"Thọ
tưởng hành thức diệt phục như thị. Xá Lợi tử ! Thị
chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt bất cấu bất tịnh
bất tăng bất giảm, (thọ tưởng hành thức cũng là như
thế. Xá Lợi Tử, các pháp đều không tướng, không sanh,
không diệt, không cấu không tịnh, không tăng, không giảm).
"Thọ
tưởng hành thức như không sắc
Tái
hồ Xá Lợi nhữ đế thính
Thị
chư pháp không tướng vô tánh
Bất
sanh bất diệt tịch nhiên thông
Bất
cấu bất tịnh ly nhiễm ô
Bất
tăng bất giảm ngộ huyễn trung
Thâm
nhiên tịch cực siêu tạo hóa
Ðốn
giác ngã pháp bổn viên dung.
dịch:
Thọ
tưởng hành thức như không sắc
Lại
nữa Xá Lợi nên lắng nghe kỹ
Các
pháp đều không tướng vô tánh
Không
sanh không diệt, thông tịch nhiên
Không
nhơ không sạch xa nhiễm ô
Không
tăng không giảm ngộ trong huyền
Thâm
sâu cực tĩnh vượt tạo hóa
Ðốn
giác ngã pháp vốn viên dung."
Bên
trên giảng sắc không khác không, không chẳng khác sắc, sắc
tức là không, không tức là sắc. Sắc này có nhiều loại
sắc pháp, nhưng tổng quát không ngoài ba loại, tức là khả
đối khả kiến sắc, khả đối bất khả kiến sắc, bất
khả bất đối kiến sắc.
Sao
gọi là khả đối khả kiến sắc ? Khả đối tức là có
thể đối mặt. Khả kiến tức là có thể thấy. Khả đối
bất khả kiến sắc là có thể đối đãi, nhưng không thể
nhìn thấy. Lại bất khả đối bất khả kiến sắc là chư
vị có đối đãi cũng không có đối đãi, thấy cũng không
thể thấy sắc. Loại sắc này xuất phát từ đâu ? Do phân
biệt từ cảnh giới sáu trần như hình sắc, âm thanh, hương
vị, xúc chạm, pháp.
Sao
gọi là khả đối khả kiến sắc ? Thí như nhân, ngã, tha,
chúng sanh, núi non, sông hồ, đất đai... vạn tượng bao la,
đều có hình sắc, có sắc tướng, có hình chất nên có thể
thấy. Do đó đều gọi là khả kiến khả đối sắc (có thể
thấy, sắc có thể đối đãi), tức chung quy nơi sắc pháp.
Lại
nữa, chung quy nơi sắc pháp mà khả đối bất khả kiến (sắc
có thể đối đãi mà không thể thấy). Ðối là có thể đối
đãi, nhưng chư vị không thể nhìn thấy, chỉ có thể nghe
thôi. Tại sao ? Nay nói về âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc
chạm. Ðối với thanh trần, tức âm thanh mà chư vị có thể
nghe. A ! Âm thanh hoặc hay hoặc dở, chư vị có thể đối
trước với nó mà sanh tâm thức phân biệt, nhưng không thể
thấy được âm thanh. Hãy nói, âm thanh là sắc gì, là màu
xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng ? Nó không có hình sắc.
Âm thanh này hình dáng ra sao, hình tròn, hình tam giác, hình
dài ? Chư vị không thể biết, không thể thấy. Không thể
thấy được thể tướng của thanh trần, nên gọi là khả
đối bất khả kiến sắc (có thể đối trước, nhưng không
thể thấy). Âm thanh này chung quy nơi sắc trần. Nơi năm ấm,
sắc thọ tưởng hành thức, chung quy về sắc.
Mũi
ngữi mùi hương, đó là hương trần. Chư vị có thể bám
chấp vào. Tuy ngữi biết là hương mà không thể thấy được
tướng mạo. Hương là gì ? Tức là hương vị, hay hương trần.
Ngữi thì cảm giác được, nhưng không thể thấy. Vậy nó
có hay không ? Tuy không thấy, nhưng nó thực có vì dùng mũi
ngữi thấy được.
Vị,
tức là mùi vị ngon bổ. Chúng là gì ? Chư vị có thấy được
không ? Cũng không thể thấy được nhưng dùng lưỡi nếm
thì cảm giác được. Ðầu lưỡi biết mùi vị ngon dở, đắng,
cay, mặn, ngọt, chua. Năm mùi vị này có hình sắc không ?
Chúng ra như thế nào ? Chư vị không thể thấy được.
Xúc,
thân thể nhờ mặc y phục nên được ấm áp, trơn trụi.
Khi rờ vào da thì tự nhiên cảm giác được an lạc thích
thú. Xúc trần này như thế nào ? Không thể thấy được,
nên gọi là có thể cảm nhận mà không thể thấy được
sắc trần. Nơi năm trần sắc thanh hương vị xúc pháp, hoặc
đã có trải qua hay chưa trải qua, nơi ý thức đã từng gieo
ảnh tử. Ví như khi thấy hình sắc thì ý thức liền biết.
A ! Tôi thấy màu đỏ, lại thấy màu vàng, màu xanh lá cây.
Những màu sắc này, khi vừa thấy qua nhưng ảnh tử (hình
ảnh) vẫn còn nằm trong ý thức. Ảnh tử này, chư vị nói
có hay không ? Nhớ lại những cảnh trong thời quá khứ, vậy
ảnh tử có thật không ? Những cảnh giới này gọi là ảnh
tử (hình ảnh) của năm trần. Sắc trần, thanh trần, hương
trần, vị trần, xúc trần cũng là như thế. Tuy đã xảy ra
trong đời quá khứ nhưng trong ý thức vẫn còn lưu lại ảnh
tử (hình ảnh). Ðó là pháp trần, cũng là sắc không thể
nhận diện, không thể thấy được. Không thể nhận diện,
nghĩa là chư vị đã gặp trong thời quá khứ, nay không còn
nữa, lại không thể thấy. Vậy chư vị nói nó không có à
? Giống như khi khắc xong bản gỗ thì nó còn tồn tại mãi
mãi, nhưng chư vị không có cách gì để thấy, để nghe, để
tìm kiếm tướng mạo chân chánh được cả. Vì vậy, gọi
là ảnh tử (hình ảnh) của năm trần lạc vào ý thức thứ
sáu, nên nói là sắc không thể đối nhận, không thể thấy.
Sắc là như thế, còn thọ tưởng hành thức cũng giống vậy.
