Mục
lục
Phật
Giáo và A-dục Vương. K. R. Norman (Nguyên Tâm dịch)
Hoàng
đế Asoka, Con người của hòa bình và tình nhân bản. Minh
Chi
Đại
đế Asoka và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Thích Quảng
Đại
Đại
đế Asoka Maurya và những pháp dụ khắc trên đá Trần Trúc-Lâm
Hoàng
đế Asoka giã từ chinh chiến với nỗi thống khổ của người
thắng trận. Trần Hương Lan
Trường
ca Kalinga. Trúc Thiên
Phật
Giáo và A-dục Vương
K.
R. Norman
Nguyên
Tâm dịch
QUAN
ĐIỂM CHUNG ĐƯƠNG THỜI VỀ A-DỤC VƯƠNG
Trước
đây không lâu tôi có đọc một quyển sách của một học
giả Phật giáo lỗi lạc và tôi chú ý đến nhận định sau
đây:
"Khái
niệm thành lập nên Sàsana hay Phật giáo ở một quốc gia
riêng biệt hoặc ở một nơi nào đó, lần đầu tiên do chính
A-Dục Vương thai nghén nên. Ông ta là vị vua đầu tiên chấp
nhận Phật giáo như là một quốc giáo, và khởi đầu cho
một cuộc chinh phục tâm linh vĩ đại gọi là Dhamma-vinaya…
Như một nhà chinh phục và cai trị mà thường thiết lập
chính quyền ở những quốc gia bị chinh phục do chính mình
bằng chính trị, cũng vậy A-Dục Vương có lẽ đã nghĩ đến
việc thành lập nên cái gọi là sàsana ở những quốc gia
bị ông ta chinh phục".
Trong
một vài tác phẩm khác tôi cũng bắt gặp cùng một lập luận
như vậy: "A-Dục Vương là vị vua Phật giáo đầu tiên", "A-Dục
Vương được gắn liền với Phật giáo đại chúng, và với
việc tiến hành rất nhiệt tâm những hoạt động tôn giáo
như hành hương và chiêm bái các Xá-lợi qua vấn đề ông
ta quan tâm đến việc xây dựng ngôi bảo tháp và điện thờ",
rồi thì "A-Dục Vương là nhân vật chính trị và tâm linh
vĩ đại nhất của Ấn Độ cổ xưa".
Những
lời bình luận như vậy là theo kiểu mà như A-Dục Vương
đã được miêu tả trong các tác phẩm viết về Nguyên thủy
Phật giáo. Tôi đã cũng bỏ ra một quãng thời gian rất dài
của đời mình để nghiên cứu về các bia ký của A-Dục
Vương, song từ các bia ký ấy không khi nào tôi có thể tìm
thấy được chân dung một con người hoàn toàn trùng khớp
với những gì mà chúng ta đã viết về ông ta cả. Chính vì
lẽ đó, hôm nay tôi muốn khảo chứng lại vai trò mà A-Dục
Vương đã đóng trong lịch sử Phật giáo, và tôi cũng xin
chia xẻ những gì chúng tôi biết về ông ta qua các văn bản
Phật giáo với nguồn thông tin mà chúng tôi có thể lấy được
từ các bia ký của ông.
DỊCH
PHẨM BIÊN NIÊN SỬ PÀLI
Chắc
hẳn là mọi người ai ai cũng biết về A-Dục Vương thông
qua nguồn thông tin về vị vua nầy trong Biên Niên Sử tiếng
Pàli, là đặc biệt là trong bộ Mahàvamsa, mặc dầu rất nhiều
cùng câu chuyện được kể với chi tiết rõ ràng hơn trong
các nguồn tư liệu bằng tiếng Sanskrit và Trung Quốc.
Trong
bộ Mahàvamsa có ghi rằng sau khi phụ thân ông, Bindusàra, băng
hà thì A-Dục Vương đã giết 99 trong số 100 người anh em
của mình, chỉ còn để sót lại một mình Tissa mà thôi và
ông nghiễm nhiên trở thành người trị vì độc tôn cõi Diêm-phù-đề
(Jambudvìpa). Thế rồi sau khi nghe vị Sa-di Ni-câu-thuật (Nigrodha)
thuyết giảng, ông thắm nhuần Tam quy và Ngũ giới…và trở
thành một vị Ưu-bà-tắc (Upàsaka). Chúng ta cũng được biết
rằng A-Dục Vương là người hộ trì vững chắc cho Phật
giáo, ngăn chặn không cho bất kỳ tôn giáo nào bành trướng
cả. Ông đã ngưng không bố thí thức ăn hằng ngày cho 60.000
vị Bà-la-môn mà trước đây cha ông đã từng bố thí, và
thay vào đó cúng dường thực phẩm cho 60.000 vị Tỳ-kheo.
Ông còn ra lệnh cho xây dựng 84.000 ngôi tịnh xá (vihàra) ở
84.000 thị trấn, trong số đó ngôi tịnh xá nổi tiếng nhất
là ngôi tịnh xá do chính bản thân ông lập nên ở Pàtaliputra
– tịnh xá Asokàràma; và ông còn dựng các ngôi bảo tháp
(stùpa) ở những nơi mà Đức Phật đã đến viếng thăm.
Tư tưởng muốn trở thành người kế Pháp đã thuyết phục
đư?c ông cho phép người con trai Mahinda và cô con gái Sanghamittà
gia nhập tăng đoàn vào năm thứ 6 khi ông tại vị, và chính
sau nầy Mahinda đã được phái sang Srilanka (Tích Lan) với tư
cách là một nhà truyền giáo. Vào thời điểm phân chia bộ
phái Phật giáo trong Tăng đoàn thì chính đích thân ông lắng
nghe các vị Tỳ-kheo tỏ bày những quan điểm của họ và
có thể quyết định ai là thuộc phái chính thống và ai là
ngoại đạo. Sau khi cuộc phân phái đã được giải quyết
ổn thỏa, cuộc kết tập (sangìti) lần thứ III được tổ
chức dưới sự bảo trợ của ông.
Bộ
Mahàvamsa cho hay rằng vì những việc làm ác của ông nên mới
đầu người ta gọi ông là Candàsoka (A-Dục Vương hung bạo),
nhưng sao nầy nhờ những việc làm lương thiện của ông mà
ông được gọi là Dhammàsoka (A-Dục Vương mộ đạo). Dĩ
nhiên, sự thay đổi tên gọi cũng muốn nhấn mạnh đến sự
khác nhau giữa một A-Dục Vương không biết gì về Phật giáo
và A-Dục Vương với tư cách là một Phật tử vậy.
VỀ
CHÍNH BẢN THÂN A-DỤC VƯƠNG
Chúng
ta có thêm một số thông tin về A-Dục Vương khi đọc các
trụ đá của ông ta.
Tỷ
dụ như, câu chuyện ông quay về với Phật giáo được ghi
lại trong Biên Niên Sử hình như có chút gì đó hơi khác với
thông điệp ông ghi trên trụ đá. Lịch sử đầu tiên A-Dục
Vương để tâm đến Phật giáo được kể lại trong bức
Đạo dụ khắc trên đá (Minor Rock Edict) đầu tiên. Nhưng trái
lại, tôi như vừa mới nhấn mạnh ở trên, theo nguồn tư
liệu Pàli, thì A-Dục Vương đã hồi tâm về với Phật giáo,
đã cho xây dựng 84.000 tịnh xá, rồi thì cho phép người con
trai và người con gái mình gia nhập vào Tăng đoàn trong suốt
6 năm tại vị của ông; tuy nhiên, chúng ta có thể cân nhắc
từ những lời lẽ của A-Dục Vương rằng ông hồi tâm về
với Phật giáo chỉ sự thật xảy ra đúng ngay sau cuộc chiến
tranh ở Kalinga. Hơn nữa trong bức Đạo dụ thứ 13, ông còn
nhấn mạnh rằng việc ấy chỉ xảy ra khi ông được tôn
phong 8 năm. Việc ông hồi tâm có thể cho là đúng vì ông
hối hận, cũng không phải vì ông giết anh chị em mình; việc
này hình như bị phản bác lời xác chứng mà ông đã viết
cho anh chị em mình trong Đạo dụ thứ 5. Thật ra lý do ông
hồi tâm là vì việc ông đã đưa đi đày ải 150.000 người,
việc ông giết 100.000 người và cái chết của rất nhiều
người ở thành Kalinga. Bộ Biên Niên Sử quả là không biết
tí gì về vụ tàn sát đẫm máu này. Vào thời điểm mà ông
ban hành Đạo dụ thì ông đã là một cư sĩ Phật tử trong
hơn hai năm rưỡi rồi, bao gồm cả một năm khi ông chưa thực
sự thuận thành cho lắm - Điều này có nghĩa rằng sau khi
ông đã hồi tâm về với Phật giáo thì ông vẫn chưa phải
là một Phật tử nhiệt tâm - và rồi hơn một năm sau khi
ông đã thuận thành, hộ trì Tăng đoàn với nhữngh kết quả
tốt đẹp. Ông nói rằng: "tôi đã có tiến bộ tốt". Khi
ông ban hành Đạo dụ đầu tiên thì cũng đúng vào thời điểm
ông tại vị năm thứ 11. Ông ban hành Đạo vị thứ 3 vào
năm thứ 12, vậy thì Đạo dụ đầu tiên và thứ 2, mặc dù
không ghi niên đại, ắt là được ban hành trong cùng một
năm này hay là vào năm thứ 11 vậy.
Tuy
nhiên, như câu chuyện có liên quan trong Đạo dụ đầu tiên
thì chẳng có bằng chứng trực tiếp nào chứng tỏ đó là
Giáo đoàn Phật giáo mà ông tham gia. Mặc dù trong một đoạn
văn của Đạo dụ (Đạo dụ ở Maski) mà ông diễn tả như
là một Budhasake. Hultzsch đã dịch từ này là "(Tôi là) Buddha-Sakya"
(Phật Thích Ca). Dường như có lẽ sự ghép chữ Budh được
thực hiện bởi một người viết ở địa phương để "chỉnh
lại" từ upàsake (Ưu-bà-tắc) mà A-Dục Vương đã thảo ra.
Điều đáng chú ý là từ Budhasake hay tiếng tương của nó
không hề xuất hiện trong bất cứ đoạn văn khác của Đạo
dụ đầu tiên. Tất cả của những đoạn văn khác đều có
chữ upàsaka.
Chắc
hẳn là người khắc Đạo dụ biết được rằng chẳng có
một dấu hiệu nào nhắc đến bộ phái mà A-Dục Vương tham
gia để trở thành một Ưu-bà-tắc, mà ông ta cũng muốn cho
được sự tình rõ ràng đối với các đọc giả sau này,
nên đã ghép chữ "Buddha" vào trước chữ upàsáka, rồi khắc
lên trụ đá.
Tuy
nhiên, sự xác chứng về A-Dục Vương trở thành một Phật
tử được công nhận qua việc ông đến viếng thăm cây Bồ-đề,
việc này được diễn tả trong Đạo dụ thứ 8 ban hành lúc
ông được tôn phong 10 năm. Đây chắc hẳn là một trong những
kết quả đầu tiên sau khi ông hồi tâm trở về với Phật
giáo, và điều này có lẽ cũng trùng khớp với cuộc viếng
thăm Tăng-già mà nhờ đó đã cải thiện đời sống tôn giáo
của ông.
Thật
vậy, chúng ta có thể đoan chắc rằng đối với A-Dục Vương,
thì Tăng-già có nghĩa là Tăng-già Phật giáo, bởi vì ngay
trong Đạo dụ thứ 11, khi ông tổng kết hết những thành
tựu của mình, ông tuyên bố rằng ông đã thiết lập những
vị "Đại quan" (Mahamatra) có đức độ để trông coi về vụ
việc của Tăng chúng, của các vị Bà-là-môn, các vị Ajìvika
(Tà mạng ngoại đạo), Kỳ-na giáo đồ và các giáo phái khác
thì có ghi rõ tên, nhưng Tăng-giàđây phải là Tăng-già Phật
giáo.
Thế
thì chẳng còn nghi ngờ gì rằng A-Dục Vương là một cư sĩ
Phật tử, nhưng cũng không có lý do gì mà tin rằng tâm trí
ông lại gắn liền với tôn giáo khác, và chúng ta có thể
thấy trong Đạo dụ thứ 6 là ông tôn kính tất cả các bộ
phái bằng nhiều hình thức khác nhau; và theo ông thì hình
thức hay nhất là đích thân đến viếng thăm họ. Như chúng
ta thấy, pháp hành của ông là đạo đức trái với tâm linh,
cho nên nếu nói cho công bằng thì ông ta cũng có thể là tín
đồ Kỳ-na giáo vậy.
PHÁP
HÀNH CỦA A-DỤC VƯƠNG
Các
Đạo dụ cung cấp khá nhiều thông tin về cách mà A-Dục Vương
truyền bá Pháp (dhamma) của mình. Đó là dhammathambhas "những
cột trụ pháp", dhammalipi "văn thư pháp", dhammamgala "tế lễ
pháp", dhammadàna "bố thí pháp", dhammanuggaha "nhiếp thọ pháp",
dhammayàtras "những cuộc lữ hành pháp", dhammasavana "nghe pháp",
dhammamahàmàtras "những vị đại thần pháp", dhammavijaya "chinh
phục pháp".
