Biệt
giải văn nghĩa.
Quán
Tự Tại Bồ Tát.
"Hồi
quang phản chiếu quán tự tại
Giác
chư hữu tình tức tát đỏa
Như
như bất động tâm quân thái
Liễu
liễu thường minh chủ nhân ông
Lục
chủng thần thong hồn gian sự
Bát
phương phong vũ cảnh vô hống
Quyện
chi tắc thối tạng ư mật
Phóng
chi tắc di lục giáp trung
Dịch:
Hồi
quang phản chiếu Quán Tự Tại
Giác
chư hữu tình tức Tát Ðỏa
Như
như bất động tâm quân thái
Rõ
rõ thường biết, chủ nhân ông
Sáu
loại thần thông hồn gian sự
Mưa
gió tám phương không sợ hãi
Quyện
cuộn tròn giữ nơi bí mật
Phóng
xả liền đầy khắp thế gian".
Quán
Tự Tại Bồ Tát. Quán tức là quán tưởng. Tự Tại là trong
mọi thời đều an lạc, không buồn, không bị trở ngại.
Không trở ngại tức là Quán Tự Tại. Chư vị nếu bị trở
ngại thì không tự tại.
"Hồi
quang phản chiếu Quán Tự Tại".
Chư
vị hồi quang phản chiếu thì quán tự tại. Bằng ngược
lại thì không thể quán tự tại. Sao gọi là hồi quang phản
chiếu ? Hồi quang phản chiếu tức là trong mọi việc đều
phải tự hỏi chính mình. Ví như người khác đối xử không
tốt, thì mình phải tự hỏi lấy rằng tại sao như thế.
Mình phải tự suy nghĩ. A ! Nguyên nhân vì mình không tốt.
Ðó gọi là hồi quang phản chiếu. Nếu có người đối xử
không tốt mà không kể mình đúng hay sai, liền đùng đùng
đánh đối phương lỗ đầu chảy máu. Thật là tự mình không
có lý trí. Chư vị hồi quang phản chiếu thì có lý trí. Vì
thế, hồi quang phản chiếu là quán tự tại. Hãy tự hồi
quang phản chiếu xem coi mình có được tự tại hay không ?
Tự tại tức là tự chính mình. Tại tức là hiện tại ngay
nơi đây. Tôi sẽ giải thích cho chư vị từng chữ một. Sao
gọi là ngay tại đây ? Nói cách khác, chư vị có khởi vọng
tưởng hay không ? Nếu khởi vọng tưởng thì không được
tự tại. Không có vọng tưởng thì được tự tại. Ngay tại
nơi đây, chư vị hãy nhìn xem, thật rất đơn giản ! Chư
vị hồi quang phản chiếu tức là tự xem coi mình có vọng
tưởng hay không. Có vọng tưởng tức không tự tại. Không
vọng tưởng tức được tự tại. Chư vị thấy có vi diệu
lắm không !
"Giác
chư hữu tình tức Tát Ðỏa".
Sao
gọi là Bồ Tát ? Bồ Tát nghĩa là giác ngộ cho loài hữu
tình. Giác nghĩa là người tâm trí được thông suốt minh
mẫn; tâm không rối loạn. Thêm chữ 'thủ (tay)' bên cạnh
chữ 'giác' thì thành chữ 'giảo (rối)'. Như thế không giác
ngộ cho loài hữu tình được, chỉ khiến cho họ càng thêm
ngu si. Giác ngộ cho loài hữu tình nghĩa là khiến cho tất
cả loài hữu tình đều được trí huệ minh mẫn thông suốt.
Loài hữu tình là ai ? Hữu tình tức là chúng sanh. Chư vị
chớ hiểu lầm chữ nghĩa. Giảng về loài hữu tình đây đại
khái nói đến loài có tình ái ! Giác ngộ loài hữu tình nghĩa
là khiến cho tình ái của chúng đều dứt sạch. Luyến ái
hết tận thì là Tát Ðỏa. Ðó là Bồ Tát. Do đó tâm được
an nhiên, như như bất động.
"Như
như bất động tâm quân thái, (như như bất động tâm thư
thái)".
Như
như bất động tức là không pháp nào mà không như như. Tất
cả pháp đều là như pháp. Mọi phiền não, chướng ngại
đều không có. Như như bất động cũng là định lực. Tâm
quân thái nghĩa là tâm luôn luôn thư thái an nhiên. Kinh Pháp
Hoa nói :"Kỳ tâm thái nhiên (tâm thư thái an nhiên này)".
Thái
nhiên tức là tâm an lạc bình thản.
"Liễu
liễu thường minh chủ nhân ông, (rõ rõ thường biết, chủ
nhân ông)". Chư vị phải có trí huệ bát nhã liễu liễu thường
minh (rõ rõ thường biết), chớ nên để tâm bất liễu (không
rõ), bất minh (không biết), hay bất minh (không biết) bất
liễu (không rõ). Do đó, phải liễu (rõ) lại thêm liễu (rõ),
minh lại thêm minh (biết). Liễu liễu minh minh (rõ rõ, biết
biết). Minh minh liễu liễu (biết biết rõ rõ). Phải thông
suốt tất cả. Không hồ đồ (mê mờ), không ngu si. Rõ biết
việc không đúng mà cứ làm. Có phải đã ngu si lại tăng
thêm một lớp ngu si nữa không ? Ðấy chỉ vì không biết
rõ ông chủ của mình. Có người nói: "Ông chủ tức là mình
làm chủ được. Mình chính là ông chủ. Mình có thể bảo
người khác, mà không thể bị người khác sai bảo. Bất cứ
công việc gì mình cũng không làm, chỉ cần bảo người khác
làm cho mình".
Có
phải như thế không ? Xin đáp rằng không phải như thế.
Tâm
quân thái (an nhiên thư thái). Ông chủ tức không nói lời
nhảm nhí, không làm việc xằng bậy. Ðó là chư vị tự làm
chủ được. Làm chủ được tức tự mình có trí huệ chân
chánh. Ông chủ có trí huệ chân chánh không còn có những
suy nghĩ tà tri tà kiến. Nếu còn làm những việc tà quấy
thì vẫn còn ngu si.
"Lục
chủng thần thông hồn an sự, (sáu thần thông chỉ thông thường)".
Nếu
chư vị thường tự làm chủ thì sẽ đắc được sáu thần
thông. Sáu thần thông là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông,
tha tâm tâm, thần túc thông, túc mệnh thông, lậu tận thông.
Sao chư vị không có sáu thần thông ? Vì chư vị không tự
làm chủ được. Gặp cảnh giới liền chấp trước, nên bị
cảnh chuyển. Thấy việc lạ kỳ, tâm tư thay đổi, tức chư
vị bị cảnh chuyển mà chưa chuyển được cảnh. Nếu chư
vị có thể chuyển được cảnh thì bất cứ cảnh giới nào
đến, không thể bị giao động. Ðừng nói lúc tỉnh giác
mà khi mộng mị cũng không bị cảnh giới chuyển. Ðó mới
thực là chủ nhân ông.
Nếu
làm chủ được thì có trí huệ chân chánh. Khi ấy sáu thần
thông là chuyện bình thường. Không phải là việc khó có
mà rất phổ thông, bình thường.
"Bát
phương phong vũ cảnh vô hống, (gió mưa tám hướng không khinh
sợ)".
Gió
mưa tám hướng tức là "tám gió thổi không động, ngồi vững
trên hoa sen vàng tím".
Tô
Ðông Pha làm kệ :
"
Ngưỡng thủ thiên trung thiên.
Mao
quang chiếu đại thiên.
Bát
phong xuy bất động.
Ðoan
tọa tử kim liên"
Dịch
:
"Kính
đấng trời giữa trời.
Lông
mao chiếu đại thiên
Tám
gió thổi không động
Ngồi
vững sen vàng tím".
Thiền
sư Phật Ấn liền đề bốn chữ :" Phóng thí ! Phóng thí !
(đánh rắm, đánh rắm)".
