Bản
chất Niết bàn chỉ cho trạng thái sống của chư Phật và
các Bậc A la hán. Vì vậy quan sát sự sống của các Ngài,
chúng ta sẽ hình dung được trạng thái Niết bàn. Đức Phật
dạy rằng có bốn thứ Niết bàn.
Một
là Hữu dư y Niết bàn nghĩa là chư Phật và các vị A la hán
khi còn sống trên cuộc đời này, các Ngài luôn sống an lạc,
hạnh phúc, giải thoát. Vì yếu nghĩa ấy mà Niết bàn còn
được gọi là chân hạnh phúc và trong chân hạnh phúc này,
hành giả đạt được bốn điều là: thường, lạc, ngã và
tịnh.
Có
cuộc sống thường, lạc, ngã, tịnh ngay khi còn hiện tiền,
thì đến lúc xả thân ngủ uẩn, trạng thái Niết bàn mà
chư Phật và các vị A la hán đã đạt được trên cuộc đời
này vẫn còn nguyên vẹn, không mất, đó là Vô dư y Niết
bàn hiện hữu ở thế giới vĩnh hằng bất tử của Đức
Phật. Nói cách khác, người thực tốt trên cuộc đời thì
dù không còn thân tứ đại họ vẫn tiếp tục sống tốt
ở cảnh giới khác. Tuy nhiên, làm thế nào để biết đã
đạt được trạng thái Niết bàn. Có thể khẳng định rằng
khi còn sống, hành giả có lực cảm hóa người và khi không
còn hiệu hữu trên cõi đời này, trạng thái Niết bàn của
hành giả vẫn tỏa ra lực tác động lợi lạc cho người
sống. Thật vậy, điển hình là ngày nay tuy Đức Phật đã
vắng bóng trên cuộc đời, nhưng tất cả hàng đệ tử của
Ngài nhờ nương vào trạng thái thanh tịnh thường hằng, an
lạc của Đức Phật mà có thể tiến tu vững vàng, an lạc
và giải thoát trong Nhà lửa tam giới. Trên bước đường
tu, nếu chúng ta thể nghiệm bốn trạng thái thường, lạc,
ngã, tịnh theo Đức Phật, chúng ta sẽ nhận được lực gia
bị của Phật, gọi là Phật hộ niệm, nhất là hành giả
Pháp Hoa sẽ dễ dàng cảm nhận sự hộ niệm của Phật. Riêng
tôi, nếu không nhờ Phật hộ niệm, chắc chắn không thể
sống an lành và cũng không thành ựu đưọc những Phật sự
như ngày nay.
Đức
Phật luôn hộ niệm cho tất cả chúng sinh, Đức Phật đó
đang ở thế giới Vô dư y Niết bàn mà kinh điển Đại thừa
gọi là thế giới Thường Tịch Quang. Khi chúng ta còn bị
ràng buộc bởi thân ngũ ấm này, nên chỉ thấy được thân
sinh diệt của Đức Phật và nghĩ rằng Phật chết là
chấm dứt cuộc sống của Ngài. Vì nghĩ tưởng sai lầm như
thế, cho nên chúng ta khó thấy được và khó tương thông
được với Đức Phật hằng hữu ở Thường Tịch Quang chơn
cảnh. Tuy nhiên, nếu trụ tâm trong pháp Phật, chúng ta có
thể cảm nhận được, quan hệ được với Đức Phật hằng
hữu và tiếp nhận được lực tác động của Ngài. Kinh Pháp
Hoa đã triển khai yếu nghĩa này để chúng ta thấy được
Hữu dư y Niết bàn và Vô dư y Niết bàn của Đức Phật.
Trì
tụng Kinh Pháp Hoa, chúng ta sẽ nhận ra yếu nghĩa của hai
Niết bàn này trong ba phẩm: Tùng địa dũng xuất, Như Lai thọ
lượng và Phân biệt công đức. Người tu theo kinh Pháp Hoa
không nghĩ rằng Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời, tu
hành thành Phật rồi chấm dứt mạng sống là chấm hết.