Vấn
đề là phải biết xem thử pháp của A-Dục Vương có giống
với pháp của Đức Phật hay không. Ông ta thể hiện rõ sự
khác nhau giữa sự thực hành và thành lập thông thường,
và lối giải thích về pháp của chúng. Một cột trụ là
một thamdha. Nó trở thành một cột trụ pháp nếu pháp của
A-Dục Vương được khắc lên đó. Cũng đã có những vị
đại quan trước thời A-Dục Vương, nhưng chính ông là người
đầu tiên thành lập nên những vị đại quan pháp để truyền
bá pháp của mình. Trước thời ông, các vị vua cũng đã từng
thực hành những chuyến lữ hành. Riêng ông thì thành lập
các cuộc lữ hành để ông có thể thực hành pháp của mình
trong suốt những chuyến lữ hành ấy. Người ta đã từng
tiến hành tất cả những loại tế lễ trong trường hợp
bị đau ốm, tại những cuộc đám cưới, để cầu xin con,
hay cầu xin an toàn trước khi lên đường v.v… Tuy nhiên, tế
lễ pháp lại là phương thuốc trị bệnh thích hợp cho những
người dân nô lệ và đầy tớ, kính trọng các bậc tôn sư,
là sự tự chế ngự đối với các xin vật sống, sự rộng
lượng đối với những vị Sa-môn và Bà-la-môn v.v…
Pháp
của A-Dục Vương còn được giải thích rõ ràng trong nhiều
bia ký, tỷ dụ như dưới một hình thức vắn tắt trong bản
Đạo dụ thứ hai như sau: "Hãy vâng lời cha mẹ mình; vâng
lời người lớn tuổi; có từ tâm với sinh vật sống; nói
sự thật". Người ta bảo rằng tất cả những điều này
phù hợp với sự tự nhiên của cổ nhân (porana pakati), một
diễn dịch của thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên là "trở về
với nguyên sơ". Ở một nơi khác, trong bản Đạo dụ thứ
3, có xuất hiện một lối giải thích hơi rộng về vấn đề
trên như sau "Vâng lời cha mẹ là tốt; hào phóng với bạn
bè, người thân quen và bà con họ hàng, với các vị Sa-môn
và Bà-la-môn là tốt; có tiết độ trong tiêu dùng, trong tài
sản là tốt".
Một
loạt Đạo dụ trên các trụ đá mà chúng ta thường gọi
là Đạo dụ Trụ đá (Pillar Edicts), nhằm giải thích về pháp
A-Dục Vương, với một bản tường thuật chính bản thân
ông đã tuân theo pháp ấy như thế nào; đó là bằng cách
ông đã trồng nhiều cây để tạo bóng râm hai bên đường
đi, rồi đào giếng và tạo những nơi cấp nước cho người
và súc vật. Đạo dụ một nói về sự cai trị bằng pháp;
Đạo dụ 2 nhấn mạnh rằng pháp gồm có ít tạo tội, làm
nhiều điều thiện, thể hiện lòng từ bi, bố thí nói thật
và trong sạch tâm linh. A-Dục Vương đã làm nhiều việc thiện
bằng cách không sát sanh. Đạo dụ 3 nói về thiện và ác
và minh chứng rằng ác là hung bạo, tàn nhẫn, phẫn no, kiêu
căng và thèm khát. Đạo dụ 4 nhấn mạnh đến nhu cầu và
bình đẳng công lý và việc cải tạo các tù nhân. Đạo dụ
5 thì ngăn cấm việc giết hại một số sinh vật mà có nêu
rõ tên. Đạo dụ 6 nhấn mạnh rằng mục đích chính là đem
lại hạnh phúc cho tất cả. Mọi giáo phái đều được tôn
kính, đặc biệt là những giáo phái đích thân ông đến viếng
thăm. Đạo dụ 7 như là một bản tổn kết những việc mà
A-Dục Vương đã làm. Ông giải thích lý do vì sao các vị
vua ngày xưa đã tìm cách tăng cường pháp. Riêng A-Dục Vương
quyết định thực hiện pháp ấy bằng cách thuyết giảng
và dạy dỗ, rồi ông thành lập nên các cột trụ pháp (dhammathambaha)
và đại quan pháp (dhammamahàmàtras) để đưa quyết định
của ông thành thực tiễn. Các vị đại quan pháp gắn liền
với tất cả giáp phái. Pháp một lần nữa được định
nghĩa như là: vâng lời cha mẹ, vâng lời sư trưởng, kính
trọng người già, cư xử thích hợp với các vị Sa-môn và
Bà-la-môn, với người nghèo, nô lệ và đầy tớ. Pháp ấy
càng ngày càng gia tăng là nhờ vào hiến pháp của A-Dục Vương,
tỷ dụ như nói về việc không giết hại thứ vật, đó cũng
là vì thái độ tâm linh… vì lương tâm cá nhân (nijhati).
Ở
một nơi khác như trong Đạo dụ khắc trên đá lớn cho ta
biết rằng người ta phải vâng lời và tuân theo pháp ấy.
Món quà mà pháp ấy đem lại được xem như là phương thuốc
chữa bệnh thích hợp cho những người nô lệ, vâng lời cha
mẹ, v.v…, rộng lượng với các vị Sa-môn và Bà-la-môn,
bất sát sanh. Chính pháp ấy đem lại công đức vô lượng.
A-Dục
Vương gọi các Đạo dụ của ông là những văn thư pháp (dhammalipi)
và chúng ta có thể đọc rồi thấy rõ ràng trong mỗi văn
thư ấy chứa đựng pháp gì. Pháp đó dành riêng cho vấn đề
đạo đức, đó cũng là lý do vì sao chúng ta thường dịch
từ dhammalipi là "huấn dụ về đạo đức". A-Dục Vương đã
cho phổ biến pháp của mình thật rộng rãi, rồi thiết lập
nên những vị đại quan pháp để giám thị pháp ấy, cho dựng
những cột trụ pháp để khắc pháp ấy lên, và phái các
vị sứ giả (duta) để đem pháp ấy đi tuyên truyền khắp
Ấn Độ và thậm chí đến tận miền Tây Hy Lạp. Trong một
chừng mực nào đó thì có thể nói rằng những tư tưởng
đạo đức này hoàn toàn phù hợp với những lời dạy về
đạo đức của Phật giáo, ngoài ra chẳng có cái gì thuần
túy Phật giáo trong tư tưởng ấy cả. Đối với sự nhấn
mạnh về bất sát sanh (ahimsà) thì tư tưởng ông giống hệt
Kỳ-na giáo. Quả thật vậy, người ta đã lập nên một bản
so sánh tương đương về danh sách tên các sinh vật không được
giết hại ghi trên Đạo dụ thứ 5 và danh sách các sinh vật
trong Thánh thư Kỳ-na giáo.
Chúng
ta thấy rằng, trong Đạo dụ ở Bairàt, dưới tên riêng của
mình là Priyadasi, A-Dục Vương chào mừng Tăng-già và cầu
chúc Tăng-già hưng long. Ông ta nói rằng đức tin của ông
vào Phật, Pháp và Tăng thật vĩ đại biết bao. Rõ ràng là
trong bản văn này, từ Dhamma (Pháp) có nghĩa thường dùng như
là một trong ba yếu tố của Tam Bảo (Triratna), nhưng thật
ra pháp mà A-Dục Vương ám chỉ đến không giống pháp của
Đức Phật. Vì lẽ đó, đoạn trích dẫn mà tôi có đưa ra
ở phần đầu bài diễn thuyết này về việc thiết lập nên
cái gọi là sànana ở những quốc gia mà ông ta đã chinh phục
bằng tâm linh, hình như dựa trên sự hiểu lầm về bản chất
pháp của A-Dục Vương.
SỰ
CHINH PHỤC VÀ CÁC SỨ GIẢ CỦA A DỤC VƯƠNG
Cũng
một đoạn trích dẫn ấy hình như là sai lầm khi đề cập
đến các quốc gia đã bị A-Dục Vương chinh phục bằng tâm
linh, nếu như pháp của ông ta là pháp chinh phục (dhammavijaya).
Theo như tôi biết thì A-Dục Vương đã bành trướng đế quốc
mình bằng sức mạnh, nhưng sau đó lại nghĩ ra được nguyên
tắc chiến thắng bằng đạo đức, và rồi truyền thừa nguyên
tắc ấy cho hậu duệ của ông ta.
Theo
tôi thì nguyên tắc chủ đạo của A-Dục Vương là bất sát
sanh (ahimsa), hay nói cho đúng ra thì đó là kết quả sự hối
hận của ông sau cuộc tàn sát đẫm máu ở Kalinga. Đạo dụ
đầu tiên của ông ban ra hầu hết toàn bộ liên quan đến
việc nghiêm cấm sát sanh trong đời thường, gồm cả việc
giết súc vật để tế lễ và ăn thịt.
Trong
Đao dụ thứ 13 ông kể đến câu chuyện sau chiến thắng ở
Kalinga thì chết chóc và khổ đau xảy ra như thế nào, chính
điều đó đã cắn rứt lương tâm ông và ông thiết tha mong
mỏi có đạo đức (dhamma-pháp). Song điều làm A-Dục Vương
đau lòng là chính những người tuân thủ theo pháp của ông
ta, trong đó bao gồm cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thì chính
họ lại chịu khổ đau. Lúc bấy giờ, điều ông muốn là
một cuộc chinh phục bằng pháp, bao gồm cả sự an ninh cho
mọi loài, sự tự chế ngự, tính trầm tĩnh và hòa nhã. Các
sứ giả được phái đi khắp nơi để thuyết giảng pháp
này, gồm cả những vương quốc miền Tây Hy Lạp. Cuộc chinh
phục bằng đạo đức (dhamma) của ông được công bố với
hy vọng rằng hậu duệ của ông sẽ không nghĩ rằng đó là
chiến thắng bằng quân sự, bằng vũ trang mà thường dẫn
đến thảm sát giống như ở Kalinga. Chiến thắng như vậy
sẽ mang tính nhẫn nại (khantil) và trừng phạt nhẹ (lahudandatà).
A-Dục Vương cầu mong sao cho những người dân trụ ngụ trong
rừng núi (giống như ông ta) có thể ăn năn (những việc làm
sát sanh xưa kia?) và chấm dứt sát hại (trong tương lai).
Và
theo tôi thì chắc chắn những vị sứ giả được phái đến
các Vương quốc Hy Lạp kia không phải là được giao cho sứ
mạng truyền bá Phật giáo. Dường như họ được phái đến
để nhằm tận lực thuyết phục các nhà cai trị ở các nước
lân bang rằng họ cũng nên từ bỏ đi tham vọng chinh phục
bằng chiến tranh, mà nên thiết lập một vương quyền hòa
bình và an định, trên cơ sở nguyên tắc pháp của A-Dục
Vương. Theo tôi việc A-Dục Vương cho tăng cường các phái
đoàn sứ giả đến Hy Lạp, quả là một sai lầm vậy. Cố
nhiên chúng ta cũng chẳng có bằng chứng nào về phía Hy Lạp
cho biết rằng có bao nhiêu phái đoàn sứ thần đã đến nước
này vào khoảng năm 250 trước Công Nguyên.
PHẬT
GIÁO CỦA A DỤC VƯƠNG
Thật
quá rõ ràng từ những điều tôi vừa mới nói về pháp của
A-Dục Vương mà những ai cho rằng ông ta đã làm cho Phật
giáo trở thành quốc giáo, thì quả thật quá rộng về nhận
định. Trong các Đạo dụ của mình, A-Dục Vương đề cập
rất ít hay thậm chí là chẳng nói gì về Phật giáo cả.
Ông chẳng hề đề cập đến giáo lý căn bản của Phật
giáo như là Luân hồi (samsàra), giải thoát (mokkha), Niết-bàn
(nibbàna), Vô ngã (anatta), Bát Chánh Đạo, hay Tứ Diệu Đế.
Một trong những Đạo dụ riêng khác có nhấn mạnh rằng mục
tiêu mà ông nhắm đến là vì hạnh phúc của tất cả; và
nhiều bia ký khác cũng có ghi lời tuyên bố rằng mục đích
chính của ông là muốn cho dân chúng ông được sống trong
hạnh phúc trên cõi thế, trên trời và ở các thế giới khác
nữa. Ông ta khoe khoang rằng ông đã hòa lẫn con người với
chư thiên. Tôi đưa ra điều này là để muốn nói rằng ông
đã thành công trong việc đưa con người lên Thiên giới, mà
nơi đó dĩ nhiên rồi một lúc nào đó họ cũng được tái
sanh làm chư thiên. Theo tôi thì điều này lại hoàn toàn khác
với giáo lý tái sanh luân hồi vô tận của Phật giáo.
Sự
thất bại chung của ông là lý giải Phật giáo khác đi rất
nhiều. Chắc có lẽ vì vô minh hay chăng, mặc dù ông đã nghiễm
nhiên là một vị cư sĩ Phật giáo, song ông chẳng có một
chút hiểu biết gì về giáo lý Phật giáo cả. Có lẽ ông
cũng hiểu biết về Phật giáo, nhưng ông lại nghĩ rằng Phật
giáo thường biệt đãi một giáo phái nào đó quá mức, và
như thế nó sẽ phá hủy tính không thiên vị mà ông nhắm
đến để bày tỏ một nơi nào đó. Cũng có thể là ông cho
rằng Phật giáo không thích hợp cho việc ông ban hành Đạo
dụ, hay nói trắng ra, là không phù hợp cho việc ông muốn
lưu bố cái gọi là pháp hành cá nhân của ông, mà pháp này
mục đích đem lại hòa bình cho đế quốc ông và có thể
làm cho thần dân ông được sống trong tinh thần hài hòa bình
đẳng với nhau.
