ĐIỀU
GIÁC NGỘ 5
CHÁNH
VĂN:
Đệ
ngũ giác ngộ:
Ngu
si sanh tử.
Bồ-tát
thường niệm,
Quảng
học đa văn,
Tăng
trưởng trí tuệ,
Thành
tựu biện tài,
Giáo
hóa nhất thiết,
Tất
dĩ đại lạc.
DỊCH:
Điều
thứ năm lại thêm giác ngộ:
Ngu
si là gốc khổ luân hồi.
Bồ-tát
thường nhớ không ngơi,
Nghe
nhiều học rộng chẳng lơi chút nào.
Vun
bồi trí tuệ càng cao,
Biện
tài đầy đủ công lao chóng thành.
Đặng
đem giáo hóa chúng sanh,
Niết-bàn
an lạc còn lành nào hơn.
GIẢNG:
Đệ
ngũ giác ngộ:
Ngu
si sanh tử.
Điều
giác ngộ thứ năm, Phật dạy ngu si thì bị trầm luân sanh
tử. Ngu si đây chỉ cho vô minh là đầu mối của sanh tử
luân hồi, là chi thứ nhất của Mười hai nhân duyên: vô minh,
hành, thức, danh sắc, lục nhập… Vô minh theo nghĩa thông
thường là không sáng, si mê tối tăm… Theo tinh thần của
đạo Phật vô minh là không tỏ ngộ Chân tâm, không thấy
các pháp đúng như thật. Kinh Viên Giác, chương đầu, Bồ-tát
Văn-thù thưa hỏi, Phật giải thích: “Chúng sanh chấp thân
tứ đại này là thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là
thật, đó là vô minh.” Do chấp thân tâm là thật là ngã,
nên vì nó tạo nghiệp, rồi theo nghiệp đi trong luân hồi
sanh tử. Chúng ta học đạo giác ngộ là để thấy được
cái nhân khiến mình phải trầm luân sanh tử. Thấy rõ ràng,
thấy cùng tột, để phá trừ vô minh thoát ra khỏi sanh tử
luân hồi. Vậy phá vô minh bằng cách nào?
Bồ-tát
thường niệm,
Quảng
học đa văn,
Tăng
trưởng trí tuệ,
Thành
tựu biện tài,
Giáo
hóa nhất thiết,
Tất
dĩ đại lạc.
Bồ-tát
phá vô minh bằng cách hằng nghe nhiều học rộng về Phật
pháp, để trí tuệ càng ngày càng tăng trưởng. Học nghe đây
không có nghĩa học nghe pháp thế gian, vì pháp thế gian chỉ
làm tăng thêm vô minh phiền não, mà phải nghe lời Phật dạy
để thực hành đúng phương pháp tu. Song, không phải chỉ
riêng hàng Bồ-tát học rộng nghe nhiều, mà Tăng Ni, Phật
tử muốn có trí tuệ để phá mê, cũng phải học rộng nghe
nhiều để có kiến giải chân chánh, giản trạch pháp tu cho
hợp với trình độ mình thì tu không lầm không lạc. Sau đó
có hướng dẫn cho ai tu cũng hướng dẫn đúng với chánh pháp.
Tuy nhiên, học để ứng dụng tu thì được lợi mình lợi
người; còn học hiểu suông nói suông, chẳng những không
tăng trưởng trí tuệ, mà sanh bệnh kiêu căng ngã mạn, làm
chướng đạo không được lợi ích. Hòa thượng Pháp chủ
Khánh Anh có dạy:
Tu
mà không học là tu mù,
Học
mà không tu là đãy đựng sách.
Thế
nên chúng ta phải thực hành cả hai mặt học và tu. Học hiểu
giáo lý Phật dạy một cách chín chắn sâu rộng, rồi ứng
dụng lời Phật dạy cho đời sống bản thân mình. Lâu ngày
thâm nhập Phật pháp, trí tuệ sẽ sáng suốt rộng lớn như
biển cả. Khi trí tuệ đã rộng lớn thì thành tựu được
biện tài, ra hoằng hóa làm lợi ích cho chúng sanh. Biện tài
được chia làm bốn thứ:
1-
Pháp vô ngại biện: nghĩa là đối với pháp Phật dạy, thông
suốt hết không còn nghi ngờ gì cả.
2-
Nghĩa vô ngại biện: tức là nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm mà
Phật dạy trong kinh đều thâm nhập, thấu triệt không còn
gì nghi ngại.
3-
Từ vô ngại biện: nghĩa là những ngôn ngữ của từng địa
phương đều nói thông suốt không trở ngại.
4-
Nhạo thuyết vô ngại biện: là thông suốt nghĩa lý Phật
pháp và ngôn ngữ từng địa phương. Khi giảng nói Phật pháp
cho người nghe, đều khế hợp với căn cơ trình độ khiến
họ vui nghe, không chán ngán.
Như
vậy, trước là do học tu mà được sáng suốt an lạc, đó
là tự lợi hay tự giác, kế đến là lợi tha hay giác tha.
Muốn giáo hóa người, phải thâm hiểu giáo lý Phật dạy,
phải thông thạo ngôn ngữ, sau đó tùy căn cơ tùy hoàn cảnh,
mà giảng dạy hướng dẫn đưa người từ chỗ tối tăm đau
khổ đến chỗ sáng suốt an vui. Cái vui mà người tu Phật
đạt được, không phải là cái vui tầm thường ở thế gian.