Trong
phẩm Như Lai thọ lưọng thứ 16, Đức Phật đã nói rằngTrời,
Người, A tu la nghĩ là Phật xuất thân từ cung dòng họ Thích,
đến cội bồ đề gần thành Già Da mà thành Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Đó là cái thấy của người sống với
ức uẩn, thấy Phật mang thân tứ đại hữu hạn trên thế
gian này như mọi người thì nói rằng có Phật và Phật không
hiện hữu thì nói Phật chết. Tuy nhiên, nếu chúng ta không
bị lệ thuộc cuộc sống vật chất và rời bỏ được biển
thức mênh mông để sống với trạng thái tâm thanh tịnh,
thì sẽ thấy khác, không thấy hạn hẹp là chỉ có Phật
mang sanh thân sống và chết như bao nhiêu người bình thường;
nhưng cảm nhận được Đức Phật vĩnh hằng bất tử và
tiếp nhận được lực truyền thông với Đức Phật bất
sinh bất diệt này.
Tuy
đồng mang thân người, nhưng tâm thức của mỗi người trên
cuộc đời này hoàn toàn khác nhau, gọi là nghiệp thức. Tất
cả những suy nghĩ của chúng ta tùy thuộc ớ nghiệp thức
tác động và từ ở chúng ta thấy và sống với thế giới
lương ưng với nghiệp thức của mình. Chỉ có các vị Thánh
La hán và Đức Phật mới vượt ngoài sự chi phối của nghiệp
thức. Còn tất cả chúng sinh đều bị nghiệp thức chi phối:
nếu thức cua chúng ta khởi lên những gì tương đồng với
súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, hoặc chư Thiên... thì chúng
ta sẽ có thế giới tương ưng của súc sanh, địa ngục, ngạ
quỷ hoặc chư Thiên. Và tất nhiên, nếu thức của chúng ta
tuơng ưng với trạng thái thường, lạc, ngã, tịnh chúng ta
sẽ có Niết bàn. Vì vậy trên bước đường tu, có lúc chúng
ta hướng tâm được đến bờ mé của Niết bân, nên thấy
Phật, nghe pháp và tâm hồn rất an lạc, thanh tịnh; nhưng
bất chợt, chúng ta rớt trở lại trạng thái của thức, hay
cuộc sống bình thường thì cũng bị phiền não khổ đau.
Khi
sống đời thưòng, chúng ta tiếp xúc với người, với cảnh,
chúng ta thấy, nghe, nhận thức, tức là sống với ý thức
của con người. Đức Phật cũng mang thân người như tất
cả mọi người, nhưng chắc chắn rằng Đức Phật có đời
sống tâm linh hoàn toàn thanh tịnh giải thoát. Vì vậy, Đức
Phật có niềm thao thức khác hẳn mọi người. Làm người
ai cũng cỏ tham vọng được quyền cao chức trọng, được
giàu sang sung sướng, thậm chí là tỷ phú, không thiếu thứ
gì mà cũng còn muốn có thêm nữa. Đức Phật thì trái lại,
khi còn là Thái tử, Ngài đã không có ham muốn như mọi người
, nhưng Ngài có thêm nữa. Đức Phật thì trái lại, khi còn
là Thái tử, Ngài đã không có ham muốn như mọi người ,
nhưng Ngài có tánh của Niết bàn. Thật vậy, suy nghĩ của
Đức Phật khác với suy nghĩ cúa con người và việc làm cửa
Ngài cũng hoàn toàn khảc. Lịch sử đã ghi rõ rằng Đức
Phật có cơ thể kỳ diệu, Ngài thông minh tuyệt đỉnh và
có lòng từ bi vô hạn. Với những tố chất siêu phàm như
vậy mà Ngài thành tựu quả vị Phật một cách dễ dàng chỉ
sau 49 ngày tư duy với cội bồ đề.
Từ
đó, có thể khẳng định rằng Đức Phật từ Vô dư y Niết
bàn hiện sanh trên cuộc đời, mang thân ngũ uẩn, ví như chúng
ta mặc áo vậy. Cốt lõi bên trong là Phật, nhưng Ngài khoác
vào chiếc áo "Người". Vì vậy mà Trời, Người, A tu la mới
lầm tưởng rằng Đức Phật giống như họ . Chư Thiên nghĩ
Phật là Đấng Đại Thiên, A tu la nghĩ Phật là Lãnh chúa
của họ và loài người nghĩ Phật giống y như họ. Nhưng
Đức Phật khẳng định rằng Ngài không phải như vậy; Đức
Phật sống trên thế gian này, nhưng suy nghĩ của Ngài hướng
về thế giới Niết bàn, tâm Ngài an trụ ở cảnh giới Niết
bàn. Tôi thấy những bậc chân tu trên cuộc đời này cũng
có trạng thái tâm giống như vậy; mặc dù họ hiện hữu
trên cuộc đời nhưng tất cả những gì của thế gian không
đủ sức hấp dẫn họ, nên họ thường dấn thân vào những
việc làm cao thượng và dễ dàng thăng hoa đạo nghiệp. Nói
cách khác, họ tu hành, đã có hạt nhân của Niết bàn, tất
yếu phải thành tựu của Niết bàn. Người tu không có kết
quả vì hạt nhân Niết bàn không có. Nếu sống và suy nghĩ
như người thường, sẽ không có thế giới Niết bàn hiện
tiền, nói chi đến Niết bàn sau khi chết.
