời với đất!
Ông
ta nói:
- Tôi
đã tạm hiểu ý nghĩa của Thiền, Tịnh và có - không; xin
thầy giảng giải rành mạch lời văn sâu nhiệm của cả bốn
bài kệ cho!
Tôi
nói:
- Có
Thiền, có Tịnh Ðộ.
Như
cọp mọc thêm sừng.
Hiện
tại làm thầy người,
Ðời
sau làm Phật, Tổ
Nghĩa là: Người ấy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến
tánh, lại còn thâm nhập Kinh tạng, hiểu trọn vẹn các pháp
môn Quyền, Thật của đức Như Lai; nhưng trong các pháp lại
chỉ chọn lấy một pháp Tín Nguyện Niệm Phật để làm chánh
hạnh chung nhằm tự lợi, lợi người. Bậc thượng phẩm
thượng sanh đọc tụng Ðại Thừa, hiểu Ðệ Nhất Nghĩa
như đã nói trong Quán Kinh chính là hạng người này vậy.
Người ấy có đại trí huệ, có đại biện tài; tà ma, ngoại
đạo nghe tên vỡ mật. Người ấy như cọp đeo thêm sừng
oai mãnh không chi sánh bằng. Ðối với kẻ đến học sẽ
thuyết pháp tùy theo căn cơ: Thấy nên dùng Thiền Tịnh Song
Tu để tiếp dẫn thì sẽ dùng Thiền Tịnh Song Tu tiếp độ;
chỉ nên dùng chuyên tu Tịnh Ðộ để tiếp dẫn thì sẽ dùng
chuyên tu Tịnh Ðộ tiếp độ. Bất luận thượng, trung, hạ
căn, không ai là chẳng được đội ơn, há chẳng phải là
bậc đạo sư của trời, người hay sao? Ðến lúc lâm chung,
người ấy được Phật tiếp dẫn vãng sanh thượng phẩm;
trong khoảng khảy ngón tay hoa nở gặp Phật, chứng Vô Sanh
Nhẫn; thấp nhất thì cũng chứng bậc Sơ Trụ trong Viên giáo;
cũng có người đốn siêu các địa vị, đạt đến bậc Ðẳng
Giác. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo đã có thể hiện thân làm
Phật trong trăm cõi, huống hồ là các địa vị kế tiếp
đó lại càng lần lượt thù thắng hơn; nhất là địa vị
Ðẳng Giác thứ bốn mươi mốt! Vì vậy Tổ mới nói: “Ðời
sau làm Phật Tổ”.
Không Thiền, có Tịnh Ðộ.
Vạn
người tu, vạn đỗ.
Nếu
gặp Phật Di Ðà,
Lo
gì chẳng khai ngộ
Nghĩa là: Hành nhân tuy chưa minh tâm, kiến tánh, nhưng đã
quyết chí cầu sanh Tây phương. Do vì trong kiếp xưa, đức
Phật đã phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh như
mẹ nhớ con; nếu chúng sanh thật sự có thể [nhớ Phật]
như con nhớ mẹ, chí thành niệm Phật thì sẽ cảm ứng đạo
giao, liền được đức Phật nhiếp thọ. Vì ra sức tu Ðịnh,
Huệ nên được vãng sanh. Kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm
chung bị các sự khổ bức bách bèn sanh lòng hổ thẹn lớn
lao, xưng niệm danh hiệu Phật đến mười tiếng hoặc chỉ
một tiếng rồi mất ngay trong lúc đó, họ đều được Phật
hóa thân tiếp dẫn vãng sanh. Ðấy há chẳng phải là “vạn
người tu, vạn đỗ” hay sao? Những kẻ đó tuy niệm Phật
chẳng lâu nhưng do niệm Phật cực kỳ mãnh liệt nên có thể
đạt được lợi ích lớn lao ấy, chẳng nên so với kẻ tu
hành lơ là hờ hững mà bàn luận niệm nhiều hay ít. Ðã
sanh về Tây phương thì tuy gặp Phật, nghe pháp có nhanh - chậm
chẳng đồng, nhưng đều đã cao dự dòng thánh, trọn chẳng
thoái chuyển. Tùy theo căn tánh sâu, cạn, hoặc tiệm hay đốn
mà chứng các quả vị. Ðã được chứng quả thì cần gì
bàn đến khai ngộ nữa. Ấy chính là: “Nếu gặp Phật Di
Ðà, lo gì chẳng khai ngộ” vậy.
Có
Thiền không Tịnh Ðộ,
Mười
tu, chín lần chần,
Ấm
cảnh nếu hiện tiền,
Chớp
mắt đi theo nó.
Nghĩa
là: Hành nhân tuy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh,
nhưng Kiến Tư phiền não chẳng dễ đoạn trừ, phải trải
qua nhiều duyên trui luyện để trừ sạch hết chẳng sót,
mới có thể xuất ly phần đoạn sanh tử[21]. Người chưa
đoạn một mảy nào thì chẳng cần bàn đến! Dẫu chỉ còn
một mảy chưa đoạn sạch hết thì lục đạo luân hồi vẫn
y như cũ khó thoát. Biển sanh tử sâu thẳm, đường Bồ Ðề
xa vời vợi; còn chưa về được đến nhà thì đã mạng chung!
Người đại ngộ mười người hết chín đều như vậy. Cho
nên mới nói: “Mười người, chín lần chần”. Lần chần
(ta đà) người đời thường nói là “chần chờ”.
“Ấm
cảnh” là cảnh của Trung Ấm thân; tức là những cảnh được
hiển hiện trong khi lâm chung bởi nghiệp lực thiện - ác trong
đời này và bao kiếp. Một khi những cảnh ấy hiện ra, trong
chớp mắt sẽ liền theo nghiệp lực thiện - ác nào mạnh
mẽ nhất để đi thọ sanh trong đường thiện hay ác; chẳng
thể làm chủ tình thế một mảy may nào! Giống như người
mắc nợ, chủ nào mạnh sẽ kéo đi trước. Tâm tình lắm
mối đa đoan, coi trọng chỗ nào sẽ rớt vào đấy. Ngũ Tổ
Giới lại sanh làm Tô Ðông Pha, Thảo Ðường Thanh lại sanh
làm Lỗ Công, đều là do lẽ trên vậy! Bởi thế mới nói:
“Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”. Chữ
Ấm: âm và nghĩa đồng với chữ Âm, nghĩa là che đậy; tức
là: do nghiệp lực này che lấp nên chân tánh chẳng thể hiển
hiện. Miết (瞥), âm giống chữ Phiết (撇), nghĩa là nháy
mắt, chớp mắt. Có người hiểu chữ Ta (蹉) nghĩa là “lầm
lẫn”, Ấm Cảnh là Ngũ Ấm Ma Cảnh, chung quy vì chẳng hiểu
chữ Thiền và chữ Có nên mới nói hồ đồ như vậy. Lẽ
nào những bậc đại triệt đại ngộ mười người tu chín
người lạc đường đi theo Ngũ Ấm Ma nên bị ma dựa phát
cuồng? Phàm những kẻ bị ma dựa phát cuồng đều là kẻ
chẳng biết giáo lý, chẳng minh tự tâm, là giống tăng thượng
mạn, tu mù luyện đui mà thôi. Sao chẳng biết hay - dở, lại
đem gán cho bực đại triệt đại ngộ! Ðiều này quan hệ
rất lớn, chẳng thể không biện luận rõ!
Không
Thiền không Tịnh Ðộ.
Giường
sắt và cột đồng.