Tô
Ðông Pha vừa thấy bốn chữ này liền giận dữ, không nhịn
được. Khi ấy ông ta không những đánh rắm mà còn phóng
hỏa nữa (lửa nổi lên trong lòng), thậm chí muốn thiêu đốt
luôn ngài Phật Ấn. Thế nên, từ Giang Nam, ông lập tức đến
Giang Bắc để tìm ngài Phật Ấn. Vừa gặp, ông liền hỏi
:"Ông Thầy kia ! Sao dám mắng chửi người ? Tôi nói những
lời ngộ đạo mà sao Thầy lại nói rằng tôi 'đánh rắm'
?"
Ngài
Phật Ấn bảo : " Tôi có chửi mắng ai đâu ? Ông nói rằng
tám gió thổi cũng không động mà tôi chỉ viết hai câu 'đánh
rắm' thì ông lại từ Giang Nam chạy đến Giang Bắc. Sao ông
nói tám gió thổi không động ? Chỉ cần có hai câu của tôi
thôi mà khiến ông phải đến nơi này".
Tô
Ðông Pha suy nghĩ một hồi. "Ðúng rồi ! Tám gió gì cũng không
động mình. Chỉ có bốn chữ mà khiến phải nổi nóng mà
đến đây. Thật không đúng".
Do
đó ông đảnh lễ sám hối.
Sao
gọi là tám gió. Tức là xưng, kỵ, khổ, lạc, lợi, suy, đắc,
thất. Xưng nghĩa là xưng tán. "A ! Ðạo hữu thật là Phật
tử chân chính, lại hiểu rõ Phật pháp, có trí huệ, cũng
rất thông minh, biện tài vô ngại !"
Ðó
là xưng tán chư vị
Kỵ
nghĩa là kỵ phúng. "Sao đạo hữu lại học Phật pháp. Hiện
tại là thời đại khoa học. Học những lời cổ xưa cả
mười tám đời, thật không có ý nghĩa gì hết. Hãy suy nghĩ
kỹ. Thời đại khoa học sao lại học Phật pháp, nhân nhân
quả quả, vô nhân vô ngã. Trong thời đại khoa học, mình
là mình và người lại là người."
Ðó
là lời kỵ phúng (chê bai).
Khổ
đau cũng là một loại gió.
Lạc
tức là an lạc, sung sướng. Ăn ngon, mặc đẹp, ở sang trọng,
ngày ngày đều sung sướng an lạc. Việc gì cũng mong tốt
đẹp hết. Ðó là một loại gió.
Lợi
tức là lợi ích. "Tôi tu hành rất khổ cực. Tôi cũng không
khởi vọng tưởng, lại có người cúng dường cả chục ngàn
đồng để giúp tôi xây chùa, nên tâm tôi rất vui vẻ".
Suy
là suy bại. Có người muốn phá hoại, nói :" Hòa Thượng
kia không tốt. Việc gì thầy cũng làm. Chớ nên tin tưởng
thầy đó. Tốt nhất là hãy tin tôi."
Ðắc
nghĩa là được. Thất tức là mất. Chúng đều là gió cả.
Gió mưa tám hướng mà không khinh sợ thì tám gió thổi đến
cũng không động.
"Quyện
chi tắc thối tạng ư mật, (cuộn lại giữ gìn trong bí mật)".
Bộ
kinh này phải nên để nơi thanh tịnh, không nên để nơi bất
kính. Chư vị phải tôn kính bộ kinh này.
"Phóng
chi tắc di lục giáp trung, (mở ra chấn động khắp thế gian)".
Một
khi mở kinh ra thì trí huệ Bát Nhã phóng quang đầy khắp sáu
phương (tức đông tây nam bắc và trên dưới). Chư vị có
thấy pháp môn Bát Nhã vi diệu lắm không ?
"Hành
thâm Bát Nhã Ba La Mật Ða thời, (lúc hành thâm bát nhã
ba la mật đa).
Hành
đạo tu thân mạc ngoại tầm
Tự
tánh Bát Nhã thâm mật nhân
Bạch
lãng xung tiêu hắc ba chỉ
Niết
bàn bỉ ngạn nhậm vận đăng
Thời
hề thời hề vật thác quá
Thận
chi thận thủ thiên chân
Yểu
yểu minh minh thông hưu tức
Hoảng
hoảng hốt hốt kiến bổn tôn
Dịch:
Hành
đạo tu thân chớ tìm ngoài
Tự
tánh Bát nhã nhân thâm mật
Bọt
trắng tiêu, sóng đen dừng
An
nhiên bước lên bờ Niết Bàn
Thời
qua thời chớ đánh mất dịp
Thận
trọng thận trọng giữ thiên chân
Mờ
mờ ảo ảo thông tin tức
Vội
vội vàng vàng thấy bổn tôn."
Hành
tức là tu hành. Thâm là đối ngược với thô thiển mà gọi
là thâm. Bát nhã là trí huệ. Ba la mật đa là đạt đến
bờ giác. Thời là thời gian.
Ðoạn
này nói về Bồ Tát Quán Tự Tại tu hành thâm nhập bát nhã,
chớ không phải tu bát nhã thô thiển. Sao gọi là thâm bát
nhã ? Ðó là diệu trí huệ. Sao gọi là bát nhã thô thiển
? Ðó là giáo pháp tiểu thừa, bốn diệu đế, mười hai nhân
duyên. Nhờ diệu trí huệ chân chánh mới đạt đến bờ giải
thoát. Nếu chư vị không có trí huệ chân chánh thì không
thể đạt đến bờ giác được. AI năng đạt đến bờ giác
? Là Bồ Tát Quán Tự Tại. Nơi đây Phật Thích Ca Mâu Ni đề
cử ra Bồ Tát Quán Tự Tại, là vị Bồ Tát tu hành pháp Bát
Nhã thậm thâm và đã đạt đến bờ giải thoát. Thế nên
nói rằng hành thâm bát nhã ba la mật đa thời.
Người
nhị thừa chỉ tu bát nhã thô thiển mà không tu pháp bát nhã
thậm thâm. Sao gọi là bát nhã thô thiển ? Tức là năng phân
tích, gở tháo pháp không. Tích tức là phân tích. Phân tích
vi tế. Phân tích nhũng gì ? Phân tích sắc pháp, tâm pháp.
Sao gọi là sắc pháp ? Sắc pháp là có hình có tướng, có
thể nhìn thấy được. Sao gọi là tâm pháp ? Tâm pháp là
không thể nhìn thấy được. Hữu hình tức là có sắc pháp.
Vô hình tức là tâm pháp. Hữu hình là gì ? Tất cả vật
có tướng trạng đều gọi là hữu hình. Tâm pháp thì vô
hình vô tướng, chỉ có trí giác. Có trí giác và vô hình
vô tướng gọi là tâm pháp. Có hình tướng nhưng lại vô
tri giác là sắc pháp. Sắc trong năm uẩn tức là sắc pháp,
thọ, tưởng, hành, thức cũng gọi là tâm pháp. Thọ tưởng
hành thức thì vô hình tướng. Lúc Bồ Tát Quán Tự Tại hành
thâm bát nhã ba la mật đa, thì thấy rõ năm uẩn đều không.
Ngài nhận thấy chúng đều không. Ngài bảo : "Sắc không khác
không, không không khác sắc. Sắc tức là không, không tức
là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng đều như thế. Thọ tưởng
hành thức giống như sắc pháp, cũng là không".
Nay
giảng về không vì Bát Nhã đàm luận về không. Tánh không
có rất nhiều loại. Nay chỉ giản lược nói về năm loại.
Thứ
nhất là ngoan hư không. Ngoan tức là ngoan bì (ngu hèn). Gọi
là hư không vì nó vô tri vô thức, không có sự tồn tại
của tánh tri giác. Tất cả mọi người đều biết là hư
không (trống rỗng). Mọi người đều chấp trước hư không.
Mắt thấy hư không nhưng không có tánh tri giác, nên gọi là
ngoan hư không. Phàm phu chấp trước cũng là ngoan hư không.
Sao gọi là hư không ? Tức là không có chi hết, nhưng có thật
là chân không, không ? Không phải, đó là ngoan (ngu ngơ) hư
không. Ðây là hư không mà phàm phu thường chấp trước.
Thứ
hai là đoạn diệt không. Ðó là gì ? Là không mà ngoại đạo
chấp trước vào. Ngoại đạo không biết ý nghĩa của không.