Thử
nghĩ Đức Phật là người, nhưng tại sao trước Phật và
sau Phật không có vị Phật nào khác. Từ ý này, chúng ta nhận
ra Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có hạt nhân đại Niết bàn
bên trong, tức cốt lõi của Ngài là Phật và Ngài hiện sanh
trên cuộc đời, xuất gia, tu hành, thâm nhập thiền định,
đời sống vật chất không chi phối được Ngài; vọng thức
của Ngài nếu có do cha mẹ truyền sang thì cũng rất mờ yếu.
Thực tế cho thấy người nghiệp nhẹ tu hành dễ dàng; trong
khi người nghiệp nặng tu hành rất gian nan, họ cố gắng
nhiều, nhưng không vượt được sự chi phối của vật chất.
Thí dụ cho dễ hiểu, người không biết uống rượu, không
hút thuốc lá, họ không thể bị hai thứ độc hại nây hành
hạ, nên họ không cần cai nghiện, không cần cố găng bỏ
rượu, bỏ thuốc lá. Tôi khuyên một người đệ tử bỏ
thuốc lá; anh ta nói rằng nếu không hút thuốc lá thì không
thấy đường đi! Chúng ta không có nghiệp này, nên thẩy người
nghiện rất kỳ quặc. Còn người nghiện rượu, nghiện thuốc
lá muốn bỏ thói hư này là cả một vấn đề với họ; phái
có quyết tâm cao và kiên nhẫn lớn, họ mới vứt bỏ được
nghiệp tập quán ấy.
Cũng
vậy , muốn bỏ nghiệp trần gian để đi vào thế giới Phật,
phải dụng công tối đa. Tổ Thiên Thai dạy rằng tu hành cần
phải dụng công, lục căn thanh tịnh, lục thông hiển bày.
Rõ ràng việc dụng công rất quan trọng. Đức Phật tuy cốt
lõi của Ngài là Phật, nhưng Ngài cũng phải dụng công; trong
lúc thể nghiệm pháp tu, Ngài đã nhịn ăn đến mức da bụng
dính với xương sống và có sức tập trung cao vượt clua 500
do tuần đường hiểm, tức là vượt qua sự chi phối của
ngũ ấm thân, sắc thọ tưởng hành thức, vượt được từng
tẩng một, cuối cùng vượt được Thức uẩn, Ngài mới đến
thế giới Niết bàn. Riêng tôi đã cố gắng thực tập pháp
hành này, từng bước đi vào thế giới tâm, nhưng đến được
bờ mé của Niết bàn mà Đức Phật gọi là Dự lưu, bỗng
nhiên rơi trở lại thực tế cuộc sống, ví như người trèo
lên núi, tới được đỉnh núi thì lại rơi xuống.
Đức
Phật dạy rằng người trần gian nghiệp nặng phải phá trừ
nghiệp bằng cách thực tập thiền Tứ niệm xứ là pháp căn
bản để đi vào cửa Niết bàn. Người xuất gia thực hành
được pháp này cũng không dễ dàng, huống chi là người tại
gia thì khó vô cùng.