Tưởng
không khác không, không chẳng khác tưởng, tưởng tức là
không, không tức là tưởng. Thọ không khác không, không chẳng
khác thọ, thọ tức là không, không tức là thọ. Hành chẳng
khác không, không chẳng khác hành, hành tức là không, không
tức là hành. Thức chẳng khác không, không chẳng khác thức,
thức tức là không, không tức là thức. Vì vậy bảo rằng
'diệc phục như thị (cũng đều như thế)', tức là cũng giống
như sắc và không. Do đó, thọ tưởng hành thức cũng đồng
dạng.
"Thọ
tưởng hành thức như không sắc".
Thọ
tưởng hành thức đã được giảng qua nhiều lần rồi. Chúng
là gì, từ đâu đến, rồi đi về đâu ? Chúng ta phải biết
bản thể của thọ tưởng hành thức, hiểu rõ tác dụng của
chúng, rồi mới hàng phục chúng. Nay tôi sẽ dùng đạo lý
thô thiển đơn sơ để giảng về chúng.
Sao
gọi là sắc ? Ðó là sắc thân của chúng ta. Chung quy là sắc
pháp, nên gọi là sắc thân. Tuy sắc thân này có hình tướng,
nhưng nếu nghiên cứu thấu đáo thì bản thể của nó vẫn
là không. Tại sao nói như thế ? tôi đã giảng qua nhiều lần
ở phần trước rồi. Thân thể này do bốn đại, đất nước
gió lửa hợp thành một công ty hữu hạn. Ðất là duyên cứng
rắn. Nước là duyên ẩm ướt. Gió là duyên diêu động. Lửa
là duyên nóng. Do bốn đại này hợp duyên lại thành thân
thể, có hình sắc. Khi nhân duyên bốn đại này phân khai,
ly tán thì đại nào trở về đại đó, nhưng chung cuộc đều
là không. Do thế, bảo rằng sắc không khác không, không chẳng
khác sắc. Sắc chẳng khác không, tức là chân không. Không
chẳng khác sắc tức là diệu hữu. Chân không cũng là diệu
hữu, diệu hữu cũng là chân không. Không thể bỏ chân không,
hướng ngoại tìm cầu diệu hữu, cũng không thể bỏ diệu
hữu mà xuất hiện chân không. Ðó là từ khi trời đất chưa
khai mở, trước khi được cha mẹ sanh ra, là bản lai diện
mục mà mình đồng với chư Phật không khác.
Do
bốn đại hòa hợp mà thành sắc thân, có hình sắc có thể
thấy, hưởng thọ sung sướng. Có ba loại thọ cũng là ba
loại khổ. Chúng là gì ? Tức là khổ thọ, lạc thọ, và
không khổ, không lạc thọ. Chư vị có sợ khổ không ? Càng
sợ khổ chừng nào thì càng có nhiều khổ chừng đó. Sao
tôi bảo chớ nên sợ khổ. Khổ ít hay nhiều ? Chư vị đừng
có sợ khổ. Tuy khổ không nhiều nhưng khổ vốn không có
thật. Nếu sợ khổ bao nhiêu thì bị cảm khổ bấy nhiêu,
khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.Chúng ta phải cảm giác mình
là người khổ nhất trần gian. Tất cả sự việc đều cảm
thấy khổ.
Tôi
có một đệ tử. Hắn cảm giác mọi việc đều khổ; nói
năng cũng khổ; muốn ăn này nọ cũng khổ; nhưng làm việc
sinh sống thì không khổ, vui vẻ làm việc. Tuy nhiên, trên
gian rất ít công việc an nhàn. Công việc an nhàn cũng là quả
khổ. Thọ lạc tức thọ vui thú, hưởng thọ. Thích có xe
hơi, nhưng sau khi mua xe rồi thì lại muốn mua máy bay. Có máy
bay rồi thì muốn mua thêm tàu để chạy ra biển du ngoạn.
Có tàu rồi lại muốn ngồi trên phi thuyền hỏa tốc để
du hành lên cung trăng. Chư vị nói thử coi, những vọng tưởng
này có bao giờ ngừng đâu. Tuy hưởng thọ, hưởng thú vui,
nhưng càng đầy đủ chừng nào thì tâm lại càng muốn nhiều
thêm. Ðến được cung trăng, nhưng kết quả không hợp thủy
thổ, liền sanh bệnh. Trên cung trăng không có bác sĩ. Chết
tại cung trăng rồi biến thành quỷ ở cung trăng. Chư vị
hãy nói xem, đó là an vui hay khổ đau. Ðấy là hưởng lạc
mà cũng là nhân của khổ.
Không
khổ không lạc. Chư vị nói :"Tôi không muốn khổ cũng không
muốn quá an lạc, chỉ muốn sống một đời bình thường
thôi."
Không
sai ! Một đời làm ăn buôn bán, không có lời, không được
lợi tức mà cũng không thua lỗ. Vốn có năm mươi ngàn, làm
bao năm rồi vẫn còn năm mươi ngàn. Ðó gọi là không khổ
không an lạc, nhưng rất mất mát. Chư vị đến thế gian này,
mê mờ mà đến, lại mê mờ mà đi. Tài sản sở hữu không
biết xử lý cho đúng. Chư vị cũng không biết an bài trương
mục của mình, mê mờ đến, mê mờ đi, không có ý nghĩa
gì cả. Muốn hưởng thọ thì không thể không khởi vọng
tưởng. "Tôi phải kiếm cách gì để mua xe hơi, mua nhà sang
trọng, mua tàu thủy, mua máy bay ?"
Nghĩ
đến nghĩ lui, khởi những vọng tưởng này, khiến tóc đều
bạc hết. Khi leo lên giường thì suy nghĩ trăm ngàn kế. Sáng
sớm thức dậy, chưa kịp trở mình mà đã tính toán bao việc.
Ðấy là những giấc mộng thực đẹp !
Hành
tức là thực hành. Thực hành gì ? Thực hành theo những vọng
tưởng của chư vị. Thân thể của chư vị tức là sắc uẩn.
Có sắc uẩn này nên có tư tưởng hưởng thọ. Muốn hưởng
thọ cũng là khởi vọng tưởng. Muốn hưởng thọ thì phải
làm để đạt đến mục đích; làm rồi mới sinh ra ít nhiều
trí huệ. Thức là một loại thông minh nhỏ, chỉ bằng một
cọng tóc trên đầu thôi. Trí huệ nhỏ trụ nơi lầu trí
huệ nhỏ, làm những việc tiểu trí huệ. Trí huệ nhỏ này
tại lầu nho nhỏ có thể phát triển được không ? Không
thể được. Tại lầu nhỏ, công ty nhỏ, không thể làm sự
nghiệp lớn được. Thế nên, chư vị phải có trí huệ thì
mới giúp đỡ chính mình thực hành những kế hoạch đã vạch
sẵn. Thực hành được thì sẽ đạt được như ý, rồi sau
đó hưởng thọ, khiến thân thể sung sướng đầy đủ. Sau
khi thân thể hưởng thọ như ý muốn, chỉ trong năm phút thì
huyết quản liền đứt mà chết vì hưởng thọ quá độ.