Họ cho rằng người chết rồi là hết, đoạn diệt luôn,
cũng là không. Thế nên, họ chấp vào đoạn diệt không.
Thứ
ba là pháp không quán. Người nhị thừa tu tích pháp không
quán. Tích cũng là phân tích sắc tức là sắc, tâm tức là
tâm. Họ không biết tất cả đều là không. Thế nên không
thể đắc và chứng được diệu lý chân không, chỉ tạm
trú tại hóa thành thôi, không đồng với địa vị của Bồ
Tát. Hóa thành là nơi không vọng, chỉ là trạm dừng chân.
Họ tu loại tích pháp không quán, nên gọi là bát nhã thô
thiển. Bát nhã thô thiển tức là bát nhã không thâm sâu.
Họ tu hành pháp bát nhã này thì chấm dứt phần đoạn sanh
tử, nhưng biến dịch sanh tử vẫn còn. Sao gọi là phần đoạn
sanh tử ? Ai ai cũng có thân thể. Chư vị có một phần. Tôi
có một phần. Từ sanh đến chết có một đoạn. Một phần
một đoạn gọi là phần đoạn sanh tử. Phần đoạn cũng
gọi là hình đoạn của mỗi người. Chư vị cao năm thước.
Họ cao sáu thước. Lại có người cao bảy thước. Mỗi người
đều có một phần đoạn. Thánh nhân chứng sơ quả, nhị
quả, tam quả, và tứ quả A La Hán chặt đứt được phần
đoạn sanh tử mà vẫn còn biến dịch sanh tử.
Sao
gọi là biến dịch sanh tử ? Biến tức là biến hóa. Dịch
tức là dung dịch, cũng là biến hóa, giao dịch, mậu dịch.
Biến dịch sanh tử là gốc của phần đoạn sanh tử. Vì sao
gọi là thế ? Biến dịch sanh tử cũng là bao loại vọng tưởng.
Những vọng tưởng này luôn lưu xuất, vọng niệm trước
diệt, vọng niệm sau sanh, vọng niệm sau diệt, vọng niệm
kế lại sanh. Sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, nên gọi là biến
dịch sanh tử. một niệm diệt tức là mất. Một niệm sanh
tức là đã sanh, cũng là vọng niệm của chúng ta. Tứ quả
A La Hán chưa đoạn diệt hẳn hết, nên chỉ có Bồ Tát đại
thừa mới năng đoạn tận hết. Biến dịch sanh tử cũng là
cội gốc sanh tử của chúng ta. Sao chúng ta có sanh tử ? Vì
chúng ta có vọng tưởng. Những vọng tưởng này phát sanh
từ đâu ? Vọng tưởng vốn do vô minh phát sanh. Vì có vô
minh nên mới phát sanh bao loại vọng tưởng.
Thứ
tư là thể pháp không quán
Duyên
Giác tu thể pháp không quán
Thứ
năm là diệu hữu không quán
Bồ
Tát tu diệu hữu không quán
Chân
không diệu hũu.
Lúc
Bồ Tát Quán Thế Âm hành thâm bát nhã ba la, Ngài soi thấy
năm uẩn đều không. Ðó là đắc được công năng tu hành
bát nhã ba la mật đa. Nay y chiếu theo kệ của tôi mà giảng
giải.
"Hành
đạo tu thân mạc ngoại tầm, (hành đạo tu thân chớ tìm
ngoài)".
Chư
vị muốn tu đạo, tu thân, thì chớ tìm bên ngoài. Không nên
hướng ngoại tìm cầu, mà hãy tìm lại tự tánh của mình.
"Tự
tánh bát nhã thâm mật nhân, (tự tánh bát nhã nhân thâm mật)".
Trong
tự tánh bát nhã có hạt giống thâm mật.
"Bạch
lãng xung tiêu hắc ba chỉ, (sóng bạc tiêu lặn biển đen dừng)".
Lúc
tu đạo, sóng bạc tức là trí huệ, như nước chảy tạo
thành sóng màu sắc trắng. Sóng biển đen tức là phiền não.
Khi sóng đen ngừng thì trí huệ tăng, pháp thậm thâm cũng
cao siêu. Hành bát nhã ba la mật đa, lưu xuất pháp thậm thâm
không ? Vì pháp này rất cao siêu, nhìn xem không thể thấy,
nên gọi là bát nhã thậm thâm. Sóng đen dừng tức là phiền
não dừng.
"Niết
bàn bỉ ngạn nhậm vận đăng, (bờ Niết Bàn, từ từ leo
lên)".
Một
khi đã có trí huệ thì tự nhiên biết cách để đạt đến
bờ niết Bàn, không bỏ phí sức lực nào.
"Thời
hề thời vật thác quá, (thời qua thời chớ để trôi qua)".
Chúng
ta tu đạo, thời gian rất quý báu, đừng để chúng trôi qua
vô ích. Thế nên, thời qua thời chớ để trôi đi. Thời gian
nào ? Tức là lúc hành thâm bát nhã ba la mật. Chư vị chớ
nên để thời gian trôi qua vô ích.
"Thận
chi thận thủ thiên chân, (thận trọng, thận trọng giữ thân
chân)".
Chư
vị phải cẩn thận, đừng để thời gian trôi mất, ngày
đêm luống qua vô ích. Hiện tại phải tu hành đắc được
pháp bát nhã thậm thâm, chân lý cao thượng.
"Yểu
yểu minh minh thông hưu tức, (mờ mờ ảo ảo thông tin tức)".
Mờ
mờ ảo ảo, nói nghe nhưng thực không nghe, nói thấy nhưng
thực không thấy.
"Hoảng
hoảng hốt hốt kiến bổn tôn, (vội vội vàng vàng thấy
bổn tôn)".
Hiện
nay, chư vị phải được tin tức mờ mờ ảo ảo, vội vội
vàng vàng thấy bổn chân. Lại như không có hình tướng mà
nói thấy hình tướng. Thấy bổn tôn tức là thấy rõ tự
tánh của chính mình.
Soi
thấy năm uẩn đều không.
"Tam
quang phổ chiếu thấu tam tài
Nhất
quy hợp xứ phục nhất lai
Kiến
sắc tức không thọ nạp thị
Vọng
tưởng quyện lưu hành nghiệp bài
Thức
nãi liễu biệt ngũ âm cụ
Cảnh
hoa thủy nguyệt tuyệt trần ai
Không
nhi bất không minh đại dụng
Kiến
do vị kiến lạc khoái tai."
Dịch
:
"Ba
quang phổ chiếu thấu ba tài
Nhất
quy hợp xứ lại nhất lai
Thấy
sắc tức không thọ nạp thế
Vọng
tưởng chuyển lưu, tan hạnh nghiệp
Thức
vẫn phân biệt đủ năm âm
Gương
hoa trăng nước tuyệt trần ai
Không
mà chẳng không rõ đại dụng
Thấy
như chưa thấy vui vô vàn".
"Tam
quang phổ chiếu thấu tam tài, (ba quang phổ chiếu thấu ba
tài)".
Ba
quang là mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao. Phổ chiếu
tức là phổ biến chiếu sáng. Ba tài là trời, đất, người.
Ba quang là văn tự bát nhã quang, quán chiếu bát nhã quang,
thật tướng bát nhã quang. Thật tướng bát nhã quang tức
là thậm thâm bát nhã quang. Soi thấy năm uẩn đều không.
Dùng ba quang chiếu thấu ba tài, tức chiếu khắp trời, đất,
người.
"Nhất
quy hợp xứ lại nhất lai".
Nhất
quy hợp xứ tức tự tánh của mình. 'Nhất' là nói tự tánh.
'Hợp xứ' cũng là chỗ của tự tánh. Xưa nay muôn pháp đều
quy về một. Một quy về hợp xứ. Ngài Thần Quang có nói
bài kệ :
"Muôn
pháp quy về một
Một
quy về hợp nhất
Thần
Quang vốn chẳng sớm biết Ðạt Ma
Vếch
tai núi quỳ nghe Ngài dạy chín năm
Chỉ
cầu thoát khỏi Diêm La".