Quán
thuần thục Tứ niệm xứ: Quán thân bất tịnh, quán thọ
thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, sẽ thấy
Niết bàn một, là đi vào được biển Không; trụ trong trạng
thái Không là điều quan trọng. Ngài Lục Tổ Huệ Năng dẫn
chúng ta đến bờ mé này, mà Ngài gọi là "Bản lai vô nhất
vật", tức là đạt đến tất cánh Không, thì pháp Không và
ngã Không. Phật tử đạt được pháp này khó vô cùng; vì
người hiện diện trước chúng ta mà mình nói không có, là
vọng tưởng. Thành tựu pháp không thì không có người chửi,
không có người bị chửi, không có câu chửi. Tôi cố thực
tập pháp này, họ chửi mấy tiếng, mình cố gắng không nghe,
nhưng sau đó cũng thoáng nghe, nghĩa là tai không nghe, nhưng
nghiệp còn, nên "Thức" của mình nghe; như vậy ngã của mình
chưa Không thì làm sao có tất cánh Không được, làm sao ngũ
ấm thân không có được.
Thực
tập quán tứ niệm xứ, vượt qua được tầng một là Sắc
uẩn, thì bị đánh, mình không biết đau, vì lực tập trung
tư tưởng cao. Thuở nhỏ tôi đọc chuyện Tam quốc nói rằng
ông Quan Thánh cho người ta mổ vết thương ở cánh tay trong
lúc ông ngồi đánh cờ, mà ông không có cảm giác đau; đó
là nhờ ông tập trung cao độ, vượt qua được Sắc uẩn,
nhưng rõ ràng ông vẫn còn Thức uẩn, tức là có sự suy nghĩ,
phân biệt, mới đánh cờ được và ông còn Hành uẩn để
tính toán đi nước cờ thế nào. Và khi đánh cờ xong, trở
lại thực tế từ Sắc uẩn cho đến Thức uẩn vẫn còn nguyên.
Khi
nhập thiền định, chúng ta dễ vượt qua Sắc uẩn và Thọ
uẩn, có tiếng động, chúng ta không biết, nhưng vẫn còn
hoạt động của Tưởng, Hành, Thức, gọi là đời sống nội
tâm. Nhưng trong đời sống nội tâm này có hai phần, một
phần làm chúng ta an lạc và một phần làm chúng ta khổ đau.
Trước mắt, tôi loại phần khổ đau và nuôi dưỡng phần
an lạc. Đối với tôi, tu Đại thừa, dùng Tưởng cửa mình
mà tưỏng ra Đức Phật, sử dụng Hành uẩn là khơi ý niệm
tu hành, thực tập giáo pháp và cho Thức uẩn hoạt động
bằng cách giữ lại sự hiểu biết về hành trạng của chư
Phật và chư Bồ tát theo kinh điển. Nếu bỏ thức, coi chừng
rơi vào trạng thái than nguội củi mục mà Đức Phật và
chư vị Tổ sư thường quở trách.
Thiết
nghĩ mỗi người có một cách hành trì riêng, nhưng đối với
tôi giữ phần Tưởng uẩn mạnh bằng cách tập trung tư tưởng
về Đức Phật, về hành trạng của Đức Phật, về quá trình
tu của Đức Phật. Thí dụ tôi tụng kinh Dược Sư thì trong
thiền định tôi cũng quán tuởng đến Đức Phật Dược Sư,
nghỉ tưỏng đến công hạnh của Ngài, đến thành quả của
Ngài đạt được… Tất cả những điều này luôn gắn liền
với tưởng của tôi và từ Tưởng như vậy thúc bách Hành
uẩn của tôi cố gắng thực hiện những điều Phật dạy,
cho đến Thức uẩn của tôi hoạt động theo chiều hướng
tốt do suy nghĩ, đọc tụng kinh điển. Như vậy, Tưởng, Hành
và Thức đều nằm trong Phật pháp.
Tôi
chuyển từ quán Tứ niệm xứ theo Nguyên thủy sang Đại thừa
bằng cách đọc tụng kinh điển, lễ sám, hành thiền và đạt
được trạng thái tuy chưa phải là Niết bàn của Phật, nhưng
ít nhất tôi cũng có đời sống tâm linh theo pháp Phật, có
thế giới quan gần với Phật để an trụ mà tôi gọi là
Tịnh độ. Tôi tạo được mảnh đất tâm trong sạch cấu
tạo bằng hình ảnh và việc làm thánh thiện của Như Lai,
Bồ tát, A la hán. Tôi giữ gìn và phát huy Phật, Bồ tát A
la hán trong lỏng tôi để làm Bồ đề quyến thuộc giữa
cảnh sống triền phược ở Ta bà này. Khi tôi thuyết pháp
xong ở đạo tràng này, thân tôi rời khỏi cảnh thực tế
nơi đây đồng thời tâm tôi trở về thế giới Tịnh độ
của riêng mình, nơi đó chỉ có Như Lai, Bồ tát, A la hán
ngự trị, không bao giờ các Ngài làm phiền mình, vì các Ngài
không có tâm sự vui buồn tác động cho mình vọng tưởng.
