Ấn
Độ
1.-
Tổ Ma-Ha-Ca-Diếp (Mahakasyapa)
Đồng
thời đức Phật
Ngài
dòng Bà-la-môn (Brahmana) ở nước Ma-Kiệt-Đà, cha tên Ẩm-Trạch,
mẹ tên Hương-Chí. Thưở bé, Ngài dung nghi trang nhã, toàn
thân màu vàng, ánh sáng chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng
ngài nói:
─
Đứa bé nầy đời trước có phước đức thù thắng, lẽ
ưng xuất gia
Cha
mẹ Ngài nghe nói lo sợ,cùng nhau thầm bàn (sẽ cưới vợ
đẹp để làm nhụt chí của nó). Vừa lớn lên, cha mẹ liền
lo chọn người lập gia thất cho ngài, nhưng ngài một bề
từ chối, sau cùng bất đắc dĩ ngài phải nói:
─
Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới
ưng cưới.
Cha
mẹ ngài bèn đúc một tượng vàng, đẩy đi khắp trong nước,
tìm người nữ nào giống màu sắc ấy, cưới cho ngài. Quả
nhiên, gặp được một cô con gái giống hệt như ngài, thế
là ngài phải lập gia đình
Bởi
đời đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipasyin), sau khi Phật Niết-bàn,
chúng xây tháp thờ Xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng
Phật phết vàng. Lâu ngày pho tượng trên mặt bị lở khuyết.
Khi ấy, ngài ca-diếp là thợ đúc vàng, có cô gái nhà nghèo,
vì thấy mặt Phật hư khuyết, cô còn một đồng tiền vàng
đem đến nhờ Ngài ca-diếp nấu ra để phết lại tượng
Phật.Thấy cô phát tâm tu bổ tượng Phật, ngài rất hoan
hỷ đứng ra làm chu tất việc nầy, nhơn đó, hai người cùng
nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, mà coi như đôi tri-kỷ,
chớ không vì tình dục.
Do
phước báo đó nên 91 kiếp thân thể hai vị đều toàn một
màu vàng. Sau sanh cõi Phạm-thiên, hết phước cõi Phạm-thiên
chết, sanh về cõi nầy trong nhà Bà-là-môn giàu có hiện tại.
Tuy hiện nay hai vị làm vợ chồng, mà sống như tình tri-kỷ,
không có ý dâm dục.
Đến
sau, cả hai đều xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ bằng lòng,ngài
liền xuất gia làm Sa-môn vào núi tu hạnh Đầu-đà (Dhuta).
Một hôm,nhơn nghe trong hư không có tiếng bảo:
─
Phật đã ra đời, nên đến đó thọ giáo.
Ngài
liền tìm đến tịnh-xá Trúc-Lâm, chí thành đảnh lễ Phật.
Phật
bảo:
─
Lành thay Tỳ-kheo đến đây, hãy cạo bỏ râu tóc đi.
Ngài
liền cạo bỏ râu tóc, thọ giới Tỳ-kheo, mặc y cà-sa. Từ
đây, ngài theo Phật hiểu sâu giáo Pháp, tinh tấn tu hành không
lúc nào lơi lỏng, cho đến chứng quả A-La-Hán. Có lần ngài
từ xa đến ra mắt Phật. Các chúng Tỳ kheo ngồi vây quanh
Phật, trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều
tụy, có ý thầm khi. Phật biết, bèn bảo:
─
Ca-Diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngồi.
Ngài
vẫn không dám ngồi. Phật bảo các Tỳ-kheo:
Ta
có đại từ đại bi, các thiền-định tam-muội và vô lượng
công đức để tự trang nghiêm. Tỳ-kheo Ca-Diếp cũng như thế.
Do đó,ta nhường nửa tòa cho Ca-Diếp ngồi. Chúng Tỳ-kheo
đều dứt tâm ngạo mạn, lại thầm cung kính ngài.
Hôm
nọ, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên,
cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím
cười (niêm hoa vi tiếu ). Phật bảo :
─
Ta có chánh Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu-tâm, pháp môn mầu
nhiệm, chẳng lập văn-tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay
giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp nầy, truyền
trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-Nan. Thế-Tôn
đến trước tháp Đa-Tử gọi Ma-Ha-Ca-Diếp đến chia nửa
tòa cho ngồi, lấy y Tăng-Già-Lê quấn vào mình Ca-Diếp, rồi
nói kệ phó pháp :
Pháp
bổn pháp vô pháp
vô
pháp pháp diệc pháp
Kim
phó vô pháp thời
Pháp
pháp hà tằng pháp.
Dịch:
Pháp
gốc pháp không pháp
Pháp
không pháp cũng pháp
Nay
khi trao không pháp
Mỗi
pháp đâu từng pháp.
Ngài
già yếu, Phật nhiều lần khuyên:
─
Ca-Diếp tuổi đã già, nên ở một chổ nhận những thức
cúng dường của thí chủ, chớ đi khất thực nhọc nhằn.
Ngài
bạch Phật :
─
Con tuy già yếu, song không dám ở một chổ thọ sự cúng dường
của thí chủ. Vì sợ e sau này, các Tỳ kheo đời sau sẽ nói
:
─
Đệ tử lớn của Phật trước kia vẫn ở một chỗ thọ
sự cúng dường, rồi họ sanh phóng túng.
Lúc
Phật Niết-bàn tại thành Câu-Thi-Na trong rừng Sa-La, thì ngài
đang ở trong động Tất-Bát-La (SthaviRa) trên núi Kỳ-Xà-Quật.
Nghe tin Phật Niết-bàn, ngài và 500 đệ tử vội vã hướng
về thành Câu-Thi-Na. Đến nơi, đã đễ Phật vào kim-quan,
ngài buồn bã. Thầy trò đi nhiễu kim-quan ba vòng, rồi đảnh
lễ Phật. Khi ấy, hai bàn chân Phật duỗi ra ngoài kim-quan
để an ủi ngài. Ngài vuốt ve hai bàn chân Phật, lòng rất
bi thảm.
Sau
khi thiêu thân Phật xong,ngài tuyên bố với chúng Tỳ-kheo:
─
Xá-lợi của Phật giao cho trời, người xây tháp thờ làm
ruộng phước, còn trách nhiệm Tỳ-kheo chúng ta phải lo kết
tập kinh điển để lưu lại đời sau.
Ngài
bèn nói kệ :
Như-Lai
đệ tử
Thả
mạc Niết-bàn
Đắc
thần thông giả
Đương
phó kiết tập
Dịch:
Đệ
tử Như-Lai
Chớ
vội Niết-bàn
Người
được thần thông
Nên
đến kiết tập .
Thế
là, sau Phật Niết-bàn 7 ngày, Ngài triệu tập 500 vị đại
A-La-Hán tụ hợp tại núi Kỳ-Xà-Quật, trong động Tất-Bát-La
kiết tập.nChỉ có tôn giả A-Nan không được dự hội, vì
chưa sạch các lậu, Tôn-giả A-Nan buồn bả, suốt đêm chuyên
tâm thiền-định, đến gần sáng liền chứng ngộ, các lậu
dứt sạch được quả A-La-Hán .
Sau
đó,tôn giả được mời dự hội. Ngài thưa toàn chúng:
─
Tỳ-kheo A-Nan nhớ giỏi bậc nhất, thường theo hầu hạ Như-Lai,
nghe pháp Phật nói ghi nhớ không sót, như nước rót vào bình
không rơi ngoài một giọt, nên mời kiết-tập tạng Kinh và
tạng Luận . Mời Tỳ-kheo Ưu-Ba Ly kiết tập tạng Luật. Toàn
chúng đều hoan-hỷ chấp thuận.
Hội
kiết-tập nầy, Ngài là chủ-tịch. Sau cuộc kiết tập đã
viên mãn,nhơn duyên độ sanh đã xong xuôi, Ngài thấy tuổi
đã già yếu lắm, bèn gọi tôn giả A-Nan đến bảo:
─
Khi Như-Lai sắp vào Niết-bàn có dặn ta đem chánh pháp nhãn
tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ẩn, đúng lúc giao phó cho
ông, ông phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt.
Ngài
nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật
Di-Lặc ra đời sẽ trao lại, nên dự bị vào núi Kê-Túc nhập
định. Liền đó, Ngài đi từ giả vua A-Xà-Thế và những
người thân thuộc, rồi vào núi Kê-Túc trải tòa cỏ ngồi
an nhiên nhập định
2.-
Tổ A-Nan (Ananda)
Sanh
sau Phật 30 năm
Ngài
con vua Hộc-Phạn, dòng Sát-đế-lợi, ở thành Ca-tỳ-la-vệ,
em ruột Đề-bà-đạt-đa, em con nhà chú của Phật Thích Ca.
Thuở nhỏ, ngài có nhiều tướng tốt và thông minh tuyệt
vời. Đến 25 tuổi xin theo Phật xuất gia.
Một
hôm, Phật cần chọn người làm thị giả, tất cả hội chúng
lần lượt đứng ra xin làm thị giả, mà Phật không bằng
lòng. Sau cùng, Tôn-giả Đại-Mục-Kiền-Liên nhập định biết
tôn ý Phật muốn A-Nan làm thị giả.
Đại
chúng cử Tôn- giả Mục-Kiền-Liên, Xá-Lợi-Phất, v, v….
đến yêu cầu Ngài làm thị giả. Ngài nhiều lần từ chối,
song các Tôn-giả một bề nài nỉ buộc lòng Ngài phải xin
Phật ba điều, nếu Phật ưng cho, Ngài mới dám làm thị giả.
1/
Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài.
2/
Không mặc y thừa của Phật.
3/
Không đến Phật phi thời. Thế-Tôn chẳng những chấp thuận
lời xin của Ngài, mà còn khen ngợi Ngài thông minh biết dự
đoán trước những điều sẽ xẩy ra. Thế là, Ngài theo làm
thị giả Phật ngót 25 năm.
Hôm
nọ, Ngài đi khất thực về đến tịnh-xá Phật, thấy Di
mẫu Ma-ha Ba-Xà-Ba-Đề đang đứng tựa cửa khóc. Di mẫu quần
áo bụi bặm, chân dính bùn nhơ, vẻ người bi thảm. Ngài
đến gần hỏi duyên cớ. Biết Bà từ xa tìm đến xin Phật
xuất gia, đôi ba phen năn nỉ mà Phật quyết định không cho.
Ngài cảm động, vào đảnh lễ Phật xin cho Bà được xuất
gia. Phật vẫn nhiều lần từ chối, Ngài vẫn kiên chí xin
kỳ được mới thôi. Thế là mở đầu cho phái nữ xuất
gia, chính Ngài là người tích cực khai đường vậy.
Chính
đức Phật đã từng khen Ngài:
─
Thị giả của các đức Phật đời quá khứ, không ai hơn
A-Nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn
A-Nan.
Và
Phật khen A-Nan được tám điều chưa từng có v.v…
Sau
khi Phật Niết-bàn, Tổ Ca-Diếp triệu tập các đại Tỳ-kheo
kiết tập kinh điển, Ngài là người được toàn hội đề
cử kiết tập tạng kinh… Khi sắp tụng lại lời Phật, Ngài
nhìn qua đại chúng nói kệ:
Tỳ-kheo
chư quyến thuộc
Ly
Phật bất trang nghiêm !
Du
như hư không trung
Chúng
tinh chi vô nguyệt.
Dịch:
Tỳ-kheo
các quyến thuộc
Vắng
Phật chẳng trang nghiêm !
Ví
như trong hư-không ,
Nhiều
sao mà không trăng.