Một
trong những giải thích hơi kỳ lạ mà tôi đã có đề cập
qua là quan điểm cho rằng những gì A-Dục Vương truyền đạt
trong các Đạo dụ của mình chính là giai đoạn mà trong đó
Phật giáo chính là thời kỳ của ông ta. Hultzsch cho rằng:
"Pháp của A-Dục Vương được đồng ý khắp nơi dưới hình
thức đạo đức Phật giáo mà đạo đức ấy là bảo tồn
trong… Kinh Pháp Cú. Ở đây, chúng ta thấy rằng Phật giáo
đang còn tuổi ấu thơ vậy…". Ông ta còn nói thêm rằng:
"Trong một quan điểm trọng chính mà các bia ký của A-Dục
Vương khác với Kinh Pháp Cú là không phản ánh giai đoạn
khởi nguyên hình thành nên thần học và siêu hình học Phật
giáo như đã diễn đạt trong kinh này. Ông chẳng biết tý
gì về giáo lý Niết-bàn, thế mà giả định trước đức
tin Ấn Độ giáo cho rằng phần thưởng của việc tu tập
theo pháp của ông là sẽ được hạnh phúc trong đời này
và phước báo cho đời sau ". Ông Hultzsch đã nêu lên một
vấn đề rất lý thú về bản chất của siêu hình học Phật
giáo. Có thể rằng giáo lý Niết-bàn là thuộc vào giai đoạn
phát triển sau này của Phật giáo chăng? Tôi chẳng tin vấn
đề lại như vậy, và vì lẽ đó tôi nghĩ rằng lý do mà
ông Hultzsch đưa ra sự thất bại của A-Dục Vương khi đề
cập đến Niết-bàn là không đúng.
Ở
một khía cạnh khác, vấn đề có vẻ giống hệt với những
gì đã được tìm thấy ở Srilanka và được Richard Gombrich
miêu tả nên. Richard tường thuật rằng: "Nhưng hầu hết người
dân Tích Lan không muốn Niết-bàn… họ chỉ bảo rằng họ
chỉ muốn sanh lên Thiên giới mà thôi". Vâng ít nhất là mấy
người này cũng hiểu rõ về Niết-bành. Còn A-Dục Vương
thì chưa từng bao giờ nghe đến điều ấy cả. Mặc dù lời
tuyên bố của những người dân làng kia nghe có vẻ lạ thật,
nhưng thật ra nó lại hoàn toàn trùng khớp với lời tuyên
bố mà chúng ta có thể tìm thấy ở cuối Kinh Xà Dụ (Alagaddùpamasutta)
của Kinh Trung Bộ (Majjhima-nikàya), ở đó đức Phậ tuyên
bố rằng những vị Tỳ-kheo nào tu tập đúng pháp với pháp
có tín tâm, thì sẽ được chánh giác (sambdhi); còn những
ai chỉ có tín tâm vào Phật và kính quý Ngài thì người ấy
sẽ được sanh lên Thiên giới. Như vậy những người dân
làng này biết rất rõ về Niết-bàn, nhưng họ thích sanh lên
Thiên giới hơn vì họ kính quýĐức Thế Tôn. Còn A-Dục Vương
thì chẳng thể hiện sự kính quý nào đối với Đức Thế
Tôn cả. Đối với ông ta, sanh lên Thiên giới làn nhờ làm
những điều như đã quy định trong pháp của ông. Như ông
đã từng đặt câu hỏi trong Đạo dụ thứ 9 rằng: "Còn có
điều gì hơn là được sanh lên Thiên giới chăng?"
VỀ
ĐẠO DỤ Ở BAIRÀT
Sự
thể hiện mạnh nhất về mối liên hệ của ông với Phật
giáo là ở trong Đạo dụ ở Bairàt mà tôi đã đưa ra trước
đây, và chúng ta cũng nên lưu ý rằng điểm duy nhất mà ông
có đề cập đến giáo lý Phật giáo là ở trong Đạo dụ
viết cho Tăng-già này. Trong Đạo dụ này ông nói rằng tất
cả những gì do Đức Phật thuyết giảng đều là đúng, và
ông có giới thiệu 6 tên bản kinh cho Tăng-già. Ông cho giáo
lý của Đức Phật là diệu pháp (saddhamma), mà có lẽ đó
cũng là một việc làm cố ý muốn phân biệt pháp của Đức
Phật với pháp của ông. Chúng ta cũng hy vọng rằng A-Dục
Vương có thuyết giáo cho những người hồi tâm cải giáo.
Có một vấn đề mà chúng ta vẫn chưa thể biết chắc chắn
về tính đồng nhất của một số văn bản, song vì đôi khi
chúng ta cũng thấy được rằng các luận sớ, tỷ dụ như
về bộ Kinh Tập (Sutta-nipàta), thì có nhiều văn bản dưới
nhiều tên khác nhau. Nên có lẽ chúng ta cũng không lấy làm
ngạc nhiên gì khi chúng ta không tài nào nhận biết được
tất cả những bản mà A-Dục Vương đã chọn. Câu hỏi đặt
ra là liệu A-Dục Vương có khả năng kể rõ đích danh những
bản ấy hay không? Câu hỏi này ám chỉ muốn nói rằng có
một số Thánh điển đã thật sự hiện hữu trong thời ông
ta, song Thánh điển ấy thật quá phức tạp đến nỗi ngày
nay chúng ta chẳng tài nào giải quyết nổi.
Hoàng
Đế Asoka, Con Người của Hòa Bình
và
Tình Nhân Bản
Minh
Chi
Bất
cứ sử gia nào, dù là người phương Đông hay người phương
Tây, dù có thiện cảm hay không đối với đạo Phật, đều
phải thừa nhận đạo Phật đã tạo ra trong con người Asoka
một biến đổi thần kỳ: Asoka, con người tàn ác (candasoka),
sau khi theo đạo Phật đã trở thành Asoka, con người thiện
lành (dharmasoka), hay con người thân thiết với thần linh (devanampiya),
con người ai thấy đều vui mừng (pyadasi)...
Hoàng
đế Asoka (Hán dịch âm A-dục) trị vì trên một nước Ấn
Ðộ rộng lớn hơn bây giờ (trừ phần cực Nam của bán đảo),
vào khoảng những năm 274-237 trước Tây lịch (TL). Asoka là
cháu nội của Chandragupta, người sáng lập ra triều đại
Maurya (Hán dịch là Khổng Tước). Cha của Asoka là Bindusara,
có 16 người vợ và 101 con. Asoka chỉ có một người em trai
cùng mẹ là Tissa, về sau cũng xuất gia và chứng quả A la
hán.
Người
ta kể lại, được tin vua cha lâm bệnh nặng tại thủ đô
Pataliputra, Asoka lúc bấy giờ đang làm phó vương tại vùng
Tây Bắc Ấn, vội vã kéo quân về, giết sạch tất cả anh
em, trừ người em đồng mẹ là Tissa, và lên ngôi vua, vào
năm 329 trước TL. Nhưng lễ đăng quang chỉ được tổ chức
4 năm sau, vào năm 325 trước TL. Sự chậm trễ này nói lên
bầu không khí bẩt bình trong triều cũng như ở ngoài dân
chúng, trước hành động tàn bạo, làm mất nhân tâm của
Asoka lúc bấy giờ.
Vào
những năm đầu của triều đại mình, để củng cố thêm
vương quốc, Asoka đã mở chiến dịch đánh chiếm xứ Kalinga
(nay là Orissa). Trong cuộc chiến, 10 vạn người bị giết,
15 vạn bị bắt. Cảnh tang tóc của chiến tranh đã làm cho
Asoka vô cùng hối hận, và từ đó về sau trở thành rnột
Phật tử thuần thành, một vị hoàng đế của hòa bình, của
một tình cảm nhân bản, sâu sắc bao gồm cả người và loài
vật.
Sự
nghiệp vĩ đại của Asoka được ghi lại bằng chính các cáo
văn của ông, khắc trên các bia đá là trụ đá, do chính ông
dựng lên rải rác tại khắp nhiều nơi trên vương quốc rộng
lớn của ông, mà các nhà khảo cổ phương Tây và Ấn Ðộ
đã dần dần phát hiện được từ nửa cuối thể kỷ XIX
trở lại đây.
Lịch
sử cho biết Asoka đã bãi bỏ tội tử hình trong vương quốc
mình. Trong Dụ đá Kalinga, Asoka nói :
"Cũng
như tôi mong cho con cái tôi được hưởng mọi hạnh phúc và
an lạc ở đời này và đời sau, tôi cũng cầu mong cho tất
cả mọi người đều cũng được hưởng hạnh phúc và an
lạc như vậy.
Có
tình hình xảy ra là có một số ngườí bị bắt giam mà không
có lý do xác đáng gì, và rất nhiều người khác bị đau
khổ vô cùng.
Vì
vậy mà các người phải theo con đường trung đạo, có mực
thước. Nhưng sẽ không thể nào noi theo được con đường
trung đạo ấy, nếu các người còn làm nô lệ cho những tật
xấu như đố kỵ, không kiên nhẫn, tàn ác, nóng vội, thiếu
chuyên sâu, lười biếng và thụ động.
Các
người phải mong sao cho đừng phạm vào những tật xấu nói
trên.
Dụ
này được khắc ra ở đây, để cho các pháp quan trong thành
phố tránh không bắt giam dân chúng mà không có lý do xác đáng.
Và
cũng vì mục đích ấy mà cứ năm năm một lần, ta gửi các
phái viên đi công cán, những phái viên của ta phải có thái
độ từ ái, dễ thương, quan tâm đến sự sống thiêng liêng
của mọi loài."
Dụ
trên đây cho chúng ta biết đường lối trị dân của Asoka:
Các pháp quan phải công minh, không được bắt giam người
mà không có lý do xác đáng. Vua quan tâm tới hạnh phúc của
toàn dân, như là quan tâm tới hạnh phúc của con cái mình
vậy. Asoka lên án mọi biểu hiện của đố kỵ, đàn áp,
lười biếng, thụ động, thiếu chuyên cần v.v...
Trong
Dụ thứ hai của 14 Dụ trên đá, Asoka viết:
"Trong
tầt cả mọi nơi của vương quốc ta và cũng vậy trong các
nước láng giềng, như các nước Cholas, Pandyas, Satyaputra, Keralaputra.
Trên
đảo Tambapanni (Lanka), trong vương quốc của vua Hy Lạp Antiochus,
và cả trong vương quốc láng giềng của vưong quốc của Antiochus.
Tại
khắp mọi nơi, ta đã cho dựng lên hai loại nhà thương, nhà
thương cho người và nhà thương cho súc vật."
Copleston,
trong cuốn "Ðạo Phật nguyên thủy và hiện đại" (Buddhism
Primitive and Present) thừa nhận rằng "Công lao xây dựng những
nhà thương đầu tiên chắc chắn là thuộc về đạo Phật"
. Nhưng cần nói thêm là ngoài những nhà thương đầu tiên
cho người, Asoka còn cho xây dựng những nhà thương cho súc
vật nữa! Chúng ta biết nhà thương sớm nhất do người Tây
phương xây dựng là nhà thương Diu ở Paris (Pháp) vào thế
kỷ thứ VII TL, nghĩa là khoảng 1.000 năm sau các nhà thương
của Asoka.
Lòng
thương yêu của Asoka đối với loài vật thật là có một
không hai. Dụ đầu tiên trong số 14 Dụ trên đá viết: "Ở
đây không một súc vật nào được giết và hiến tế."
Trước
đây, trong bếp nhà vua, mỗi ngày, hàng trăm súc vật bị giết
thịt để làm món càri. Nhưng từ nay, sau khi đạo dụ thành
tín này được khắc trên đá, thì chỉ còn đưọc giết thịt
hai con công và một con nai mỗi ngày, nhưng đối với con nai
thì không thường xuyên. Nhưng từ nay trở đi thì cả ba súcvật
đó cũng sẽ không bị giết thịt.
Trong
Dụ thứ 5 trên trụ đá, Asoka viết:
"Ngay
cả rơm rạ, nếu có sinh vật ở trong đó, cũng không bị
đốt.
Rừng
cũng không được đốt, hoặc vì sai lầm, hoặc là vì hung
bạo và tàn ác đối với sinh vật.
Không
được nuôi sinh vật bằng sinh vật."
Dụ
thứ hai trên đá cho biết, chính những Phật tử đã xây đựng
những nhà thương đầu tiên ở Châu Phi và Châu âu.
Nhà
thương cho các súc vật là sáng tạo riêng có của đạo Phật.
Các nhà thương súc vật hiện còn ở Ahmedabad, Surat và trong
nhiều thành phố khác ở Ấn Ðộ là những tổ chức còn
lại, hay là được xây theo mô hình của những nhà thương
súc vật dưới triều đại Asoka. Theo bác sĩ Cumsron, tác giả
cuốn Lịch sử y học, thì nhà thương súc vật hiện còn ở
Surat chính do Asoka đầu tiên xây dựng nên. Về nhà thương
đó, trong cuốn Quan cảnh xứ Ấn Ðộ, Hamilton viết như sau:
"Tổ
chức đáng được chú ý nhất ở Surat là nhà thương Cây
Ða (Banyan Hospital). Ðó là một cái sân rộng , xung quanh có
tường cao bao bọc, và được chia thành những sân nhỏ tiện
nghi đối với súc vật. Súc vật ốm được chăm sóc rất
chu đáo ở đây, và nếu già yếu tàn tật, thì đây cũng
là nơi an dưỡng thật tốt cho chúng. Nếu một con vật bị
què chân, hay là bị thương tật, thì chủ nó đem nó đến
nhà thương và nó sẽ được chăm sóc rất chu đáo, không
phân biệt chủ nó thuộc quốc tịch hay đẳng cấp nào. Năm
1772, nhà thương đó chữa bệnh cho ngựa, lừa, bò cái, cừu,
dê, khỉ, gà, vịt, bồ câu và rất nhiều loại chim. Kể cả
một con rùa già, nghe nói đã an dưỡng ở đây từ 75 năm
nay."