Hưởng thọ này không bền lâu. Ðây thuộc về năm uẩn. Năm
uẩn này hòa hợp thành một công ty. Công ty này mở rồi đóng,
đóng rồi mở, không ngừng nghĩ. Chư vị cảm giác ước muốn
một điều, là gì ? Tức là vì đời nay không kiếm ra nhiều
tiền, chỉ mong đời sau kiếm được chút ít. Ví như đánh
cờ bạc, bỏ tiền vào ngăn, nghĩ rằng kéo ra sẽ được
nhiều tiền, nhưng khi bỏ vào thì tiền lọt vào lỗ khác,
thuộc về người. Vốn tính đánh bạc cầu thắng mà ngược
lại mất tiền, bị thua lỗ. Thân thể chúng ta cũng như thế,
nay lại muốn đánh bạc. Tại sao vậy ? Vì chư vị không chịu
nhìn thấu suốt, không biết rằng trời đất thế gian có
nhiều sự vi diệu, cảnh giới không thể nghĩ bàn. Chư vị
không nên bước bên phải bên trái giống như khi xưa nữa,
càng sa xuống thì càng lún sâu. Vậy, chư vị phải làm gì
? Chư vị phải dẹp trừ tâm tham thì sẽ không còn thua lỗ
nữa. Lại nữa, chư vị nên giữ bổn phận của mình và tu
hành, đó gọi là phản bổn hoàn nguyên (xoay về cội gốc),
thì mới có thể trở về nhà được.
Bên
trên, giảng về ba loại sắc, tức là sắc có thể đối có
thể thấy, sắc có thể đối không thể thấy, sắc không
thể đối không thể thấy. Ðó là mười một loại sắc pháp.
Tại sao thế ? năm căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý, lại thêm
sáu trần sắc, thanh hương vị xúc pháp. Năm căn đối với
sáu trần sanh ra mười một loại sắc pháp. Mười một loại
này cũng được phân tách từ ba loại sắc ở bên trên, tức
là sắc có thể đối có thể thấy, sắc có thể đối không
thể thấy, sắc không thể đối không thể thấy.
Có
thể đối có thể thấy, tôi đã giảng ở phần trên rồi,
tức là tất cả vật có hình tướng, hiển lộ hình sắc
trước mắt chư vị. Có thể đối không thể thấy tức là
bốn loại âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm. Âm thanh
có thể nghe nhưng không thể thấy. Hương vị xúc cũng như
thế, chỉ có cảm giác mà không thể thấy. Không thể đối
không thể thấy tức là pháp trần, cũng chung quy nơi sắc
pháp. Sắc pháp này không thể thấy được, cũng không thể
cảm giác được, nhưng trong ý niệm lại biết đến. Sao gọi
là sắc pháp ? Vì nó là ảnh tử của năm trần lưu lại trong
tâm thức. Loại ảnh trần này cũng thuộc về sắc pháp. Ðó
là một loại sắc trong ý thức. Bên trên đã nói sắc tức
là không. Thọ tưởng hành thức cũng đều không, cũng lại
đồng dạng với sắc trần. Sắc trần từ đâu đến ? Sắc
trần đối với sáu căn sanh ra sáu thức, nên biến thành sắc
trần.
"Tái
hồ Xá Lợi nhữ đế thính, (lại này Xá Lợi, nên nghe kỹ)".
Ðức
Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất rằng hãy nên chú ý lắng
nghe cho kỹ.
"Thị
chư pháp không tướng vô tánh, (các pháp vốn không tướng
vô tánh)".
Tánh
của sáu căn, thấy, nghe, ngữi, nếm, giác, tri vốn là không.
Sắc do tánh mà hiển. Sắc cũng là không. Chẳng thể bỏ rời
sắc mà giữ được không. Bàn về sắc và kiến tánh, chư
vị bảo rằng sắc có trước hay kiến tánh có trước ? Nếu
nói sắc có trước thì chưa thấy gì mà sao lại hiển xuất
ra sắc? Nếu nói đầu tiên có kiến tánh, thì khi không có
sắc có thể đối thì kiến tánh (thấy tánh) chỗ nào ? Không
có sắc mà chư vị kiến tánh (thấy tánh) thì không ích lợi
gì. Thế nên phải thấy tánh vốn là không. Sắc cũng là không.
Chư vị chớ khởi ra loại biến kế chấp tánh. Chấp trước
có tức là có, không tức là không. Không và có vốn không
hai. Chấp thấy có tức nhất định là có, thì không thể
liễu giải (hiểu rõ) đạo lý không hai của có và không.
Vì vậy, nếu hướng ngoại truy cầu, thì đem đầu đặt lên
đầu, chấp trước khởi vọng. Vì thế, Phật thuyết "Tâm
Kinh" tức là thuyết về đạo lý không hai của có và không.
Diệu pháp không hai của có và không. Thọ tưởng hành thức
cũng đồng với không và sắc. Chư pháp vốn không tướng
vô tánh.
Tất
cả năm uẩn pháp, sắc, thọ tưởng hành thức đều là tổng
hợp các pháp, tức là mười một loại sắc pháp, tám tâm
pháp, năm mươi mốt tâm sở pháp, hai mươi bốn bất tương
ưng pháp, sáu vô vi pháp, thành một trăm pháp. Mười một
sắc pháp tức là mười một loại sắc trần vừa giảng ở
trên, cũng là năm căn đối với sáu trần. Năm căn là năm
loại sắc pháp. Sáu trần là sáu loại sắc pháp. Cộng thành
mười một loại sắc pháp. Tám tâm pháp tức là nhãn thức,
nhĩ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na hức, cùng
a lại da thức, cộng thành tám tâm pháp. Năm mươi mốt tâm
sở pháp nghĩa là thọ và tưởng phân tích tường tận ra
thành năm mươi mốt loại tâm sở pháp. Hành tức là hai mươi
bốn bất tương ưng pháp. Thức cũng là tám thức đã nói
ở trên. Lại thêm sáu vô vi pháp, tổng cộng thành một trăm
pháp.