Cái vui của người thế gian là do thọ hưởng ngũ dục, còn
trong vòng đối đãi hơn thua được mất… Ví dụ người
làm ăn gặp thời, được lợi nhuận gấp đôi gấp ba lúc
bình thường, thì lòng vui vẻ mặt tươi cười hớn hở. Tuy
nhiên niềm vui đó không lâu, chỉ trong một thời gian là mất.
Vì hết thịnh đến suy, làm ăn thua lỗ hay gặp chuyện bất
như ý xảy đến, lại buồn khổ bất an.
Cái
vui mà Phật nói ở đây là cái vui lớn của người gắng
công tu hành, hết vô minh phiền não thoát khỏi vòng luân hồi
sanh tử. Cái vui này kinh Đại thừa gọi là Niết-bàn tịch
tĩnh, không bị hạn cuộc trong thời gian. Thế nên người
tu khi đạt đến giác ngộ giải thoát, thì giờ nào phút nào
tâm cũng được an vui. Cái vui của người thế gian và người
xuất thế gian khác nhau. Người thế gian vui theo ngũ dục,
hết vui liền khổ, khi vui thì cười nói náo động ồn ào…
Người xuất thế giác ngộ, hết khổ được vui, niềm vui
nhẹ nhàng vĩnh viễn. Người thế gian suốt ngày tìm tòi nắm
bắt cái vui cỏn con, nhưng được rồi lại mất. Thế nên
Phật dụ như người vớt bong bóng nước, vừa thấy bong bóng
đẹp lóng lánh, đưa tay vớt, nó liền tan mất. Cái vui của
người thế gian là cái vui trá hình của sự đau khổ, là
cái vui của kẻ mê, là cái vui của chúng sanh. Còn cái vui
của người xuất thế là cái vui vĩnh viễn của người tỉnh
giác có trí tuệ, là cái vui của Bồ-tát, Phật. Chúng ta thấy
kẻ mê và người trí có thái độ sống rất khác biệt. Chúng
sanh vì mê lầm, nên cứ tìm cầu chạy theo những cái vui nhỏ
giả dối tạm bợ, không biết mệt nhọc nhàm chán. Còn hàng
Bồ-tát trí tuệ sáng suốt, biết rõ cái vui ngũ dục giả
dối tạm bợ, vui đó liền khổ, nên tránh, luôn luôn đem
nghị lực ý chí để tu hành, tìm cái vui chân thật cho mình
và giúp cho người được vui.
Tóm
lại, người đời ai cũng sợ khổ tìm vui. Song, tùy theo người
trí hay ngu mà tránh khổ nhỏ hay khổ lớn và tìm vui nhỏ
hay vui lớn. Người ngu thì sợ cái khổ nhỏ như đói khát,
lạnh nóng… để tìm cái vui nhỏ là có tiền của nhiều,
có nhà lầu, xe hơi, ở sang, ăn ngon… Trái lại, người trí
thì sợ cái khổ sanh, già, bệnh, chết vô thường thiêu đốt,
nên tìm cái vui lớn là cái vui bất diệt Niết-bàn giải thoát.
Vậy chúng ta hãy nghiệm xét lại xem mình là ngu hay trí, là
chúng sanh hay Bồ-tát? Làm Bồ-tát hay chúng sanh là tùy mình
chớ không do ai khác. Trong cuộc sống hằng ngày nếu ba nghiệp
chúng ta thiện, phù hợp với đạo giải thoát thì cứ như
thế mà tiến cho đến khi được giác ngộ giải thoát hoàn
toàn mới thôi. Ngược lại, nếu ba nghiệp chúng ta hay làm
ác, xuôi theo hướng si mê của chúng sanh, thì phải cố gắng
sửa đổi cho lương thiện phù hợp với đạo, để được
lợi lạc ngay trong đời hiện tại và mai sau. Tu là ở chỗ
đó, biết việc làm nào mê lầm đưa đến khổ đau thì mau
chừa bỏ, biết tỉnh giác đưa đến sự an vui thì huân tu
cho thuần thục. Nếu người không chịu chuyển mê lầm thành
giác ngộ thì dù có đi chùa thường, lạy Phật nhiều, luôn
cầu nguyện để được hết khổ, chắc chắn người ấy
không được toại nguyện.
Vậy,
người Phật tử chân chánh nên biết cái vui thế gian là cái
vui tạm bợ, cái khổ đói cơm, thiếu áo… cũng là cái khổ
tạm bợ nhỏ nhoi, có thể chuyển khổ thành vui được, chớ
nên kêu than rên xiết. Phải nhớ đến khổ lớn của vô thường
sanh, già, bệnh, chết, mong cầu thoát ra và cố gắng tu hành
để được vui Niết-bàn vĩnh viễn.
Quí
vị đừng nghĩ rằng kinh này Phật dạy cho hàng Bồ-tát, chúng
ta là kẻ không có phần rồi không tu, mà tất cả người
tu Phật dù tại gia hay xuất gia, nếu muốn thành tựu quả
Phật thì chúng ta phải thực hành hạnh Bồ-tát, tức là chúng
ta phải vận dụng trí tuệ quán sát các pháp đúng như thật
như lời Phật dạy để đoạn gốc vô minh, trí tuệ dần
dần tăng trưởng, tự lợi lợi tha đầy đủ. Không mong cầu
quả vị Bồ-tát cũng nghiễm nhiên là Bồ-tát.