Cựu
Thủ tướng Ấn Ðộ Nerhu nói rằng: "Chính gương sáng của
Asoka và sự truyền bá của đạo phật đã khiến cho tập
quán ăn chay trở thành phổ biến trong dân chúng Ấn Ðộ."
Yêu
quý con người, cỏ cây và loài vật tức là thương yêu và
trân trọng sự sống, bất cứ sự sống đó biểu hiện dưới
dạng gì, đó là đặc điểm riêng có của đạo Phật mà
vua Asoka đã thể hiện một cách sinh động và có hiệu quả
không những trong vương quốc của vua, mà còn trong các vương
quốc khác nữa, gần và xa, cả ở Châu Âu và Châu Phi. Ðiều
này nói lên uy tín lớn lao của vua Asoka, sức thuyết phục
của chính sách hòa bình và thành tín của vua đối với các
vương quốc khác, các vị vua khác.
Thi
hành một chính sách như vậy, Asoka đã thực hiện đúng theo
những lời khuyên của chính Ðức Phật, khi Ngài tại thế,
trong kinh Cakkavatti Sihananda Suttta (Kinh Chuyển Luân Vương).
Ðúng
như vậy, lý tưởng mà Asoka theo đuổi suốt đời mình là
"Ðảm bảo hạnh phúc vật chất và tâm linh cho toàn thế giới
, bao gồm cả người và sức vật và các sinh vật khác, không
những trong vương quốc của nhà vua, mà trong cả thế giới
mà vua được biết hay là có quan hệ." (Giáo sư Bhanhrkar).
Tiến sĩ Bhanhrakar cho biết rằng "Asoka đã sử dụng sứ quán
của nước mình tại triều đình các vua Hy Lạp đương thời
để phổ biến chánh pháp của Phật, phổ biến chính sách
cai trị nhân đạo của mình, cũng giống như vua sử dụng
các quan chức của mình để làm công việc đó ở trong nước...".
Vì vậy , chúng ta không ngạc nhiên rằng đạo Phật đã ảnh
hưởng tới đạo Gia Tô không những trên bình diện lễ nghi
bên ngoài, mà cả trên bình diện lý thuyết và đạo đức
nữa.
Dụ
thứ 13 trên đá cho biết Asoka đã từ bỏ chiến tranh theo
chính sách hòa bình trong thời điểm và hoàn cảnh như thế
nào.
"Khi
vua Piyadasi, được các thần linh yêu mến, lên ngôi cách đây
6 năm, vua đã chinh phục vương quốc Kalinga, có đến 150 ngàn
người bị tù đày, 100 ngàn người bị giết, và một số
lớn hơn nữa bị chết sau đó. Nay vương quốc Kalinga đã
bị chinh phục rồi, trong lòng vua sinh ra mối quan tâm đối
với tôn giáo, lòng quí mến tôn giáo, muốn giải quyết vấn
đề tôn giáo. Và vua hối hận về cuộc chinh phục vương
quốc Kalinga. Trái lại, cuộc chinh phục bằng tôn giáo mà
hiện nay vua đang tiến hành, đem lại cho vua một sự thỏa
mãn rất lón. Nhưng sự thỏa mãn đó vẫn không đáng kể.
Vì vua cho rằng, chỉ sự thưởng phạt ở kiếp sống sau mới
quan trọng hơn."
"Ðạo
dụ về tôn giáo này được ghi lại bằng chữ viết, nhằm
mục đích sau này để cho cháu chắt ta sẽ không bao giờ tiến
hành một cuộc chinh phục quân sự nào nữa . Và nếu một
cuộc chinh phục quân sự là cần thiết, thì cháu chắt ta
phải tỏ ra có lòng từ ái, rộng lượng, chỉ trừng phạt
nhẹ, và phải thấy cuộc chinh phục tôn giáo là cuộc chinh
phục chân chính. Cuộc chinh phục tôn giáo đem lại kết quả
tốt trong kiếp sống này và trong các kiếp sống sau. Chúng
ta phải có niềm vui hỗ trợ cho tôn giáo. Bởi vì tôn giáo
đem lại kết quả tốt trong kiếp sống hiện nay và trong kiếp
sống sau này"...
Dụ
này còn cho biết Asoka tin ở thuyết tái sinh, là một trong
những chủ thuyết của triết lý đạo Phật. Từ nay, Asoka
trở thành một Phật tử thuần thành. Trong Dụ đá Virata nổi
tiếng (hiện nay được giữ lại trong Viện Bảo tàng Calcutta),
Asoka viết:
"Hỡi
các vị Thượng thủ tôn quý, các vị đã biết lòng quý trọng,
lòng tin tưởng của tôi đối với Phật, Pháp, Tăng lớn lao
đến dường nào!
Thưa
các vị Thượng thủ quý mến, mọi điều do Phật, đấng
chí tôn nói đều hay đẹp cả..."
Vua
muốn đích thân nêu gương sáng cuộc sống đạo hạnh của
vua cho mọi người noi theo. Trong Dụ trên trụ đá thứ VII,
Asoka viết:
"Tôi
có làm bất cứ một công việc thiện lành nào, thì dân chúng
noi theo gương tôi cũng làm và sẽ làm mọi công việc thiện
lành như vậy.
Và
dân chúng sẽ lớn lên với những đức tính vâng lời cha
mẹ, vâng lời thầy giáo, tôn trọng bậc lớn tuổi, tôn trọng
và có thái độ đúng đắn đối với các bậc Thánh, đối
đãi thân ái với những người nghèo và bệnh tật".
Các
Dụ đá của Asoka nói chung, không chứa đựng những giáo nghĩa
cao siêu gì, mà chủ yếu là những lời khuyến cáo có tính
chất đạo đức: Tình thương người và súc vật, lòng bao
dung đối với mọi tín ngưỡng, không phải chỉ tín ngưỡng
Phật giáo... Tuy nhiên, trong Dụ Bhabra, có thể được công
bố vào năm thứ 13 của triều đại Asoka, vua có khuyến cáo
Tăng chúng nên nghiên cứu một số đoạn kinh Phật, mà chúng
ta có thể nhận biết như là một phần của Kinh tạng Pàli:
"Vua
Magadha gởi lời chào Tăng chúng, chúc Tăng chúng đưọc an
lạc và sức khỏe.
Các
Ðại Đức kính mến, các Ðại đức đã biết rõ lòng kính
trọng và lòng tin của tôi đối với Tam bảo, Phật, Pháp,
Tăng là sâu rộng đến dường nào.
Thưa
các Ðại Đức, Thế Tôn nói mọi lời đều hay.
Thế
nhưng, thưa các Ðại Đức, theo quan niệm của riêng tôi, thì
có thể chỉ ra một số văn kiện đặc biệt:
1.
Ðề cao giới luật.
2.
Hành trạng của các bậc Thánh vĩ đại.
3.
Nỗi lo sợ điều có thể xảy ra.
4.
Bài ca của người ẩn sĩ.
5.
Ðàm thoại về cuộc sống của người ẩn sĩ .
6.
Câu hỏi của Upatishya.
7.
Thuyết pháp cho Rahula đề tài tà kiến.
Tôi
mong rằng đông đảo Tăng Ni sẽ thường được nghe và suy
tư trên những bài kinh đó. Cả những cư sĩ cũng như vậy,
nam cũng như nữ.
Vì
lẽ đó, tôi cho ghi lại lời nói của tôi, để dân chúng
biết rõ tôi có ý định như thế nào."
Dụ
trên được ghi bằng tiếng Magadhi. Văn kiện 1 "Ðề cao giới
luật" chính là giới bổn Patimokka, văn kiện 3 "Mối lo sợ
điều có thể xảy ra" rút trong kinh Pancaka Nipata thuộc Anguttara
Nikàya (Tăng Chi Bộ kinh, cuốn III). Văn kiện "Ðàm thoại về
cuộc sống của người ẩn sĩ", nói tới cuộc sống không
còn dục vọng, cuộc sống trong đó cả ba nghiệp thân, khẩu,
ý đều được bình lặng. Upatisya hay Upatissa là Xá Lợi Phất
hay Sariputta, một trong những đệ tử lớn nổi danh của Phật.
Ðức Phật trả lời Tôn giả Xá Lợi Phất về những nguy
cơ đe dọa người tu hành.
Bài
thuyết pháp cho Rahula (La Hầu La) có trong Trung Bộ kinh I, tr.414-420,
bản Anh ngữ.
Trong
một Dụ khác, Dụ Sarnath, ông có giọng nói không phải của
một Phật tử bình thường, mà là của một vị lãnh đạo
giáo hội. Trong Dụ, ông viết:
"Vâng,
đúng như vậy, ngay cả đối với tôi tớ và nông dân, cũng
phải cư xử như vậy.
Sự
tiến bộ của dân chúng trong chánh pháp được thực hiện
bằng hai con đường, bằng nghe thuyết giảng chánh pháp, và
bằng suy tư nội tâm.
Trong
hai biện pháp đó, thì biện pháp suy tư nội tâm cao cấp hơn
nhiều. Hiệu quả siêu việt của biện pháp suy tư nội tâm
được thể hiện trong sự tăng trưởng lòng tin đạo của
dân chúng, và trong việc hoàn toàn chấm dứt tệ giết hại
sinh vật.
Tôi
sẽ sử dụng các vị Tăng quan (Dharmamahamatras) để bày tỏ
mối quan tâm của nhà vua đối với các vị tu khổ hạnh cũng
như các vị tu tại gia, đối với tất cả mọi tín đồ các
tôn giáo. Tôi cũng dùng họ để đảm bảo cuộc sống hạnh
phúc an lạc của Tăng già. Tôi cũng dùng họ với mục đích
như vậy đối với Bà la môn, các vị tu khổ hạnh phái Ajivikas,
phái Nighantas, trên thực tế tức là đối với tất cả mọi
tu phái.
Họ
và các quan chức chủ yếu khác được giao nhiệm vụ phân
phối vật phẩm cúng dường của vua và các hoàng hậu, và
ngay tại triều, ở đây, tại kinh đô cũng như tại các tỉnh,
các quan chức nói trên sẽ thực hành các biện pháp khác nhau,
những biện pháp sùng tín đạo giáo và bố thí đem lại niềm
an lạc.
Tôi
cũng thu xếp để cho các quan chức đó giúp việc phân phối
vật phẩm cúng dường của con cái tôi, của các hoàng tử
và công chúa khác. Vâng, họ sẽ được dùng để thúc đẩy
mọi công việc thiện lành theo chánh pháp, để thúc đẩy
việc thực hành chánh pháp.
Họ
có chức trách thiêng liêng lo lắng để cho trong dân chúng
có được sự tăng trưỏng lòng nhân từ, tính trung thực,
lòng rộng lượng, trong sạch, từ hòa, thánh hạnh...
Chính
nhằm mục đích ấy mà đạo Dụ này được khắc lên đá,
bền lâu như mặt trời và mặt trăng để cho con cái, cháu
chắt tôi, mọi ngưòi nối dõi tôi sẽ theo đúng chánh pháp.
Bởi
vì những người theo đúng chánh pháp sẽ được hưởng hạnh
phúc trong đời này và cả trong những đời sau".
Dụ
thứ 4 viết:
"Nay
do tôi thực hành chánh pháp, tiếng trống trận của chiến
tranh không còn vang lên nữa, mà thay vào là tiếng trống của
chánh pháp."
Sau
trận chiến thắng Kalinga, Asoka đã vô cùng hối hận và long
trọng tuyên bố từ nay sẽ loại bỏ chiến tranh trong chính
sách của vương quốc mình, và thay vào đó, dùng chánh pháp,
dùng Phật pháp để chinh phục lòng người. Mà chánh pháp,
đúng như Asoka hiểu, tức là sự quan tâm đến đời sống
vật chất và tâm linh của tất cả mọi dân chúng, sự quan
tâm đến đời sống của mọi loài.
"Trong
tất cả mọi lúc, mọi nơi, tôi đều quan tâm đến tình hình
và công việc của toàn dân.
Dù
đang khi ăn, dù là ở trong phòng của hoàng hậu, trong phòng
ngủ của tôi, nơi đồng ruộng, trong xe hay trong viên, khắp
mọi nơi, các quan chức phải báo cáo cho tôi biết mọi công
việc của dân chúng, và tôi lúc nào cũng sẵn sàng giải quyết
công việc của dân chúng ở khắp mọi nơi.
Tôi
đã ra lệnh mọi công việc của dân chúng phải được báo
cáo cho tôi biết, ở khắp mọi nơi, bất cứ vào giờ nào.
Vì
rằng tôi không bao giờ thỏa mãn về sự cố gắng của bản
thân tôi. Ðúng như vậy, bổn phận cao nhất của tôi là đảm
bảo cho toàn đất nước được hạnh phúc và an lạc. Không
còn chức trách nào cao quí hơn là đảm bảo hạnh phúc cho
toàn dân.
Và
nếu tôi có cố gắng hết sức mình: thì cũng là nhằm mục
đích trả món nợ của tôi đối với tất cả moi chúng sinh,
đảm bảo cho mọi loài được hưởng hạnh phúc trong đời
sống này và hạnh phúc của cõi trời trong kiếp sống tương
lai.
Chính
nhằm mục đích ấy mà tôi cho khắc lời Dụ này trên đá,
để cho chánh pháp mãi mãi lưu tồn, để cho con cái và cháu
chắt tôi có thể thực hành theo chánh pháp, vì hạnh phúc
và an lạc cho toàn đất nước.
Nhưng
đó là một mục đích khó thành tựu được, trừ phi là có
cố gắng hết sức, hết lòng mình".
Dụ
trên cho thấy Asoka quan niệm chức trách, bổn phận của một
ông vua Phật tử phải như thế nào, cho thấy một vị vua
Phật tử, trước hết, phải toàn tâm toàn ý phục vụ cho
hạnh phúc và an lạc của toàn dân như thế nào.