Một
trăm pháp này do hai vị bồ tát Thiên Thân, Vô Trước tóm
gọn sáu trăm sáu mươi pháp của bồ tát Di Lặc phân thành
một trăm pháp. Bồ tát Di Lặc lấy thời số một đời thuyết
pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni mà biên thành sáu trăm sáu mươi
loại pháp. Vì sáu trăm sáu mươi pháp quá nhiều, nên sau này,
bồ tát Thiên Thân và Vô Trước nghiên cứu tóm thâu lại
thành một trăm pháp. Do đó nói rằng các pháp vốn không tướng,
vô tánh, tức bảo rằng năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức
đều là không, chẳng có tự tánh.
"Bất
sanh bất diệt tịch nhiên thông, (không sanh không diệt thông
tịch nhiên)".
Bồ
tát Long Thọ có thuyết những bài kệ tụng nói về pháp sanh
diệt thật rất tường tận. Ngài nói :
"Kỷ
sanh vô hữu tánh
Vi
sanh kỷ vô sanh
Ly
kỷ sanh vi sanh
Sanh
thời tức vô sanh."
Dịch
:
"Ðã
sanh mà không sanh
Chưa
sanh đã không sanh
Rời
đã sanh chưa sanh
Lúc
sanh tức vô sanh".
"Ðã
sanh mà chưa sanh", tức là đã sanh rồi mà vẫn như chưa sanh.
Sao nói thế ? Ðã sanh rồi sau lại có sanh ? Ví như cây đã
mọc mầm rồi thì không còn mọc thêm nữa.
"Chưa
sanh đã vô sanh". Sao là chưa sanh ? Chưa sanh là chưa có sanh.
Chưa có sanh lại có sanh không ?
"Ly
đã sanh chưa sanh" tức là xa rời đã sanh và chưa sanh.
"Lúc
sanh tức vô sanh", nghĩa là ngay khi sanh tức là không có sanh.
Giống như đạo lý tâm quá khứ không thể được, tâm hiện
tại không thể được, tâm vị lai cũng không thể được.
Ðây
là bồ tát Long Thọ phát minh ra lý không sanh không diệt. Lý
luận này thật rất thâm sâu triệt để. Do vì Phật thuyết
tám loại tướng, tức không sanh cũng không diệt, không thường
cũng không đoạn, không một cũng không khác, không đến cũng
không đi. Bồ tát Long Thọ dùng bốn câu kệ tụng để hình
dung vô sanh và sanh giống như nhau. Sao lại giảng về diệt
? Cũng có thể nói :
"Ðã
diệt, không có diệt
Chưa
diệt đã không diệt
Rời
đã diệt chưa diệt
Lúc
diệt tức vô diệt".
Những
loại lý luận này tôi tin chắc rằng mọi người đều chẳng
hiểu gì cả. Do đó tôi không giảng thẳng về chúng. Hiện
tại, bất quá chỉ giảng về lý không sanh không diệt. Lý
không sanh không diệt thông tịch nhiên, tịch nhiên thông đạt
vô ngại.
"Bất
cấu bất tịnh ly ô nhiễm, (không dơ không sạch xa ô nhiễm)".
Tự
tánh vốn không dơ không sạch, nhưng khi sanh ra, con người
lại có dơ có sạch. Dơ sạch này cũng là không dơ không sạch.
Chỉ vì chúng ta có tánh chấp biến kế, chấp trước đây
là dơ, đây là không dơ, đây là sạch, đây là không sạch.
Vì có tâm chấp trước như thế nên biến thành có dơ và
có sạch.
Sao
nói đó là một loại tâm chấp trước ? Ví như tay của chúng
ta, đôi khi bị ô nhiễm bởi phân người hay phân heo. Lúc
ấy, cảm giác rất dơ bẩn, nhưng dùng nước tẩy rửa thì
tay trở lại sạch sẽ. Nhưng khi quần áo bị dính phân thì
tuy tẩy rửa nhưng vẫn còn cảm giác nhơ bẩn. Do đó, chúng
ta muốn liệng nó đi. Ðối với bàn tay, sau khi rửa sạch
thì không còn chấp trước nữa, vì không thể dùng đao cắt
đứt bỏ đi, nên tâm nghĩ rằng tay đã được rửa sạch.
Ðối với quần áo, dầu được giặt rửa rồi nhưng vẫn
không thích, không muốn dùng lại nữa, vì do tâm không thích.
Tâm không chấp trước vào quần áo. Ðó là không nhơ không
sạch. Nếu chư vị không có tâm chấp trước thì cho dầu
bọ nhơ nhuốc nhưng không hề hấn gì cả. Nhơ nhuốc và sạch
sẽ đều cùng một dạng. Không dơ không sạch là cội gốc
của tự tánh. Ðối với mọi sự việc dơ hay sạch, đều
phải lãnh hội lý không dơ không sạch. Không vì dơ sạch
mà làm chuyển động tâm mình. Ðó mới hợp với tự tánh
của chúng ta. Chư vị phải có trình độ nhận thức như thế,
thì đức hạnh của mình mới hợp với đạo lý trời đất,
hợp với ánh sáng của mặt trời, mặt trăng. Tại sao kim
quang của đức Phật như ngàn muôn ức mặt trời ? Vì ngài
hội được lý không dơ không sạch. Ngài đạt được đạo
lý của trời và người. Ngài hòa hợp thành một thể với
bốn mùa, xuân hạ thu đông. Ngài lại hòa hợp với những
việc điềm xấu của quỷ thần. Tại sao chư vị không thể
được như thế ? Vì chư vị còn có tâm chấp trước, tánh
chấp biến kế. Chư vị phải phản bổn hoàn nguyên, xa rời
ô nhiễm.
"Bất
tăng bất giảm ngộ huyền trung. (Không tăng không giảm, ngộ
trong huyền)". Chư vị phải giác ngộ được tự tánh vốn
không tăng không diệt, thì mới liễu ngộ được lý trung
đạo tối vi diệu. Tôi vừa giảng về bồ tát Long Thọ thuyết
về lý không sanh, lại thêm Phật thuyết thời pháp môn phương
đẳng có tám loại tướng, tức là không sanh không diệt,
không đoạn không thường, không một không khác, không đến
không đi. Có người không chấp đoạn nhưng lại chấp thường.
Ðoạn tức là đoạn diệt. Thường tức là tồn tại. Ðoạn
kiến, thường kiến là lý luận của ngoại đạo. Pháp Phật
thuyết là không đoạn không thường. Vậy, đối với chúng
ta, khi chết rồi còn hay là mất ? Nếu nói thường còn thì
sao chúng ta lại không gặp lại được những người xưa ?