Vạn
kiếp cùng ngàn đời.
Không
một ai nương dựa.
Có kẻ bảo “không Thiền, không Tịnh” tức là vùi đầu
tạo nghiệp ác, chẳng tu pháp lành. Lầm to, lầm to! Dù pháp
môn vô lượng nhưng chỉ có Thiền và Tịnh là thích hợp
cho các căn cơ hơn hết. Hành nhân chưa được triệt ngộ,
lại chẳng cầu sanh, lơ là, hời hợt tu các pháp môn khác,
Ðịnh - Huệ đã chẳng thể quân bình để đoạn Hoặc chứng
Chân, lại chẳng nương vào Phật từ lực để đới nghiệp
vãng sanh; đem công đức trọn đời tu trì để cảm lấy phước
báo đời sau sanh trong trời, người. Đời này đã không chánh
trí thì đời sau ắt bị phước chuyển mê đắm trong ngũ
dục, tạo đủ các ác nghiệp. Ðã tạo ác nghiệp sẽ khó
thoát ác báo. Khi một hơi thở chẳng hít vào được nữa
thì liền đọa địa ngục, rành rành sẽ ở trong bao kiếp
dài lâu nằm lăn nơi giường sắt, ôm ấp cột đồng để
đền trả lòng tham thanh sắc, giết hại sanh mạng v.v... các
thứ ác nghiệp. Tuy chư Phật, Bồ Tát rủ lòng xót thương,
nhưng do ác nghiệp ngăn chướng, người ấy vẫn chẳng thể
được hưởng lợi ích. Người xưa nói: “Người tu hành
nếu chẳng chánh tín, cầu sanh Tây phương, tu hành đủ các
việc thiện khác thì gọi là kẻ oán đời thứ ba”, chính
là nói đến ý này. Ấy là vì đời nay tu hành, đời sau hưởng
phước; vì ỷ phước làm ác nên liền bị đọa lạc. Ðạt
được cái vui giả tạm trong đời kế mà muôn kiếp phải
vĩnh viễn chịu khổ. Ví dù nghiệp địa ngục tiêu thì lại
chuyển sanh làm ngạ quỷ, súc sanh; muốn lại được thân
người thì thật là điều khó nhất trong những điều khó.
Vì vậy, Phật lấy tay bốc đất rồi hỏi A Nan rằng: “Ðất
trong tay ta là nhiều, hay đất trong đại địa là nhiều?”
A Nan bạch Phật: “Ðất trong đại địa nhiều”. Phật nói:
“Ðược thân người như đất trong tay, mất thân người
như đất trong đại địa”. [Xét theo lời Phật] thì “muôn
kiếp, ngàn đời, không một người nương dựa” vẫn là
lời luận rất nông cạn vì câu ấy còn hạn cuộc vào âm
vận của bài kệ.
Ôi!
Hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực; pháp môn Tịnh
Ðộ chuyên nhờ Phật lực. Trong hết thảy pháp môn, phải
trừ sạch Hoặc nghiệp mới liễu sanh tử; còn trong pháp môn
Tịnh Ðộ: do đới nghiệp vãng sanh liền dự dòng thánh. Ðại
sư Vĩnh Minh sợ đời chẳng hiểu biết nên mới đặc biệt
phân định để chỉ bày cho tương lai. Liệu Giản đáng gọi
là chiếc bè báu nơi bến mê, là đạo sư (người dẫn đường)
nơi đường hiểm. Ðáng tiếc người trong cõi đời hờ hững
đọc lướt qua, chẳng chịu nghiên cứu kỹ. Có phải là do
chúng sanh ác nghiệp đồng phận nên xui khiến thế chăng?
Ông
ấy nói:
- Tôi
xưa tội gì mà sớm mê mất chân thuyên[22], xưa có phước
gì nay được nghe lời xuất yếu? Xin được ghé dự vào hàng
đồ chúng, cầm nắm bình, khăn.
Tôi
bảo:
- Tôi
nào có đức gì mà dám nhận lời ấy. Những lời tôi nói
đều là tuân theo ý chư Phật, chư Tổ. Nếu ông có thể ngưỡng
tín Phật, Tổ, hoằng dương Tịnh Ðộ thì không đức gì
chẳng báo được, không tội gì chẳng diệt được. Xưa ngài
Thiên Thân Bồ Tát lúc ban đầu báng Ðại Thừa, sau hoằng
dương Ðại Thừa để chuộc lỗi. Nếu ông có thể noi theo
dấu chân thơm của Ngài thì tôi nguyện xả thân cúng dường.
Thượng
tọa bèn lễ Phật, phát nguyện rằng:
- Con
tên là... từ nay trở đi chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ cầu
khi lâm chung vãng sanh thượng phẩm, gặp Phật, nghe pháp, đốn
chứng Vô Sanh. Sau đấy, chẳng rời An Dưỡng, vào khắp mười
phương, dùng các thứ phương tiện: nghịch, thuận, ẩn, hiển
để hoằng thông pháp này, độ thoát chúng sanh đến tột
cùng vị lai chẳng hề gián đoạn. Hư không có tận, nguyện
của con vô cùng. Nguyện Phật Thích Ca, Phật Di Ðà, Thường
Trụ Tam Bảo thương xót tấm lòng ngu thành của con, cùng rủ
lòng nhiếp thọ.
Tôi
bảo:
- Về
Sự, Tịnh Ðộ là đại nhân duyên; về Lý, Tịnh Ðộ là
bí mật tạng. Ông có thể tin nhận phụng hành được thì
chính là lấy sự trang nghiêm của chư Phật để tự trang
nghiêm.
Thượng
Tọa vâng dạ lui ra. Nhân đấy chép lại cuộc vấn đáp này
để khuyên bảo người chưa biết đến pháp này.
2.
Tịnh Độ pháp môn phổ bị tam căn luận
(Luận
về pháp môn Tịnh Độ độ khắp ba căn)
Hết thảy chúng sanh đều có đủ trí huệ đức tướng của
Như Lai, nhưng do mê chân đuổi theo vọng, trái nghịch giác,
xuôi theo trần lao nên toàn thể chuyển thành phiền não ác
nghiệp. Do vậy, trải nhiều kiếp lâu xa luân hồi sanh tử.
Như Lai thương xót, giảng ra các pháp khiến họ phản vọng
quy chân, trái nghịch trần lao, xuôi theo tánh giác, khiến cho
phiền não ác nghiệp của họ toàn thể khôi phục thành trí
huệ đức tướng. Từ đây cho đến tận đời vị lai, an
trụ trong Tịch Quang. Khác nào nước đọng thành băng, băng
tan thành nước; Thể vốn chẳng khác, Dụng thật khác xa.
Nhưng căn cơ chúng sanh có lớn - nhỏ, mê có cạn - sâu, nên
tùy theo cơ nghi của mỗi người đều làm cho được lợi
ích. Các pháp môn đã nói rộng nhiều như cát sông Hằng;
trong ấy, cầu lấy một pháp chí viên chí đốn, tối diệu,
tối huyền, hạ thủ dễ thành công cao, dùng sức ít được
hiệu quả nhanh chóng, thích hợp khắp cho ba căn, thống nhiếp
các pháp, thượng thánh lẫn hạ phàm đều cùng tu, căn cơ
lớn - nhỏ đều cùng nhận lãnh được thì không gì thù thắng,
siêu tuyệt bằng pháp môn Tịnh Độ!