Nói
kệ xong, Ngài đảnh lễ đại chúng, lên pháp tòa mở đầu:
─
Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ….nói kinh….
cho đến trời người v.v…đều kính lễ vâng làm .
Ngài
kiết tập kinh xong Tổ Ca Diếp hỏi đại chúng:
─
Đại-Đức A-Nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng
?
Đại
chúng đồng thinh đáp:
Chẳng
khác những lời đức Thế-Tôn đã nói.
Một
hôm Ngài hỏi Tổ Ca-Diếp:
─
Khi Thế-Tôn phú chúc và truyền y kim-tuyến cho sư-huynh, còn
có truyền pháp gì riêng nữa chăng ?
Tổ
Ca-Diếp liền gọi:
─
A-Nan !
Ngài
ứng thinh:
─
Dạ.!
Tổ
Ca-Diếp bảo:
─
Cây cột phướng trước chùa ngã. Ngài nhơn đây tỏ ngộ.
Tổ
Ca-Diếp bèn ấn chứng và đem chánh pháp nhãn-tạng truyền
lại cho Ngài. Tổ nói kệ:
Pháp
pháp bổn lai pháp,
Vô
pháp vô phi pháp.
Hà
ư nhất pháp trung,
Hữu
pháp hữu phi pháp
Dịch:
Các
pháp,pháp xưa nay,
Không
pháp,không phi pháp .
Tại
sao trong một pháp,
Có
pháp,có phi pháp ?
Ngài
đảnh lễ thọ nhận. Môn đệ của Ngài có hai vị xuất sắc,
Thương-Na-Hòa-Tu và Mạc-Điền-Để Ca (Mạc-Điền-Địa).
Ngài chọn Thương Na Hòa Tu làm người kế thừa tổ vị và
truyền trao y bát lại.
Cảm
thấy thân bèo bọt đã đến thời kỳ hoại diệt, đã tìm
được người kế.thừa, Ngài dự định vào Niết-bàn, Ngài
đến từ giả vua A-Xà-Thế, song không gặp vua. Ngài liền
đi thẳng đến bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền ngồi
kiết-già thả trôi lơ lửng giữa dòng sông. Vua A-Xà-Thế
hay tin Ngài sắp vào Niết-bàn ở sông Hằng, liền cùng quan
quân tùy tùng tìm đến bờ sông. Vua thấy Ngài ngồi trên
thuyền ở giữa dòng sông bèn đảnh lễ nói kệ:
Khể
thủ tam giới tôn,
Khí
ngã như chí thử.
Tạm
bằng bi nguyện lực,
Thả
mạc Bát-niết-bàn.
Dịch:
Lạy
đấng tôn tam giới,
Bỏ
con đến nơi nầy.
Tạm
nương sức bi nguyện,
Xin
chớ vội Niết-bàn.
Vua
nước Tỳ-Xá-Ly nghe tin cũng đến bên bờ kia sông Hằng, đảnh
lễ và nói kệ:
Tôn
giả nhất hà tốc,
Nhi
qui tịch diệt trường !
Nguyện
trụ tu du gian,
Nhi
thọ ư cúng dường.
Dịch:
Tôn
giả sao quá nhanh,
Sớm
vào nơi tịch diệt !
Xin
tạm dừng chốc lát,
Để
nhận con cúng dường.
Ngài
thấy hai vua đồng đến khuyến thỉnh, bèn nói kệ:
Nhị
vương thiện nghiêm trụ,
Vật
vi khổ bi luyến.
Niết-bàn
đương ngã tịnh,
Nhi
vô chư hửu cố.
Dịch:
Hai
vua ở an vui,
Chớ
vì thương buồn khổ.
Niết-bàn,
tôi an tịnh,
Vì
không còn các nghiệp.
Ngài
giữ tâm bình đẳng ở giữa dòng sông vào Niết-bàn. Hai vua
họp nhau làm lễ thiêu thân Ngài và phân chia xá-lợi xây tháp
cúng dường.
3.-
Tổ Thương-Na-Hòa-Tu ( Sanakavasa)
Thế
kỷ đầu sau Phật Niết-bàn
Ngài
dòng Tỳ-Xá-Đa nước Ma-Đột-La, cha tên Lâm-Thắng, mẹ là
Kiều-Xa-Da. Ngài ở trong thai mẹ sáu năm mới sanh. Tục truyền
ở Ấn-Độ khi nào cỏ Thương-Nặc-Ca sanh là có một vị
thánh nhơn ra đời. Chính khi Ngài lọt lòng mẹ thì thứ cỏ
ấy cũng mọc lên, vì thế cha mẹ Ngài đặt tên là Thương-Na-Hòa-Tu.
Lúc
đầu, Ngài xuất gia làm đồ đệ vị tiên ở núi Tuyết.
Chính Ngài tu theo pháp tiên đã được thần thông, sau gặp
Tổ A-Nan, Ngài hồi đầu trở về chánh pháp. Tổ A-Nan, thấy
Ngài đã thâm ngộ diệu tâm nên truyền pháp kệ rằng :
Bổn
lai truyền hửu pháp,
Truyền
liễu ngôn vô pháp
Các
các tu tự ngộ
Ngộ
liễu vô vô pháp.
Dịch
:
Xưa
nay truyền có pháp
Truyền
rồi nói không pháp.
Mỗi
mỗi cần tự ngộ
Ngộ
rồi không không pháp.
Tổ
lại dặn:
─
Xưa Đức Như-Lai đem đại pháp nhãn nầy trao cho Ngài Ca-Diếp,
Ngài Ca-Diếp trao lại cho ta, nay ta sắp vào Niết-bàn đem trao
lại cho ngươi, Ngươi phải khéo gìn giữ truyền trao không
để dứt mất.
Sau
khi đắc pháp nơi Tổ A-Nan, Ngài đi đến khu rừng Ưu-Lưu-Trà
cất tịnh-xá hoằng hóa Phật-pháp rất hưng thịnh. Chính
nơi đây, khi Phật còn tại thế có lần đi giáo hóa ngang
khu rừng nầy, Phật nói với A-Nan:
Sau
khi ta Niết-bàn, khoảng 100 năm, có một Tỳ-kheo tên Thương-Na-Hòa-Tu
ở tại khu rừng nầy hoằng truyền chánh pháp
Thấy
cơ duyên hóa đạo đã viên mãn, Ngài đem chánh pháp nhãn tạng
truyền lại cho đệ tử là Ưu-Ba-Cúc-Đa. Ngài vào núi Bạch-Tượng
phía Nam nước Kế-Tân sắp vào Niết-bàn. Nhơn trong chánh
định Ngài thấy nhóm 500 người đệ tử của Ưu-Ba-Cúc-Đa
thường hay lười biếng và khinh mạn, Ngài liền đến cảnh
tỉnh họ, khi Ngài đến, Ưu-Ba-Cúc-Đa đi vắng. Ngài lại
tòa của Ưu-Ba-Cúc-Đa ngồi, đệ tử Cúc-Đa không biết Ngài
là người gì ? Tất cả đều bực tức không phục. Họ chạy
báo cho Cúc-Đa hay. Cúc-Đa về đến thấy thầy mình liền
đảnh lễ. Song đệ tử vẫn còn tâm khinh mạn chẳng kính.
Ngài lấy tay mặt chỉ lên hư không liền có sữa thơm chảy
xuống,
Ngài
bảo Cúc-Đa.:
─
Ngươi biết gì chăng .
Cúc-Đa
thưa:
─
Chẳng biết. Cúc-Đa bèn nhập chánh định để xem xét, cũng
không thể hiểu.
Cúc-Đa
thưa:
─
Điềm lành nầy do chánh định gì xuất hiện ?
─
Đây là chánh định Long-Phấn-Tấn. Còn cả năm trăm thứ
chánh định như thế mà ngươi chưa biết. Chánh định của
Như-Lai, hàng Bích-Chi không thể biết. Chánh định của Bích-Chi,
hàng La-Hán không thể biết. Chánh định thầy ta là A-Nan,
ta cũng không biết. Nay chánh định của ta, ngươi đâu thể
biết. Chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức
đại từ, cung kính lẫn nhau, được thế đó mới có thể
biết.
─
Đệ tử của Cúc-Đa trông thấy những kỳ-diệu ấy đều
kính phục, chí thành sám hối. Ngài lại nói kệ :
Thông
đạt phi bỉ thử
Chí
thánh vô trường đoản
Nhữ
trừ khinh mạn ý
Tất
đắc A-La-Hán.
Dịch
:
Thông
suốt không kia đây
Chí
thành không hay dở
Ngươi
trừ tâm khinh mạn
Chóng
được A-La-Hán.
Sau
đó, Ngài thị tịch bằng cách dùng hỏa quang tam muội thiêu
thân. Thầy trò Ưu-Ba-Cúc-Đa thu nhặt xá-lợi xây tháp cúng
dường .
4.-
Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta)
Cuối
thế kỷ thứ nhất sau Phật Niết-bàn
Ngài
dòng Thủ-Đà-La ở nước Sất-Lợi, cha tên Thiện-Ý. Trước
khi sanh Ngài, thân phụ nằm mộng thấy mặt trời vàng xuất
hiện trong nhà. Thưở bé Ngài mặt mũi khôi ngô, tánh tình
thuần hậu, trí huệ minh mẫn
Khoảng
12 tuổi, Ngài được gặp Tổ Thương-Na-Hòa-Tu đến tận nhà
và dạy cho Ngài phương pháp buộc niệm. Nghĩa là mỗi khi
khởi nghĩ ác liền bỏ một hòn sỏi đen vào hũ, khi khởi
nghĩ lành liền bỏ một hòn sỏi trắng vào hũ. Mỗi tháng
đem ra xem xét coi đen nhiều hay trắng nhiều ; nếu đen nhiều
phải cố gắng sửa đổi. Ngài vâng làm như vậy, ban đầu
sỏi đen nhiều, dần dần bằng nhau và sau nầy trắng nhiều.
Năm
17 tuổi, Ngài xin Tổ Thương-Na-Hòa-Tu xuất gia. Tổ hỏi :
- Ngươi được bao nhiêu tuổi ?
Ngài
thưa : - Bạch thầy, con được 17 tuổi. - Thân ngươi 17 tuổi
hay tánh ngươi 17 tuổi ?
Ngài
hỏi lại : - Đầu thầy tóc bạc, vậy tóc thầy bạc hay tâm
thầy bạc ?
Tổ
bảo : - Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc - Con cũng thế,
thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi Tổ bèn
hoan-hỉ nhận cho xuất gia làm thị giả. Đến 20 tuổi, Ngài
thọ giới cụ túc và ngộ đạo. Tổ bảo :
Xưa
Đức Thế-Tôn đem chánh pháp vô thượng truyền cho Tổ Ca-Diếp.
Tổ Ca-Diếp truyền lại cho thầy của thầy ta là Đức A-Nan,
thầy ta truyền cho ta và nay ta truyền lại cho ngươi chánh
pháp nầy. Ngươi cố gắng hộ trì đừng để đoạn dứt.
Hảy nghe bài kệ đây :
Phi
pháp diệc phi tâm, Vô tâm diệc vô pháp. Thuyết thị tâm pháp
thời, Thị pháp phi tâm pháp
Dịch
: Phi pháp cũng phi tâm, không tâm cũng không pháp , Khi nói tâm
pháp ấy, Pháp ấy phi tâm pháp.
Khi,
Ngài đến nước Ma-Đột-La, Ngài cảm hóa rất đông dân chúng
qui hướng Phật pháp, có nhiều người đã chứng đạo quả.