Vì đời người vô thường không mãi tồn tại. Chư vị cũng
không nên bảo không thường hằng. Hiện tại chúng ta ăn cơm
cũng giống như người xưa vậy. Ðó là không đoạn. Thế
nên Phật thuyết pháp không thường không đoạn. Không nên
chấp trước đoạn kiến, hay thường kiến, mà phải hòa nơi
trung đạo, nên gọi là ngộ trung huyền.
Không
đến không đi tức là đức Như Lai không từ đâu đến cũng
không đi về đâu. Chớ bảo rằng chúng ta cũng như đức Như
Lai 'bất lai bất khứ (không đến không đi)'.
Bảo
rằng đến tức là chúng ta từ đâu đến ? Chư vị không
hề biết. Bảo rằng đi tức là chúng ta sẽ đi về đâu ?
Chư vị cũng không biết. Không đến không đi tức là không
từ đâu đến và không đi về đâu.
Lại
bàn về không một không khác. Không một tức là không đồng
một dạng. Không khác tức là không có hai, chẳng có tướng
sai biệt. Không một tức là không có tướng đồng với tướng.
Luận về thân thể chúng ta, nó không chỉ do một vật hợp
thành, mà do nhiều bộ phận khác biệt họp thành, nên gọi
là chẳng phải một. Bàn đến lý không khác, lại luận về
thân thể, chỉ có một thân, không có thêm thân khác. Những
loại lý luận này thật rất khó hiểu. Mỗi lần giảng chút
ít, rồi từ từ mới có thể liễu giải.
Không
tăng không giảm, nghĩa là tự tánh chúng ta không tăng không
giảm. Như câu :
"Vô
tình tạng nguyệt tăng trung giảm, (ánh trăng vô tình tăng
trong giảm)".
Hữu
vị Phật pháp khổ hậu điềm, (nếm vị Phật pháp sau khổ
nhọc)".
Tạng
nguyệt (ánh trăng) tức vô tình, không có tình thức. Tuy nói
nó có tăng mà cũng có diệt. Ánh trăng vô tình. Chư vị bảo
mặt trăng đừng lặn mất, lưu lại nơi đây một thời gian.
Không thể được ! Dầu chư vị có làm gì đi nữa cũng không
thể giữ mặt trăng đứng lại một chỗ. Trừ phi chư vị
giữ được mặt trời cố định một chỗ, tức bảo rằng
mặt trời không động. Ðiều này thật không thể được
! Ngày nay khoa học có tiến bộ bao nhiêu đi nữa vẫn không
có cách khiến mặt trời bất động. Ánh mặt trời cũng thuộc
về loài vô tình. Tăng trong giảm, như năm nay tôi sáu mươi
tuổi. Năm kế sẽ sáu mươi mốt tuổi. Thọ mạng tăng thêm
một tuổi, nhưng lại thêm một năm gần cái chết. Ví như
bảo rằng tôi sống đến một trăm tuổi mới chết, mà nay
đang sống đến sáu mươi mốt tuổi, tức là phải giảm đến
ba mươi chín năm nữa. Nhưng đó cũng chính là tăng tuổi thọ.
Vì vậy bảo rằng trong tăng lại có giảm. Ngược lại, trong
giảm lại có tăng. Chư vị phải hiểu rõ lý này chân thật,
nó vốn không tăng cũng không giảm.
"Hữu
vị Phật pháp khổ hậu điềm, (nếm vị Phật pháp sau khổ
nhọc)."
Hương
vị Phật pháp rất ngọt ngào. Ðối với Phật pháp, chư vị
học được một chút thì hiểu rõ một chút. Hôm qua tôi đã
giảng về lý khai ngộ. Khai ngộ có tiểu ngộ, trung ngộ và
đại ngộ. Tiểu ngộ là ít hay nhiều mà sao lại gọi là
tiểu ? Giống như hư không rất rộng lớn, khi đã khai ngộ
từ trong ruộng tám thức, chư vị cũng vẫn không hay biết.
Trung ngộ nghĩa là chư vị cảm giác là mình hiểu rõ được
chút ít đạo lý, như lý không tăng không giảm, lý không sanh
không diệt xưa nay. Hiểu rõ những đạo lý này được rồi
thì gọi là trung ngộ. Ðại ngộ tức là dứt tận sanh tử,
việc gì đến hay đi cũng đều biết hết. Sau gọi là tăng
? Sau gọi là giảm ? Biết rõ lý không tăng không giảm, hoàn
toàn liễu giải được lý không sanh không diệt gọi là đại
ngộ.
"Nếm
vị Phật pháp sau khổ nhọc". Chư vị nhất định phải nhẫn
chịu một chút khổ. Không phải học liên tiếp bốn năm ngày
rồi cho đó là học Phật pháp đầy đủ rồi. Chư vị nhất
định phải có tâm nhẫn nhục, không luận khốn khổ, gian
nan gì cũng đều phải học. Ngày ngày tôi phải đến trường
dạy tiếng Tàu cho học sinh. Ðến lúc giảng kinh, tôi cũng
phải giảng, trừ phi có những trường hợp đặc biệt. Tuyệt
đối tôi không bao giờ làm biếng. Cần phải tu hành chân
thật thì mới nếm được mùi vị Phật pháp, nên đầu tiên
phải chịu khổ đau nhọc nhằn. Do đó, chớ có sợ khổ.
Càng khổ nhiều chừng nào càng tốt chừng ấy. Phải phấn
chấn tinh thần, lập định chí hướng, dũng mãnh tinh tấn
tiến bước. Ðừng sợ khổ nhọc, gian nan.
"Ðạm
nhiên tịnh cực siêu tạo hóa." Ðạm nhiên tức là thanh tịnh.
Cực tịnh nghĩa là tịch tĩnh đến cùng tột. Siêu tạo hóa,
nghĩa là siêu xuất công năng tạo hóa của trời đất.
"Ðốn
giác ngã pháp bổn viên dung, (liền giác ngã pháp vốn viên
dung)".
Chư
vị nếu hiểu rõ đạo lý này thì tức khắc biết được
mình và pháp vốn là một, không có phân biệt, không hai không
khác, gốc vốn là viên dung không ngại.
"Thị
cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn
nhĩ tỷ thiệt thân thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới,
nãi chí vô ý thức giới, (cho đến trong không chẳng có
sắc, chẳng có thọ tưởng hành thức, chẳng có mắt tay mũi
lưỡi thân ý, chẳng có sắc thanh hương vị xúc pháp, chẳng
có nhãn giới, cho đến chẳng có ý thức giới)".