Vì sao nói vậy? Hết thảy pháp môn tuy là Đốn - Tiệm khác
nhau, Quyền - Thật mỗi pháp mỗi khác, nhưng đều phải dụng
công tu tập sâu xa mới có thể đoạn Hoặc chứng Chân, thoát
ly sanh tử, siêu phàm nhập thánh. Đấy gọi là hoàn toàn cậy
vào tự lực, không nương cậy vào chi khác. Nếu Hoặc nghiệp
còn đôi chút chưa tận thì vẫn phải luân hồi y như cũ!
Vả nữa, những pháp ấy lý đều rất sâu, chẳng dễ tu tập.
Nếu chẳng phải trước đã có linh căn thì thật khó lòng
chứng nhập được ngay trong đời này! Chỉ có pháp môn Tịnh
Độ bất luận phú quý, bần tiện, già, trẻ, nam, nữ, ngu,
trí, Tăng, tục, sĩ, nông, công, thương, hết thảy mọi người
đều có thể tu tập. Do vì A Di Đà Phật đại từ bi nguyện
lực nhiếp thủ chúng sanh khổ não trong Sa Bà. Do vậy, so với
các môn khác, pháp này dễ đắc quả hơn.
Phàm bọn hữu tình chúng ta được nghe pháp môn Tịnh Độ
này, phải tin Sa Bà rất khổ, Tây Phương cực vui. Phải tin
từ nhiều đời đến nay nghiệp chướng sâu nặng, nếu không
cậy vào Phật lực, thật khó thể thoát lìa. Phải tin cầu
sanh quyết định có ngày được sanh. Phải tin niệm Phật
nhất định được Phật từ bi nhiếp thọ. Do vậy, kiên định
nhất tâm, nguyện lìa Sa Bà như tù nhân muốn thoát khỏi lao
ngục, trọn chẳng có tâm lưu luyến. Nguyện sanh Tây Phương
như người lữ khách nghĩ mong về cố hương, nào có ý niệm
chần chừ! Từ đây, tùy phận, tùy lực, chí tâm trì niệm
thánh hiệu A Di Đà Phật. Bất luận nói năng, im lặng, động,
tịnh, đi, đứng, nằm, ngồi, đón tiếp khách khứa, mặc
áo, ăn cơm, đều chú ý giữ sao cho Phật chẳng lìa tâm, tâm
chẳng lìa Phật. Ví như có chuyện quan trọng canh cánh bên
lòng, dù làm trăm việc vẫn không quên chuyện ấy. Nếu có
chuyện công việc tư trọn chẳng rảnh rỗi chút nào, thì
sáng tối nên tu Thập Niệm Niệm Phật, chí tâm phát nguyện
thì cũng được vãng sanh. Do A Di Đà Phật từng có nguyện
rằng: “Mười phương chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh
về cõi ta, dẫu chỉ mười niệm mà chẳng được sanh thì
ta không lấy ngôi Chánh Giác” . Do vậy, mười niệm Niệm
Phật cũng được vãng sanh vậy!
Nhưng đã niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì phải phát tâm
từ bi, hành phương tiện sự, dứt tham - sân - si, kiêng giết
- trộm - dâm, tự lợi, lợi người thì mới hợp với ý Phật.
Nếu không, tâm trái với Phật, cảm ứng đạo giao bị ngăn
cách, chỉ thành gieo nhân cho mai sau, khó gặt được quả trong
hiện tại. Nếu chí thành niệm Phật, hạnh hợp với tâm
Phật, tâm và miệng tương ứng thì người niệm Phật như
thế đến lúc lâm chung, A Di Đà Phật và các vị thánh thảy
đều rủ lòng tiếp dẫn, vãng sanh Tây Phương. Hễ sanh về
Tây Phương rồi thì siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát
tử, vĩnh viễn lìa khỏi các khổ, chỉ hưởng các sự vui.
Đây là hoàn toàn cậy vào Phật lực, bất luận công sâu
hay cạn, có phiền não hay không, chỉ cốt sao có đủ lòng
tin chân thật, nguyện thiết tha thì nhất định vạn người
chẳng sót một ai. Còn như người đã đoạn Hoặc cầu sanh
thì mau vượt lên Thập Địa. Nếu đã đăng địa mà cầu
sanh thì mau chứng Phật thừa. Do vậy, Văn Thù, Phổ Hiền,
Mã Minh, Long Thọ v.v… các vị Bồ Tát đều nguyện vãng sanh.
Kẻ có đủ Thập Ác niệm Phật còn dự vào phẩm chót. Người
sắp đọa địa ngục niệm Phật còn lên được Liên Bang.
Do vậy, Trương Thiện Hòa, Trương Chung Quỳ, Hùng Tuấn, Duy
Cung[23] v.v… là những kẻ ác đồng thoát luân hồi.
Những người khác tu đủ cả Giới lẫn Thiện, Định - Huệ
đều bình đẳng, sống trong trần nhưng chẳng nhiễm trần,
ở trong cõi trược nhưng lòng luôn thanh tịnh, quyết chí cầu
sanh Tây Phương, cao đăng thượng phẩm như mọi ngôi sao chầu
về Bắc Đẩu, như các dòng nước đổ vào biển Đông, làm
sao kể nổi số! Do vậy, ngàn kinh muôn luận chỗ nào cũng
chỉ quy, vãng thánh tiền hiền ai nấy đều hướng về, bởi
pháp này là đạo trọng yếu để Như Lai phổ độ chúng sanh,
là diệu pháp để chúng sanh thoát khổ ngay trong một đời
này.
3.
Tông - Giáo Bất Nghi Hỗn Lạm Luận
(Bài
luận về chuyện không nên lẫn lộn giữa Thiền và Giáo)
Do
người giảng kinh thường thích bàn về Thiền nên làm luận
này.
Như Lai nói kinh, chư Tổ tạo luận. Hai môn Tông và Giáo vốn
là một pháp. Dẫu không thể tách rời, nhưng cũng không thể
hợp lại! Tùy theo căn cơ mà được lợi ích, tùy theo từng
lợi ích mà đặt tên. Thượng căn vừa nghe liền nhanh chóng
liễu giải tự tâm, viên tu đạo phẩm, nên gọi là Tông (Đây
là ước theo đời sau mà nói, chứ thoạt đầu chỉ gọi là
giáo pháp Viên Đốn). Hàng trung hạ nghe đến, tấn tu đạo
phẩm, dần dần ngộ được chân lý, nên gọi là Giáo.
Đến
cuối thời Tượng Pháp, Phật pháp truyền sang cõi này (Trung
Hoa), căn cơ con người thông minh, nhạy bén, đa số đắc Văn
Trì nên chú trọng chuyện ghi nhớ, đọc tụng, giảng nói.
Tăng chúng chú trọng đến chuyện bổn phận, hướng thượng,
chứ người thật chứng, thật ngộ thì ít, kẻ nói chuyện
ăn, đếm của báu thì nhiều. Do vậy, đại sư Đạt Ma đặc
biệt sang đây, xiển dương pháp Trực Chỉ Nhân Tâm (chỉ
thẳng vào cái tâm của con người) khiến cho con người tự
thấy được bản lai diện mục. Đời sau gọi đó là Tông.