Có những khi Ngài thuyết pháp, chư thiên rải hoa, quả đất
rúng động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua ma-ba-tuần
sợ e Phật-giáo thạnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu
diệt, nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật-pháp.
Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thính
giả. Ngài liền nhập định để quán sát nguyên do, Được
cơ hội thuận tiện, ma đem vòng chuỗi anh-lạc quàng vào cổ
Ngài. Xuất định, Ngài dùng thần lực biến ba thây chết
-người, chó, rắn – thành một tràng hoa đẹp. Ngài dùng
lời diệu ngọt bảo ma :
Ngươi
sẵn lòng tốt đem chuỗi anh-lạc rất quí tặng ta, giờ ta
biếu lại ngươi tràng hoa đẹp nầy, gọi là thù tạc nhau.
Vua
ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa. Tràng hoa tròng vào
cổ giây lát hóa thành thây thúi, giòi tửa ghê tởm. Vua ma
kinh sợ gớm chán, muốn cởi ra mà cởi không được, dùng
hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma chạy
lên cõi trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không
kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến Trời Phạm. Vua
các Trời đều bảo : - Pháp ấy là do đệ tử Phật biến
hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được.
Vua
ma nghe phán như vậy lại hỏi : - Thế thì làm thế nào gỡ
ra ? Vua Trời nói kệ :
Nhược
nhơn địa đảo, Hoàn nhơn địa khởi. Ly địa cầu khởi,
Chung vô kỳ lý.
Dịch
: Nếu nhơn đất ngã, Phải nhờ đất dậy. lìa đất muốn
dậy, Trọn không lý ấy.
Vua
ma nhận lời dạy, rời khỏi cung Trời trở về chỗ Ngài
Ưu-Ba-Cúc-Đa chí thành lễ tạ sám hối. Ngài bảo: -Thánh
trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết
cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường
dữ. Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa: - Tôn-giả vì con làm lợi
ích lớn, cúi xin Tôn-giả cởi vòng thây thúi dùm con .- Ngài
dạy:- Vậy ngươi phải quỳ gối chấp tay tự xướng ba lần
quy-y tam bảo đi. Vua ma quỳ gối chấp tay xướng ba lần quy-y
tam bảo xong, thì vòng thây thúi biến mất. Vua ma vui mừng
nhảy nhót đảnh lễ Ngài nói kệ:
Khể
thủ tam muội tôn, Thập lực đại từ túc. Ngã kim nguyện
hồi hướng, Vật linh hữu liệt nhược.
Dịch
: Cúi lạy chánh-định tột, Đủ mười lực đại từ. Nay
con xin hồi hướng, Chớ còn tánh yếu hèn.
Sau
khi quy-y tam bảo xong, Ngài bảo vua ma: - Xưa ngươi thường
thấy Như-Lai, giờ đây hiện thử cho ta xem.
Vua
ma thưa: - Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn-giả trông
thấy đừng lễ. Vua ma liền vào rừng ẩn mất. Chốc lát
bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, theo
sau đoàn Tỳ-kheo 1250 vị. Ngài vừa trông thấy, bất giác
cúi mình đảnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất. Lúc hóa đạo,
mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật-pháp Ngài để
vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài 18 thước
tay bề ngang 12 thước tay. Thế mà một thời gian thẻ tre đầy
ói cả thất. Sau cùng, Ngài độ ông Hương-Chúng con một vị
trưởng giả và truyền chánh pháp lại cho ông nầy. Nhơn thân
phụ ông Hương-Chúng mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện
trong nhà, nên Ngài đổi hiệu là Đề-Đa -Ca. Đã có người
kế thế và nhơn duyên hóa đạo đã xong. Ngài từ biệt đại
chúng, Ngồi kiết già thị-tịch. Đề-Đa-Ca và môn đệ mở
cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu Ngài., thiêu
xong lượm xá-lợi xây tháp cúng dường .
5.-
Tổ Đề-Đa-Ca (Dhrtaka)
Đầu
thế kỷ thứ hai sau Phật Niết-bàn
Ngài
tên Hương-chúng ở nước Ma-Già-Đà. Nhơn thân phụ Ngài nằm
mộng thấy mặt trời vàng ánh xuất hiện trong nhà, chiếu
sáng khắp cả. Lại thấy phía trước hiện ra một hòn núi
lớn, trang nghiêm bằng bảy báu, trên đảnh núi có dòng suối,
nước chảy trong veo, tràn khắp bốn phía. Sau đó, mẹ sanh
ra Ngài.
Ngài
gặp Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa bèn đem điềm mộng của cha thuật lại
và nhờ giải hộ. Tổ giải:
<
Núi báu là thân ta, suối nước tuôn ra là pháp vô tận, mặt
trời xuất hiện trong nhà là tướng ngươi vào đạo, ánh
sáng chiếu khắp là trí tuệ siêu việt của ngươi >. Ngài
nghe giải xong, vui mừng khắp khởi xướng kệ rằng :
Nguy
nguy thất bảo sơn, Thường xuất trí huệ tuyền. Hồi vi chân
pháp vị, Năng độ chư hữu duyên.
Dịch
: Vòi vọi núi bảy báu, Thường tuôn suối trí huệ. Chuyển
thành vị chơn pháp, Hay độ ngưòi có duyên
Tổ
Ưu-Ba-Cúc-Đa cũng nói kệ đáp :
Ngã
pháp truyền ư nhữ, Đương hiện đại trí huệ . Kim nhựt
tùng ốc xuất, Chiếu diệu ư thiên địa .
Dịch
: Pháp ta truyền cho ngươi, Sẽ hiện trí-huệ lớn . Mặt trời
mọc trong nhà, Chiếu sáng khắp trời đất .
Ngài
nghe kệ rồi, xin theo Tổ xuất gia học đạo. Thấy Ngài ứng
đối lanh lẹ, trí-huệ minh đạt, Tổ hoan hỷ chấp nhận
cho xuất gia làm đệ-tử. Một hôm, Tổ gọi Ngài bảo: Như-Lai
đem đại pháp nhãn tạng trao cho Đại-Ca-Diếp, lần lượt
trao truyền cho đến ta, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe kệ
đây:
Tâm
tự bổn lai tâm, Bổn tâm phi hữu pháp. Hữu pháp hữu bổn
tâm, Phi tâm phi bổn pháp.
Dịch
: Tâm tự xưa nay tâm, Bổn tâm chẳng có pháp. Có pháp có
bổn tâm, Chẳng tâm chẳng bổn pháp
Ngài
thành kính nhận lãnh chánh pháp. Sau, Ngài sang Trung-Ấn giáo
hóa. Nơi đây có tám ngàn vị đại tiên, dưới sự lãnh đạo
của đại tiên Di-Dá-Ca. Nghe Ngài đến đây, Di-Dá-Ca vân tập
tiên chúng đến yết kiến Ngài.
Gặp
Ngài, Di-Dá-Ca thưa: - Xưa tôi cùng Thầy đồng sanh cõi trời
Phạm-Thiên. Tôi gặp tiên A-Tư-Đà truyền cho pháp tiên. Thầy
gặp đệ tử Phật hướng dẫn tu tập thiền định. Từ đó,
cách nhau đã đến sáu kiếp.
Ngài
bảo: - Lời tiên nhơn đã nói đúng như vậy. Song, ông chuyên
về pháp tiên tột cùng sẽ đến đâu ?
Di-Dá-Ca
thưa: - Tôi tuy chưa gặp bậc chí thánh, song tiên A-Tư-Đà
thường thọ ký rằng: < Sáu kiếp về sau, tôi sẽ nhờ
bạn đồng học mà được chứng quả giải thoát. Nay gặp
nhau đây đâu không đúng như vậy ư ?
Ngài
bảo: - Ông đã biết như vậy thì cần phải xuất gia, pháp
tiên là đường nhỏ, không thể đưa người đến giải thoát.
Ta hóa đạo đã lâu, cũng muốn dừng nghỉ. Nếu ông thật
thú hướng về đại pháp thì không nên chậm trễ.
Di-Dá-Ca
nghe nói vui mừng liền xin xuất gia. Ngài độ cho ông xuất
gia thọ giới.
Lúc
đó, tiên chúng theo Di-Dá-Ca thấy vị tiên trưởng của mình
làm như vậy, rất bất mãn. Họ nói thầm với nhau rằng:
< Đề-Đa-Ca đâu đủ sức làm thầy mình mà theo xuất gia
>.
Ngài
biết tâm họ, muốn gây cho họ có niềm tin, liền phóng quang
sáng chiếu, chân đi trên hư không như người đi trên đất
bằng, lại hóa cây dù báu che khắp chúng tiên, nơi ngón tay
sữa thơm tuôn ra, trong sữa hiện lên một hoa sen, trong hoa
sen hóa ra Đức Phật.
Chúng
tiên trông thấy thần biến phi thường, bèn cuối đầu cầu
xin xuất gia. Tôn giả hoan hỷ chấp nhận.
Thấy
cơ duyên hóa độ đã viên mãn, Ngài truyền pháp lại cho Di-Dá-Ca,
rồi thâu thần tịch diệt.
Di-Dá-Ca
và đồ chúng thiêu hài cốt Ngài, thâu lượm xá-lợi xây
tháp tại núi Ban-Trà thờ phụng cúng dường.
6.
- Tổ Di-Dá-Ca (Miccaka)
Đầu
thế kỷ thứ ba sau Phật Niết-bàn
Ngài
người Trung-Ấn, không rõ họ gì. Ngài cùng chúng tiên thọ
giáo xuất gia với Tổ Đề-Đa-Ca. Sau đó, Ngài tu hành chứng
được quả thánh. Khi sắp tịch, Tổ Đề-Đa-Ca gọi Ngài
lại bảo:
-Xưa
Như-Lai thầm trao đại pháp nhãn cho Đại-Ca-Diếp lần lượt
truyền trao đến ta, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải gìn giữ
truyền trao chớ dứt. Nghe ta nói kệ :
Thông
đạt bổn tâm pháp, Vô pháp vô vi pháp . Ngộ liễu đồng
vị ngộ, vô tâm diệc vô pháp .
Dịch
: Thông đạt pháp bổn tâm, Không pháp không phi pháp Ngộ rồi
đồng chưa ngộ, Không tâm cũng không pháp .
Sau
khi được pháp, Ngài du hóa các nơi tùy căn cơ giáo hóa chúng
sanh. Một hôm, Ngài đến Bắc-Ấn chợt thấy trên thành có
vầng mây màu vàng. Ngài ngó sang những người bên cạnh bảo
: Đây là vượn khí đại thừa. Trong thành nầy sẽ có bậc
chí nhơn nối pháp cho ta . Khi đi vào trong thành đến chợ,
quả gặp người tay ôm bầu rượu, đón Ngài hỏi :- Tôn-giả
từ phương nào đến, muốn đi về đâu ? Ngài đáp : -Ta từ
tâm mình đến, muốn đi không chỗ. – Tôn-giả biết vật
trong tay tôi chăng ? Đây là đồ đựng vật làm mất thanh
tịnh. – Tôn-giả biết tôi chăng ? – Tôi thì chẳng biết,
biết thì chẳng tôi
- Ngài
lại bảo :- Ngươi hãy nói tên họ ra, ta sẽ chỉ nhơn đời
trước cho ngươi. Người ấy bèn nói kệ :
Ngã
kim sanh thử quốc, Phục ức tích thời nhựt . Bổn tánh Phả-La-Đọa,
Danh tự Bà-La-Mật.