"Thị
cố không trung vô sắc tướng
Thọ
tưởng hành thức diệc vong trược
Lục
căn trần tịnh lục thức
Tam
tâm chỉ thấu tam quan
Bạch
ngưu đại xa lân lân chuyển
Hoàng
kiểm tiểu nhi khiêu khiêu toản
Nhược
vấn cá trung hà chỉ thú
Tiền
tam tam tiếp hậu tam tam
Dịch
:
Do
đó trong không chẳng có sắc
Thọ
tưởng hành thức cũng không trược
Sáu
căn sáu trần cùng sáu thức
Ba
tâm ba chỉ thấu ba cửa
Trâu
trắng xe lớn, chuyển từ từ
Bé
mặt vàng đập đến đập lui
Nếu
hỏi đường hướng như thế nào
Trước
ba ba tiếp, sau ba ba".
Trong
không chẳng có sắc. Ðó là bàn tiếp về đoạn văn ở trên.
Bên trên, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không
tăng không giảm. Vì chân không chẳng có sắc thọ tưởng
hành thức. Bổn thể của thọ tưởng hành thức vốn là không.
Sáu căn, mắt tai mũi lưõi thân ý cũng không có. Sáu trần,
sắc thanh hương vị xúc pháp chẳng có luôn. Sáu thức, thức
của mắt tai mũi lưỡi thân ý đều là không. Tâm kinh này
đàm luận về lý không tức chân không bát nhã. Chân không
bát nhã chính là diệu hữu. Diệu hữu phi hữu tức là chân
không. Do đó bảo rằng chân không không ngăn ngại diệu hữu,
diệu hữu không ngăn ngại chân không, chân không là diệu
hữu, diệu hữu cũng là chân không. Vì thế, bên trên kinh
cũng nói rằng sắc không khác không, không chẳng khác sắc.
Pháp
năm uẩn chính là pháp tổng quát. Sắc pháp của năm uẩn
cũng là không. Sáu căn, sáu trần, sáu thức, còn lại chính
là pháp biệt tướng. Tổng tướng đã là không, thì biệt
tướng đương nhiên cũng không có. Vì vậy, Ngài thuyết rằng
không mắt tai mũi lưỡi thân ý, không sắc thanh hương vị
xúc pháp, không có giới hạn của mắt cho đến không có giới
hạn của ý thức.
Sáu
căn, sáu trần, sáu thức, hợp lại thành mười tám giới.
Sáu căn cộng với sáu trần gọi là mười hai xứ. Sáu căn
cũng là sáu nhập. Mười tám giới cũng là không. Sao thuyết
ra pháp đó ? Ðối với phàm phu thì có pháp này, còn đối
với thánh nhân thì là không. Do đó, nói kệ :
"Thị
cố không trung vô sắc tướng, (do đó trong không chẳng có
sắc)".
Vì
bên trên đã nói rõ lý này, tức trong không, không có sắc.
"Thọ
tưởng hành thức diệc vong trược. (Thọ tưởng hành thức
cũng không trược)".
Thọ
tưởng hành thức cũng không ô trược.
"Lục
căn lục trần tịnh lục thức, (sáu căn sáu trần cùng sáu
thức)".
Sáu
căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Sáu trần là đối xứng
với sáu căn mà có như sắc, thanh hương, vị, xúc, pháp. Căn
tăng trưởng xuất sanh. Trần y theo đó mà bị ô nhiễm. Do
sáu căn đối với sáu trần khởi phân biệt nên sanh ra sáu
thức; thức của mắt tai mũi lưỡi thân ý. Tất cả hợp
thành mười tám giới.
"Tam
tâm tam chỉ thấu tam quan, (ba tâm ba chỉ thấu ba cửa)."
Ba
tâm tức là tâm quá khứ, hiện tại, vị lai. Tâm quá khứ
đã ngừng. Tâm hiện tại cũng dừng. Tâm vị lai lại dừng.
Ba tâm không thể có. Tâm quá khứ không thể được. Tâm hiện
tại không thể được. Tâm vị lai cũng không thể được.
Ba tâm không thể được. Không thể khởi tâm quá khứ. Tâm
hiện tại không thể sanh. Tâm vị lai cũng chưa có. Khi ấy,
tâm không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Ba tâm của chư vị cũng
không có. Sao gọi nghĩ thiện, nghĩ ác ? Tức là khi chư vị
dụng công tu hành, đạt đến cảnh giới dùng thiền duyệt
làm món ăn, pháp hỷ đều đầy đủ. Khi ấy, đang ngồi tĩnh
tọa, chư vị khai mở sơ quan (cửa đầu), trung quan (cửa giữa),
thượng quan (cửa trên). Sơ quan cũng gọi là cửa Mao Cung.
Trung quan gọi là cửa Lai Tích. Thượng quan gọi là cửa Ngọc
Chẩm, hay là cửa sanh tử. Cửa đầu và gữa dễ dàng phá
vỡ, vượt qua, nhưng đến cửa thứ ba thì rất khó khăn.
Vượt qua được cửa thứ ba, chư vị lại phải hướng về
phía trước mà tiếp tục tu hành. Khi đó, chư vị đạt đến
cảnh giới gì ?
"Bạch
ngưu đại xa lân lân chuyển, (trâu trắng, xe lớn, chuyển
từ từ)".
Trong
kinh Pháp Hoa có nói đến xe lớn, trâu trắng, tức là Phật
thừa, chỉ có Phật thừa mà không có thừa nào khác. Lại
nữa, muốn thành Phật thì phải đi trên con đường này, thì
mới ngồi trên cổ xe lớn trâu trắng. Chưa thành Phật được
thì không thể ngồi trên xe này. Tức bảo rằng chúng ta dụng
công đắc lực để chuyển pháp luân, giáo hóa chúng sanh.
Sao
gọi là cổ xe lớn trâu trắng, mà không nói xe lớn trâu đen,
hay xe lớn trâu vàng, hoặc xe lớn trâu nhiều màu ? Con trâu
này màu trắng, giống như tự tánh của chúng ta không ô nhiễm.
Chư vị từ từ hành pháp đại thừa. Xe trâu trắng đi trên
đường đại thừa, phát ra âm thanh lân lân. Khi đó, người
tu hành đạt được cảm giác. Cảm giác gì ?
"Hoàng
kiểm tiểu nhi khiếu khiếu toản, (bé mặt vàng đáp tới
đáp lui)".