Và chư Như Lai, chư Bồ tát, chư La hán luôn nói điều hoàn
toàn tốt lành, nên tâm tôi luôn được an lạc, thanh tịnh,
giải thoát. Đó là kinh nghiệm của tôi để vào Hữu dư y
Niết bàn.
Theo
tôi, các Phật tử tu học, tuy chưa đạt được Niết bàn
như Phật, nhưng cũng phải có những khoảnh khắc sống với
Phật và Hiền thánh để tạo mánh đất tâm trong sạch cho
chính mình. Chính Đức Phật Di Đà lúc mới tu, Ngài cũng phải
xây dựng An dưỡng quốc của riêng Ngài. Ý thửc rằng thế
giới Ta bà là cõi ngũ trược ác thế, nên chúng ta phải có
mành đất tâm thanh tịnh để trú ngụ ngay trong cõi đòi này.
Kinh nguyên thủy dạy chúng ta từ bỏ tất cả để được
tâm trong sạch. Kinh điển Đại thừa dạy chúng ta lựa chọn
những gì an lạc để giữ lại và nuôi lớn, con những gì
làm chúng ta suy nghĩ, lo lắng thì vứt bỏ .
Thành
tựu được pháp quán Tứ niệm xứ nhanh hay chậm tùy theo
nghiệp thức nặng nhẹ của mỗi người khác nhau. Tu quán
Tứ niệm xứ thuần thục, phải tiến qua thực tập pháp Tứ
chành cần; lúc đó hành giả ngồi yên, nhưng cluán sát xem
cái gì trong tiềm thức chúng ta khởi lên, nếu điều thiện
khởi, chúng ta giữ lại, điều ác sinh ra, chúng ta đoạn trừ,
điều lợi, điều tốt cho ta và người, chúng ta giữ gìn
và phát huy trong tâm mình.
Đức
Phật dạy Bồ tát Địa Tạng râng chúng sinh trong địa ngục
toàn là ác xấu, nhưng Bồ tát thấy có một điểm tốt nào,
dù nhỏ nhoi, cũng nên nhớ; còn lưu lại trong tâm toàn là
xấu ác của chúng sinh ở địa ngục, Địa Tạng cũng phải
bị loạn tâm. Theo tôi, lưu lại lòng mình điều tốt lợi
cho chúng ta vô cùng. Vì vậy tôi thường nhìn đòi lạc cluan
hon; lạc cluan lâ vui để sống, tức trạng thái bờ mé của
Hữu dư y Niết bàn. Ta nhìn đời lạc quan và nhìn điểm tốt
của người thì cái tốt của họ sẽ được phát triển,
hoặc ít nhất họ cũng có thái độ tốt với mình. Theo kinh
nghiệm hành đạo của tôi nhiều người tốt với tôi vì
tôi thấy được điểm tốt cửa họ; cố những điều xấu
của người sẽ làm cho cái xấu của họ tăng trưởng và
cái xấu của mình cũng tăng lên. Thấy việc xấu của người,
lòng mình bất an; vì mình thương người mà thấy họ sai trái,
mình sẽ khổ đau. Dù họ có làm cả ngàn điều sai trái,
mình cũng không lưu tâm, mà chỉ thấy một điều tốt cửa
họ thôi thì sai trái của họ không biểu lộ với mình và
cũng sẽ tiêu lần, họ sẽ biểu hiện tốt với mình. Tôi
còn nhớ, thuở xưa có một thầy có gia đình vâ ăn mặn.
Một hôm, anh cư sĩ đến chùa xin công quả và chỉ ăn chay,
nhưng anh không hề xem thường vị thầy này và nói rằng con
có bệnh không ăn mặn được. Ông thầy thấy vậy, cũng ráng
ăn chay theo. Có thể anh này là Bồ tát hiện thân, nên tâm
thanh tịnh của anh đã cảm hóa được người khác.
Nguồn:
Báo Giác Ngộ số 429 & 430
phatphap.wordpress.com
- admin: Tịnh Tú đánh máy & trình bày
04-30-2008
03:34:25