Dụ
Maski (địa danh nơi tìm ra Dụ đá) viết:
"Thật
sự như vậy, từ nay trở đi, tôi phải lo lắng, đảm bảo
cho hạnh phúc vật chất và tâm linh cho toàn đất nước. Noi
theo con đường hòa bình, tôi sẽ dắt dẫn toàn thế giới
từ bỏ dục vọng đến với hòa bình.
Từ
ngày tôi gặp được Tăng chúng, tự tôi, tôi đã gắng sức
rất nhiều.
Hậu
quả tốt của sự cố gắng không phải chỉ dành riêng cho
các vĩ nhân. Nếu anh ta muốn, thì người bình thường cũng
có thể gắng sức mà vươn tới được cõi trời hạnh phúc
và an lạc.
Chính
vì mục đích ấy mà những lời này được công bố. Tất
cả mọi người, lớn cũng như bé, hãy cố gắng hết sức
mình."
Dụ
Maski trên đây cho thấy Asoka coi trọng và thực hành đức
hạnh tinh tấn, siêng năng như thế nào. Một ông vua Phật
tử phải là một ông vua hết sức tích cực và chủ động
giải quyết mọi việc có ích lợi cho dân chúng trên cả hai
mặt vật chất và tâm linh, tinh thần. Asoka quan niệm như thế
nào là con đường hạnh phúc và an lạc. Dụ trên viết tiếp:
"Phải
biết vâng lời cha mẹ. Cũng như vậy, các thầy giáo và mọi
người xứng đáng phải được tôn kính. Phải thương yêu
mọi loài vật. Phải nói sự thật.
Ðó
là những đức tính cao cả cần được thực hành và đề
cao.
Cũng
như vậy, học trò phải phục vụ thầy dạy, mọi người
quan hệ với nhau phải nhã nhặn và lịch sự.
Ðó
là tín điều chân chính và cổ xưa, tín điều ấy sẽ giúp
sống thọ.
Vì
vậy dân chúng hãy hành động theo đúng tín điều này".
Các
học giả phương Tây đánh giá cao các Dụ đá của Asoka
Các
Dụ đá của Asoka được tất cả mọi học giả phương Tây
đánh giá cao. Robert Blatchford trong cuốn "Thượng đế và người
láng giềng của tôi" (God and My Neighbor) đã viết rằng:
"...
Jesus và các Cha của nhà thờ chưa từng bao giờ cấm chế
độ nô lệ, chưa từng bao giờ cấm tệ kỳ thị tôn giáo,
cấm thái độ tàn ác đối với loài vật.
Còn
đạo Phật trên thực tiễn đã xóa bỏ nô lệ chế và tệ
khủng bố tôn giáo, dạy đức hạnh tiết độ, cuộc sống
trong sạch và lòng nhân hậu, và xây dựng được nền đạo
đức cao cấp hơn, đề cao tư tưởng toàn nhân loại đều
là anh em.
Các
Phật tử đã thực hành và truyền bá một tôn giáo nhân bản,
một tình huynh đệ bao quát toàn loài người trước kỷ nguyên
của Jesus. Mà không phải chỉ giảng thuyết mà còn thực hành,
đó là điều mà những người đạo Gia Tô không bao giờ thành
tựu được, trước kia cũng như hiện nay.
Và
hơn nữa, các Phật tử không truyền bá nhân hậu và huynh
đệ của họ bằng gươm giáo, cùm tra tấn, đinh đóng tay,
củi thiêu người. Các Phật tử đã giải phóng người nô
lệ và mở rộng lòng thương của họ, bao trùm cả loài vật.
Ðạo
đức của người Phật tử không ghi lại trong sách. Nó được
ghi trên đá. Không có một lý lẽ nào có thể xóa bỏ các
Dụ đá của vua Asoka..."
Về
các phái đoàn truyền giáo dưới thời vua Asoka
Dưới
thời Asoka, các phái đoàn truyền giáo được gởi đến Hy
Lạp, Trung á, Sri Lanka và các xứ mang tên gọi chung là Suvannabumi
(nay là bán đảo Ðông Dương).
Các
nhà khảo cổ đã tìm thấy dòng chữ khắc trên đá: Supurisasa
Moggaliputtatissa. Sapurisasa là con người thiện, con người lành.
Moggaliputtabssa là vị A la hán dưới thời vua Asoka đã lănh
đạo kỳ Ðại hội kết tập kinh tạng lần thứ ba. Và sau
Ðại hội này, nhiều phái đoàn truyền giáo của vua Asoka
được phái đến các nước ngoài.
Cuốn
Mahavamsa, tập biên niên sử của Sri Lanka, cho biết sau cuộc
Ðại hội kiết tập lần thứ ba, bốn vị A la hán cùng với
Maijhima Thera được phái đến vùng núi Himalaya để truyền
giáo. Nhưng đến lúc sắp nhập Niết bàn thì cả bốn vị
này cùng với vị trưởng đoàn trở về xứ sở quê hương
của họ. Trong hai hộp đựng xá lợi tìm thấy ở bảo tháp
Sanchi, có khắc tên hai vị: Kassapagotta , vị đạo sư của
vùng Himalaya và Majjhimagotta. Majjhima Thera chính là vị trưởng
đoàn truyền giáo vùng Himalaya.
Ðoàn
truyền giáo đi Sri Lanka cũng để lại nhiều dấu vết quan
trọng. Ðoàn gồm bốn vị cao tăng Itthiya, Utthiya, Baddhiya,
Sambala và vị trưởng đoàn A-la-hán Mahinda. Dòng chữ khắc
được phát hiện thấy tại vùng Rohana, vùng phía Nam Sri Lanka,
ở nơi mang tên Rajagala , có dòng chữ khắc trên đá bằng
chữ Brahmi, cột đá dài tới 18 feet. Có chữ dài tới 1 foot
(*): "Ye ima dipa patamaya idiya agatana ulika (terana) hide teraha tube".
Nghĩa: "Ðây là bảo tháp, chứa xá lợi của các Thượng tọa
Itthiya và Mahinda đã đến đảo này bằng phép thần thông".
(*)
foot là đơn vị chiều dài ở nước Anh, bằng 3 tấc rưỡi
Hai
cuốn sử biên niên Mahavamsa và Dipavamsa viết về Mahinda: "Ngài
đến trên không bằng phép thần thông". Tất nhiên đối với
các bậc A-la-hán, bay trên không là chuyện dễ dàng.
Nhưng
Paranavitana, một trong những nhà khảo cổ học lớn nhẩt của
Sri Lanka, lại giải nghĩa đoạn câu: "Idiya Agatana" là "đến
đây, vì sự an lạc của những người dân Sri Lanka". Có lẽ
vì ông cho rằng bấy giờ, ít người tin ở các phép thần
thông, nhưng ở một đoạn sau, ông viểt thêm "Nhưng có sự
giống nhau phần nào giữa điều tôi nói ở đây với câu
trong tập Mahavamsa: "Thượng tọa Mahinda đã bay trên không từ
xứ Vidisa đến". Ðược biết sau khi Mahinda tịch, xá lợi
của ngài được chia cho nhiều nơi để cho nhân dân Sri Lanka
xây bảo tháp cúng dường. Bảo tháp đựng xá lợi của Mahinda
được tìm thấy tại một nơi cách hàng trăm dặm nơi hỏa
táng ngài tại Anuradhapura.
Mahintale
là nơi Mahinda trú ngụ lâu dài. Giáo sư Paranavitana nói rằng
hộp xá lợi phát hiện ở đây chắc chắn cũng là một hộp
xá lợi của Mahinda. Vua Asoka và vua Tissa ở Sri Lanka, người
đồng thời với Asoka là bạn thân. Vua Tissa gởi biếu Asoka
nhiều quà tặng, toàn là châu báu và ngọc quý. Theo yêu cầu
của Asoka, vua Tissa thực hành một lễ đăng quang lần thứ
hai với tên Devanampiya, nghĩa là thân thiết đối với Thần
linh. Cần nhắc rằng các vua Ấn Ðộ triều đại Maurya cũng
có cùng một danh xưng đó. Từ vua Devanampiya trở đi, trong
hàng nhiều thế kỷ, các vua Sri Lanka đều theo danh xưng như
vậy. Danh xưng này là một bằng cớ về sự du nhập sớm
của đạo Phật vào đất nước Sri Lanka. Một bằng cớ nữa
là cây Maha Bodhi (cây Bồ đề) ở Anuradhapura là một nhánh
của cây Bồ đề tại Maha Bodhi Gaya bên Ấn Ðộ (Bồ Ðề
đạo tràng).
Giáo
sư Paranavitana, khi phân tích bia đá ở Rajagala đã khẳng định
là bia đá còn mang tên vị cao tăng Itthiya Thera, cùng đi với
Mahinda sang Sri Lanka.
Sri
Lanka hiện nay là trung tâm của Phật giáo Theravada, phổ biến
tại các nước Ðông Nam Á. Mahinda - người đầu vào xứ này,
vốn là một đệ tử của cao tăng Moggaliputtatissa, thầy học
của Asoka đồng thời là vị lãnh đạo cuộc Ðại hội kiết
tập kinh điển lần thứ ba. Ông là người biên soạn bộ
luận nổi tiếng Kathavatthu, là nòng cốt của Luận tạng (Abhidharma
Pitaka), được kiết tập ở kỳ Ðại hội này.
Các
bia đá khắc bằng chữ Brahmi cho biết đạo Phật vào thời
kỳ này được tất cả mọi tầng lớp xã hội Sri Lanka nhiệt
liệt đón chào và tiếp thu. Các quan chức lớn trong triều
gọi là Upasikas và Upasakas, Hán dịch âm là Ưu-bà-di và Ưu-bà-tắc,
nghĩa là những Phật tử tại gia nữ và nam. Hoàng hậu Anuda
xuất gia và trở thành người lãnh đạo Ni giới của Sri Lanka.
Cho
đến nay đã phát hiện thấy có khoảng 1.200 bia đá khắc
chữ Brahmi, kể lại các sự kiện xảy ra ở Sri Lanka trong
thời gian từ thế kỷ IV trước TL đến thế kỷ I TL. Nội
dung các bia đó đã được địch ra và xuất bản. Chữ Brahmi
tương tự như thứ chữ khắc trên các bia và trụ đá của
vua Asoka. Các bia đá đó kể về lịch sử du nhập và truyền
bá đạo Phật ở Sri Lanka.
Lúc
bấy giờ, Sri Lanka đã có hai dân tộc là dân tộc Sinhalese
và dân tộc Tamil. Dân tộc Tamil từ lục địa Ấn Ðộ di
cư qua đây từ lâu đời. Họ tiếp thu đạo Phật và sống
yên ổn với dân tộc Sinhalese bản xứ. Các Phật tử người
Tamil cũng cúng dường cho Giáo hội nhiều quà tặng. Các kỷ
vật của họ thường kèm theo các dòng chữ khắc: "Damida Upasaka",
"Damada Gahapathi", nghĩa là "của Ưu bà tắc người Tamil...".
Ðạo Phật du nhập đến đâu cũng trở thành một nhân tố
đoàn kết mạnh mẽ ở đấy.
Về
5 vị vua Hy Lạp có ghi tên trên bia đá của Asoka
Tên
của 5 vị vua Hy Lạp ghi trên Dụ đá thứ 13 là:
1.
Antiochos Theos ở Xi-ri (Syria).
2.
Ptolemy Philadelphos ở Ai Cập
3.
Atigonos Gonatas ở Ma xê đoan (Macedonia).
4.
Magas ở Cyrène.
5.
Alexandre ở Epire.
Antiochos
Theos là cháu của Seleuceus, biệt hiệu Nikator, nghĩa là người
chiến thắng, vì Seleuceus đánh thắng nhiều trận và lập
ra vương quốc Xi-ri (Syria). Là bộ tướng của Alexandre đại
đế, Seleuceus đã nổi bật lên trong chiến dịch xâm lăng
Ấn Ðộ. Sau khi Alexandre đại đế qua đời, Seleuceus một
lần nữa vượt sông Indus, đánh quân đội của Chandragupta,
là ông nội của Asoka. Nhưng Seleuceus thua trận, phải ký hòa
ước với Chandragupta, gả con gái cho Chandragupta và nhường
cho ông này các tỉnh Aria, Arachosia, Paropanisadai và Credosia.
Nhưng
Seleuceus vẫn còn trị vì trên một vương quốc rộng lớn,
tàn dư của đế quốc của Alexandre đại đế. Tương truyền,
ông ta đã xây dựng 75 thành phố tại vương quốc của ông.
Kế vị Seleuceus là con trai ông, Antiochos Soter mà vương quốc
kéo dài từ bờ biển Bosphore và bờ Tây của Tiểu Á đến
Indus và từ Xi-ri đến các dãy núi Jaxartes và Pamir. Antiochos
Soter mất năm 261 trước TL, để lại ngôi cho con là Antiochos
II, được người Milesians suy tôn là Theos vì ông đã có công
giải phóng họ khỏi nạn áp bức của Timarchus, một bạo
chúa. Vị vua Hy Lạp được ghi tên trong Dụ đá thứ 13 của
Asoka chính là Antiochos này. Triều đại Antiochos không được
yên, vì phải chiến tranh liên tục với người Hy Lạp, và
ông ta cũng bị mất nhiều đất đai. Nhưng Asoka, vị hoàng
đế hùng mạnh nhất thời bấy giờ, đã giúp đỡ ông, và
cho xây dựng nhiều nhà thương cho người và súc vật tại
vương quốc của ông.