Đã thấy được bản lai diện mục rồi, sau đó xem kinh, tu
hành, mới biết giáo pháp của toàn bộ Đại Tạng đều là
những lời nói trong nhà mình, Lục Độ vạn hạnh đều là
chuyện trong nhà mình. Do vậy, sự ngộ giải của Tông môn
là mắt, sự tu trì của Giáo là chân. Không mắt thì không
cách gì thấy đường được; không chân không thể về đến
nhà. Như vậy, Tông - Giáo cần nhau, chứ không hề trái nghịch,
hợp cùng nhau chứ chẳng tách lìa. Xét đến chỗ chỉ quy
rốt ráo của các vị Nam Nhạc, Thiên Thai thì đại lược
đều giống nhau. Do vậy, hai bộ sách Truyền Đăng Lục và
Chỉ Nguyệt Lục[24] đều xếp hai vị này vào bậc Thánh Hiền
ứng hóa, Cao Tăng Truyện không kể tên hai vị trong những
vị nghĩa giải[25] mà xếp vào tiểu loại tu Thiền. Đấy
là những vị tri thức đầy đủ con mắt thời xưa, cho Tông
và Giáo là nhất quán.
Từ ngài Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng) trở về sau, Thiền Đạo
thạnh hành, loại văn tự “chẳng lập văn tự” truyền
khắp hoàn vũ. Đường giải ngày càng mở rộng, cửa ngộ[26]
ngày càng lấp. Vì thế, các vị tổ Nam Nhạc, Thanh Nguyên
đều dùng cơ ngữ để tiếp độ người, khiến cho Phật
- Tổ đều thành ngữ ngôn, không cách nào trả lời câu hỏi
được. Nếu không thật sự liễu ngộ thích đáng sẽ không
thể suy lường được lời Tổ. Dùng điều đó để khám
nghiệm hòng phân biệt vàng - thau, tách rời ngọc - đá vĩnh
viễn, không thể giả dối để làm hại pháp đạo được!
Đấy là duyên do của cơ phong chuyển ngữ!
Từ đấy về sau, pháp này ngày càng thịnh. Tri thức nêu bày,
chỉ sợ lạc vào lối cũ của người khác thành ra sáo rỗng,
gây nghi ngờ, lầm lạc cho người học, khiến Tông phong bị
bỏ phế, rối bời; vì vậy, cơ phong được dùng ngày càng
cao chót vót, không cách chi chuyển biến được, khiến cho
người ta không cách nào dò dẫm, nắm níu được! Do vậy,
mới có kẻ quở Phật mắng Tổ, bài xích kinh giáo, phế bỏ
Tịnh Độ (hai câu của Nam Nhạc Huệ Tư đại sư đã nói
trọn tác dụng như vậy: “Siêu quần xuất chúng thái hư
huyền, chỉ vật truyền tâm nhân bất hội” (Tạm dịch:
Siêu quần xuất chúng huyền diệu như hư không. Chỉ vật
để truyền thọ tâm pháp, con người không hiểu thấu được).
Nếu hiểu đó là thật pháp thì tội giống như Ngũ Nghịch!)
Dùng ngôn ngữ này để tước đoạt tình kiến của con người,
lấp mất lối hiểu của họ. Người căn cơ chín muồi sẽ
ngay lúc đó biết đường về, triệt ngộ nẻo hướng thượng.
Người căn cơ còn sống sít sẽ thật sự tận lực tham cứu
đến khi nào đại triệt đại ngộ mới thôi!
Ấy là do hàng tri thức còn đông, căn cơ người vẫn còn
bén nhạy, giáo lý minh bạch, tâm sanh tử thiết tha. Dù chưa
thể liễu ngộ ngay khi đó, quyết chẳng chịu sanh tâm kém
hèn, cho đó là thật pháp. Người đời nay đa phần ít đọc
sách Nho, chẳng hiểu lẽ đời, chưa cùng tột giáo thừa,
chẳng hiểu Phật pháp. Vừa mới phát tâm bèn vào ngay Tông
môn. Còn hàng tri thức chỉ nhằm duy trì môn đình, cũng học
đòi cổ nhân chỉ bày, xiển dương, chẳng đoái hoài chuyện
lợi - hại cho pháp đạo. Người học chẳng hạ nghi tình
chân thật, ai nấy cho đó là thật pháp. Hoặc có những điều
người đời nay nêu lên đều là những đạo lý do họ tự
ý suy lường, phỏng đoán những chuyện trong sách của cổ
nhân xưa, nói chung không ngoài chuyện dựa theo văn tự để
giải thích ý nghĩa, lại tự cho là mình triệt ngộ hướng
thượng, đã tham học xong xuôi, tự dự vào địa vị tri thức
để mở mang, chỉ dạy cho hàng hậu học!
Kẻ nắm giữ một môn đình, chỉ sợ người khác bảo mình
không phải là bậc thông gia; do đó, cùng hoằng dương cả
Thiền lẫn Giảng, muốn được gọi là bậc “Tông thuyết
đều thông”. Bàn đến Tông thì những gì họ giảng về
những lời chỉ quy hướng thượng của cổ đức toàn là
giải thích ý nghĩa dựa theo văn tự. Giảng về Giáo thì đạo
tu nhân chứng quả của Như Lai bị họ biến thành thuyết
“dùng pháp để tượng trưng, nhằm thuyết minh ý nghĩa”.
Dùng Giáo phá Tông, dùng Tông phá Giáo, người mù dẫn lũ
đui, kéo nhau vào lửa! Đến nỗi về sau chẳng được nghe
khuôn mẫu hay đẹp của cổ nhân, uổng công học đòi khinh
Phật khinh Tổ, bài bác nhân quả mà thôi, trọn chẳng hiểu
được lời lẽ của cổ nhân. Bổn phận của Tăng chúng há
còn mộng thấy! Nay tôi sẽ đem lời lẽ, bản ý của Tông
và Giáo phân biệt đại lược, ngõ hầu ai nấy chỉ được
lợi ích, chẳng bị bệnh vậy!
Tông
là gì? Giáo là gì? Về mặt diễn nói thì Tông và Giáo đều
là Giáo, về mặt khế ngộ thì Tông và Giáo đều là Tông.
Giáo cố nhiên có Tông, mà Tông cũng có Giáo. Tông của bên
Giáo chính là diệu lý Thật Tướng, tam đức bí tạng; đấy
chính là bổn phận hướng thượng của tăng chúng bên Tông
vậy (Đây là đối với Tông mà nói, nên gọi Thể là Tông.
Nếu luận theo Giáo thì gọi là Thể. Tông trong Giáo chính
là cửa ngõ để nhập Thể, không giống như chỗ chú trọng
hướng thượng của bên Tông).
Giáo của bên Giáo chính là văn tự, lời lẽ trong kinh luận
và hành tướng của pháp môn, không gì đều chẳng nhằm diễn
tả diệu lý, đều quy về bí tạng; cũng giống như những
tác dụng của cơ phong chuyển ngữ bên Tông. Nhưng Giáo thì
chưa ngộ vẫn làm cho hiểu được, còn Tông nếu chưa ngộ
sẽ không biết. Đấy gọi là chỗ khác nhau [giữa Tông và
Giáo].
Giáo của bên Tông chính là cơ phong chuyển ngữ, giơ nắm
tay, dựng đứng phất trần, hoặc nói, hoặc im lặng, mọi
thứ tác dụng đều thuận theo căn cơ của người đến tham
vấn để chỉ quy hướng thượng. Những câu chuyển ngữ ấy
nhằm để nêu bày lẽ hướng thượng, là ngón tay chỉ mặt
trăng thật sự, chứ không phải những câu chuyển ngữ đó
chính là lẽ hướng thượng hay mặt trăng thật sự. Nếu
có thể nương theo ngón tay nhìn vào mặt trăng thì ngay khi
đó sẽ tự thấy được vầng trăng thật sự. Vầng trăng
thật sự được thấy ấy mới chính là Tông của Tông gia.