Dịch
: Nay tôi sanh nước nầy, Lại nhớ ngày xa xưa Dòng họ Phả-La-Đọa,
Tên là Bà-La-Mật
Ngài
nghe rồi nhớ lại duyên trước, bèn bảo Bà-Tu-Mật : - Thầy
ta là Đề-Đa-Ca thường nói : Xưa kia Như-Lai du hóa Bắc-Ấn
có báo A-Nan : < Sau khi ta diệt độ khoảng ba trăm năm, ở
nước nầy sẻ có vị thánh nhơn ra đời, họ Phả-La- Đọa
tên Bà-Tu-Mật, làm vị Tổ thứ bảy của Thiền-Tông >. Đây
là Như-Lai thọ ký cho ngươi, ngươi nên xuất gia.
Bà-Tu-Mật
liền để bầu rượu xuống, đảnh lễ Ngài. Đảnh lễ xong,
đứng qua một bên thưa :- Con nhớ lại kiếp xưa thường làm
thí chủ cúng dường Phật một bảo tòa. Như-Lai thọ ký cho
con rằng : < Ngươi ở hiền kiếp sẽ được Phật-pháp
làm Tổ thứ bảy >. Nay gặp gỡ đây là cái duyên trước
vậy, cúi xin Tôn giả đại từ thương xót độ thoát cho con.
Ngài liền vì ông cho cạo tóc xuất gia và thọ đầy đủ
giới pháp. Thấy tuổi đã già và cơ duyên hóa độ cũng xong,
Ngài
truyền chánh pháp lại cho Bà-Tu-Mật. Truyền xong, Ngài thâu
thần tịch diệt. Bà-Tu-Mật và môn đồ lượm xá-lợi để
vào bình báu, xây tháp cao tôn thờ trên từng chót để mọi
người cúng dường.
7.-
Tổ Bà-Tu-Mật (Vasumitra)
Cuối
thế kỷ thứ ba sau Phật Niết-bàn
Ngài
họ Phả-La-Đọa sanh trưởng tại miền Bắc-Ấn. Khi còn tại
gia, Ngài thường mặc đồ sạch sẽ, tay cầm bầu rượu,
đi dạo chơi trong xóm làng, có khi Ngài ngâm thơ thổi sáo,
người thường không sao hiểu nổi, họ bảo Ngài là người
điên. Sau khi gặp Tổ Di-Dá-Ca nói lại lời huyền ký Như-Lai,
Ngài liền tỉnh ngộ tiền duyên, ném bầu rượu phát nguyện
xuất gia. Theo Tổ tu hành, Ngài ngộ được tâm tông. Một
hôm,Tổ Di-Dá-Ca gọi Ngài căn dặn:
-Công
hạnh của ta gần viên mãn,chánh pháp nhãn tạng nầy trao lại
cho ngươi, ngươi phải ân cần gìn giữ chớ để đoạn diệt.
Hãy nghe kệ đây :
Vô
tâm vô khả đắc, Thuyết đắc bất danh pháp. Nhược liễu
tâm phi tâm, Thủy giải tâm tâm pháp.
Dịch
: Không tâm không thể được, Nói được chẳng gọi pháp
Nếu rõ tâm phi tâm, Mới hiểu tâm tâm pháp.
Sau
khi Tổ Di-Dá-Ca nhập Niết-bàn, Ngài đi hoằng khắp nơi tuyên
dương chánh pháp. Khi đến nước Ca-Ma-La
Ngài
lên pháp tòa giảng đạo,có một trí sĩ đến dưới tòa lớn
tiếng tự xưng: -Tôi là Phật-Đà-Nan-Đề, hôm nay quyết luận
nghĩa với thầy. Ngài bảo:- Nầy nhơn giả! Nếu luận thì
chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ
luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận. Nan-Đề biết đây
là người nói nghĩa thù thắng,khởi tâm kính phục,thưa rằng:
- Con nguyện cầu đạo,được thưởng thức vị cam lồ. Ngài
thương xót liền cho xuất gia thọ giới, không bao lâu truyền
pháp cho Nan-Đề. Đã có người thừa kế, Ngài dự định
vào Niết-bàn. Ngài liền nhập từ tam-muội để vào tịch
định. Lúc đó,Đế-Thích,Phạm-Vương cùng chư thiên đồng
đến đảnh lễ,nói kệ :
Hiền
kiếp thánh chúng Tổ, Nhi đương đệ thất vị. Tôn giả ai
niệm ngã, Thỉnh vị tuyên Phật địa.
Dịch
: Hiền kiếp các thánh Tổ, Ngài là vị thứ bảy, Tôn giả
thương xót con, Thỉnh vì nói Phật địa .
Ngài
xuất định nói với họ rằng : - Pháp ta đã được là không
phải có. Nếu muốn biết Phật-địa phải lìa cóvà không.
- Nói
xong, Ngài vào tịch định thị hiện tướng Niết-bàn. Chư
thiên nghe rồi hoan hỷ tán hoa trời,đảnh lễ. Nan-Đề cùng
đồ chúng trà tỳ thân Ngài, rồi lượm xá-lợi xây tháp
cúng dường .
8.-
Tổ Phật-Đà-Nan-Đề (Buddhanandi)
Đầu
thế kỷ thứ tư sau Phật Niết-bàn
Ngài
họ Cù-Đàm, người nước Ca-Ma-La. Thuở nhỏ trên đảnh Ngài
có cục thịt nổi cao, thường phát ra hào quang
năm
sắc xen lẫn. Ngài thông minh tuyệt vời, chữ nghĩa một phen
xem qua là ghi nhớ. Năm 14 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia chuyên
dùng hạnh thanh tịnh để tự tu. Khi Tổ Bà-Tu-Mật đến nước
Ca-Ma-La, Ngài đến vấn nạn, nhơn đó kính phục xin theo làm
đệ tử. Tổ sắp Niết-bàn, gọi Ngài đến phó chúc rằng
:
-Chánh
pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải
truyền bá chớ để đoạn dứt, Nghe ta nói kệ:
Tâm
đồng hư không giới, Thị đằng hư không pháp. Chứng đắc
hư không thời, Vô thị vô phi pháp
Dịch
: Tâm đồng hạn hư không, Chỉ pháp bằng thái hư. Khi chứng
được hư không, Không pháp, không phi pháp Ngài vâng giữ phụng
trì. Sau khi đắc pháp,Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp
nơi.Đến nước ĐềGià,Ngàiđi qua cổng nhà họ Tỳ-Xá-La,chợt
thấy trên nóc nhà có hào quang trắng xông lên hư không.Ngài
chỉ chúng xem và bảo:
-Trong
nhà nầy hiện có một vị thánh nhơn, tuy miệng không nói
một lời, chơn không đi một bước, mà thật là bậc căn
khí đại thừa. Dù không ra ngoài đường mà biết việc xúc
uế. Quả là người nối pháp cho ta, khiến Phật-pháp hưng
thịnh. Vị nầy, sau sẽ độ được năm trăm người chứng
quả thánh.
Ngài
nói xong,có người trưởng giả trong nhà bước ra làm lể
thưa: - Tôn-giả cần điều gì dừng lại đây ?
Ngài
bảo:- Ta đến tìm người thị giả,chớ không cần gì. Trưởng
giả thưa: Nhà tôi đâu có người kỳ đặc mà Ngài tìm,chỉ
có đứa con trai tên Phục-Đà-Mật-Đa không biết nói,không
biết đi,tuổi đã năm mươi,nếu Ngài cần tôi cho,
không
tiếc. Ngài bảo:-Đứa con ông nói đó,chính là người tôi
tìm.Trưởng giả thỉnh Ngài vào nhà.Phục-Đà-Mật-Đa
vừa
trông thấy Ngài liền chổi dậy,chấp tay nói kệ:
Phụ
mẫu phi ngã thân, Thùy vi tối thân giả ? Chư Phật phi ngã
đạo, Thùy vi tối đạo giả ?
Dịch
: Cha mẹ chẳng phải thân, Ai là người chí thân ? Chư Phật
phi đạo tôi, Cái gì là tột đạo ?
Ngài
nói kệ đáp: Nhữ ngôn dữ tâm thân, Phụ mẫu phi khả tỷ,
Nhữ hạnh dữ đạo hiệp, Chư Phật tâm tức thị,
Ngoại
cầu hữu tướng Phật, Dữ nhữ bất tương tợ, Nhược thức
nhữ bổn tâm, Phi hiệp diệc phi ly .
Dịch
: Lời ngươi cùng tâm thân, Cha mẹ không thể sánh, Hạnh ngươi
cùng đạo hiệp, Chư Phật chính là tâm,
Ngoài
cầu Phật có tướng, Cùng ngươi không chút giống, Nếu biết
bổn tâm ngươi, Chẳng hiệp cũng chẳng lìa .
Mật-Đa
nghe bài kệ xong rất hoan hỷ, bước xuống đảnh lễ Ngài
và đi bảy bước, một lòng thành khẩn xin xuất gia
Ngài
chấp nhận cho xuất gia,liền triệu tập chúng hiền thánh
làm lễ truyền giới cụ túc.Sau đó,Ngài lại dặn dò Mật-Đa:
- Pháp
nhãn của Như-Lai thầm truyền đến đời ta, nay ta trao lại
cho ngươi, ngươi nên truyền trao chớ đoạn dứt.
Nghe
ta nói kệ : Hư không vô nội ngoại, Tâm pháp diệc như thử,
Nhược liễu hư không cố, Thị đạt chơn như lý.
Dịch
: Hư không chẳng trong ngoài, Tâm pháp cũng như thế, Nếu hiểu
rõ hư không, Là đạt lý chơn như .
Mật-Đa
hân hạnh được truyền pháp vui mừng vô hạn, liền nói kệ
khen ngợi :
Ngã
sư thiền Tổ trung, Thích đương vi đệ bát, Pháp hóa chúng
vô lượng, Tất hoạch A-La-Hán .
Dịch
: Thầy tôi trong thiền Tổ, Hiện là vị thứ tám, Giáo hóa
chúng không cùng, Thảy được quả La-Hán .
Ngài
truyền pháp xong, sắp vào Niết-bàn. Hôm ấy đang ngồi trên
bổn tòa, Ngài an nhiên thị tịch. Số chúng Ngài
độ
có đến năm trăm vị chứng nhị quả. Toàn chúng trà tỳ
hài cốt Ngài, lượm xá-lợi xây bảo tháp tôn thờ .
9.
- Tổ Phục-Đà-Mật-Đa (Buddhamitra)
Cuối
thế kỷ thứ tư sau Phật Niết-bàn
Ngài
họ Tỳ-Xá-La ở nước Đề-Già. Từ lọt lòng mẹ đến năm
mươi tuổi chưa từng nói một lời,chưa từng đi một bước.
Cha mẹ nghi nhơn duyên gì mà Ngài thế ấy ? Đến gặp Tổ
Phật-Đà-Nan-Đề nói duyên đời trước rằng :
- Đứa
bé nầy đời trước thông minh lắm,ở trong Phật pháp do lòng
đại bi muốn làm lợi ích lớn cho chúng sanh,cho nên thường
nguyện :< Nếu tôi sanh chỗ nào không bị tình phụ tử
ràng buộc, tùy duyên lành kia liền được giải thoát >
miệng
nó không nói là tiêu biểu đạo không tịch. Chơn nó không
đi là tiêu biểu pháp không đến đi. Cha mẹ Ngài nghe lời
giải thích của Tổ sạch hết nghi ngờ,vui vẻ cho theo Tổ
xuất gia.
Sau
khi đắc pháp, Ngài du hóa khắp nơi, sang Trung-Ấn giáo hóa.