Những
phát hiện khảo cổ học gần đây cho biết các đoàn truyền
giáo của Asoka đã đến tận Ai Cập, Iran và Palestine (theo
Robert Blatchford trong "God and my Neighbour"). Sự kiện này nói
rõ "nguồn gốc Phật giáo" của đạo Gia Tô. Như Blatchford
viết: "Con đường truyền bá của đạo Phật đã được theo
dõi từng bước một từ Ấn Ðộ đến Jerusalem". Kinh sách
Phật được tìm thấy nhiều trên đất đai thuộc đế quốc
Parthian (Ba Tư cũ), một đế quốc lớn nằm giữa Ấn Ðộ
và Palestine. Bactria và Ðông bộ của đế quốc Parthian đầy
dẫy chùa chiền Phật giáo và người ta tìm thấy các đồng
tiền đúc, mang hình ảnh Phật với chữ khắc Hy Lạp.
Tên
vua Ptolemy trên Dụ dá của Asoka là Ptolemy Philadelphos, con của
Ptolemy Soter và hoàng hậu Berenice. Ptolemy Philadelphos lên ngôi
năm 285 trước TL. Ông đã tham chiến liên miên với Antiochos
II. Chiến tranh chỉ chấm dứt vào cuối triều đại ông bằng
một hiệp ước hòa bình. Ông gả con gái cho Antiochos Thera.
Euclid, nhà toán học nổi danh đã sống dưới thời vua Ptolem
này. Vương quốc của Ptolemy gồm có ngoài Ai Cập ra, một
bộ phận của Ethiopia, Libya và Arabia, còn có một số các
tỉnh ở Xi-ri, cùng với một số các đảo như Cyrus, Lycia,
Caria và Cyclades.
Lịch
sử cho biết chính các đoàn truyền giáo của Asoka đã đem
lại cho Ai Cập và Châu Âu mô hình lý tưởng của cuộc sống
khổ hạnh. V M.Flinders viết trong cuốn "Tôn giáo của Ai Cập
cổ đại":
"Lịch
sử chứng minh rằng, Ai Cập và Châu Âu đã học được ở
các đoàn truyền giáo của Asoka lý tưởng của đời sống
khổ hạnh....
Nếp
sống khổ hạnh của những người ẩn sĩ được thiết lập
dưới thời vua Ptolemy và các tu sĩ ở đây chứng minh có một
lý tưởng sống mà lúc bấy giờ phương Tây chưa từng biết
tới".
E.B.Hawell
trong cuốn "Lịch sử của nền thống trị Aryan" đã viết:
"Có thừa lý lẽ để chứng minh rằng các đoàn truyền giáo
của Asoka đã chuẩn bị môi trường từ đó nảy sinh ra Gia
Tô giáo và Hồi giáo sau này".
Giáo
sư T.W.Rhys Dvids nói thêm: "Không phải quá lời khi nói rằng
toàn bộ những lời dạy đạo đức trong Phúc âm, nếu không
kể các đoạn có tính chất giáo điều, đều đã tồn tại
trong kinh sách Phật, xưa hơn sách Phúc âm hàng nhiều thế
kỷ. Thí dụ những chủ thuyết đạo đức tổng hợp lại
trong bài "Thuyết giảng trên núi", tất cả những gì không
dính dáng tới tín điều thần quyền, đều đã có trong ba
tạng kinh điển của Phật giáo cả rồi".
Vượt
qua Ai Cập, các sứ giả của Asoka lập các nhà thương cho
người và súc vật cũng như các công trình công lợi khác
tại xứ Cyrenaique, do vua Magas trị vì, vua này là "anh em cột
chèo" với Ptolemy Philadelphos. Ptolemy cưới con gái của Antiochos
Theos, và có con gái cũng đặt tên là Berenice.
Hai
vị vua Hy Lạp còn lại, được ghi tên trên Dụ đá số 13
là Antigonos Gonatas và Alexandre II. Gonatas là cháu nội của một
trong các vị tướng của Alexandre đại đế. Ông trị vì ở
xứ Ma-xê-đoan (Macedonia), nguyên trước đây là vương quốc
của Phi-líp, cha đẻ ra Alexandre đại đế. Các sứ giả của
Asoka cũng dựng ra ở đây những nhà thương cho người và
súc vật.
Alexandre
II là vua xứ Epire. Con trai của Pyrrhus và Lanassa, ông ta lên
ngôi năm 272 trước TL, ông chiến tranh với Antigonos Gonatas
và đánh đuổi Gonatas ra khỏi Ma-xê-đoan. Xứ Epire cũ hiện
nay là miền Nam của Albania. Epire từ Hy Lạp nghĩa là "Lục
địa", lúc bấy giờ chỉ cho toàn bộ bờ biển phía Tây,
phía Bắc của vịnh Corinthe. Theo Aristotle, Epire là xứ sở
đầu tiên của dân Hellènes tức người Hy Lạp. Homere dùng
địa danh Epire để chỉ toàn bộ bờ biển phía Tây của Hy
Lạp. Epire phía Bắc giáp Illyria và Ma-xê-đoan, phía Ðông giáp
Thessalia, phía Nam giáp vịnh Ambracian, phía Tây giáp biển Ionian.
Các tù trưởng bộ tộc Molossians, cuối cùng thống trị toàn
xứ Epire, tự xưng là con cháu của Achille, đã đánh chiếm
thành Troy và truyền ngôi vua cho Molossus, là người con trưởng
trong số ba người con của Achille, vợ là Andromaque, một nữ
nhân vật nổi tiếng đức hạnh trong bản anh hùng ca Illiad.
Lý
tưởng của Asoka đã thúc đẩy Asoka làm nên sự nghiệp vĩ
đại nhất là "lo lắng cho hạnh phúc vật chất và tâm linh
của toàn thế giới, bao gồm không những người mà cả súc
vật và nhũng loài vật khác, không những trong vương quốc
mình, mà cả trong toàn thế giới, mà ông được biết hay
là có quan hệ".
Đại
đế Asoka và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp
Thích
Quảng Đại biên soạn
Cuộc
đời của Đại đế Asoka chiếm một vị trí vô cùng quan
trọng trong công cuộc hoằng dương Phật pháp, thế nhưng tiểu
sử, sự nghiệp cũng như hoàn cảnh xuất thế của ông từ
xưa chưa được xác minh và công bố rộng rãi. Người viết
bài này xin thu thập một số tư liệu để giới thiệu đôi
nét về vị Hoàng đế lỗi lạc này, hầu giúp độc giả
có được một cái nhìn xác đáng hơn về vai trò, vị trí
của Asoka trong lịch sử phát triển Phật giáo.
I.
Tiểu sử của Đại đế Asoka trước và sau khi tức vị:
Trước
đây, khi các nhà khảo cổ chưa khai quật được những thánh
tích và bia ký thì các nguồn sử liệu thường viết bị lệch
về dòng dõi, năm sinh của Đức Phật cũng như của Asoka.
Vì thế không xác nhận được rõ ràng về con người và thân
thế của Đại đế cũng như sự nghiệp vĩ đại của người.
Về sau, cách đây không lâu thì sự việc được sáng tỏ,
bởi đã phát hiện, khai quật được những Thánh tích, bia
ký do tự tay Đại đế Asoka khắc lên trên đá và bị vùi
sâu vào lòng đất. Lấy những bút ký đó đem so sánh vào
kinh luận thì có một số đồng nhưng cũng không tránh được
chỗ dị biệt mà ranh giới không quá xa. Âu đó cũng chỉ
là một trong những vấn đề quan trọng mà chúng ta tìm hiểu
sau đây:
1.
Thân thế:
Về
niên đại xuất thế của Đại đế Asoka có nhiều nguồn
sử liệu ghi chép khác nhau, nhưng đại khái là nằm trong khoảng
thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Căn cứ vào pháp sắc trên
bia đá lớn đã ghi rằng: "Các vua của năm vương quốc Hy
Lạp tại vị cùng đồng một số năm là 261 BC hoặc trong
khoảng 272 - 258 BC". Do đó quán đảnh lên ngôi trong khoảng
270 BC. Như vậy năm sanh cách đó không bao xa. Theo các tài liệu
như: Tiểu sử Asoka, Asokava - dàna, Dviyavadanà hoặc Vamsathakàsinì
thì cho rằng: Ông nội của Asoka là Chandragupta (Chiên-đà-la
Cấp-đa), vị vua khai sáng vương triều Khổng Tước. Thân
phụ người là Bindusara (Tân-đầu Sa-ra). Thân mẫu là bà Àsokàvadàna
(A-dục Vi-đạt-na).
Triều
đại Khổng Tước trị vì được ba đời, nhưng hưng thịnh
và nổi bậc nhất là đến đời Asoka. Nhà vua lúc còn nhỏ
tính tình rất cuồng bạo, tướng tá lại không khôi ngô nên
không được vua cha yêu mến. Vả lại ngài là con thứ, là
1 trong 101 người con, thì làm sao được chiều chuộng như
những hoàng tử khác? Thế nhưng Asoka có tài xuất chúng, thông
minh và mưu mô hơn những hoàng tử kia.
2.
Hoàn cảnh đất nước trước khi tức vị:
Vào
đời ông nội của Asoka là Chandragupta đã nhiều lần đem
quân dẹp những trận quấy nhiễu của Đại đế Alexander
I và II ở nước Hy Lạp nằm về phía Tây Ấn. Đến đời
thân phụ của người là Bindusara khéo léo trị vì, hòa hiệp
thỏa thuận với vương quốc Hy Lạp, tạo thành nền văn minh
phồn thịnh cho Ấn Độ đương thời. Thế nhưng, ở giữa
vùng Bắc và Trung Ấn thường có những trận nhiễu loạn,
vua Bindusara phải tuyển chọn những người thông minh tài giỏi
trong hàng vương tử phong làm Thái thú để đi nhiếp loạn.
Đồng thời, vùng Tây Ấn là một nơi có địa thế rất hiểm
trở và quan trọng. Ở đấy có thành Ujjayant (Ô-xà-diễn-ni),
các nước phương Tây hay dòm ngó đến, bởi nơi đây có một
nền kinh tế tập trung, rất phong phú. Để chọn người ra
đó coi sóc, Asoka được bổ nhiệm làm Thái thú ở Bắc Ấn
và các vương tử đã phân bố bộ hạ cai trị thành Ujjayant.
Việc đi dẹp loạn của Asoka do Bindusara sai đi nhằm mục đích
là muốn để cho Asoka bị chết trong chiến trận. Thế nhưng
Asoka đã bình định được quân phản loạn, quyền uy và tiếng
tăm vang lừng.
Sau
đó vài năm, Asoka được tin cấp báo là phụ vương bị bệnh
nặng nên lập tức trở về Hoa Thị thành. Sau khi vua cha băng
hà, người kế vị là con trai trưởng Susima vào năm 272 BC.
Susima vì vụng về nhiếp chính nên khiến cho dân chúng nhiễu
loạn ở Takkasìla, ở trong triều lại tranh nhau ngôi vị và
kéo dài suốt bốn năm trường. Cuối cùng Asoka được thắng
lợi. Đồng thời được sự giúp đỡ của Tể tướng Ràdhagypta
cùng các nhân vật cao cấp trong triều đình, tất cả đã
đồng tình suy cử Asoka lên ngôi. Lúc ấy vào năm 268 BC, sau
Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn 218 năm.
Lại
có chỗ cho rằng Asoka trước khi lên ngôi đã giết tất cả
99 người anh em, và tính tình rất cuồng bạo. Khi lên ngôi
xong, vẫn còn giết những vị đại thần và phụ nữ, xây
dựng lao ngục, tàn hại nhân dân vô tội. Vì thế ông bị
nhân dân mỉa mai đặt tên là Candasoka (A-dục bạo ác). Nhưng
"Theo chương 4-5-6 của pháp sắc khắc trên vách đá lớn, chương
7 trong pháp sắc khắc trên trụ đá và trong pháp sắc của
Hoàng hậu đều chép rằng: Thời gian vua Asoka trị vì còn
có anh em, chị em. Cho nên những truyền thuyết trên có thể
do đời sau nói quá". (Dẫn theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang,
quyển I, tr. 23).
3.
Asoka sau khi lên ngôi và gặp Phật pháp:
a/.
Sau khi lên ngôi: Asoka lên ngôi trong vòng 9 năm, vì mục đích
thống nhất toàn cõi Ấn Độ nên đem quân chinh phạt các
nước lân cận như Kalinga thuộc nam Ấn Độ (nước này là
một cường quốc, rất mạnh về kinh tế và quân sự) và
các nước khác như Peshàwar, Pùri, Ganja, Thàna, Bhopal, Hyderabàd,
Mysore, Bihàr, Afghanistan, Népal … Asoka đã chinh phục toàn bộ
cõi Ấn. Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, với sự đẫm
máu này, Đại đế thấy ghê tởm chiến tranh. Nhà vua thấy
cảnh chiến tranh như thế lấy làm buồn thảm và hối hận
về thảm họa đó. Biết bao nhiêu người dân vô tội bị
giết hại, cô nhi quả phụ phải bị tai ương. Vì thế Asoka
quyết định bỏ vũ lực, không động đến binh đao nữa.
Cuộc
chiến tranh kết thúc. Asoka đã thống nhất thiên hạ cõi Ấn
và một nửa nước Đại Hạ, phía Nam Án-đạt-la, phía Đông
đến bờ bi?n, dọc ngang mỗi chiều vài ngàn dặm, và lấy
Hoa Thị thành làm thủ đô.