Người đời nay lấy cơ phong chuyển ngữ làm Tông, chẳng
cầu khế ngộ, chỉ cho rằng học theo đó sẽ hiểu thấu,
tức là coi ngón tay chính là mặt trăng, không còn biết đến
vầng trăng thật sự! Tiếc thay!
Vả nữa, Giáo thích hợp khắp ba căn, lợi - độn cùng thâu;
ví như tờ chiếu sáng suốt của bậc vua thánh, muôn nước
đều khâm phục, tôn sùng. Dù trí hay ngu, dù hiền hay tệ
đều hiểu được, đều phải tuân hành; kẻ nào không tuân
sẽ bị xử cực hình. Kẻ nào không tuân lời Phật dạy sẽ
đọa trong ác đạo. Tông chỉ độ riêng bậc thượng căn,
chẳng thâu nhiếp trung hạ. Ví như mật lệnh của vị tướng
quân, kẻ trong doanh mới biết, người ngoài doanh dẫu cho thông
minh cũng không thể hiểu được! Do vậy, toàn quân mới diệt
được giặc, thiên hạ thái bình. Quân lịnh hễ bị tiết
lộ thì ba quân sẽ tan vỡ; Tổ ấn bị tiết lộ, năm tông
chết sạch. Trước khi ngộ, chỉ cho phép tham cứu thoại đầu,
chẳng cho phép đọc sách Thiền thật ra là vì sợ hiểu lầm
ý Tổ, coi mê là ngộ, đem giả loạn chân, đấy gọi là “tiết
lộ”, cái hại rất lớn! Sau khi đại ngộ, ắt phải rộng
xem ngữ lục của chư Tổ hòng quyết trạch kiến địa của
mình, hòng mở mang Sai Biệt Trí, để hiểu thấu chỗ cấm
kỵ của thuốc.
Lại còn phải trải qua nhiều duyên rèn luyện, khiến cho hạnh
giải tương ứng mới thành bậc xuất thế, hoằng dương,
xiển phát Tông phong. Người đời nay chẳng dạy người tận
lực tham cứu, cứ vì người diễn giảng, khiến cho đường
hiểu mở rộng, khởi ý suy đoán, dùng ý kiến của mình để
hiểu ý Tổ, dường như gần giống, suy tưởng nghĩa lý. Hoàn
toàn sai lầm, nhưng cứ cho là đúng. Nói không sai cho lắm
thì chỉ toàn là rồng bằng đất nặn, bánh vẽ, há có thể
phun mưa, đỡ đói được chăng? Do vậy, nhà Thiền phải thật
sự tham cứu mới có lợi ích thật sự! Người chưa mở mắt,
nghe những lời giảng nói đó, mừng rỡ lộ ra ngoài. Còn
người có đầy đủ con mắt ắt sẽ đau thấu xương tủy.
Hoằng dương Tông kiểu đó chỉ có tổn hại lớn, chẳng
có mảy may lợi ích thật sự gì! Khác nào đem quân lịnh
bảo khắp quân địch, mời mọc chúng nó đánh nhau với mình
mà không tự diệt vong thì hiếm lắm! Do vậy, kẻ giả vờ
ngộ đạo không biết là bao nhiêu! Kẻ hoại loạn Phật pháp
thật là đông đảo!
Thêm nữa, Giáo thì do văn tự hiển lộ ý nghĩa, y nghĩa tu
Quán. Quán thành tựu sẽ chứng Lý, khiến cho con người do
hiểu rồi bèn nhập. Vì vậy, ngài Thiên Thai dùng Tam Chỉ,
Tam Quán[27] để truyền Phật tâm ấn. Còn Tông thì lìa văn
tự để hiển ý, hễ lãnh hội được ý thì minh tâm, minh
tâm rồi bèn khởi hạnh, dạy hành nhân do tham cứu mà chứng
đắc. Do vậy, Thiền Tông lấy “trực chỉ nhân tâm” để
truyền Phật tâm ấn.
Vả nữa, nhân - quả, tu - chứng, phàm - thánh, chúng sanh -
Phật, sự - lý, hành - tướng được nói trong kinh giáo vằng
vặc phân minh. Nếu tu được nhân thì tự nhiên sẽ chứng
quả, siêu phàm nhập thánh, tức là chúng sanh thành được
Phật đạo! Đã đạt được sự này thì chẳng dính dáng
đến lý nhân - quả, tu - chứng, phàm - thánh, chúng sanh - Phật,
há còn mong cầu bên ngoài nữa ư? Những gì nhà Thiền nói
đều quy về bổn phận, chẳng dính dáng đến “nhân - quả,
tu - chứng, chúng sanh - Phật” (Đây là Lý Tức Phật). Nếu
hiểu được ý này (Đây gọi là Danh Tự và Quán Hạnh Sơ
Tâm), quyết định y theo cái lý “chẳng dính dáng nhân - quả,
tu - chứng, phàm - thánh, chúng sanh - Phật” để khởi sự
tu nhân chứng quả, siêu phàm nhập thánh thì đó chính là
Sự để chúng sanh thành Phật đạo vậy (Đây là từ Quán
Hạnh cho đến Cứu Cánh).
Do vậy, cổ đức sau khi đại ngộ có những vị ba lần bảy
lượt xem Đại Tạng Kinh (Phần Châu Vô Nghiệp ba lượt đọc
hết Đại Tạng. Ngài Tri Vi ở chùa A Dục Vương, là môn nhân
của ngài Đại Huệ Tông Cảo, giam mình trên tháp viện hơn
mười năm, bảy lượt đọc hết Đại Tạng. Xem trong sách
Dục Vương Sơn Chí). Có người cho ngồi đọc là không cung
kính, bèn quỳ đọc, đi thì đội lên đầu, đứng tụng (ngài
Thê Hiền Đề ba lần đọc hết Đại Tạng đều như thế).
Có vị suốt đời hằng ngày trì một bộ kinh Pháp Hoa (như
các vị Vĩnh Minh Diên Thọ, Thủ Sơn Niệm). Có vị xem kinh
chỉ sợ bị làm phiền, bèn dán thiếp ở cửa phương trượng,
ghi: “Lúc xem kinh chẳng được hỏi han” (ngài Ngưỡng Sơn
Tịch). Có vị trì thánh hiệu Quán Âm (ngài Minh Giáo Tung,
mỗi ngày trì mười vạn thánh hiệu Quán Âm. Kinh sách thế
gian, xuất thế gian không đọc nhưng đều biết. Lại còn
có ngài Hoa Lâm Giác thường niệm Quán Âm, cảm được hai
con hổ thường theo hầu). Có vị trì chú Chuẩn Đề (như
Kim Hoa Câu Chi hòa thượng). Có vị mỗi ngày làm 108 Phật
sự (Vĩnh Minh Diên Thọ, tụng một bộ Pháp Hoa cũng thuộc
trong 108 việc ấy). Có vị đối trước tượng đứng không
dám ngồi, đối trước tượng ngồi không dám nằm (ngài Đại
Thông Bổn. Hễ thấy những vật thực mang tên thịt cá, Ngài
không ăn). Có vị một ngày không làm sẽ không ăn suốt ngày
đó (ngài Bách Trượng Hoài Hải). Còn những vị niệm Phật
cầu sanh Tây Phương thì nhiều không biết bao nhiêu mà kể!