Vì
sao thế ? Tâm chúng ta cũng chính là tánh. Một khi quay về
liền hợp xứ. Hợp tức là tương hợp. Tương hợp với gì
? Cùng tương hợp với Phật tánh. Chư vị cùng Phật tánh
tương hợp, rồi trở về cội gốc, lại xuất sanh diệu dụng.
Diệu dụng này chính giúp thành tựu Phật quả, gọi là trở
về nhất lai, cũng là ông Phật của chư vị.
"Thấy
sắc tức không thọ nạp thế".
Thấy
sắc tức không, nghĩa là thấy được sắc mà sắc vốn là
không. Sao nói sắc vốn không ? Phàm phu chúng ta đều chấp
trước sắc này. Chấp vào sắc gì ? Tổng thể của sắc.
Sắc pháp tuy có nhiều loại, mà tổng thể của sắc chính
là thân thể chúng ta, gọi là sắc thân. Sao sắc thân lại
là không? "Thật sự thân này có mà !"
Chư
vị biết mặc đồ, ăn uống, ngủ nghỉ, sao chẳng biết không
? Nếu chư vị hiểu rõ sắc thân này được hình thành như
thế nào thì chư vị sẽ hiểu rõ tánh không của nó. Vì vậy
nên giảng về chân không tích pháp, cũng là pháp phân tích.
Thân này là tổng tướng của sắc. Ðất nước gió lửa là
biệt tướng (tướng riêng) của sắc. Thân thể của chúng
ta do đất nước gió lửa hợp thành. Xương cốt thịt thà
chính là đất. Nước mắt, nước mũi, máu, tiểu tiện, mồ
hôi, là nước. Thân thể được ấm áp là nhờ có lửa. Vận
động hô hấp nhờ thân thể có gió. Bốn đại hòa hợp thì
thân thể còn. Chúng phân tán thì thân thể mất. Ðất trở
về đất đá. Nước trở về nước. Gió trở về gió. Lửa
trở về lửa. Mỗi đại đều trở về cội gốc, nên không
thật có. Vì thế, mọi người chấp trước vào thân thể,
tự cho là có, thật là sai lầm. Sao thân thể không phải là
mình ? Thân thể không phải là mình. Mình là gì ? Có thể
giữ gìn thân thể, có thể thấy, nghe, ngửi, biết, nhận
thức bằng tri giác. Tri giác này cũng là mình. Thân thể là
gì ? "Thân thể chính là mình, mình là thân thể".
Không
thể cho rằng thân thể chính là mình được, vì thân thể
chỉ giống như nhà ở. Chư vị không thể cho rằng nhà mình
ở chính là mình. Chư vị gọi nhà ở chính là mình thì sợ
rằng người ngoài cười cho. Nhưng nói thân thể chính là
mình thì không ai cười cả. Sao không ai cười chư vị ? Vì
ai cũng cho rằng thân thể chính là mình, tức là chấp nhà
ở chính là mình. Thấy, nghe, ngữi, nếm, giác, biết đều
là Phật tánh. Phật tánh cũng chính là tự tánh của chư vị.
Thân thể bất quá chỉ do nhân duyên hòa hợp. Nhân duyên ly
biệt thì thân thể phân tán. Thế nên, chư vị đừng cho rằng
thân thể chính là mình. Mình ở trong nhà, những việc bên
ngoài không thể biết. Thế nên đừng chấp trước nhà ở
chính là mình.
Bàn
về sắc, chư vị hãy phân tích rõ, nó cũng là không. Do từ
không mà biến thành sắc pháp. Ðất nước gió lửa hợp thành
thân thể mà có người lại nói rằng thượng đế tạo ra
người. Dùng gì để tạo ra ? Cũng dùng đất nước gió lửa
mà tạo thành. Chúng ta cũng có thể dùng một chút đất, nước,
gió, lửa để tạo ra thân người. Ai ai cũng đều tạo ra
người khác được. Con người do nhân duyên hòa hợp tạo
thành. Nhân duyên biệt ly thì thân thể phân tán. Thế nên
đừng gọi thân thể là mình. Sắc tức là không. Chư vị
nếu hiểu rõ sắc tức là không thì không chấp trước thân
thể là mình. Tất cả vật dụng thuộc về mình, mình đều
bảo tồn, phụ trợ. Ðó là làm nô lệ cho thân mình. Tâm
của chư vị chính là tánh tri giác. Chư vị phải hiểu rõ
thân thể là sắc pháp, là giả hợp, đừng nên chấp trước.
Nếu không chấp trước thân thể tức là phá được sắc
uẩn. Khi phá được sắc uẩn rồi thì nó biến thành không.
Thọ
nạp như thế. Thọ uẩn cũng giống như sắc uẩn, là không
thật có.
"Vọng
tưởng quyện lưu hạnh nghiệp an bài, (vọng tưởng chuyển
lưu, nghiệp an bài)".
Vọng
tưởng là tưởng uẩn. Quyện lưu tức là hành uẩn. Hành
nghiệp an bài là hành uẩn được an bài cùng hành nghiệp.
"Thức
nãi liễu biệt ngũ âm cụ, (thức cũng liễu biệt đủ năm
ấm)".
Liễu
biệt là thức uẩn. Phân biệt đầy đủ năm ấm. Năm ấm
là sắc thọ tưởng hành thức.
"Cảnh
hoa thủy nguyệt liễu trần ai, (hoa gương trăng nước tuyệt
bụi trần)".
Năm
ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, giống như hoa hiện trong
gương, như trăng hiện trên mặt nước. Tuyệt bụi trần tức
là không còn một vết ô nhiễm bụi trần. Nói lên ý nghĩa
là năm uẩn đều không.
"Không
nhi bất không minh đại dụng, (không mà chẳng không rõ đại
dụng)".
Chư
vị phải hiểu rõ năm uẩn đều không. Lúc không hiểu rõ
năm uẩn là không thì có nhiều phiền não, vọng tưởng. Hiểu
rõ được thì chuyển thức thành trí. Khi ấy đắc đại diệu
dụng phi thường. Hiểu rõ diệu dụng này tức thấy mà như
chưa thấy thì an lạc sung sướng.
"Kiến
do vị kiến lạc khoái tai, (thấy như chưa thấy, vui vô vàn)".
Nơi
chân không xuất sanh ra diệu hữu, cùng đại dụng. Khi ấy
chư vị thấy rõ mà cũng đồng như chưa thấy. Không bị cảnh
giới chuyển. Có thế, chư vị mới đắc được an lạc chân
chánh. Vì vậy nói rằng vui vẻ vô vàn.
Ðộ
nhất thiết khổ ách, (vượt tất cả khổ ách).
"Ðộ
qua khổ ải xuất luân hồi
Vũ
tễ thanh tinh nguyệt chánh huy
Khôn
nguyên đạo thể nhân trung thánh
Bất
hoại kim khu thế thượng hy
Thoát
sanh hà thuận thiên niên lạc
Chứng
diệt khởi thị vạn kiếp kỳ
Nhị
tử vĩnh vong ngũ trụ tận
Tiêu
diêu pháp giới nhậm đông tây
Dịch
:
Vượt
qua cửa khổ thoát luân hồi
Mưa
tạnh trời trong trăng sáng hiện
Càn
nguyên thể đạo thánh giữa người
Vàng
chẳng hoại diệt thế gian hiếm
Thoát
sanh tử cần chi thuốc tiên
Chứng
diệt đợi chi muôn kỳ kiếp
Hai
chết mất hẳn năm trụ tận
Dạo
chơi pháp giới khắp đông tây".
Vượt
qua tất cả khổ ách. Ðộ tức là độ thoát. Tất cả là
bao quát hết mọi khổ ách. Khổ thật khó thọ nhận, mà lại
gia tăng thêm cái ách nữa thì thật rất khó lãnh thọ.
Ðộ,
sao gọi là độ ? Ðộ thoát, sao gọi là độ thoát ? Tức
là xa khổ đau đắc được an lạc, nên gọi là độ thoát,
cũng là giải thoát. Tại sao không gọi là giải thoát tất
cả khổ ách, mà là độ thoát tất cả khổ ách ? Vì tiếp
theo câu trên "Soi thấy năm uẩn đều không", mà nói. Ý nói
là độ cho những người tu hành. Chư vị tuy thấy năm uẩn
đều không nhưng phải tu hành. Tu hành mới độ thoát được
tất cả khổ ách. Nếu chư vị không tu hành mà chỉ đơn
giản thấy năm uẩn là không thì có dụng ích chi ? Soi thấy
chúng đều không thì mới biết rõ tánh không, hay giác ngộ
chúng là không, nhưng phải nên tu hành. Vì vậy, tuy đốn ngộ
lý mà sự thì phải tiệm tu (tu dần dần). Hiểu rõ lý rồi
thì phải tu hành mới độ thoát được tất cả khổ ách.