Nơi đây có ông trưởng-giả tên là Hương-Cái. Ông nầy có
người con trai tên Nan-Sanh. Ông trưởng-giả Hương-Cái dẫn
con đến yết kiến Ngài. Đảnh lễ xong,ông trưởng-giả thưa
:- Thằng bé nầy ở trong thai mẹ ngót sáu mươi năm,do đó
tôi đặt tên là Nan-Sanh. Có một tiên đến xem tướng nó,rồi
nói:< Thằng nhỏ nầy hẳn là tướng phi phàm,sẽ làm pháp
khí đại thừa,sau gặp Bồ-Tát hóa độ >.Bởi có duyên lành
nên nay được gặp Ngài,tôi nguyện cho nó theo Ngài xuất gia
học đạo.Ngài hoan hỷ nhận cho Nan- Sanh xuất gia thọ giới.
Trong buổi lễ xuất gia thọ giới bỗng có ánh sáng mát chiếu
khắp chổ Nan-Sanh ngồi. Cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, Ngài
kêu Nan-Sanh lại dặn dò :- Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai,nay
ta trao cho ngươi,
Ngươi
phải gìn giữ truyền trao đừng cho đoạn dứt. Ngươi nhận
lời ta dạy,hãy nghe kệ đây :
Chơn
lý bổn vô danh, Nhơn danh hiển chơn lý, Thọ đắc chơn thật
pháp, Phi chơn diệc phi ngụy.
Dịch
: Chơn lý vốn không tên, Nhơn tên bày chơn lý, Nhận được
pháp chơn thật, Chẳng chơn cũng chẳng ngụy.
-Nói
kệ xong, Ngài bèn vào chánh định hiện tướng Niết-bàn.
Chư thiên trổi nhạc cúng dường. Nan-Sanh cùng đồ chúng dùng
dầu thơm gỗ chiên đàn làm lễ hỏa táng chơn thể của Ngài.
Hỏa táng xong lượm xá-lợi về tôn thờ nơi chùa Na-Lan-Đà
.
10.
- Tổ Hiếp-Tôn-Giả (Parsvika)
Đầu
thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn
Ngài
tục danh là Nan-Sanh, người Trung-Ân. Thân mẫu mang thai đến
60 năm mới sanh ra Ngài. Lúc Ngài sắp sanh,
Thân
phụ nằm mộng thấy một con voi trắng to trên lưng có chở
một bảo tọa, trong bảo tọa có hạt minh châu, từ ngoài
cửa đi vào chiếu sáng khắp nhà. Ông giựt mình tỉnh giấc
thì Ngài ra đời.
Sau
gặp Tổ Phục-Đà-Mật-Đa độ cho xuất gia. Được xuất
gia rồi Ngài cần mẫn tu học cho đến quên ăn bỏ ngủ, suốt
ngày đêm chưa từng đặc lưng xuống chiếu,như thế mãi cả
đời. Vì thế thời nhơn gọi Ngài là Hiếp-Tôn-Giả (Tôn-giả
hông không dính chiếu ). Lãnh thọ chánh pháp xong, Ngài đi
vân du các nơi tùy cơ giáo hóa. Đến nước Hoa-Thị, Ngài
tạm
nghỉ dưới cây đại thọ. Khi ấy, Ngài lấy tay chỉ xuống
đất bảo chúng :
- Khi
nào đất này biến thành màu vàng, sẽ có một thánh nhơn
vào hội. Ngài vừa nói dứt lời, đất liền biến thành màu
vàng. Chốc lát có một thanh niên con nhà giàu tên Phú-Na-Dạ-Xa
đến trước Ngài đứng chắp tay, Ngài hỏi :
- Ngươi
từ đâu đến ? Thanh niên thưa :- Tâm con chẳng phải đến.
–Ngươi dừng chổ nào ? –Tâm con chẳng phải dừng.
- Ngươi
chẳng định sao ? – Chư Phật cũng thế. –Ngươi chẳng phải
chư Phật. –Chư Phật cũng chẳng phải. Ngài nhơn đó nói
bài kệ : Thử địa biến kim sắc, Dự tri ư thánh chí, Đương
tọa bồ-đề thọ, Giác hoa nhi thành dỉ.
Dịch
: Đất này hóa sắc vàng, Biết có thánh nhơn sang, Ngồi dưới
cây bồ-đề, Hoa giác nở hoàn toàn .
Phú-Na-Dạ-Xa
cũng đọc bài kệ:
Sư
tọa kim sắc địa, Thường thuyết chơn thật nghĩa, Hồi quang
nhi chiếu ngã, Linh nhập tam-ma-đề .
Dịch
: Thầy ngồi đất sắc vàng, Thường nói nghĩa chơn thật,
Xoay ánh sáng chiếu con, Khiến vào nơi chánh định .
Ngài
biết ý Phú-Na-Dạ-Xa lòng cầu đạo rất thiết tha, nên độ
cho xuất gia và truyền giới cụ túc. Một hôm, Ngài gọi Phú-Na
bảo : -Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay trao cho ngươi,
ngươi phải khéo lưu truyền chớ để dứt mất. Hãy nghe ta
nói kệ : Chơn thể tự nhiên chơn,Nhơn chơn thuyết hữu lý,Lãnh
đắc chơn chơn pháp,Vô hành diệc vô chỉ
Dịch
: Chơn thể đã sẵn chơn, Bởi chơn nói có lý, Hội được
pháp chơn nhơn, Không đi cũng không dừng .
Truyền
pháp xong, Ngài ngay nơi chỗ ngồi thị hiện các tướng rồi
vào Niết-bàn. Hỏa táng thân Ngài xong có xá-lợi nhiều vô
số, chúng phải lấy y bọc đem về kính thờ cúng dường
.
11.-
Tổ Phú-Na-Dạ-Xa ( Punyayasas )
Giữa
thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn .
Ngài
dòng Cù-Đàm ở nước Hoa-Thị, thân phụ là Bảo-Thân. Thân
phụ sanh được bảy người con trai, Ngài là con út. Thuở
nhỏ. Ngài tâm tư bình thản không tịnh không loạn. Ngài thường
nói với các anh :- Nếu gặp bực đại-sĩ ngồi nơi đạo
tràng thuyết pháp, em quyết đến đó gần gũi tùy hỷ.
Khi
Tổ Hiếp-Tôn-Giả đến nước nầy chấn hưng Phật pháp,
Ngài liền đến dự trong hội ấy. Thấy Ngài ứng đối mẫn
tiệp, ngôn ngữ hợp lý, Tổ độ cho xuất gia. Sau khi đắc
pháp nơi Tổ Hiếp-Tôn-Giả, Ngài một lòng tinh tấn,lấy sự
giáo hóa làm trọng trách. Đạo đức Ngài vang khắp, số chúng
qui ngưỡng đến ngàn vạn, những người được quả thánh
tới năm trăm vị. Về sau, Ngài đến nước Ba-La-Nại có một
vị trưởng-giả vào hội. Ngài hỏi đồ chúng :
- Các
ngươi có biết người mới vào đây chăng ? Xưa Phật huyền
ký rằng : < Sau khi ta diệt độ gần 600 năm,sẽ có một
vị thánh nhơn ra đời hiệu Mã-Minh, sanh trong nước Ba-La-Nại,
nói pháp nơi thành Hoa-Thị, bẻ dẹp các đạo khác, độ người
vô lượng >. Mã-Minh nghe Ngài nói trúng tên mình thì thầm
khen, bước ra đảnh lễ Ngài và hỏi :
- Tôi
muốn biết Phật, thế nào là Phật ? –Ngài đáp : - Ông muốn
biết Phật, chẳng biết ấy là phải. – Đã chẳng biết
Phật thì đâu biết là phải ? – Ông đã chẳng biết Phật,
tại sao biết chẳng phải ? – Đây thật là nghĩa cưa. –
Đó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào ? – Tôi cùng
thầy phân ra bằng nhau. Nghĩa cây của thầy nói là sao ? –
Ngươi bị ta xẻ
Mã-Minh
liền ngộ được thắng nghĩa của Ngài, vui thích cầu xin
xuất gia Ngài vì độ cho ông xuất gia và thọ giới cụ-túc
Số
chúng được Ngài độ, có đến hai trăm vị chứng quả A-La-Hán,
ngoài ra còn vô số người phát tâm qui kính Tam-bảo. Thấy
cơ duyên giáo hóa sắp viên mãn, Ngài kêu Mã-Minh lại dặn
dò :
-Ngươi
nên chuyển bánh xe pháp làm vị Tổ thứ 12. Xưa đại pháp
nhãn tạng của Như-Lai trao cho Tổ Ca-Diếp lần lượt truyền
trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền tiếp . Nghe ta
nói kệ :
Mê
ngộ như ẩn hiển, Minh ám bất tương ly, Kim phó ẩn hiển
pháp, Phi nhất diệc phi nhị .
Dịch
: Mê ngộ như ẩn hiện, Tối sáng chẳng rời nhau, Nay trao
pháp ẩn hiện, Chẳng một cũng chẳng hai .
Ngài
truyền pháp cho Mã-Minh xong ,liền hiện thần biến , rồi lặng
lẽ viên tịch . Mã-Minh và đồ chúng xây tháp trùm trên chơn
thân thờ Ngài .
12.
- Bồ-Tát Mã-Minh ( Asvaghosha )
Cuối
thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn .
Bồ-Tát
người nước Ba-La-Nại, hiệu Mã-Minh cũng có hiệu Công-Thắng.
Vì khi Ngài sanh ra, các con ngựa đều ré lên, nên gọi là
Mã-Minh. lại cũng có thuyết nói, mỗi khi Ngài thuyết pháp,
các con ngựa trong chuồng ở gần đều lặng lẽ lóng nghe,
khi thuyết xong chúng lại hý vang, nên gọi Ngài là Mã-Minh.
Lúc chưa xuất gia, Ngài là một biện sĩ lỗi lạc, danh tiếng
đồn đãi vang cả quốc nội và quốc ngoại.
Sau
khi được Tổ Phú-Na-Dạ-Xa độ cho xuất gia và truyền tâm
ấn, Ngài lại nổi tiếng là một nhà thuyết pháp tài tình.
Bao
nhiêu tà thuyết ngoại đạo đều bị Ngài bẻ dẹp. Chính
Ngài là người thắp sáng ngọn đuốc Đại-Thừa ở đầu
thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn. Ngài đi giáo hóa đến
nước Hoa-Thị nơi đây ngọn đuốc pháp của Ngài càng sáng
rực hơn.
Một
hôm, có một ông già gầy ốm vào trong hội nghe pháp, bỗng
nhiên ngã xuống đất. Ngài bảo chúng :
-Đây
là việc phi thường, sẽ có tướng lạ. Ông già kia liền
biến mất. Chợt thấy dưới đất vọt lên một người con
gái nhan sắc đẹp đẽ thân như màu vàng, dùng tay chỉ Ngài
nói kệ :
Khể
thủ trưởng lão tôn, Đương thọ Như-Lai ký, Kim ư thử địa
thượng, Nhi độ sanh tử chúng .
Dịch
: Cúi đầu lễ trưởng lão, Hiện nhận lời Phật ghi, Nay
ở nơi xứ nầy, Độ chúng khỏi sanh tử .
Nói
kệ xong, trong chớp mắt không thấy cô nữa. Ngài bảo chúng
: - Giây lát đây sẽ có ngoại đạo đến đấu sức với
ta.
Bỗng
chốc gió mưa ầm ĩ xối xả kéo đến, khiến trời đất
mịt mù. Ngài bảo :
- Đây
là báo hiệu ngoại đạo sẽ đến. Ta sẽ trừ chúng. Nói
xong, Ngài chỉ tay lên hư không, hiện ra con rồng vàng to lớn,
phấn khởi oai thần, khiến pháp ngoại đạo tan biến .