Cảm
giác như say sưa, ngủ mơ, mộng mị, tức là không biết gì
là chân, gì là giả, là hư là thật, bốn chi (hay tay hai chân)
rất mềm diu. Tay không có sức lực; chân cũng không có sức
lực, giống như bùn non, không muốn làm gì hết. Khi ngồi
thiền, hay không ngồi thiền, thân thể đột nhiên rung động
nhanh chóng. Khi ấy tâm chúng ta đập. Kỳ thật không phải
là tâm đập mà là lá lách đập. Sao lá lách đập ? Lá lách
đập giúp chúng ta tiêu hóa dễ dàng. Chư vị chạy mau chút
ít thì lá lách làm việc nhiều chút ít. Hoàng kiểm tiểu
nhi là ai ? Tức là ý niệm của chư vị, nghĩa là mắt tai
mũi lưỡi thân ý. Ý tại lá lách. Lá lách màu vàng, nên gọi
là đứa bé mặt vàng.
"Khiếu
khiếu toản", tức là đập tới đập lui. Thế nên, người
thường ngồi thiền, lắm khi ngồi đến lúc không biết gì
hết. "Tim tôi đập như thế nào, có bị bịnh gì không ?"
Tâm
khởi lo sợ như thế. Chớ lo sợ. Ðó chỉ là quá trình tu
hành mà chúng ta phải vượt qua. Khi xe lớn trâu trắng chuyển
pháp luân thì ý niệm cũng khởi dậy, tim đập mạnh rất
nguy hiểm. Lúc đó tâm phát sanh sợ hãi. Tim đập mạnh như
thỏ nhảy tới nhảy lui.
"Nhược
vấn cá trung hà chỉ thú, (nếu hỏi đường hướng nơi đó
thế nào)".
Nếu
chư vị hỏi lý lẽ, tông chỉ này như thế nào, thì có thể
đáp rằng :
"Tiền
tam tam tiếp hậu tam tam, (trước ba ba tiếp, sau ba ba)".
Trước
và sau có ba chỗ. Khi ấy, gặp được đường sanh tử. Trước
kia, đường sanh đường tử khác nhau. Ðường sanh thì đi
theo đường sanh. Ðường tử thì đi theo đường tử. Hiện
tại thì sau ? Ðường sanh đường tử nhập làm một. Sanh
cũng là tử. Tử cũng là sanh. Tựa như sắc không khác không,
không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc.
Sanh tử cũng thế, không phải là hai, cũng lại không sanh không
tử.
Chư
vị phải dụng công tu hành. Nếu không dụng công tu hành thì
tiến một bước, nhưng lại lùi bốn bước. Nếu vậy thì
không có công dụng gì hết. Thế nên, trừ phi không tu thì
thôi, còn nếu đã tu thì ngày ngày phải tinh tấn tiến bước.
Nếu thối một bước thì công phu trước đã mất hết rồi.
Nếu muốn tu đạo thì phải bắt đầu trở lại. Vì thế,
tu đạo phải luôn tiến bước, chớ nên thối lui.
"Vô
vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô
lão tử tận, (không có vô minh, cũng không có tận hết
vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có tận hết
già chết)".
"Vô
vô minh tận bổn tánh không
Vọng
hành liễu biệt danh sắc tùng
Lục
nhập trược thọ ái thủ hữu
Lai
sanh lão tử tận tương đồng
Vạn
lý tình không tuyệt vân ảnh
Mãn
đầm trừng thủy hiển nguyệt minh
Như
nhân kiết ẩm tri lãnh noãn
Thuyết
thực trợ trường tổng phạp công.
Dịch
:
Không
vô minh tận không bổn tánh
Hành
vọng hiểu rõ từ danh sắc
Sáu
nhập trược thọ ái thủ hữu
Từ
sanh già chết tận tương đồng
Muôn
dặm tình không tuyệt ánh mây
Nước
trong ao sạch trăng hiện rõ
Như
khi ăn uống biết lạnh nóng
Nói
ăn chẳng ăn thật phí công."
"Không
có vô minh, cũng không tận hết vô minh, cho đến không có
già chết, cũng không có hết già chết". Ðây là thuyết về
lý mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên này là tu theo
thừa Duyên Giác. Có mười hai loại duyên làm trợ duyên, tức
trợ giúp con người sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh.
Các ngài Duyên Giác do tu pháp mười hai nhân duyên mà hiểu
rõ bao đạo lý nhân sanh, khai ngộ, chứng được quả Bích
Chi Phật. Ðó gọi là trung thừa. Thanh Văn là tiểu thừa.
Bích Chi Phật là trung thừa. Bồ Tát là đại thừa.
Sao
gọi là vô minh ? Vô minh nghĩa là không minh bạch; thế gian
gọi là mù mờ, tức là không hiểu rõ đạo lý, mù mù mờ
mờ. Vì không minh bạch nên mới có hành vi mê mê mờ mờ,
cũng chính là vọng hành (làm sai trái), nghĩa là việc không
nên làm mà lại làm. Khi đã làm sai thì nhận thức hư vọng,
dẫn đến mê mờ vì danh lợi sắc tướng, lại biến thành
nhập mù mờ, xúc mù mờ, thọ xúc mù mờ, hưởng thọ mù
mờ, ái mù mờ, mong cầu chấp giữ mù mờ, rồi muốn đạt
được mù mờ, dẫn đến có sanh, lại có già, chết. Những
nhân duyên này do vì mê mờ trong buổi ban đầu, nên kết quả
mới bị mê mờ. Mê mờ mờ sống qua một đời. Ðời sau
lại mê mê mờ mờ. Thế nên mười hai nhân duyên cũng là
mười hai nhân duyên mê mờ mà phàm phu không thể minh bạch
hiểu rõ.
"Vô
vô minh tận bổn tánh không, (không tận vô minh, không bổn
tánh)".
Mười
hai nhân duyên này, lúc ban đầu là mê mờ. Bao loại tham dục
của con người, hoặc tham ăn, hoặc tham sắc v.v... chúng phát
sanh từ đâu? Ðều phát sanh từ vô minh. Trong mười hai nhân
duyên, bàn về thọ sanh như thế nào, chết như thế nào ?
Vì
vô minh nên có bao loại hành vi chủng tánh nam nữ. Hành vi
bản tánh này do tâm mê loạn phát khởi. Có hành vi bản tánh
đó rồi thì sanh ra ý thức ngu mê. Thức này chính là thân
trung ấm. Sau khi có hành vi bản tánh nam nữ rồi thì kết
một lằn ánh sáng. Thân trung ấm tuy xa muôn ngàn vạn dặm
nhưng vì có nhân duyên làm quyến thuộc với cha mẹ nó, nên
khi thấy lằn ánh sáng đó liền nhập vào thai mẹ. Sau khi
thần thức đầu thai thì lại có danh sắc. Danh tức là bốn
uẩn, thọ tưởng hành thức. Sắc uẩn cũng gọi là sắc.