Ấy là vì ngài Bách Trượng là đích tử truyền đạo của
Mã Tổ, Ngài có lời khai thị rằng: “Tu hành dùng niệm Phật
là ổn thỏa, thích đáng”. Ngài còn lập ra Thanh Quy, phàm
kỳ đảo cho vị Tăng bị bệnh, hóa tống Tăng đã mất, đều
quy về Tịnh Độ. Do vậy, chư sư trong năm tông[28] đều chăm
chú ngầm tu. Có lắm vị nhiều năm tận tụy làm những việc
khó khăn (như ngài Quy Sơn làm Điển Tọa[29], ngài Tuyết Phong
làm phạn đầu). Không vị nào chẳng nhằm viên mãn Lục Độ,
tự lợi, lợi tha, đều trọng Pháp này như của báu, coi thường
cái thân như bụi bặm, trọn chẳng hề như người đời nay
khinh mạn cổ kim, khinh nhờn kinh luận! Do vậy, biết Tông
là đội xung kích, Giáo là quân mạnh mẽ theo sau. Những việc
họ tu là một sự, những gì họ nói là một pháp, nhưng do
lập bày ngôn ngữ, kiến lập môn đình bất đồng! Kẻ ngoài
cửa chẳng biết duyên do “tuy đồng nhưng không thể hợp,
tuy khác nhưng chẳng thể tách lìa”, lầm lạc dựa theo ý
mình, cưỡng làm chủ tể, nếu không báng bổ lẫn nhau thì
cũng xen lộn.
Cái lỗi báng bổ lẫn nhau may ra kẻ ngu còn biết, chứ cái
tội xen lộn thì người trí vẫn khó lòng hiểu được. Ấy
là trở về nguồn thì không hai, nhưng phương tiện lắm cửa.
Phương tiện của nhà Thiền vô cùng khác biệt, tợ hồ quét
sạch tất cả ngôn ngữ. Kẻ không hiểu được ý, chẳng
lãnh hội ý chỉ “lìa ngôn ngữ” chỉ nhai bã hèm: Nơi Tông
môn bèn mở ra đường hiểu, chẳng chịu tận lực tham cứu;
nơi Giáo bèn lầm học viên dung, phá hoại sự tướng. Chỉ
có bậc đại đạt mới được lợi ích ở cả hai bên. Nếu
không, đề-hồ, cam lộ chứa trong đồ đựng dính thuốc độc
bèn biến thành phê sương, trầm độc.
Giáo
tuy thường minh thị “vạn pháp duy tâm”, nhưng cần phải
dựa trên Sự để luận Sự. Sự - Lý, nhân - quả, chẳng
được lẫn lộn mảy may. Vốn đã có đầu thì phải có cuối,
chẳng ra ngoài duy tâm. Nhà Thiền thương lượng đích thực
cũng giống như thế. Nếu chỉ nêu bày hướng thượng, thì
dù có chỉ muôn pháp muôn sự trọn khắp thế gian để hỏi
nhưng lúc đáp luôn quy về bổn phận, trọn chẳng đem Sự
luận Sự. Đó gọi là “hỏi ngay nơi đáp, đáp ngay tại
chỗ hỏi”.
Dù tợ hồ dùng Sự để nói, nhưng ý nhằm đến chỗ khác
chứ không phải ở tại đây. Nếu hiểu ngay nơi sự đó sẽ
thành mây trắng ngàn dặm! Những thương lượng đích thực
sách Thiền không chép, chỉ ghi chép những lời thuộc về
bổn phận. Nếu muốn biết phải coi khắp mọi sách. Nếu
không thì hãy xem bộ Vạn Thiện Đồng Quy Tập và những trước
thuật của bậc Thiền Tượng trong Tịnh Độ Thập Yếu, cũng
có thể thấy được đại khái.
Bàn rạch ròi Phật pháp về mặt đại thể, thì chẳng ngoài
Chân - Tục nhị đế. Chân Đế thì một pháp chẳng lập,
đó gọi là “Thật Tế Lý Địa chẳng nhiễm mảy trần”.
Tục Đế thì không pháp nào chẳng đủ, đó gọi là “trong
cửa Phật sự, chẳng bỏ pháp nào!” Giáo thì Chân - Tục
cùng xiển dương, nhưng đa phần luận về Tục. Tông thì ngay
từ Tục bèn nói Chân, nhưng quét sạch Tục tướng. Phải
biết: Chân và Tục đồng thể, không phải là hai vật. Ví
như gương báu tròn lớn, trống rỗng, sáng ngời, thông suốt,
trọn không có một vật gì. Tuy trọn chẳng có vật gì nhưng
lại có thể “người Hồ đến bèn hiện bóng người Hồ,
người Hán đến bèn hiện bóng người Hán”. Sâm la vạn
tượng thảy đều hiện. Dẫu cho mọi tướng cùng hiện, nhưng
vẫn trọn không có một vật nào. Dẫu không có một vật
nào, nhưng chẳng ngại gì mọi tướng cùng hiện!
Đối với chỗ “mọi tướng cùng hiện”, nhà Thiền chuyên
nói “trọn không có một vật”; còn Giáo đối với chỗ
“trọn không có một vật” lại nói cặn kẽ “mọi tướng
đều hiện”. Ấy là đối với Sự Tu, Tông bèn chỉ rõ Lý
Tánh; chứ không vứt bỏ Sự Tu. Còn Giáo thì bèn luận Sự
Tu nơi Lý Tánh, nhưng vẫn quy về Lý Tánh. Đấy gọi là “xứng
tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh, bất biến tùy duyên, tùy duyên
bất biến, Sự - Lý cùng được, Tông - Giáo bất nhị” vậy!
Tuy trung căn, hạ căn được lợi ích nơi Giáo, nhưng nếu
không phải là bậc thượng thượng căn sẽ chẳng thể thông
suốt vì phải học biết rộng rãi. Tuy trung hạ căn khó thể
gởi lòng nơi Tông, nhưng bậc thượng căn lại có thể đại
triệt; do đó phải ước theo căn cơ vậy!
Giáo thì thế gian pháp, Phật pháp, sự - lý, tánh - tướng
đều phải thông đạt, lại phải đại khai viên giải (tức
là “đại triệt đại ngộ” trong nhà Thiền) thì mới có
thể làm đạo sư cho trời người. Tông phải tham sao cho thấu
suốt một câu thoại đầu, đích thân thấy được bản lai
mới hòng xiển dương tông phong Trực Chỉ. Lúc Phật pháp
đại hưng thịnh và nếu là bậc thông đạt Phật pháp thì
nên y theo Tông để tham cứu. Ví như ông Tăng Dao[30] vẽ rồng,
vừa chấm mắt, rồng bèn bay lên ngay lập tức. Lúc Phật
pháp suy nhược, và nếu là kẻ túc căn hèn kém, hãy nên y
theo Giáo tu trì. Ví như thợ vụng làm đồ vật, bỏ dây mực
sẽ hoàn toàn không làm được gì.
Giáo phần nhiều nói rõ (hiển thuyết), còn Tông hay nói kín
(mật thuyết). Chuyện rõ ràng trong nhà Thiền là như Tổ Đạt
Ma nói: “Tịnh trí diệu viên, thể tự không tịch” hay Mã
Tổ nói: “Tâm chính là Phật”, ngài Bách Trượng nói: “Linh
quang riêng chiếu, thoát khỏi căn trần; thể lộ chân thường,
chẳng câu nệ văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành.