Nếu chỉ biết chúng là không mà chẳng chịu tu hành thì cái
không đó chả có ích lợi gì. Vì thế, chư vị phải nên
tu hành, thật tiển tu hành. Ðộ cũng là cung hành thật tiển,
thật thật tại tại tu hành, thật thật tại tại mà làm.
Không nên dùng khẩu đầu thiền, nói khai ngộ, đắc được
A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Ðã khai ngộ. Vậy khai ngộ
gì, đắc được gì ? Chứng đắc a nậu đa la tam miệu tam
bồ đề như thế nào ? Nói thì rất dễ mà hành thì rất
khó. Nói là pháp, mà hành là đạo. Thế nên, chư vị nói
được thì phải hành được. Hiểu rõ chúng là không thì
phải tu. Dùng cái không mà tu cái có. Dùng chân không mà tu
diệu hữu.
Ðộ
thoát tất cả khổ ách. Tất cả khổ ách là không phải một
việc khổ mà nói bao quát hết mọi khổ ách. Khổ tựu chung
có ba loại khổ, tám khổ, vô lượng khổ. Ba loại khổ là
khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Lại gọi ba thọ tức thọ
khổ, thọ lạc, thọ không khổ không lạc, cũng là khổ thọ,
lạc thọ, không khổ không lạc thọ. Sao gọi là thọ ? Thọ
nghĩa là tiếp thọ. Tiếp thọ khổ, lạc, và không khổ không
lạc. Khổ khổ tức là khổ thọ. Hoại khổ tức là lạc
thọ. Ðừng cho rằng hưởng lạc mà không có khổ trong đó.
Trong an lạc có hoại. Hoại rồi thì có hoại khổ. Không khổ
không lạc gọi là hành khổ.
Tám
khổ là gì ? Tức là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết
khổ, thương mà xa lìa khổ, oán ghét mà gần nhau khổ, cầu
mà không được khổ, năm ấm hẩy hừng khổ. Ai mà không
được cha mẹ sanh ra ? Có sanh tức có khổ vì sanh. Ai không
già yếu. Có người nói rằng trẻ thơ chưa già mà chết.
Tuy chưa già nhưng vốn chưa có tri giác. Trẻ em chưa già nhưng
vẫn có khổ vì bịnh, khổ vì chết, cũng gọi là khổ vì
già. Sao bảo trẻ em khổ vì già ? Ngày em bé chết chính là
ngày em đã già. Nếu không già thì sao lại chết. Chư vị
bảo trẻ em cũng biến thành già sao ? Vì em chết nên cũng
gọi là già. Vì thọ mạng của em không được dài lâu. Thời
gian từ sanh đến chết rất ngắn ngủi. Khi chết cũng là
đã già rồi. Nếu không già thì sao lại chết ? Thế nên,
không thể thoát khỏi khổ vì già.
Bệnh
khổ. Có ai dám nói rằng bệnh không khổ không ? Bệnh thật
rất thống khổ. Chư vị cũng hiểu rõ rồi. Sanh ra lại khổ
vì bệnh. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng bị quả báo gậy đập,
ăn lúa ngựa. Tại sao vậy? Vì trong một đời tiền kiếp,
Ngài làm một đứa trẻ. Lúc ấy trong vùng Ngài ở, dân chúng
bị đói khát, không có gì để ăn. Chợt có một con cá voi
bị mắc cạn. Ngài dùng côn đánh vào đầu khiến cá chết.
Sau đó dân làng áp ra róc thịt cá voi mà ăn. Do đó, sau khi
thành Phật rồi, Ngài thường thường cảm giác nhức đầu
tựa như bị cây đập lên đầu, nên gọi là quả báo gập
đập. Lại nữa, trong một đời tiềp kiếp, Ngài có nói một
câu sai lầm rằng đối với người tu đạo, phải tu hành
khổ hạnh chân chánh bằng cách ăn lúa ngựa. Sau khi Ngài thành
Phật, trong một kỳ an cư kiết hạ, quốc vương không cúng
dường gì hết, chỉ cho Ngài và tăng chúng tỳ kheo lúa ngựa
thường ăn. Ðó là do Ngài tạo nghiệp lúc còn tu hành ở
nhân địa, nên hiện đời phải cảm thọ quả báo.
Chết,
ai ai cũng đều không thích chết. Vì sao ? Vì quan hệ đến
khổ đau. Lại có khổ vì thương nhau mà xa lìa, ghét nhau mà
thường gặp, cầu mà không được như ý, năm ấm luôn thay
đổi hẩy hừng. Những loại khổ này đều gọi là khổ.
Nay chúng ta tu hành nên phải dẹp trừ ba khổ, tám khổ, vô
lượng khổ, nên gọi là độ thoát tất cả khổ ách.
"Ðộ
qua khổ ải xuất luân hồi, (vượt qua biển khổ xuất luân
hồi)".
Mọi
khổ đều nằm trong biển khổ. Nếu chư vị vượt qua hết
tất cả khổ ách thì chắc chắn sẽ thoát khỏi sáu nẻo
luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, người,
trời.
"Vũ
tễ thanh tịnh nguyệt chánh huy, (mưa tạnh trời trong trăng
sáng hiện)".
Khi
ấy mưa tạnh tức là không còn hạt mưa nào hết. Bầu trời
trong sáng. Trăng sáng hiển hiện. Mặt trăng trong không trung
chiếu sáng. Năm ấm đều không. Không còn năm ấm giống như
không còn mây, mưa. Bầu trời trong sáng, thanh tịnh. Trăng
treo lơ lững, muôn dặm không áng mây. Cảnh giới này khiến
chư vị phát sanh trí huệ chân chánh, chiếu sáng khắp cả,
nhờ đó mà độ thoát qua hết tất cả khổ ách.
"Càn
nguyên đạo thể nhân trung thánh, (Càn nguyên đạo thể thánh
giữa người)".
Khi
chứng sơ quả A La Hán, thân thể chư vị tràn ngập khí dương.
Càn là số dương trong kinh dịch, nên gọi là càn nguyên. Ðạo
thể là thể chất của việc tu đạo. Trung nhân thánh là thánh
nhân trong loài người.
"Bất
hoại kim khu thế thượng hy, (vàng chẳng hoại diệt thế gian
hiếm)".
Khi
chứng sơ quả Tu Ðà Hoàn, chư vị cắt đứt được tám mươi
tám phần kiến hoặc. Thân thể chư vị bất hoại như vàng
ròng, trên thế gian rất hiếm có.
"Thoát
sanh hà thuận thiên niên dược, (thoát sanh tử cần chi thuốc
tiên)".
Xưa,
vua Thái Thủy (221-207 BC) đến đảo Bồng Lai tìm thuốc trẻ
mãi không già, giải thoát sanh tử. Chư vị không cần thiết
phải đi tìm thuốc trẻ mãi không già, chỉ nên độ thoát
hết tất cả khổ ách. Khi đó muốn sống thì sống, muốn
chết thì chết. Chết sống do tự chính mình. Vua Diêm La không
thể cai quản được, giống như tổ Bồ Ðề Ðạt Ma.
"Chứng
diệt khải thị vạn kiếp kỳ, (chứng diệt đợi chi muôn
kỳ kiếp)".
Pháp
bốn diệu đế : Khổ, tập, diệt đạo. Khi chứng đắc diệt
đế thì thành đạo, đắc vô dư Niết Bàn, không đợi trải
qua tám muôn bốn ngàn kiếp, mà mau chứng đắc vô dư Niết
Bàn.
"Nhị
tử vĩnh vong ngũ trụ tận, (hai chết mất hẳn năm trụ diệt)".