Bởi
do hối hận cuộc chiến tranh đẫm máu, Asoka muốn được
sám hối và ăn năn những tội lỗi đã gây ra. Vì thế nhà
vua quyết định trở về quy y Phật đạo và trở thành một
Phật tử. Do tâm thành sám hối những tội lỗi đã gây ra
cũng như sự học hỏi Phật pháp được mở rộng, lòng tin
Tam bảo ngày càng tăng trưởng, nên nhà vua rất nhiệt tình
ủng hộ Phật pháp. Vào năm thứ 12 (sau khi tức vị) và trở
về sau, Asoka ban bố nhiều sắc lệnh chấn hưng Phật giáo.
Vua đã tự mình giữ gìn trai giới, bỏ sự săn bắn và ăn
chơi xa xỉ, mà còn hạ lệnh cấm sát sanh, bảo hộ các sinh
vật, tiết kiệm không phung phí, bỏ bớt xa hoa, thỉnh Tăng
cúng dường, thuyết pháp và tu tập. Nhà vua tại vị được
41 năm, thọ 70 tuổi. Những sự nghiệp của Asoka đối với
quốc gia Ấn Độ rất to lớn, nhưng đối với đạo Phật
càng to lớn hơn, điều này được trình bày rõ về sau.
b/.
Về năm tháng Asoka quy y Phật: Có nhiều thuyết nói khác nhau.
Nhưng căn cứ vào chương 8 của pháp sắc được khắc trên
đá lớn có ghi: "Quán đảnh lên ngôi hơn 10 năm thì đến
với Tam Bồ-đề", nên biết vua trở thành Ưu-bà-tắc vào
khoảng năm thứ 7 sau khi lên ngôi. Vì trong vòng ba năm đầu
tuy đã quy y Tam bảo nhưng vua chưa dốc lòng tin Phật, sau đó
mới thân cận chư tăng và trở thành người Phật tử nhiệt
thành.
Từ
khi trở về quy y Tam bảo, nhà vua đem tất cả khả năng của
mình để phụng sự xã hội hầu chuộc lại tội lỗi ngày
xưa. Vì thế Asoka đã thi hành chính sách cai trị thích hợp
với quần chúng, bằng cách lồng giáo lý Đức Phật vào quốc
chính, dốc hết tâm lực vào việc giáo dục xã hội, ban bố
những điều lệ, những sắc lệnh rất phù hợp với nhân
dân, giảm bớt những khắt khe cho nhân dân, lấy lòng dân
làm lòng mình, dụng tinh thần bác ái ưa chuộng chân lý để
đem lại sự bình an hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời tôn
trọng tự do tín ngưỡng, khéo léo hòa giải những sự xung
đột của các giáo phái tôn giáo khác nhau, cấm những nghi
lễ giả dối, cung cấp vật dụng cho dân nghèo. Asoka quả
là một ông vua nhân từ, ít có trong lịch sử Ấn Độ. Ông
là một vị vua có công rất lớn đối với nền hòa bình
Ấn Độ thời bấy giờ.
II.
Sự nghiệp Asoka đối với Phật giáo:
Ngoài
những công cuộc cai trị đất nước, nhà vua còn tự mình
xin thọ giới Ưu-bà-tắc, nghe pháp, lễ Phật, tu tập. Đặc
biệt là đối với nền tảng chấn hưng Phật giáo, vua có
những sự nghiệp lớn lao như sau:
1.
Ban bố những sắc lệnh quan trọng:
Trong
sự nghiệp chấn hưng Phật giáo, từ năm thứ 12 cho đến
năm thứ 39, gần 28 năm nhà vua thường ban bố những sắc
lệnh rất quan trọng để chấn hưng Phật giáo. Những sắc
lệnh được khắc trên các bia đá, hang núi và các trụ đá
rải rác nhiều nơi trên cõi Ấn Độ được phát kiến bởi
các nhà khảo cổ gần đây. Những sắc lệnh này là những
mốc lịch sử quý báu cho các Sử gia cũng như sự tồn tại
của Phật giáo ngày hôm nay, đồng thời để biết được
Phật giáo thời bấy giờ ảnh hưởng đến giới vua chúa,
thế lực trong xã hội như thế nào; điển hình là các trụ
đá ở vườn Lâm-tỳ-ni (Lumpinivattu) và các bia ký, vách núi
khác.
Những
lời lẽ pháp sắc được khắc trên trụ đá, những bản
văn khắc trên bia ký cũng như vách núi phần nhiều ăn khớp
với những dữ kiện ghi trong Đại sử và Đảo sử của Tích
Lan. Niên đại của những bản khắc văn này vào khoảng năm
250 BC. Văn tự này là một thứ tiếng địa phương, gần với
tiếng Pàli và Sankrit. Hiện nay phát hiện có năm loại vách
đá lớn, bảy loại vách đá nhỏ, mười trụ đá, bài minh
khắc trong hang đá và bảng đá … Theo Từ Điển Phật Học
Huệ Quang, trong mười trụ đá được phát hiện có sáu trụ
cao từ 10 - 13m, kích cỡ không đồng nhau, trên mặt trụ có
khắc những pháp sắc của Asoka. Nội dung nói về việc tôn
trọng Phật pháp, khuyên làm việc lành, đoạn trừ các điều
ác, cấm sát sanh và làm những việc phước lợi nhân từ
bình đẳng … Đặc biệt, trên trụ đá có khắc sự tích
của Asoka … Còn bốn trụ đá kia chiều cao khoảng 7, 5m, ghi
lên những việc đích thân vua Asoka đảnh lễ các Phật tích
và các pháp sắc khác, như cấm phá hòa hiệp Tăng … Ngoài
những trụ đá còn có rất nhiều pháp sắc được khắc trên
vách đá lớn, nhỏ khác nhau và trải rộng khắp Ấn Độ.
Trên những bài minh có ghi tên của Asoka cũng như "Thiên Ái
Thiện Kiến" - niên đại của Asoka. Trong đó đa số những
pháp sắc trên đá nhỏ thì lấy tên Asoka, còn các loại pháp
sắc khác đều lấy tên niên hiệu là Thiên Ái Thiện Kiến.
Nói
chung, nội dung được khắc lên đá là những lời đúng với
lời dạy của Đức Phật cũng như lịch sử của Ngài, đồng
thời trong đó cũng có khắc lên ý nghĩa phục vụ mục tiêu
chính trị dựa trên nền tảng giáo lý Phật-đà để cai trị
nhân dân. Thực hiện chính sách khoan dung độ lượng với
nhân dân trên tinh thần Phật giáo.
2.
Truyền bá đạo Phật:
Asoka
năm thứ 13 - 14, nhà vua đã phái các nhà truyền đạo, các
bậc chánh pháp đại quan đi truyền bá giáo pháp khắp toàn
cõi Ấn và ra nước ngoài như Hy Lạp, Ai Cập, Siria, các nước
châu Phi và Viễn đông, các địa phương phương Đông, bờ
biển Địa Trung Hải, các nước phương Bắc, Nam. Đặc biệt
là Asoka cho con trai của mình là Mahinda xuất gia và truyền
đạo tại Tích Lan. Có thuyết viết, sau khi kết tập kinh điển
lần thứ ba xong, Mahinda đem cả Tam tạng Thánh điển Pàli
qua Tích Lan truyền giáo, và Mahinda là người dày công xây
dựng nền móng cho Thượng tọa bộ Nam phương Phật giáo.
3.
Từ thiện xã hội:
Công
việc từ thiện là một công việc được nhà vua rất chú
trọng đến. Asoka đã ban hành những sắc lệnh như: Trồng
các loại cây thảo dược để trị bệnh cho nhân dân, đào
giếng nước để cung cấp nguồn nước cho mọi người sinh
hoạt, bố thí các vật dụng cho những người nghèo đói.
Đặc biệt, nhà vua đã ra sắc lệnh tổ chức các "Thí liệu
viện" nhằm cung ứng cho việc trị bệnh và có nơi chốn cho
những kẻ già yếu, hoạn nạn, tật nguyền. Ngoài ra còn ban
hành sắc lệnh cho quan và dân mở hội "Thí vô già". Hàng
năm thường cúng dường các bậc Phạm hạnh, đồng thời
đem giáo lý Phật-đà dạy dỗ cho dân chúng, phổ cập trong
xã hội bằng những hình thức như thực hành năm giới tại
gia, sống tri túc, hòa giải và an lạc. Điều đáng chú trọng
là đích thân nhà vua trai giới, khuyên mọi người không nên
sát sanh, dạy mọi người biết sống theo nếp sống văn hóa,
tôn trọng lẫn nhau, kính trọng những người già cả, cha
mẹ anh em, thương yêu kẻ tàn tật, tôi tớ, và khuyến khích
làm việc thiện.
Qua
đó cho chúng ta thấy rằng, con người Asoka là một con người
thấm nhuần chánh pháp, và là một vị vua có tâm Bồ-tát
vì lợi ích cho muôn dân, tấm lòng khoan dung không chút hẹp
hòi. Có như vậy mới thật là xứng đáng với địa vị của
một ông vua Phật tử. Công lao gầy dựng nền hòa bình an
lạc của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ thật là lớn lao
mà lịch sử không thể lãng quên được.
4.
Asoka chiêm bái Phật tích:
Ngoài
những công việc chính trị cũng như Phật sự ra, Asoka còn
dành thời gian để chiêm bái các Thánh địa - Phật tích.
Người đã thỉnh các bậc Cao tăng Thạc đức thuyết pháp
nhằm đáp ứng sở hành tu tập cho mọi người. Đặc biệt
Asoka đến chiêm bái Tứ Động Tâm - nơi di tích của bậc
Đại giác đã để lại, đến đâu vua ra lệnh khắc bia đá
để làm dấu ấn đến đó. Nhờ những dấu tích bia ký truyền
lại cho đến ngày nay mà Phật giáo nói chung và Phật giáo
Ấn Độ nói riêng có nơi y cứ một cách chính xác và thuận
tiện cho việc lưu truyền, tạo niềm tin vào chánh pháp được
rộng rãi và dễ dàng hơn. Tại Bồ-đề đạo tràng, Asoka
cho dựng những trụ đá lớn, trên đầu trụ còn có khắc
chạm hình sư tử. Nghệ thuật điêu khắc trên những đầu
trụ đá rất tinh xảo, cho đến ngày hôm nay giới điêu khắc
cũng phải kính phục.
Hơn
nữa, Đại đế Asoka còn cho xây dựng nhiều tự viện, bảo
tháp để tôn thờ xá-lợi của Phật. Theo Kinh A-dục Vương
quyển 1 nói: "Vua nhờ Tỳ-kheo Hải mà biết việc Phật huyền
ký, bèn đến thành Vương Xá lấy bốn thăng xá-lợi do vua
A-xà-thế chôn. Lại lấy hết xá-lợi chôn ở sáu chỗ khác
(sáu chỗ này có lẽ là nằm quanh vùng thuộc thành Vương
Xá hay thuộc các thành khác chưa được rõ), rồi làm 84.000
cái hộp báu, mỗi hộp bỏ một viên xá-lợi. Lại làm 84.000
chiếc bình báu, 84.000 cái lọng báu, 84.000 xấp lụa và xây
84.000 ngôi tháp để tôn thờ". Việc này chúng ta có thể xác
nhận rằng đây là việc làm có thật; bởi vì Asoka là một
vị Hoàng đế đem hết tâm lực để vào việc hoằng truyền
Phật pháp. Công lao của Asoka đóng góp vào nền văn hóa Ấn
Độ, đặc biệt là đối với nền văn hóa Phật giáo là
vô cùng lớn lao. Thế nhưng cho đến ngày hôm nay, những ngôi
tháp này trải qua thời gian dài bị mai một, hầu như không
còn nữa. Vả lại, trong giai đoạn Phật giáo đang diễn ra
sự phân chia bộ phái, Asoka đã làm chấm dứt được sự
phân hóa trong nội bộ Phật giáo, đồng thời ông được
giới Phật giáo ghi nhớ nh?t là việc kết tập kinh điển
lần thứ ba mà sau đây chúng ta tìm hiểu đến.
5.
Kết tập kinh điển lần thứ ba:
Trong
lúc Phật giáo bắt đầu có sự phân hóa để đáp ứng việc
phát triển nên không tránh khỏi những bất đồng trong nội
bộ về một số kinh luận. Đại đế Asoka đã góp công chỉnh
đốn lại một phần nào. Tương truyền Asoka đã làm chấm
dứt tình trạng phân hóa của 60.000 tăng sĩ tại chùa Asoka
đã kéo dài 7 năm. Trước tiên, nhà vua ra lệnh chư tăng tại
chùa làm lễ Bố tát chung. Asoka đã cử các đại thần trong
triều đ?n tại chùa để đốc thúc việc thi hành vương lệnh.
Thế nhưng các vị Thượng tọa trưởng lão ở đây không
chịu hành lễ chung cùng với đại chúng vì cho đó là tà
giáo ngoại đạo. Điều này cho ta thấy, đây là nền tảng
phân phái chia rẽ thành Bộ phái về sau.
Sau
khi có một số vị Cao tăng bị chết oan, nhà vua đích thân
đến chùa để xem xét việc này. Asoka đã hỏi chư tăng do
đâu mà có sự cố này, và tội lỗi này có phải do nhà vua
gây ra không? Trước ý kiến bất đồng của chư tăng không
thể phân định được, Asoka sai sứ triệu thỉnh ngài Moggaliputtatisa
(Mục-liên-đế-tu tôn giả), bấy giờ đang ẩn tu tại núi
Ahoganga. Ngài từ chối, nhưng do sự khẩn thiết thưa thỉnh
đến lần thứ ba nên Ngài đã nhận lời. Ngài hạ sơn, xuôi
theo dòng sông Hằng đến thành Hoa Thị. Qua những nghi vấn
của Asoka, ngài Moggaliputta đã trả lời: "Không có tội lỗi
nếu không có ác tâm trong khi hành động". Nhờ đây mà Asoka
gột sạch được những nghi ngờ cũng như hối hận. Nhân
đó nhà vua ra lệnh mở đại hội kết tập kinh điển tại
Hoa Thị thành kéo dài suốt 9 tháng.