Chỉ lìa vọng niệm thì chính là Như Như Phật”. Những câu
này chẳng khác các kinh Đại Thừa như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm…
mảy may nào! Nói chung, trước thời Lục Tổ đa phần là hiển
thuyết, kể từ Lục Tổ trở đi đa phần là mật thuyết.
Kẻ
ngu chẳng biết căn cội giống nhau – khác nhau giữa ngôn
ngữ của Tông và Giáo, thường thấy khi Thiền sư nêu câu
hỏi, những vị thuộc bên Giáo không thể đáp được, bèn
đề cao Thiền Tông, miệt thị kinh sách bên Giáo, xem kinh Phật
như giấy cũ, coi lời Tổ trọng hơn luân âm (luân âm tức
là thánh chỉ). Nay muốn báo ơn Phật, lợi lạc hữu tình
thì bên Thiền dù chuyên xiển dương Tông phong, vẫn phải
dùng đến Giáo để ấn chứng, bên Giáo thì tận lực tu quán
hạnh, chẳng xen lạm lời Thiền. Ấy là vì tâm thông diệu
đế, gặp duyên bèn chính là Tông. Nếu “cây bách, que phẩn
khô, quạ kêu, sẻ hót, nước chảy, hoa rơi, khạc nhổ, vung
tay, cười chê, giận chửi”, pháp gì, chuyện gì cũng đều
là Tông, thì lẽ đâu diệu pháp viên đốn do chính kim khẩu
Như Lai nói ra lại chẳng đáng coi là Tông ư?
Cần gì phải vay mượn cái then chống cửa nhà người ta để
chống đỡ môn đình của mình, còn những cây tiện, cây nam[31]
đẹp đẽ nhà mình sẵn có lại bỏ đi không dùng? Phải biết:
Pháp không thù thắng hay kém hèn, chỉ là một đạo thường
nhiên. Căn cơ có sống - chín, nên tuy chỉ là một pháp mà
thành ra hết sức sai khác đó thôi. Nếu vậy, cái thuyết
“giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo) chẳng
đúng hay sao? Thưa: Nói “giáo ngoại biệt truyền” nhằm
để cho con người thấy được mặt trăng ở ngoài ngón tay.
Vả lại cách đề trì[32] trong nhà Thiền vượt ra ngoài cách
thức thông thường, nên gọi là “giáo ngoại biệt truyền”.
Nhưng bốn chữ “giáo ngoại biệt truyền” khiến bao hào
kiệt mai một, nay nói toạc ra. Đối với Giáo mà nói thì
là “giáo ngoại biệt truyền”, chứ cơ phong, chuyển ngữ
v.v… cũng vẫn là Giáo. Đối với Tông mà nói thì [Giáo chính
là] “cơ phong chuyển ngữ ngoại biệt truyền”, mới khỏi
cô phụ ơn Phật, uổng công gây tạo khẩu nghiệp.
Nếu thật sự những lời Phật dạy chẳng thể truyền được
Phật tâm ấn, thì những vị Ca Diếp, A Nan, Mã Minh, Long Thọ
đã được biệt truyền, đương nhiên sẽ truyền riêng cái
pháp biệt truyền ấy, cần gì phải kết tập Tam Tạng, chú
giải kinh, tạo luận để làm chi nữa? Tông phải dùng Giáo
để ấn chứng cũng giống như gỗ phải cưa theo vạch dây
mực mới ngay được! Tôi thường khuyên một vị cuồng Tăng
niệm Phật, ông ta nói: “Lỗ mũi của nạp tăng[33] tam thế
chư Phật còn chẳng mò trúng được, niệm Phật để làm
gì?” Tôi nói: “Nếu quả thật mò trúng được cái mũi
mà tam thế chư Phật chẳng mò trúng được thì vẫn phải
thường dẫm theo vết chân của tam thế chư Phật mà đi. Nếu
chẳng dẫm theo vết của tam thế chư Phật mà đi thì không
phải là mò trúng lỗ mũi của nạp tăng mà là mò đúng lỗ
lửa trên giường sắt, cột đồng trong A Tỳ địa ngục!”
Tổ Đạt Ma nói: “Hơn hai trăm năm sau, người hiểu đạo
thì nhiều, người hành đạo thì ít; người nói lý thì nhiều,
người thông lý thì ít”. Ngài Trí Giả thị hiện chứng
địa vị Ngũ Phẩm, ngài Nam Nhạc thị hiện chứng địa vị
Thiết Luân. Do vậy, biết rằng người đời nay đối với
hai môn Tông và Giáo, mở mắt còn khó, huống gì thật chứng?
Có những ai từ bi, nguyện sâu nặng, tâm sanh tử khẩn thiết,
hãy nên noi theo các ngài Huệ Viễn, Trí Giả, Vĩnh Minh, Liên
Trì, chuyên dốc sức nơi một môn niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Viết đến đây, có người bên cạnh chẳng cam lòng,
quở rằng: “Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo
như hư không, diệu tánh viên minh, lìa các danh tướng, sao
ông lại đôi co, chia ranh vạch giới vậy?” Tôi đáp: “Diệu
tánh tuy lìa danh tướng, nhưng danh tướng nào trở ngại diệu
tánh. Hư không, pháp giới tuy không có ranh giới, nhưng ranh
giới nào trở ngại hư không, pháp giới! Tôi muốn bỏ Đông
về Tây nên phải biện định Nam Bắc, ngõ hầu chẳng mê
phương hướng, có nơi tá túc. Lại sợ mình thấy sai lầm,
muốn thỉnh giáo bậc thông đạt. Đây chính là lộ trình
của kẻ thọt chân, chứ không phải là “dư bản” của
Luân Vương đi!” (“Dư bản” là bản địa đồ).
Nếu là bậc Khai Sĩ hiểu thấu suốt phương hướng, là bậc
đại nhân đại lượng thì pháp thế gian đều là Phật pháp,
không nghiệp đạo nào chẳng phải là Phật đạo, ý Tổ,
giáo lý, kinh Phật, sách Thiền vốn tự dung thông, há nào
xen lộn? Tận hết cái trí của tôi chẳng thể suy lường
được cảnh giới ấy. Dốc cạn sức tôi, chẳng thể trộm
bén mảng ngoài rào! Lời luận hèn tệ của tôi chỉ để
dành cho những người căn cơ kém tệ như tôi vậy. Sao ông
lại đem chuyện bay lượn của Ca Lâu La[34] vương để quở
trách loài ruồi nhặng muỗi mòng, muốn coi đều ngang như
nhau vậy!
4.
Phật Giáo Dĩ Hiếu Vi Bổn Luận
(luận
về Phật giáo lấy Hiếu làm gốc)
Hiếu là đạo không gì lớn hơn được nữa; bao trùm trời
đất, uốn nắn thánh, đào tạo hiền, tiên vương tu đạo
hiếu nên thành tựu đức tột cùng, Như Lai nương theo đạo
này chứng được đạo Giác. Vì thế, Hiếu kinh[35] đạo Nho
có câu: “Ôi! Hiếu là kinh của trời, là nghĩa của đất,
là hạnh của dân vậy!” Giới kinh nhà Phật dạy: “Hiếu
thuận phụ mẫu, sư Tăng, Tam Bảo. Hiếu thuận là pháp chí
đạo. Hiếu gọi là Giới, cũng gọi là ngăn dứt. Thế gian
hay xuất thế gian không gì chẳng lấy Hiếu làm gốc”. Hiềm
rằng thế tục phàm tình chỉ biết hành đạo Hiếu nơi mặt
hình tích rõ ràng, chẳng biết chỗ cùng cực tận hiếu. Hễ
cứ thấy hàng Thích Tử xuất gia, liền dựa theo ngay ý kiến
ức đoán của chính mình, mặc tình hủy báng: “Chẳng hiếu
thuận phụ mẫu, chẳng khác gì phường đãng tử nghịch đồ!”