Chư
vị chứng đến độ thoát tất cả khổ ách, vượt khỏi
vòng luân hồi, đắc được thân kim cang bất hoại. Khi ấy
nhị tử mãi không mất. Sao gọi là nhị tử ? Có phải là
chết hai lần không ? Không phải là chết hai lần mà là hai
lần chết. Một lần là phần đoạn sanh tử. Một lần là
biến dịch sanh tử. Gọi là hai lần chết. Khi chứng quả
A La Hán thì cắt đứt phần đoạn sanh tử. Khi chứng quả
vị Bồ Tát mới cắt đứt biến dịch sanh tử. Nay, Bồ Tát
Quán Thế Âm đã cắt đứt được biến dịch sanh tử. Chữ
vong (mất), đây không phải là tử vong (chết mất). Trong sách
đại học nói :" Nhi kim vong hỷ (như nay mất rồi)".
Chữ
'vong' đọc là không. Chúng ta có thể đọc là vong, hay không
cũng được, không cần giảng giải. Hai loại chết này đều
không.
"Ngũ
trụ tận (tận hết năm trụ)". Nghĩa là năm trụ phiền não.
Chúng là gì ? Thứ nhất, kiến trụ phiền não, là trụ ái
kiến. Thứ hai, trụ ái dục. Thứ ba, trụ sắc ái. Thứ tư,
trụ vô sắc ái. Thứ năm, trụ vô minh ái. Vì năm trụ ái
này mà chúng ta sanh chấp trước, biến thành năm loại phiền
não. Bồ Tát Quán Thế Âm dẹp trừ hết năm loại phiền não
này.
"Tiêu
diêu pháp giới nhậm đông tây, (dạo chơi pháp giới khắp
đông tây)".
Tiêu
diêu có nghĩa là tự tại. Tự tại cũng là tiêu diêu. Tiêu
diêu cũng là tự do. Tự do, nghĩa là an lạc, sung suớng. Sao
an lạc sung sướng ? Vì có thể tùy tiện đi nơi này nơi nọ.
"Nhậm đông tây", nghĩa là nếu chư vị muốn qua cõi tây phương
cực lạc thì tùy ý mà đi. Muốn qua cõi đông phương Tịnh
Lưu Ly Phật thì cũng có thể đi. Muốn đến cõi Ta Bà thì
không thành vấn đề, cũng không cần hộ chiếu do tòa lãnh
sự sứ quán cấp. Không có những thủ tục rườm rà. Nếu
muốn đi thì cứ đi, nên gọi là tiêu diêu pháp giới. Pháp
giới không phải chỉ trong vòng, đông tây, nam, bắc, mà cả
trên dưới, mười phương. Chư vị muốn đi đến đâu thì
đều được hoan nghinh khi đến những nơi đó. Không phải
nói là muốn đi đến nơi kia, nơi kia không hoan nghinh tiếp
đón chư vị, không cho nhập cảnh. Muốn đến nơi nào cũng
được hết. Tiêu diêu pháp giới nhậm đông tây. Chư vị
thấy cảnh giới này có an lạc lắm không, tự do lắm không
! Tiêu diêu, tự do, đó là tánh pháp giới chân chánh bình
đẳng. Khi hai lần chết và năm trụ đều tận diệt thì đắc
được tự do. Ðó là tự do chân thật, an lạc chân thật,
bình đẳng chân thật, và tiêu diêu chân thật.
Xá
Lợi Tử.
"Xá
Lợi Tử thị kiên cố vi
Dịch
tác Thu Lộ mẫu nghĩa hình
Giới
định viên minh châu quang hiện
Hạnh
giải tương ưng thể linh lung
Ðại
trí chi hà nhân ngu biểu
Thiện
ban kỷ tại nương phúc sanh
Nhân
giai cụ thử chân thật huệ
Thủ
chư tào khê bảo lâm phong
Dịch
:
Xá
Lợi Tử nghĩa là kiên cố
Dịch
là Thu Lộ hình giống mẹ
Giới
định sáng tròn chân ảnh hiện
Hạnh
giải tương ưng thể sáng trong
Bậc
đại trí sao giống kẻ ngu
Biện
tài giỏi nhờ thai sanh trợ
Người
người đầy đủ chân trí huệ
Giữ
phong cách Bảo Lâm Tào Khê".
"Xá
Lợi Tử thị kiên cố vi"
Xá
Lợi Tử cũng là Xá Lợi Phất. "Xá Lợi" là tiếng Phạm.
"Tử" cũng là tiếng Phạm. "Xá Lợi Tử" nghĩa là "Kiên Cố".
Vì sao ? Ðó chỉ cho trí huệ kiên cố. Thế nên Xá Lợi Tử
nghĩa là kiên cố.
"Dịch
tác thu lộ mẫu nghĩa hình, (dịch là Thu Lộ hình giống mẹ)".
"Xá
Lợi" phiên dịch ra tiếng Tàu gọi là "thu lộ". Thu lộ là
một loài chim biển. Chim này bay rất cao và rất xa, đôi mắt
lanh lẹ trong sáng như hai ống dòm. Lúc cá bơi qua bơi lại
trên biển, nó đang trên hư không liền bay xà xuống mau như
hỏa tiển, để bắt lấy cá mà ăn. "Xá Lợi" cũng là tên
của loài chim thu lộ. Ở Ấn Ðộ, con cái thường lấy tên
cha, mà cũng đôi khi lấy tên mẹ, hay dùng cả tên cha lẫn
mẹ. Xá Lợi Tử là chỉ lấy tên mẹ thôi. Mẹ của ngài
Xá Lợi Tử tên là Xá Lợi. "Tử" tức là con của bà Xá Lợi,
cũng y chiếu theo hình thái của bà mà tạo ra tên đó.
"Giới
định viên minh châu quang hiện, (giới định sáng tròn chân
ảnh hiện) ".
Ngài
Xá Lợi Tử trong tiền kiếp, sanh sanh thế thế đều tu giới,
định, huệ. Giới, định, huệ của Ngài đều viên mãn tròn
đầy, viên minh (tròn sáng) như hạt châu phóng ánh sáng, nên
nói là hạt châu hiển hiện.
"Hạnh
giải tương ưng thể linh lung".
Ngài
vừa tu hành vừa học giáo điển, nên trí huệ rất quảng
đại. Thể linh lung nghĩa là thân thể của Ngài trong sáng
như pha lê.
"Ðại
trí chi hà nhân ngu biểu, (bậc đại trí sao giống kẻ ngu)".
Sao
gọi là đại trí huệ ? Ngược với ngu si. Vì Ngài khác biệt
hẳn với những người ngu. Người ngu si làm những việc điên
điên đảo đảo. Dù nói lời tốt đến đâu nhưng khi hành
lại làm những việc hư hoại. Tạo những việc hư hoại gọi
là người ngu. Người có trí huệ không si mê, không phải
biết mà vẫn cố phạm, không điên điên đảo đảo, nên
gọi là đại trí huệ.
"Thiện
biện kỷ tại nương phục sanh, (biện tài giỏi nhờ thai sanh
trợ)".
Chắc
chư vị nhớ rõ những lần tôi giảng kinh Lăng Nghiêm, có
đề cập đến mẹ của ngài Xá Lợi Phất, không thể biện
luận thắng cậu Ngài. Sau này, lúc mang thai ngài Xá Lợi Phất,
mẹ lại cùng cậu Ngài biện luận. Khi ấy, cậu Ngài không
thể thắng, bắt bẻ được mẹ Ngài. Do đó, cậu Ngài ra
ngoài học luận nghị ngoại đạo. Khi trở về, ngài Xá Lợi
Phất đã theo Phật xuất gia. Vì lúc còn ở trong bào thai,
Ngài đã trợ giúp mẹ Ngài biện luận thắng cậu Ngài, nên
gọi là thuyết thiện biện tài từ trong bào thai.
"Nhân
giai cụ thử chân trí huệ, (người người đầy đủ chân
trí huệ)".
Trí
huệ này không phải chỉ ngài Xá Lợi Phất có thôi mà ai
ai cũng đều có hết cả. Tuy có nhưng không biết dùng, nên
quên mất. Nếu mọi người biết dùng trí huệ này thì đều
đạt được lợi ích cả.
"Thủ
chư Tào Khê Bảo Lâm phong, (giữ phong cách Bảo Lâm Tào Khê)".