Sau
bảy ngày, có một con sâu nằm nép dưới tòa của Ngài. Ngài
lấy tay nắm bắt con sâu ấy đưa cho đại chúng xem và nói
: - Con sâu nầy là trá hình của ngoại đạo, đến ẩn núp
nơi đây đặng nghe trộm pháp của ta . Nói xong, Ngài ném con
sâu ra bảo : < đi ngay ! >. Nhưng con sâu sợ hãi nằm im không
động Ngài an ủi :
- Ta
không có hại ngươi. Ngươi hãy hiện lại bổn hình. Ngoại
đạo liền hiện bổn hình đảnh lễ xin sám hối. Ngài hỏi
:
- Ngươi
tên gì ? Có bao nhiêu đồ đệ ? Ngoại đạo thưa : - Con tên
Ca-Tỳ-Ma-La, có đến ba ngàn đồ đệ.
- Ngài
hỏi : - Tột thần lực của ngươi biến hóa thế nào Ngoại
đạo thưa : - Con hóa biển cả là việc chẳng khó.
- Ngài
hỏi : - Ngươi hóa tánh biển được chăng ? Ngoại đạo mờ
mịt không biết, thưa : - Lời nầy con không thể biết.
Ngài
vì giải thích : - Tánh biển là núi sông quả đất đều y
cứ nơi đó mà lập, tam muội lục thông do đây phát hiện.
Ngoại
đạo nghe pháp ấy, liền khởi lòng tin mạnh mẽ, cùng ba ngàn
đồ đệ đều cầu xin xuất gia. Ngài vì họ cho cạo đầu
xuất gia, rồi triệu tập năm trăm vị thánh tăng đến làm
lễ thọ giới cụ túc. Ngài bảo giới tử : - Các ngươi thú
hướng Bồ-Đề sẽ thành đạo thánh. Ca-Tỳ-Ma-La quả nhiên
được giới thể, phát hào quang sáng, có mùi hương lạ xông
khắp.
Một
hôm, Ngài gọi Ma-La đến bảo : - Đại pháp nhãn tạng của
Như-Lai, nay trao cho ngươi, truyền bá chớ để đoạn dứt.
Nghe ta nói kệ :Ẩn hiển tức bổn pháp,Minh ám nguyên bất
nhị,Kim phó ngộ liễu pháp,Phi thủ diệc phi khí.
Dịch
: Ẩn hiện vốn pháp này, Sáng tối nguyên không hai, Nay truyền
pháp liểu ngộ, Không lấy cũng chẳng bỏ .
Truyền
pháp xong, Ngài vào chánh định hiện tướng viên tịch. Ca-Tỳ-Ma-La
và đồ chúng đem chơn thể của Ngài để vào khám thờ. Ngài
là vị Tổ thứ 12 của Thiền-Tông, cũng là một vị pháp
sư làm sáng tỏ giáo pháp Đại-Thừa. Ngài sáng tác ba bộ
luận: 1-Đại-Thừa Khởi Tín Luận.2.-Đại Tông địa huyền
văn bổn luận.3.-Sự sư pháp ngũ thập tụng .Nổi tiếng nhất
là bộ Đại-Thừa Khởi Tín Luận, đến hiện giờ những
nước Phật-giáo Đại-Thừa vẫn truyền dạy bộ luận nầy
.
13.
- Tổ Ca-Tỳ-Ma-La (Kapimala)
Đầu
thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.
Ngài
người nước Hoa-Thị, ban đầu học theo ngoại đạo, giỏi
các pháp huyễn thuật, đồ chúng có đến ba ngàn. Khi đến
so tài với Mã-Minh, bị Tổ hàng phục,liền cùng đồ chúng
phát tâm xuất gia. Tổ Mã-Minh độ cho Ngài xuất gia, sau truyền
tâm pháp. Sau khi được truyền tâm pháp, Ngài đi giáo hóa
khắp nơi. Lần lượt đến nước Tây-Ấn, nơi đây có Thái-tử
tên Vân-Tự-Tại rất ngưỡng mộ Ngài.Thái-Tử thỉnh Ngài
và đại chúng vào cung cúng dường,Ngài từ chối bảo
-Phật
cấm Sa-môn không được gần gũi vua quan những nhà có thế
lực, nên tôi không dám nhận lời. Thái-tử bạch:
-Thưa
Tôn-giả ! phía Bắc thành nầy có một hòn núi lớn, trong
núi có hang đá yên lặng bặt người thế tục, có thể ở
nơi đó thiền định được. Tuy nhiên, trong đó có nhiều
rắn và thú dữ, song tin tưởng đức cao dày của Tôn-giả
sẽ chuyển hóa chúng. Ngài nhận lời, cung đồ đệ tiến
thẳng đến núi ấy. Vừa đến núi nầy quả gặp một con
rắn lớn dài gần một dặm, trợn mắt nhìn Ngài, Ngài vẫn
đi thẳng không ngó đến nó. Ngài đi đến phía Nam chân núi
dừng nghỉ chỗ đất bằng,con rắn ấy đến quấn chung quanh
Ngài, Ngài cũng chẳng đoái hoài, giây lát con rắn bò đi.
Ngài tìm lại chúng theo Ngài thì họ đã chạy tán loạn hết.
Ngài một mình đi thẳng đến hang đá. Bỗng thấy một ông
già mặc toàn đồ trắng đi ra chấp tay kính lễ Ngài, Ngài
hỏi : -Ông ở đâu ? Ông già thưa : -Con xưa làm vị Tỳ-kheo
rất thích vắng lặng, bực người mới học đến hỏi,nhơn
đó nổi sân; bởi duyên cớ ấy khi chết đọa làm thân rắn
ở trong hang nầy, đến giờ đã ngàn năm.Vừa gặpTôn-giả
là bực thánh đức nên ra kính lễ. Ngài hỏi :-Núi nầy còn
có người nào ở nữa chăng?
Và
họ theo đạo nào ? Ngươi chỉ cho ta biết ? Ông già thưa :
-Cách đây mười dặm về phía Bắc có một tàng cây thật
to, dưới tàng cây có năm trăm vị nhân tài ẩn dật, vị
lãnh tụ hiệu là Long-Thọ,thường vì chúng nói pháp, con cũng
thường đến nghe. Ngài chờ đồ chúng tụ hội, cùng họ
tiến đến phía Bắc. Vừa đến cây to,quả nhiên Long-Thọ
ra nghinh tiếp Ngài. Long-Thọ vui vẻ đảnh lễ thưa Ngài :-
Chỗ núi sâu vắng vẻ, nơi hang ổ của thú dữ, đại đức
chí tôn sao thương xót đến đây ? Ngài đáp : -Ta không phải
chí tôn, đến để phỏng vấn hiền giả. Long-Thọ lặng thinh
thầm nghĩ: -Tôn-giả nầy được tánh quyết định, đạo
nhãn đã sáng chưa ? Phải là người đại thánh,thừa kế
chơn tông chăng ?
Ngài
biết liền bảo: -Tuy tâm niệm của ngươi,ta đã biết rồi,chỉ
cần xuất gia,lo gì ta chẳng phải thánh ?
Bấy
giờ Long-Thọ sám hối tạ tội. Ngài độ cho xuất gia. Một
hôm,Ngài gọi Long-Thọ lại bảo: -Nay ta đem đại pháp nhãn
tạng của Như-Lai trao cho ngươi, ngươi phải truyền nối chớ
dứt. Nghe ta nói kệ :
Phi
ẩn phi hiển pháp, Thuyết thị chơn thật tế, Ngộ thử ẩn
hiển pháp, Phi ngu diệc phi trí .
Dịch
: Pháp không ẩn không hiển, Nói là mé chơn thật, Ngộ pháp
ẩn hiển nầy, Chẳng ngu cũng chẳng trí .
Truyền
pháp xong, Ngài trình thần biến rồi tịch diệt. Long-Thọ
và đồ chúng hỏa táng thân Ngài, lượm xá-lợi xây tháp
cúng dường .
14.
- Bồ-Tát Long-Thọ (Nagarjuna)
Giữa
thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.
Ngài
cũng có tên là Long-Thắng,dòng Phạm-Chí ở miền Tây-Ân.
Thuở nhỏ, Ngài bẩm tánh thông minh;vừa nghe Phạm-Chí tụng
bốn kinh Phệ-Đà là Ngài thuộc lòng văn nghĩa. Đến 20 tuổi,
Ngài đi châu du khắp các nước tìm học các môn thiên văn,
địa lý,toán số,sấm ký và các học thuật của ngoại đạo.
Môn nào Ngài học đến đều xuất sắc hơn mọi người. Nhơn
một cơ duyên chẳng lành. Ngài nhận thực được các pháp
là vô thường đau khổ nên vào núi ở ẩn. Số người tìm
đến cầu học với Ngài rất đông.
Sau
khi gặp Tổ Ca-Tỳ-Ma-La cảm hóa, Ngài xin xuất gia được
Tổ độ cho và truyền cả tâm ấn. Từ đó,Ngài vân du thuyết
pháp khắp nơi,lần lượt đến miền Nam-Ấn. Dân chúng xứ
nầy chỉ sùng phước nghiệp,từ Ngài đến đem pháp yếu
chỉ dạy,họ tự bảo nhau :< Chỉ phước nghiệp nầy là
việc tôi thắng,nói về Phật tánh thì đâu thể thấy >.
Ngài
nhơn đó bảo họ : -Các ngươi nếu muốn thấy được Phật
tánh thì trước hết phải bỏ tâm ngã mạn đi,mới có thể
thấy được. Họ hỏi Ngài : -Phật tánh lớn hay nhỏ ? Ngài
đáp : -Chẳng nhỏ chẳng lớn, không rộng không hẹp, không
phước không báo, chẳng chết chẳng sống. Dân chúng nghe Ngài
nói tột lý,vui mừng nguyện học pháp ấy. Ngài liền ngay
trên tòa hóa thân như vầng mặt trăng. Dân chúng tuy nghe thuyết
pháp mà không thấy có hình Ngài. Trong ấy có con một ông
nhà giàu tên là Ca-Na-Đề-Bà, khi thấy thế liền cảm ngộ.
Đề-Bà
bảo dân chúng : -Biết tướng nầy chăng ? Dân chúng thưa :
-Chúng tôi không thể phân biệt được.Đề-Bà nói: -Đây
là Bồ-Tát thị hiện để biểu thị Phật tánh,muốn chúng
ta hiểu rỏ vậy. Vô tướng tam muội giống như mặt trăng
tròn là nghĩa Phật tánh rỗng rang sáng suốt .Đề-Bà nói
dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-Tát hiện ngồi an nhiên
chỗ cũ,nói kệ: Thân hiện viên nguyệt tướng,Dĩ biểu chư
Phật thể,Thuyết pháp vô kỳ hình,Dụng biện phi thinh sắc.
Dịch
: Thân hiện tướng trăng tròn, Để nêu thể các Phật, Nói
pháp không hình ấy, Dùng rõ phi thinh sắc .