Chẳng biết pháp thế gian trọng hiếu mà pháp xuất thế gian
cũng không hề không trọng hiếu.
Bởi
lẽ, Hiếu như thế gian nói thì có hình tích để tuân theo,
còn đạo Hiếu của họ Thích thì giản lược nơi bề ngoài,
mà chuyên chú dốc sức nơi cái gốc. Có hình tích để tuân
theo thì rõ ràng dễ thấy, còn chuyên chú dụng sức nơi gốc
thì kín đáo, khó thể tỏ rõ. Vì sao nói như vậy? Nho thì
hầu hạ, phụng dưỡng cho cha mẹ yên thân, coi đó là Hiếu.
Lập thân, hành đạo, dương danh hậu thế khiến cho cha mẹ
nở mày nở mặt thì gọi là đại hiếu. Luận đến cùng
cực thì phàm là Ngũ Thường[36], Bách Hạnh, không gì chẳng
nhằm phát huy đạo Hiếu. Vì thế, thiên Tế Nghi của sách
Lễ Ký có câu: “Chặt một cái cây, giết một con thú chẳng
đúng thời thì chẳng phải là hiếu”. Vì thế mới nói:
“Đạo Hiếu Đễ thông thấu thần minh, sáng khắp bốn biển
vậy”. Luận về Hiếu đến mức như vậy, có thể nói là
tột cùng, chí lý vậy, không còn thêm gì được nữa! Nhưng
hiếu như vậy rõ ràng thuộc trong vòng tai mắt, con người
ta dễ thấy.
Chỉ có hàng Thích Tử chúng ta lấy chuyện thành đạo lợi
sanh làm cách báo ân tối thượng. Không chỉ báo đáp cha mẹ
nhiều đời mà còn báo đáp hết thảy cha mẹ trong tứ sanh
lục đạo từ vô lượng kiếp. Không những hiếu kính cha
mẹ khi còn sống mà còn độ thoát linh thức của cha mẹ,
khiến cho họ vĩnh viễn thoát khỏi khổ luân, thường trụ
Chánh Giác. Vì vậy, mới nói: “Đạo Hiếu của họ Thích
ẩn kín, khó thể hiểu rõ vậy!” Tuy vậy, đạo Hiếu của
Nho lấy chuyện phụng dưỡng cha mẹ làm đầu, nếu đệ tử
Phật từ biệt cha mẹ xuất gia thì có phải là chẳng đoái
hoài công cha mẹ nuôi dưỡng hay chăng? Đức Phật chế định:
Xuất gia phải bẩm cùng cha mẹ. Nếu có anh em, con cháu có
thể nhờ cậy thì mới được bẩm thưa cùng cha mẹ, cha mẹ
bằng lòng mới được xuất gia. Nếu không, chẳng cho xuống
tóc. Có người xuất gia rồi, nếu anh em gặp chuyện, cha mẹ
không nhờ cậy ai được, cũng được phép xẻ bớt cơm áo
để giúp cho cha mẹ.
Do
vậy, ngài Trường Lô còn nêu vết thơm phụng dưỡng mẹ
(thiền sư Trường Lô Tông Trách đời Tống, người xứ Tương
Dương, lúc nhỏ mồ côi. Bà mẹ ngài họ Trần nuôi nhờ con
trong nhà người cậu. Đến lớn, Sư thông thạo bác lãm kinh
điển thế tục. Năm hai mươi chín tuổi xuất gia, hiểu sâu
xa tông yếu. Sau trụ tại chùa Trường Lô, đón mẹ về ở
nơi thất phía Đông phương trượng, khuyên mẹ niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ. Bảy năm sau, mẹ niệm Phật qua đời.
Chuyện này chép trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục), ngài Đạo
Phi có chuyện lạ “chôn cha” (ngài Đạo Phi là tông thất
nhà Đường, người Trường An. Sanh ra mới vừa đầy năm,
cha vì vương sự bỏ mình. Ngài xuất gia năm bảy tuổi. Đến
năm mười chín, đời loạn gạo mắc, bèn cõng mẹ vào Hoa
Sơn, tự nhịn ăn, khất thực nuôi mẹ. Năm sau, ngài tìm đến
chiến trường Hoắc Sơn, thâu thập xương trắng, kiền thành
tụng kinh chú, mong tìm được xương cha. Vài ngày sau, xương
cha từ giữa đống xương trồi lên, tiến thẳng đến trước
mặt ngài Đạo Phi. Ngài bèn chôn vùi những bộ xương khác,
mang xương cha đem về chôn cất. Chuyện này được chép trong
Tống Cao Tăng Truyện). Vì thế kinh nói: “Công đức cúng
dường cha mẹ bằng với công đức cúng dường bậc Nhất
Sanh Bổ Xứ Bồ Tát”.
Cha
mẹ còn sống thì khéo léo khuyên dụ, khiến cho cha mẹ trì
trai niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Cha mẹ đã khuất thì
đem công đức tu trì đọc tụng của chính mình thường chí
thành hồi hướng cho cha mẹ, khiến họ vĩnh viễn thoát khỏi
Ngũ Trược, từ biệt mãi mãi sáu nẻo, chứng Vô Sanh Nhẫn,
đạt địa vị Bất Thoái. Đến tột cùng đời vị lai độ
thoát chúng sanh khiến cho cả mình lẫn người đều thành
giác đạo. Như vậy là chẳng giống với đại hiếu của
thế gian. Luận đến cùng cực, toàn bộ Lục Độ vạn hạnh,
không gì chẳng nhằm mở rộng đạo Hiếu. Do vậy, trong Phạm
Võng Giới Kinh, nhất nhất đều dạy nên sanh tâm từ bi, tâm
hiếu thuận. Lại nói: “Nếu là đệ tử Phật hãy nên dùng
tâm từ bi thực hiện chuyện phóng sanh vì hết thảy người
nam đều là cha ta, hết thảy nữ nhân đều là mẹ ta. Đời
đời không lúc nào ta chẳng được họ sanh ra. Do vậy, lục
đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta. Giết chúng sanh ăn thịt
chính là giết cha mẹ”.
Do
vậy, hết thảy những gì mình tu trì đều đem hồi hướng
cho khắp pháp giới chúng sanh chính là nghĩ đến tột cùng
đời vị lai, hiếu với trọn khắp các hữu tình. Nếu đem
đạo Hiếu thế gian ra so sánh thì về mặt hình tích cũng
chẳng thiếu khuyết, mà về mặt gốc lại càng dư thừa!
Tiếc cho những kẻ không thấy được lý này, nếu không bảo
là nói dối, hoang đường thì cũng cho là mờ mịt! Nào biết
theo chiều dọc thì suốt ba đời, theo chiều ngang thì trọn
khắp mười phương, Phật nhãn thấy trọn vẹn như nhìn vào
lòng bàn tay vậy!
5.
Như Lai Tùy Cơ Lợi Sanh Thiển Cận Luận
(Lời
bàn luận thiển cận về chuyện Như Lai
tùy
theo căn cơ lợi lạc chúng sanh)
Con người cùng một cái tâm này, tâm cùng một lý này: “Chúng
sanh và Phật không hai, phàm và thánh hệt như nhau”. Do mê
- ng