Trí
huệ chân thật này ở đâu ? Tại Tào Khê ? Tào Khê ở nơi
nào ? Tại chùa Nam Hoa, Mã Bá, Quảng Ðông, Trung Quốc. Xa không
? Mình có thể tới được không ? Chùa Nam Hoa tại núi Bảo
Lâm là đạo tràng của ngài Lục Tổ, rất xa nơi này, tôi
không thể đến. Ðược ! Nay không cần phải đi, chư vị
mỗi người cũng đều có sẵn phong cách Tào Khê Bảo Lâm,
không cần phải chạy đâu tìm cầu. Tự chính chư vị có
sẵn trí huệ này. Chính bổn thể của chư vị là phong cách
Tào Khê Bảo Lâm, nên chẳng cần phải ra ngoài tìm cầu. Trí
huệ này cũng chính là chư vị. Sao lại tìm cầu bên ngoài
? Chư vị phải xả bỏ tâm vọng tưởng điên đảo, tự mình
dụng công tham thiền đả tọa thì sẽ đắc được trí huệ
này. Ðó cũng là Tào Khê Bảo Lâm phong. Lúc ngồi tham thiền
đả tọa cũng là lúc ngồi tại núi Bảo Lâm.
Sắc
bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không
tức thị sắc, (sắc không khác không, không chẳng khác
sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc).
"Sắc
bất dị không hữu nhược vô
Không
bất dị sắc thể dụng thù
Sắc
tức thị không chân nguyên triệt
Không
tức thị sắc vọng lưu khô
Sơn
hà đại địa duy thức hiện
Mộng
huyễn phao ảnh như thị hồ
Thận
vật ngoại cầu trì trung đạo
Phóng
hạ nhiễm duyên tức lai như
Dịch
:
Sắc
chẳng khác không có lại không
Không
chẳng khác sắc cùng thể dụng
Sắc
tức là không thấu nguồn chân
Không
tức là sắc nguồn vọng cạn
Núi
sông non nước hiện duy thức
Bọt
ảnh huyễn mộng như thế đấy
Chớ
cầu ngoài, nên giữ trung đạo
Xả
bỏ nhiễm duyên tức Lai Như".
"Sắc
bất dị không hữu nhược vô, (sắc chẳng khác không có lại
không)".
Sao
gọi là sắc ? Tức là hình tướng. Sao gọi là không ? Tức
là vô hình tướng. Sao lại gọi sắc chẳng khác không, không
chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc ? Ðây
nói về đạo lý cùng tột, liễu nghĩa triệt để. Tất cả
núi non, sông biển, đất đá, nhà cửa, phòng xá, v.v... đều
là sắc. Sắc trụ ở nơi đâu ? Sắc trụ tại hư không. Không
trụ tại nơi đâu ? Không cũng trụ tại nơi sắc. Sắc và
không có thể bảo là không hai. Sắc không khác không, lại
không phải là hai. Không chẳng khác sắc. Hư không cùng sắc
không có hai. Không bao gồm sắc. Sắc cũng bao gồm không. Bên
ngoài thì thấy có hai, nhưng thật tế vốn là một. Ví dụ,
nơi đây vốn trống rỗng, mà chư vị lại đem cái bàn để
ra đây, tức là có. Trước khi đem bàn ra, nơi đây vốn là
hư không. Khi đem bàn ra thì còn có hư không nữa không ? Cũng
là có. Không gian cũng vẫn còn, bất quá bị cái bàn chiếm
một khoảng thôi. Lại nói hư không này có sắc hay không ?
Không này vốn cũng có sắc. Sắc tức là không. Chúng ta phân
tích hình sắc mãi thì cuối cùng sẽ biến thành không. Tại
sao thế ? Thân thể chúng ta dựa nơi sắc pháp. Do gì tạo
thành ? Do bốn đại tạo thành. Sắc thân do bốn đại đất,
nước, gió, lửa, hợp thành, cũng là sắc. Phân tích kỷ thì
khi chúng ta chết đi, bốn đại này sẽ trở về cội gốc.
Ðất trở về với đất; nước trở về với nước; gió
trở về với gió; lửa trở về với lửa. Sắc thân tan biến
mất. Sắc tức là không. Tuy nay có sắc tướng mà tương lai
thì không có, nên nói là sắc chẳng khác không, thực có thực
không. Tuy có nhưng lại đồng với không.
"Không
chẳng khác sắc thể dụng thù, (không chẳng khác sắc cùng
thể dụng)".
Không
chẳng khác sắc, nhưng có thể có dụng. Không là thể không.
Sắc là dụng của không. Thể và dụng tuy hai nhưng vốn là
một.
"Sắc
tức là không chân nguyên triệt, (sắc tức là không thấu
nguồn chân)".
Chư
vị phải biết sắc thật chất vốn từ không. Cội gốc này
nếu chư vị đạt đến được thì sẽ hiểu rõ triệt để.
"Không
tức thị sắc vọng lưu khô, (Không tức là sắc nguồn vọng
cạn)".
Chư
vị phải hiểu rõ không tức là sắc. Không có vọng tưởng
thì nguồn vọng khô cạn. Lại sắc chẳng khác không, không
chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Ðấy,
có thể nói là chư vị tu đạo thì mới đắc được cảnh
giới đó. Sắc này cũng là sắc đẹp. Sắc đẹp đại biểu
cho sắc đẹp nam nữ. Chư vị chân chánh tu đạo đắc được
cảnh giới an lạc thì cùng cảnh giới này như một, nên sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Khi tu đạo đắc
được an lạc này thì so với vấn đề khoái lạc nam nữ
gấp trăm ngàn lần, không thể so sánh được. Vì vậy, không
chẳng khác sắc.
Sắc
tức là không. Trên hình sắc, chư vị phải hiểu rõ lý không,
đừng trụ vào, chẳng có gì để chấp trước, không nắm
giữ, không xả bỏ, cũng không thọ, chính là không. Không
chẳng khác sắc; không tức là sắc. Trên lý không đắc được
an lạc chân chánh. Khi đó, những tư tưởng hay vọng tưởng
của chư vị đều không còn. Vì sao ? Ðạt đến cảnh giới
an lạc này thì càng an lạc thêm, vì đã xả bỏ tâm vọng
tưởng.
"Sơn
hà đại địa duy thức hiện, (sông núi nước non hiện duy
thức)".
'Sơn
hà đại địa' tức đất đá núi sông, là sắc pháp. Sắc
pháp này xuất hiện từ đâu ? Từ tâm thức phân biệt của
chúng ta xuất hiện ra. Nếu chúng ta năng chuyển hóa tâm thức
phân biệt thì núi sông đất đai cũng không còn.
"Mộng
huyễn phao ảnh như thị hồ, (bọt ảnh huyễn mộng như thế
đấy)".
Tất
cả tướng đẹp đều là mộng cả. Ai ai cũng biết mộng
mị, đều nằm mộng, nhưng hỏi nằm mộng như thế nào, thấy
mộng ra sao ? Chỉ tự trả lời cho chính mình thôi. Có mà
không phải thật, không chính xác nhất định. Hoặc nói :"
Ban ngày nghĩ tưởng như thế nào thì đến tối mơ như thế
ấy."
Hoặc
nói :"Trước kia tôi đã thấy những cảnh giới này, nên gọi
đó là mộng".
Lại
có khi không nghĩ đến việc đó, nhưng đến tối thì mơ thấy,
vậy giảng giải làm sao ? Có lúc không thấy qua cảnh giới
mà lại nằm mơ thấy, thì giải thích thế nào ? Giải thích
không được. Có phải tỉnh từ trong giấc mộng không ? Cũng
rất mơ hồ. Thậm chí nằm mộng rồi mà quên, không nhớ
gì cả. Chư vị hãy suy nghĩ xem, khoảng mười tiếng sau khi
mơ mộng, chúng ta đều quên hết những gì xảy ra trong mộng,
huống chi những sự việc trong đời quá khứ, lại nói không
tin có đời trước. Tất cả việc đời quá khứ chúng ta
đều quên cả. Chỉ sau mười giờ là chúng ta hoàn toàn quên
hết những gì xảy ra trong mộng, nói chi tất cả sự việc
trong đời quá khứ.