Toàn
chúng nghe xong, đều cảm ngộ,cầu xin xuất gia. Ngài triệu
tập các bậc thánh tăng đến truyền giới. Trong số xuất
gia nầy, Đề-Bà là người dẫn đầu. Một quốc gia ở gần
miền Nam-Ấn,có đến năm ngàn người tu theo ngoại đạo được
nhiều phép lạ, Vua và quốc dân đều thọ giáo nơi họ,khiến
đạo Phật mờ tối. Ngài thấy thế cảm động,bèn đổi
hình thức,mặc áo trắng đợi mổi khi vua ra thành, Ngài cầm
cây cờ đi trước,hoặc ẩn hoặc hiện. Làm như thế đến
bảy lần. Hôm nọ,vua lấy làm lạ kêu lại hỏi : -Ngươi
là người gì dám đi trước ta, mà bắt không được,thả
chẳng đi ?
Ngài
đáp : -Tôi là người trí,biết tất cả việc. Vua nghe ngạc
nhiên,muốn thí nghiệm nói: -Chư thiên nay đang làm gì ?
Ngài
đáp : -Chư thiên đang đấu chiến với A-Tu-La. Vua hỏi :-Làm
sao được biết ? Ngài đáp :-Nếu bệ hạ muốn biết chốc
lát sẽ thấy chứng nghiệm. Quả nhiên,phút chốc thấy gươm
giáo tay chơn ở trên không rơi xuống. Vua và quốc dân rất
kính phục Ngài,nhơn đó,Ngài chuyển họ trở lại quy y Tam-Bảo.Hôm
nọ,Ngài gọi Ca-Na-Đề-Bà đến dặn dò.
-Như-Lai
lấy đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-Diếp,cho đến đời
ta,nay ta trao cho ngươi. Hãy nghe kệ :
Vị
minh ẩn hiển pháp, Phương thuyết giải thoát lý, Ư pháp tâm
bất chứng, Vô sân diệc vô hỷ.
Dịch
: Vì sáng pháp ẩn hiển, Mới nói lý giải thoát, Nơi pháp
tâm chẳng chứng, Không sân cũng không hỷ.
Dặn
dò xong,Ngài nhập nguyệt luân tam muội rồi hiện tướng thần
biến vào Niết-bàn. Ngài sáng tác rất nhiều bộ luận để
xiển dương giáo pháp Đại-Thừa :
1-Trung
luận, 2-Thuận trung luận, 3-Thập nhị môn luận, 4-Đại-Thừa
phá hữu luận, 5-Lục thập tụng như lý luận,
6-
Đại-Thừa nhị thập tụng luận, 7-Thập bát không luận,
8-Hồi tránh luận, 9-Bồ-đề tư lương luận, 10-Bồ-đề tâm
ly tướng luận, 11-Bồ-đề hạnh kinh, 12-Thích ma ha diễn luận,
13-Khuyến phát chư vương yếu kệ, 14-Tán pháp giới tụng,
15-Quảng đại pháp nguyện tụng.
Bồ-Tát
Mã-Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp đại-thừa
; chính Ngài là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho
đến vô tận ngọn đuốc Đại-Thừa, Những tác phẩm của
Ngài,bộ Trung-Luận có giá trị nhất, đến hiện nay đã dịch
ra nhiều thứ chữ để truyền bá khắp thế giới
15.
- Bồ-Tát Ca-Na-Đề-Bà (Kanadeva)
Cuối
thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.
Ngài
dòng Tỳ-Xá-Ly ở Nam-Ấn. Thuở nhỏ Ngài bẩm tánh thông minh,biện
tài vô ngại, Ban sơ Ngài học phong tục trong nước, ưa làm
việc phước thiện. Khi Tổ Long-Thọ đến nước nầy, Ngài
tìm đến yết kiến. Tổ Long-Thọ muốn thử Ngài,sai đồ
đệ múc một thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài
đi qua lấy cây kim bỏ vào, rồi thẳng đến yết kiến Tổ.
Thầy
trò gặp nhau vui vẻ lãnh hội, khi Tổ Long-Thọ thuyết pháp
hiện tướng vầng trăng tròn, Ngài thầm ngộ yếu chỉ. Ngài
theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn.
Sau
khi đắc pháp, Ngài vân du khắp nơi, lần lượt sang nước
Ca-Tỳ-La để giáo hóa.Trong nước nầy có ông trưởng giả
tên Tịnh-Đức sanh được hai người con trai, người cả tên
La-Hầu-La-Điểm,người thứ tên La-Hầu-La-Đa. Ông hằng ngày
chỉ săn sóc vườn tược. Hôm nọ,một cây trong vườn nẩy
sanh thứ nấm lạ, ông nhổ về ăn thử, thực ngon lành. Song
chỉ ông và người con thứ hằng ngày đều nhổ được nấm
ăn,ngoài ra không ai nhổ được. ông bảo con thứ: <Nấm
cây nầy chỉ ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường.Ước
gì có ai thông hiểu giải thích cho việc này>. La-Hầu La-Đa
nói kệ: Thử mộc sanh kỳ nhĩ, Ngã thực bất khô khao, Trí
giả giải thử nhơn, Ngã hồi hướng Phật đạo .
Dịch
: Cây nầy sanh nấm lạ, Con ăn rất ngon lành, Người trí giải
nhơn nầy, Con xin theo Phật đạo .
Chợt
gặp Bồ-Tát Đề-Bà đến nhà,cha con ông Tịnh Đức vui mừng
đem việc nầy ra hỏi. Ngài dạy :-Khi xưa lúc ông hai mươi
tuổi thường mời một vị Tỳ-kheo về nhà cúng dường. Vị
Tỳ-kheo ấy tuy có chút ít giới hạnh mà con mắt pháp chưa
sáng,tâm không thấu lý,luống nhận sự cúng dường của ông.
Song vị Tỳ-kheo ấy có chút ít tu hành nên khỏi sa vào đường
ác,vẫn phải làm cây sanh nấm nầy để trả nợ cho ông.
Xưa khi vị Tỳ-kheo ấy đến nhà ông,trong nhà chỉ có ông
và người con thứ nầy thành kính cúng dường,còn bao nhiêu
người đều không vui. Vì thế,nên nấm hiện nay chỉ hai cha
con ông được hưởng. Ngài lại bảo: -Ông nay được bao nhiêu
tuổi ? Trưởng giả thưa: -Tôi được 79 tuổi.
Ngài
nói kệ : Nhập đạo bất thông lý, Phục thân hoàn tín thí,
Nhữ niên bát thập nhất, Thử mộc diệc vô nhĩ.
Dịch
: Vào đạo không thông lý, Hoàn thân đền tín thí, Trưởng
giả tuổi tám mốt, Cây nầy không sanh nấm.
Ông
trưởng giả nghe nói xong,biết rõ duyên trước càng thêm thán
phục, Ông thưa :-Tôi già yếu tuy muốn xuất gia e không kham
theo thầy. Đứa con thứ của tôi hết lòng mộ đạo,tôi xin
cho nó theo làm thị giả cho thầy,mong thầy dung nạp. Ngài
hoan hỷ chấp nhận La-Hầu-La-Đa xuất gia và triệu tập các
vị thánh tăng đến truyền giới.
Ngài
du hóa đến nước Ba-Liên-Phất gặp lúc ngoại đạo hưng
thịnh Phật pháp lu mờ. Ngài đem hết khả năng chuyển hóa
ngoại đạo trở về quy y Tam-Bảo,khiến xứ nầy Phật pháp
hưng thịnh lại.
Khi
già yếu, Ngài gọi La-Hầu-La-Đa đến phó chúc pháp nhãn tạng
và dặn dò đừng để đoạn diệt. Kế nói kệ :
Bổn
đối truyền pháp nhơn, Vị thuyết giải thoát lý, Ư pháp
thật vô chứng, Vô chung diệc vô thủy.
Dịch
: Xưa đối người truyền pháp,Vì nói lý giải thoát, Nơi
pháp thật không chứng, Không chung cũng không thủy.
Dặn
dò xong,Ngài nhập định ngồi nghiêm chỉnh thị tịch. La-Hầu-La-Đa
và đồ chúng xây tháp cúng dường.
Ngài
là Bồ-Tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại-Thừa. Những
tác phẩm Ngài trước thuật :
1.-Bách
luận, 2.-Bách tự luận, 3.- Đại trượng phu luận, 4.-Đề-Bà
Bồ-Tát phá Lăng-Già kinh trung ngoại đạo tiểu-thừa tứ
tông luận, 5.- Đề-Bà Bồ-Tát thích Lăng-Già kinh trung ngoại
đạo tiểu-thừa Niết-bàn luận…
Những
bộ luận trên nổi tiếng nhất là bộ Bách-luận và Đại-Trượng-Phu
luận .
16.
-Tổ La-Hầu-La-Đa (Rahulata)
Đầu
thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn .
Ngài
dòng Phạm-Ma ở nước Ca-Tỳ-La, Thuở nhỏ đã có sẵn lòng
mộ đạo. Khi lớn do cơ duyên trong vườn có cây mọc nấm,
Tổ Đề-Bà giải thích nhơn do,mà Ngài được xuất gia. Sau
khi được truyền tâm ấn,Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa
nhơn gian,lần lượt đến phía Nam thành Thất-La-Phiệt gặp
sông Kim-Thủy. Ngài bảo chúng :
-Các
ngươi biết chăng ? Vừa thấy bóng năm đức Phật hiện dưới
dòng sông, ta lấy bát mút nước nếm có mùi vị lạ, ngược
dòng sông nầy chừng năm trăm dặm sẽ có bực chí nhơn ở,
hiệu là Tăng-Già-Nan-Đề.
Ngài
bèn dẫn chúng theo ven bờ sông trở lên,quả nhiên thấy Nan-Đề
đang ngồi thiền trong thất đá.Ngài và đồ chúng
dừng
lại xem,chờ đến bảy ngày Nan-Đề mới xuất định. Ngài
hỏi Nan-Đề: -Thân ông định hay tâm ông định ?
Nan-Đề
đáp: -Thân tâm đều định. –Thân tâm đều định sao có
xuất nhập ? –Tuy có xuất nhập mà không mất tướng định,như
vàng ở trong giếng,vàng ra ngoài giếng,thể vàng vẫn yên
lặng. -Nếu vàng ở trong giếng,vàng ra ngoài giếng,thể vàng
không động tịnh,thì vật gì ra vào ? -<Nơi vàng không động
tịnh thì vật gì ra vào> ? Đã thừa nhận vàng
ra
vào mà thể vàng không động tịnh. -Nếu vàng ở trong giếng
thì ra là vật gì ? –Vàng,nếu ra ngoài thì ở trong giếng
không phải vàng,Vàng nếu ở trong giếng thì ra không phải
vật. –Nghĩa nầy không đúng. –Lý kia chẳng nhằm. –Nghĩa
nầy
đã ngã. –Nghĩa kia chẳng thành. –Nghĩa kia chẳng thành mà
nghĩa của ta thành. –Nghĩa ta tuy thành mà pháp không có ta.
–Nghĩa ta đã thành vì ta mà không ta. –Ta mà không ta lại
thành nghĩa gì ? –Vì ta không ta nên thành nghĩa của ngươi.
–Nhơn giả thờ vị thánh nào mà được <không ta> ấy
? -Thầy ta là Bồ-Tát Ca-Na-Đề-Bà chứng được
<không
ta>. Nan-Đề tán thán : -Cúi đầu lễ Đề-Bà,người tạo
thành nhơn giả. Vì nhơn giả <không ta>, tôi muốn thờ nhơn
giả. Ngài bảo : -Vì ta đã<không ta>, ngươi cần thấy ta
ta. Ngươi nếu thờ nơi ta, biết ta chẳng ta ta.
Nan-Đề
tâm được rỗng rang liền đảnh lễ nói kệ :
Tam
giới nhất minh đăng, Hồi quang nhi chiếu ngã, Thập phương
tất khai lãng, Như nhật hư không trụ.