Đại
hội kết tập được sự chủ tọa của ngài Moggaliputta, Asoka
ngồi sau một bức rèm chắn để nghe chư tăng trình bày về
các điểm sai khác trong giáo pháp. Đồng thời nêu lên 62 kiến
chấp của ngoại đạo mà Đức Phật đã nêu và lên án trong
Kinh Phạm Võng. Nhà vua nghe xong, phân biệt được đâu là
chánh, đâu là tà, là chơn, là ngụy. Từ đó Asoka ra lệnh
trục xuất một số Tăng sĩ vốn là ngoại đạo đội lốt
để phá hoại ra khỏi giáo đoàn, buộc họ trở về đời
sống cư sĩ. Lệnh này được khắc vào văn ở Kiều-thưởng-di
vào năm 26 và 27 niên hiệu Asoka trị vì.
Sau
khi thanh lọc xong, nhà vua cầu thỉnh ngài Moggaliputta chọn
lấy 1000 vị thông hiểu Tam tạng thánh điển để kết tập
lại kinh điển. Có lẽ tạng Luận được ghi đầu tiên là
vào dịp này, và cũng có thể do Moggaliputta là tác giả bộ
luận có tên "Sách Luận" hay "Thuyết Sự" nhằm bài xích các
tà thuyết.
Đại
hội kết tập kinh điển này lấy tên là "Hoa Thị thành kết
tập" và được ghi chép vào khoảng cách 236 năm sau Phật Niết-bàn,
tức là năm 250 trước Công nguyên, nhằm vào năm thứ 18 niên
hiệu Thiên Ái Thiện Kiến. Đại hội kết tập lại năm bộ
Nikàya và một số kinh luận khác.
III.
Nhận định:
1.
Asoka, cương vị một người lãnh đạo đối với đất nước:
Ngài
Huyền Trang đã nhận xét sau khi tham cứu các sử liệu đáng
tin cậy, Ngài viết: "Chính cảnh đau thương, tàn hại của
cuộc chiến Kalinga đã đánh thức Đại đế Asoka ra khỏi
giấc mơ quyền lực, quay về với chánh pháp. Đấy là giọt
nước mắt cuối cùng tràn đầy ly nước tỉnh giác". Đúng
thế, sau khi lên làm vua, Asoka quay về đường chánh, quy y Tam
bảo, nên đã áp dụng triệt để giáo lý Phật-đà vào việc
cai trị đất nước. Ông đã lấy lòng nhân từ làm chính
yếu và việc thưởng phạt được phân minh, khuyến khích
giúp đỡ dân chúng, dùng chánh nghĩa để loại bỏ ác nghiệp.
Việc đối đãi vua tôi và thần dân không phân biệt giai cấp
hay chủng tộc, tín ngưỡng. Asoka đã gầy dựng cho xã hội
Ấn Độ một nền tảng hòa bình, hạnh phúc, ấm no. Công
lao ấy thật là lớn lao mà lịch sử đã khẳng định.
2.
Trách nhiệm của một Phật tử đối với đạo pháp:
Như
trên đã trình bày, sau khi quay về với chánh pháp, quy y Tam
bảo, thọ trì Ưu-bà-tắc giới, tu tập giới định tuệ,
nhà vua đồng thời là một Phật tử rất nhiệt thành, dốc
hết tâm lực để hoằng dương chánh pháp, đó là công việc
lớn lao nhất mà Đại đế đã nhận lãnh và hoàn thành trách
nhiệm một cách tốt đẹp (điều này đã được chứng minh
qua việc khắc ghi những pháp sắc trên những trụ đá, hang
đá, bia ký … làm mốc lịch sử cho Phật giáo), đồng thời
kết tập kinh điển, truyền bá giáo pháp phổ cập nhân gian.
Đặc biệt là phái người ra nước ngoài để truyền bá Phật
pháp, làm cho ngôi nhà Phật pháp được lan rộng ra cho đến
ngày hôm nay mang tính toàn cầu. Sáng kiến truyền bá Phật
pháp này rất quả cảm và trí tuệ.
3.
Những thành tựu của Asoka:
Asoka
đã xây dựng một đất nước được thành công trên mọi
lãnh vực như chính trị, xã hội, giáo dục, văn hóa. Ông
đã kiến tạo một xã hội yên bình an lạc và đem lại lợi
ích rất thiết thực cho nhân dân như chiến dịch trồng cây,
cung cấp nước sạch, xây dựng và bảo vệ môi sinh, sự sống
của hữu tình. Điều này trên bia ký của Đại đế vẫn
còn nghe rất thân thiết đối với thời đại cũng như nền
văn minh hiện tại. Chủ trương tôn trọng tín ngưỡng dân
gian, khoan dung, bất bạo động vẫn mãi mãi là những nét
đẹp của văn hóa loài người.
Thành
công xuất sắc nhất là việc truyền bá mạng mạch Phật
pháp bằng những dòng bia ký, kết tập kinh điển … Đại
đế đã cho xây dựng Phật tích, dựng những trụ đá khắc
ghi dấu ấn của sự hiện diện ngôi Tam bảo tại thế gian,
làm an lạc hạnh phúc cho cuộc đời. Hình thức tín ngưỡng
Phật pháp từ đây được phát triển. Tam tạng thánh điển
còn được giữ lại tại Tích Lan cho đến ngày hôm nay. Đây
là nguồn văn hóa lớn lao của nhân loại đã một thời làm
hưng thịnh tại xứ Ấn, chủ trương giới thiệu chánh pháp,
chánh trí, chánh hạnh và thống nhất các dị biệt giữa 18
bộ phái Phật giáo vì an lạc hạnh phúc cho đời.
Đại
đế Asoka đã từ giã cõi Ấn suốt cả 23 thế kỷ trôi qua
mà cuộc đời và sự nghiệp vẫn còn sáng mãi ở trần gian.
Đó là thành quả lớn nhất của Asoka đã đóng góp cho đời
lẫn đạo mà trang sử không bao giờ lãng quên được. Đúng
như lời người xưa đã tán thán:
"Mỗi
bước chân là một bản đạo ca hùng tráng,
Mỗi
bước chân là một trang sử oai hùng,
Mỗi
bước chân làm chấn động khắp non sông,
Mỗi
bước chân làm lợi ích muôn loài trên hoàn vũ".
Tài
liệu tham khảo:
-
Từ Điển Phật Học Huệ Quang.
-
Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ (HT. Thanh Kiểm).
-
Sử Phật giáo Ấn Độ (tài liệu dạy các trường CBPH Đồng
Nai - Đại Tòng Lâm do Giáo thọ Thích Giải Quảng biên soạn).
-
Một số tài liệu khác.
Đại
đế Asoka Maurya
và
những pháp dụ khắc trên đá
Trần
Trúc-Lâm
PHẦN
I: DẪN NHẬP
Để
hiểu rõ thêm về vai trò lịch sử trọng đại của Hoàng
Đế Asoka không những đối với dân-tộc Ấn, mà còn đối
với nhân loại qua sự truyền bá Phật giáo đến các nước
khác, ta nên ôn lại đôi chút về bối cảnh lịch sử Ấn
độ đương thời.
Lịch
sử Ấn Độ tồn tại rất lâu đời, đến cả 5 ngàn năm.
Một cách khái quát, nếu tính từ thời văn minh thung lũng
sông Indus cổ đại ở vùng tây bắc tiểu lục địa Ấn,
dựa vào những phát hiện khảo cổ ở Harappa và Mohenjo-Daro
thì nó đã xuất hiện khoảng 2, 500 năm TTL Nền văn minh này
kéo dài hơn một ngàn năm, đã được xem như là một trong
những nền văn minh cổ nhất của nhân loại, cùng với nền
văn minh Ai-cập và Mesopotamia (ở Iraq ngày nay). Nhiều sử gia
cho là giống dân Dravidian bản địa, vóc thấp, da sậm, mũi
rộng, tóc xoắn, đã dựng lên nền văn minh đó với lễ nghi
tôn giáo phát triển, thiết kế và kiến trúc đô thị ban
sơ có kế hoạch, biết dùng đồ đồng và thau, biết dệt
lông cừu và làm dấu mộc. tạc tượng vv...
Đến
khoảng 1,500 năm TTL, có giống Aryan, vóc lớn, da trắng, mũi
cao, nhiều râu, từ vùng Trung Á (ở mạn nam nước Nga ngày
nay) theo ngã Iran xâm chiếm vùng tây bắc (Punjab ngày nay). Họ
chuyển đổi từ lối sống du mục sang định cư nông nghiệp,
biết quí trọng súc vật, nhất là ngựa và bò cái, biết
chế tạo xe do súc vật kéo, biết làm lịch theo mặt trăng,
tôn sùng các đạo sĩ và thầy tế lễ vv, Đến khoảng năm
800 TTL họ đã chia thành nhiều tiểu vương cai trị hết vùng
đông bắc và nam Ấn. Họ đã đưa văn h?c, triết học, tôn
giáo, tổ chức xã hội Ấn đến tột đỉnh, tạo nên nền
văn minh Vedas, cốt lõi của Ấn giáo. Upanishads có lẽ được
kết tập giữa thế kỷ thứ 8 và thứ 5 TTL.
Nhưng
cũng từ đó xã hội Ấn đãbị phân chia ra nhiều đẳng cấp
khác biệt, còn kéo dài đến ngày nay; đại để có bốn giai
cấp (varnas) từ cao đến thấp là Brahmans (Bà-la-môn: gồm
thầy tế lễ, trí giả), Kshatriyas (vương tướng), Vaisyas (thương
nhân, địa chủ) và Sudras (kẽ lao động, thợ thuyền, nghệ
nhân, gia nhân). Ba đẳng cấp trên dành cho người gốc Aryan,
được xem là tinh khiết, được quyền học kinh Vedas để
được tái sinh theo nghĩa tôn giáo (born again). Đẳng cấp thứ
ba dành cho dân gốc bản địa, không tinh khiết và không được
học kinh Vedas. Phải kể thêm một hạng người nữa khốn
khổ thấp kém nhất chẳng được xếp vào giai cấp nào, gọi
là Harijans hay Paraiyans (Hạng ghê tỡm), bao gồm những kẽ
làm nghề sát sinh súc vật, thuộc da. Nên nhớ là trong mỗi
đẳng cấp còn có sự phân chia ra rất nhiều thứ loại (jati)
tạm gọi là phường hay nghiệp đoàn. Theo thống kê năm 1901
đã có đến 2,378 phường như thế.
Đến
khoảng thế kỷ thứ 6 TTL, thời đức Phật Thích Ca còn tại
thế, đã nẩy sinh nhiều trường phái đòi cải cách những
quan nịệm bất công đối xử trong xã hội bắt nguồn từ
Vedas và còn thách thức cả Ấn giáo. Hai tôn giáo mới có
tầm nhìn khoan dung và cách mạng hơn đã xuất hiện: đó là
Phật giáo và Kỳ Na giáo (Janism). Trong giai đoạn này, đất
Ấn có khoảng 16 nước lớn nhỏ; và các vương quốc hùng
mạnh đều tập trung ở vùng bắc Ấn (vùng Bihar bây giờ)
như Avanti, Vaishali (Vệ-sá-lị), Kosala (Kiều-tát-la), Magadha
(Ma-Kiệt-Đà) vv…. Sau nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tương
tàn, Magadha dưới triều vua Bambisara (Tần-Bà-Sa-La, lại có
nơi dịch là Bình-Sa-Vương) thuộc giòng họ Haryanka thâu tóm
các lân bang trở nên một đế quốc khá rộng, đóng kinh đô
ở Rajagrha (Thành Vương Xá), cách Patna ngày nay khoảng 35 dặm
về phía đông nam.
Vua
Bambisara lên ngôi lúc 15 tuổi, trở thành một cư sĩ Phật
tử lúc 30 tuổi, và nhịệt tình hổ trợ đạo Phật. Ôâng
trị vì được 52 năm, đã xây 16 tịnh xá ở Vương Xá và
cúng dường Đức Thích Ca khu vườn trúc rộng lớn để Phật
cùng tăng đoàn cư ngụmà hoằng hoá. Khu vườn này được
nhắc đến nhiều lần trong Tam tạng kinh điển, đó là Tịnh
Xá Trúc Lâm (Venuvan-arama). Nhiều tác giả nghiên cứu về Phật
giáo đều cho rằng ngôn ngữ đức Thích Ca thuyết pháp thời
bấy giờ là tiếng Magadhi phổ thông.
Đến
khoảng năm 420 TTL triều đại Haryanka lại mất vào tay của
giòng họ Nanda, nhưng họ Nanda chỉ tồn tại được trong vòng
100 năm rồi bị giòng họ Maurya lật đổ.
Đầu
thế kỷ thứ 4 TTL, sau khi đánh bại quân Persians vào năm 326
TTL, Đại đế Alexander đã mở rộng đế quốc Hy lạp từ
phía Tây đến biên cương Ấn rồi dừng lại ở vùng sông
Bès (bây giờ là Lahore, Pakistan). Sau khi Alexander qua đời ở
Babylon vào năm 323 TTL, Chandragupta Maurya lúc bấy giờ đã lật
đổ triều đại Nanda vào năm 321 TTL đẩy lui nhiều đợt
quân xâm lăng của Seleucus Nicator I, kẻ kế vị Alexander ở
vùng Afghanistan, Baluchistan và Pakistan bây giờ, rồi mở rộng
bờ cõi xuống phía tây nam đến Gujatt và thung lũng Daccan.
Vua Chandragupta Maurya (trị vì từ 321 đến 298 TTL) đã dời
đ