Một
người đang lúc mộng mị, giả như có người bảo :" Ðạo
hữu nay phát tài, làm quan lớn, có nhiều vợ con, nhiều tài
sản, nhưng chúng đều không thật, chỉ là mộng thôi."
Nhưng
người đang mộng mị đó, không tin tưởng cho rằng lời kia
là thật. "A ! Cái gì ! Hiện tại tôi đang phát tài, làm quan
lớn, vợ con nhiều, tài sản to tát, sao lại nói là mộng
? "
Họ
không tin tưởng chính họ đang mơ mộng. Ðợi khi thức giấc,
không ai bảo cho mà chính tự họ biết rằng họ vừa trải
qua cơn mộng mị, thấy mình phát tài làm quan lớn, vợ con
nhiều, tài sản giàu có. Chúng vốn không thật; không nói
cũng tự biết vì đã tỉnh giấc mộng.
Chư
vị phải biết rằng chúng ta hiện đang mơ mộng ! Tôi bảo
:"Chư vị đang nằm mộng, nếu không tin, đợi khi tu đạo
đắc quả thì mới biết rõ. A ! Xưa kia, bất cứ những việc
gì mà tôi làm đều là ảo mộng hết, vì mình vốn chưa tự
làm chủ chính mình. Bây giờ mới biết là những việc xưa
kia mình làm xác thật chỉ nằm mơ thôi.
'Huyễn',
sao gọi là huyễn ? Huyễn tức là xuất phát từ huyễn hóa.
Nhà ảo thuật từ không mà tự hóa thành có, tự có mà hóa
thành không, biến hóa không lường, khiến trẻ con cho pháp
huyễn thuật là thật, mà người lớn khi nhìn xem thì biết
đó là không vọng, giả tạo chế ra. Ðó là huyễn.
'Phao'
tức là bọt nước, không lâu bền, không thường hằng. Ảnh
tức là bóng ảnh. Bóng ảnh là thật hay giả ? Chư vị nói
nó giả, nhưng nó thật có tồn tại. Chư vị nhìn thấy, nói
nó là thật, nhưng lại không thể nắm bắt lấy. Vậy, chư
vị nói nó là thật hay giả ? Những bóng ảnh này phát sanh
từ đâu ? Nghiêng về phía dương thì không có bóng. Ngã về
phía âm thì có bóng. Chư vị đi nơi đâu thì nó đi theo đến
đó. Bóng ví như ma. Nó luôn đi theo chư vị mãi. Thế nên,
người nhút nhát sợ ma, thấy bóng ma liền sợ hãi, chạy
lánh xa, nhưng ma đó chính là bóng dáng của người thật.
Nhưng bóng ảnh này, khi sống thì hiện bóng, khi chết không
còn thân thể thì bóng biến thành ma. nếu không có bóng thì
biến thành thần, nhưng thần và ma không hai, mà là một. Nếu
khí dương sung túc thì lúc đi không có bóng ngã theo. Khí âm
nếu đầy đủ thì khi đi liền có bóng chạy theo. Thế nên,
chúng ta thường nghiêng về bên có khí lực mạnh. Nếu chư
vị tạo công đức nhiều thì được sanh lên trời. Nếu chư
vị tạo tội ác nhiều thì phải bị đọa xuống địa ngục.
Vì vậy bảo rằng bọt nước, bóng ảnh huyễn mộng như thế.
"Thận
vật ngoại cầu trì trung đạo, (chớ tìm cầu ngoài, trì trung
đạo)".
Chư
vị chẳng nên hướng ngoại tìm cầu. Tự trong thân tâm đã
có đầy đủ.
"
Phóng hạ nhiễm duyên tức lai như, (xả bỏ duyên nhiễm tức
Lai Như)".
Sao
gọi là duyên nhiễm ? Nhiễm tức là nhiễm ô. Duyên tức là
nhân duyên. Chư vị phải nên phóng xả. Sao gọi là duyên nhiễm
? Duyên tức là tâm tham, sân, si, giết hại, uống rượu, dùng
nha phiến. Chư vị phải xa rời duyên nhiễm thì đồng vào
nhà Như Lai. Lai Như tức là từ nay cho đến ngày thành Phật
không xa. Khi thành Phật thì gọi là Như Lai. Chúng ta chưa thành
Phật nên gọi là Lai Như. Lai thì năng Như. Không lai thì không
như. Lai đến nơi nào ? Lai đến nơi thành Phật. Những duyên
nhiễm này phải nên xả bỏ hết thì mới là Lai Như. Như
nghĩa là mọi việc đều hợp lý, không có việc gì chướng
ngại. Nếu mọi việc còn chướng ngại thì không gọi là
Lai Như.
Không
này chính là chân không. Sắc cũng là diệu hữu. Diệu hữu
phi hữu cũng là chân không. Chân không này xuất sanh từ đâu
? Xuất sanh từ nhất như, cũng từ sắc pháp phát khởi ra.
Nơi nào cũng có sắc pháp. Từ hư không cũng hiện ra sắc
pháp, nên nói sắc không khác không, không chẳng khác sắc,
sắc tức là không, không tức là sắc, cũng là thuyết chân
không mà chẳng phải không, diệu hữu mà chẳng phải hữu.
Tại nơi chẳng không chẳng có, chư vị nên hiểu kỹ. Ðấy
là chân chánh hiểu rõ Phật pháp. Giống như bên trên bàn
về mộng. Chư vị mộng đến mộng lui mà không biết. Mộng
rồi tỉnh, tỉnh rồi mộng cũng thế. Vì vậy chúng ta sanh
ra như thế nào, chết đi ra sao, vẫn không biết. Trong cái
không biết mà hiểu rõ đó là giác ngộ. Do đó, bảo rằng
sắc tức là cội nguồn của chân không. Hiểu rõ chân lý
không tức là sắc thì dòng vọng tưởng khô cạn. Vọng tưởng
đoạn hết, không còn nữa. Vì thế, chúng ta phải hiểu rõ
đạo lý không và sắc, và cũng phải lãnh hội đạo lý phi
không, phi sắc. Ngài Lục Tổ nói :" Không nghĩ thiện, không
nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì là bổn lai diện mục của Thượng
Tọa Minh ?"
Không
nghĩ thiện là không phải không, không nghĩ ác, cũng là không
phải sắc. Nơi chẳng phải sắc, chẳng phải không đó, chư
vị hãy nghiên cứu kỹ, đó chính là giác ngộ được cảnh
giới vừa là không mà vừa là sắc. Do đó, chư vị phải
hiểu rõ sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Trong
chân không có chân sắc; trong chân sắc có chân không, tức
là tại sắc pháp cũng có bổn thể của chân không, và tại
pháp không cũng là sắc. Như núi là sắc pháp. Chư vị san
bằng thì thành không. Trước lúc san bằng núi thì có không
chăng ? Cũng tại chỗ đó. Khi có không rồi thì sắc còn hay
mất ? Sắc cũng còn nơi đó. Hãy xem coi chỗ nào là không
? Sắc cũng tại nơi đó. Không cùng sắc là một như băng
với nước. Sao không biến thành sắc ? Như trời lạnh thì
nước biến thành đá. Sao sắc biến thành không ? Trời nóng
khiến nước đá tan thành không. Lại có thể nói rằng trong
không trung, nhiều hạt bụi hợp lại thành một sắc tướng,
nhân duyên tán thì biến thành không. Thế nên, không cũng là
sắc, sắc cũng là không. Bảo rằng hạt bụi đó không thể
chuyển hóa, cũng là một ví dụ, lại không bảo hạt bụi
là nước đá được. Sợ chư vị chưa hiểu rõ nên lấy ví
dụ nước đá và nước lỏng. Chư vị đừng hiểu lầm là
hạt bụi và không biến thành nước và nước đá. Chư vị
hãy suy nghĩ, giống như đầu đặt lên đầu, lại biến thành
chấp trước. Gốc vốn không chấp trước. Tôi không có phương
cách khiến chư vị hiểu rõ đạo lý sắc không chẳng khác.
Từ từ thì chư vị sẽ tham ngộ đạo lý này hoặc sẽ minh
bạch rõ ràng.
Vietnamese
Buddhism