Dịch
: Ba cõi một ngọn đèn, Ánh sáng soi chiếu con, Mười phương
đều sáng lạng, Như mặt trời trong không.
Nan-Đề
nói kệ xong,lại đảnh lễ cầu xin thế độ. Ngài bảo: -Tâm
ngươi tự tại chẳng lệ thuộc vào ta,cần gì nương nhờ
mà cầu giải thoát. Một hôm, Ngài gọi Nan-Đề đến bảo
:-Nay ta đã già không còn ở đời bao lâu, đại pháp nhãn
tạng của Như-Lai trao lại cho ngươi. Nghe ta nói kệ :
Ư
pháp thật vô chứng, Bất thủ diệc bất ly, Pháp phi hữu
vô tướng, Nội ngoại vân hà khởi.
Dịch
: Nơi pháp thật không chứng, Chẳng giữ cũng chẳng lìa, Pháp
chẳng tướng có không, Trong ngoài do đâu khởi.
Nan-Đề
nghe kệ xong càng thêm cung kính, nói kệ tán thán :
Thiện
tai đại thánh giả, Tâm minh du nhật nguyệt, Nhất quang chiếu
thế giới, Ám ma vô bất diệt.
Dịch
: Lành thay ! bậc đại thánh, Tâm sáng như nhật nguyệt, Ánh
sáng chiếu thế giới, Ma tối diệt hết sạch.
Ngài
ngồi trên tòa lặng lẽ thị tịch. Bốn chúng xây tháp cúng
dường .
17.
-Tổ Tăng-Già-Nan-Đề (Sanghanandi)
Giữa
thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn.
Ngài
là hoàng-tử con vua Bảo-Trang-Nghiêm ở thành Thất-La-Phiệt.
Ngài sanh chưa bao lâu đã biết nói,mà thường nói việc Phật
pháp. Năm bảy tuổi, Ngài chán thú vui ở đời,cầu xin xuất
gia. Ngài nói kệ xin cha mẹ :
Khể
thủ đại từ phụ, Hòa nam cốt huyết mẫu, Ngã kim dục xuât
gia, Hạnh nguyện ai mẫn cố .
Dịch
: Cúi đầu lễ cha lành, Nép mình lạy mẹ hiền, Nay con muốn
xuất gia, Xin thương xót nhận cho .
Cha
mẹ cố khuyên giải không cho. Ngài phải nhịn ăn nài nỉ
cho kỳ được. Đối cùng cha mẹ thấy chí Ngài quá mạnh
không sao ngăn nổi,nên cho xuất gia với điều kiện ở một
ngôi nhà riêng trong hoàng cung. Vua thỉnh Sa-Môn Thiền-Lợi-Đa
về dạy Phật pháp cho Ngài. Từ đây Ngài được pháp danh
là Tăng-Già Nan-Đề. Ngài ở trong hoàng cung chín năm tu hành,mới
được thọ giới cụ túc. Một hôm,Ngài tự cảnh tỉnh :
-Ta đã thọ giới cụ túc mà còn ở trong nhà thế tục nầy
sao ? Chợt một buổi chiều trời quang mây tạnh, Ngài nhìn
thấy một con đường bằng phẳng, ở xa đầu kia lố dạng
một ngọn núi xanh. Ngài liền cất bước nhắm hòn núi thẳng
tiến. Ngài đi đến dưới núi mà trời chưa tối. Tự Ngài
tìm được thất đá rồi ngồi thiền nơi ấy. Năm ấy Ngài
26 tuổi.
Sáng
hôm sau,vua nghe mất Thái-tử cho người tìm kiếm khắp nơi
không được. Bực mình,vua đuổi Sa-Môn Thiền-Lợi-Đa ra khỏi
thành. Ngài tu thiền ở đây ngót mười năm,mới có cơ duyên
gặp Tổ La-Hầu-La-Đa được truyền chánh pháp. Sau khi đắc
pháp,Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi làm lợi lạc
quần sanh.Một hôm,Ngài bảo đồ chúng
-Thầy
ta La-Hầu-La-Đa thường nói nước Ma-Đề sẽ ra đời một
vị thánh tên Già-Da-Xá-Đa nối ta truyền pháp. Nay ta và các
ngươi sang nước ấy tìm. Ngài liền dẫn đồ chúng du hóa
nước Ma-Đề. Đang đi trong nước nầy,bỗng có một luồng
gió mát lành từ phương tây thổi đến làm mát khỏe toàn
chúng, Ngài bảo chúng : -Đây là đạo đức phong,ba ngàn
dặm
về phía tây ắt gặp thánh nhơn. Thầy trò đi đến một hòn
núi nhìn lên đảnh có áng mây năm sắc.
Ngài
bảo chúng : -Trên đảnh núi có mây tía như cái lọng ắt
là chỗ thánh nhơn ở. Lên đến đảnh,quả nhiên thấy một
mái nhà tranh nằm bên cạnh núi. Một đứa bé cầm gương
tròn, đến trước bái Ngài. Ngài hỏi : -Ngươi bao nhiêu tuổi
?
Đứa
bé thưa : -Trăm tuổi. –Ngươi còn bé mà sao trăm tuổi ? –Tôi
chẳng hiểu sao,chính tôi một trăm tuổi. –Ngươi có căn
cơ lành chăng ? -Phật đâu không nói kệ :<Nếu người sanh
trăm tuổi không hội được cơ duyên chư Phật,chẳng bằng
sanh một ngày,mà được hiểu rành rõ>. –Ngươi cầm gương
tròn ý muốn làm gì ? Đứa bé nói kệ :
Chư
Phật đại viên giám, Nội ngoại vô hà ế, Lưỡng nhơn đồng
đắc kiến, Tâm nhãn giai tương tợ.
Dịch
: Chư Phật gương tròn lớn, Trong ngoài không vết che, Hai người
đồng được thấy, Tâm mắt đều giống nhau .
Cha
mẹ thấy đứa bé đối đáp hợp đạo như thế, đồng ý
cho Ngài làm thị giả,Ngài nhận đứa bé dẫn về tịnh-xá
cạo tóc thọ giới,cho hiệu là Già-Da-Xá-Đa. Một hôm,gió
thổi cái linh treo trên điện Phật khua động, Ngài hỏi Xá-Đa:
-Linh kêu hay gió kêu ? –Xá-Đa thưa: -Chẳng phải linh kêu,chẳng
phải gió kêu,mà tâm con kêu.–Tâm ngươi là cái gì ? -Đều
lặng
lẽ. –Hay thay! ngươi khéo hội lý Phật,nên nói pháp yếu,nối
đạo cho ta,chẳng phải ngươi còn ai ? Ngài liền nói kệ
Tâm
địa bổn vô sanh, Nhơn địa tùng duyên khởi, Duyên chủng
bất tương phòng, Hoa quả diệc phục nhi .
Dịch
: Đất tâm vốn không sanh, Nhơn đất từ duyên khởi, Duyên
giống chẳng ngại nhau, Hoa trái cũng như thế .
Nói
kệ xong, Ngài nắm cành cây mà hóa. Đồ chúng bàn nhau: <
Thầy ta diệt độ ở dưới tàng cây, cũng là điềm che mát
cho kẻ sau >. Liền làm lễ hỏa táng tại đây .
18.
-Tổ Già-Da-Xá-Đa (Gayasata)
Cuối
thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn.
Ngài
họ Uất-Đầu-Lam ở nước Ma-Đề, cha hiệu Thiên-Cái, mẹ
là Phương-Thánh. Bà Phương-Thánh thọ thai,một đêm mộng
thấy có người cầm cái gương báu đến nói: <Tôi đến
>. Bà chợt tỉnh giấc,nghe toàn thân nhẹ nhàn thanh thản,khác
hơn ngày thường. Trong nhà có mùi hương lạ,vài lằn hào
quang xuất hiện. Bảy ngày sau, Bà sanh ra Ngài.
Thân
Ngài trong sáng giống như lưu-ly. Ngài thích chỗ vắng vẻ,nói
ra những lời siêu việt. Nhà cha mẹ Ngài ở trên núi Bảo-Lạc-Ca.
Sau khi Ngài ra đời,ngôi nhà nầy luôn luôn có áng mây tía
che đậy trên không. Tổ Tăng-Già-Nan-Đề nhơn thấy áng mây
ấy,tìm đến gặp Ngài. Từ đó, Ngài theo làm đệ tử Tổ
Về
sau, Ngài được Tổ truyền tâm ấn và thống lãnh đồ chúng.
Tùy duyên, Ngài đi vân du khắp nơi để giáo hóa làm lợi
ích cho quần sanh. Khi tuổi đã già, Ngài du hóa đến nước
Nguyệt-Chí. Trong nước nầy có người dòng Bà-La-Môn
Tên
Cưu-Ma-La-Đa tuổi được 30 tu theo ngoại đạo,chủ thuyết
tự nhiên. Ông có nuôi một con chó,mỗi khi ăn xong,
con
chó ra hành lang dưới tấm rèm nằm. Có những khi mưa gió
ướt cả mình,mà nó vẫn nằm đó. Người nhà sợ nó lạnh
đuổi
đi chỗ khác,rồi nó cũng trở lại chỗ đó nằm. Ông Cưu-Ma-La-Đa
lấy làm lạ, đem việc đó hỏi thầy ông, nhưng không giải
được điều gì. Ông mong có dịp gặp những bậc tu hành
đạo đức cao cả để nhờ giải nghi.
Ngài
cùng đồ chúng đi đến gần nhà người Bà-la-môn nầy,bỗng
thấy khí đại thừa xông lên. Ngài dừng lại bảo chúng:
-Khí
nầy nếu vòng tròn như khoen đeo tai là có Bồ-Tát bên cạnh.
Nay khí nầy tương tợ vòng tròn ắt có thánh nhơn gần đây.
Thầy trò đi đến một đỗi,bỗng có người Bà-la-môn đến
hỏi thị giả: <Thầy đây là người gì ?> Thị giả đáp:
<Là đệ tử Phật>. Người ấy liền chạy thẳng vào nhà
đóng cửa lại. Ngài đi theo đến nơi gõ cửa. Trong nhà nói
vọng ra rằng:
-Nhà
nầy không có người. –ngài hỏi: -Đáp không người đó
là ai ? Cưu-Ma-La-Đa nghe nói bèn có vẻ lạ, nghi là bậc đạo
hạnh bèn mở cửa. Ra thấy Ngài, ông chào và thỉnh ngồi
ghế giữa, đoạn đem nghi vấn về con chó ra hỏi.
Ngài
giải thích: -Con chó nầy là cha của ông, bởi có chút ít
nghiệp nên đọa làm súc sanh. Xưa kia cha ông đem cả ngàn
đính vàng để trong cái hũ lén chôn dưới rèm. Đến khi người
chết,chưa gặp ông để trối lại,vì còn tiếc của nầy
nên sanh ra làm chó để gìn giữ. Nếu ông đào được, ắt
nó sẽ bỏ đi. Cưu-Ma-La-Đa liền cho người đào chỗ con chónằm,quả
nhiên được hũ vàng đúng như lời Ngài nói. Ông hết lòng
kính phục phát nguyện xuất gia. Ngài hoan hỷ chấp nhận làm
lễ xuất gia thọ giới và cho làm thị giả. Thấy cơ duyên
đã mãn, Ngài kêu Cưu-Ma-La-Đa đến dặn dò: -Xưa Như-Lai đem
đại pháp nhãn trao cho Tổ Ca-Diếp truyền lần đến ta, nay
ta truyền lại cho ngươi. Ngươi nghe ta dạy:
Hữu
chủng hữu tâm đị