Thọ tưởng hành thức khi còn trong thai mẹ chỉ có bốn loại
danh thức, nhưng chưa thành thục. Ðợi cho đến khi có danh
sắc rồi thì mới có sáu nhập. Sáu nhập cũng do sáu căn
sanh ra sáu tánh như thấy nghe, ngũi, nếm, giác, biết. Có sáu
nhập rồi thì đứa bé liền có xúc giác, nên nói sáu nhập
duyên xúc. Có xúc giác thì lại có lãnh thọ. Có lãnh thọ
nên sanh ra tâm luyến ái. Có tâm luyến ái nên sau này muốn
mong cầu, giữ gìn. Vì vậy cảm thọ duyên chấp thủ. Luyến
ái, mong cầu chấp thủ rồi lại muốn có được. Vì muốn
có được nên mới có sanh. Có sanh nên mới có mười hai nhân
duyên. Nếu không có vô minh thì không có hành. Vô minh diệt
thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì
danh sắc diệt, danh sắc diệt thì sáu nhập diệt, sáu nhập
diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì
ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt,
hữu diệt thì sanh già bệnh chết diệt. Ðó là diệt được
mười hai nhân duyên. Thế nên, bảo rằng vô minh mà tận hết
thì bổn tánh không. Bổn tánh không rồi thì không còn vô
minh nữa.
"Vọng
hành liễu biệt danh sắc tùng, (hiểu rõ hành vọng từ danh
sắc)".
Hành
tức là vọng hành. Thức là liễu biệt. Sau khi có thức rồi
thì có danh sắc.
"Lục
nhập xúc thọ ái thủ hữu, (sáu nhập xúc thọ ái thủ hữu)".
Kế
tiếp danh sắc là sáu nhập. Sau sáu nhập là xúc, đến thọ,
đến ái, đến thủ, đến hữu.
"Lai
sanh lão tử tận tương đồng, (đến sanh già chết tận tương
đồng)".
Có
hữu thì có sanh. Có sanh thì có già chết. Do đó, bảo rằng
sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, cho đến sanh già chết
đều tương đồng tận hết.
"Vạn
lý tình không tuyệt vân ảnh, (trời trong muôn dặm tuyệt
áng mây)".
Mười
hai nhân duyên nối tiếp, liên hệ chằng chịt với nhau, nhưng
tất cả vốn không, giống như trời trong muôn dặm, chẳng
có một áng mây hồng.
"Mãn
đầm trừng thủy hiển nguyệt minh, (nước trong trăng hiện
rõ khắp hồ)".
Ví
như hồ nước trong thì ánh trăng rằm hiện rõ.
"Như
nhân kiết ẩm tri lãnh noãn, (như lúc uống ăn biết lạnh
nóng)".
Chư
vị nếu liễu ngộ (hiểu rõ) pháp mười hai nhân duyên, tức
là có công phu tu hành, thì khi ấy giống như lúc ăn cơm uống
nước, tự biết là lạnh hay nóng.
"Thuyết
thực trợ trường tổng phập công, (nói ăn mà chẳng ăn,
phí công)".
Nếu
chư vị không thật sự tu hành, tham ngộ mười hai nhân duyên,
mà chỉ nói mười hai nhân duyên này là không-không-không.
Bảo rằng chúng là không, mà không thể hội được ý nghĩa
không của chúng, không chân chánh chứng đắc được lý không
này, cũng giống như người chỉ nói ăn mà thực sự không
ăn. Kinh Lăng Nghiêm nói :
"Thí
như thuyết thực chung bất năng bảo, (thí như nói ăn mà cuối
cùng không no được".
Dầu
cho chư vị có nói bao ngày đi nữa, nhưng vẫn không no được.
Trợ
trường là nói về chuyện những người ngu si đời Tống.
Ðương thời có nhiều người rất ngu si. Họ ngu đến nỗi
nào ?
"Tống
nhân mãn miêu chi bất trường, nhi yết chi giả. (Có người
nước Tống gieo mạ mà không thấy mạ mọc, nên bứng rễ
mạ)".
Có
người nước Tống, tự tay gieo mạ, nhưng chẳng thấy mạ
mọc lên, suy nghĩ :"Mạ của mình sao mọc chậm quá !", nên
"bứng rễ mạ lên".
Ông
ta giúp mạ mọc lên mau chóng bằng cách kéo rễ mạ lên cả
hai tấc. Ông ta nói :"Một ngày mà mạ mọc cả hai tấc !"
Ông
ta làm như thế thật ngu mê, ám muội, lại khổ nhọc vì lo
lắng. Ông ta thở hổn hển trở về và bảo người nhà :"
Hôm nay tôi bị cảm bịnh".
Vì
sao ? Vì ông ta làm việc quá nhiều, tức là giúp mạ mọc
dài ra. Người con tưởng cha mình có bản lãnh cao siêu, thần
thông quảng đại, nên niệm chú, khiến cho mạ mọc cao lên.
Do đó, người con chạy mau ra đồng xem coi sự tình. Lúc ấy,
nhìn kỹ thì tất cả lúa mạ đã bị chết khô.
Ðó
là nói về người tu đạo, đừng nghĩ rằng tôi khai ngộ,
tôi khai ngộ, tôi khai ngộ. Vì sao tôi chưa khai ngộ ? Làm
thế nào tôi mới khai ngộ được ? Ði tới đi lui cũng chưa
khai ngộ. Leo lên trèo xuống cũng chưa khai ngộ. Ngồi thiền
cả một giờ vẫn chưa khai ngộ. Làm sao mới được khai ngộ
? Nếu chư vị có tâm này thì vĩnh viễn không thể khai ngộ.
Tại sao ? Chư vị muốn khai ngộ tức che lấp mất tâm khai
ngộ đó, tựa như ông người nước Tống muốn giúp mạ lên
cao. Vì vậy bảo rằng nói ăn mà không ăn, giúp mạ lên cao,
rất phí công sức, không thể dụng được. Chư vị phải
bình tâm tịnh khí tu hành, chân thật từng bước mà đi, đừng
hỏi rằng ngày mai tôi có được khai ngộ hay không, khi nào
tôi mới khai ngộ ?
Chư
vị chớ giữ những tâm này, chúng chỉ là vọng tưởng. Chư
vị nếu có vọng tưởng thì đã dẫm mất tâm khai ngộ rồi.
Khai ngộ sợ vọng tưởng. Tại sao tâm chư vị lại run sợ
? Chính là sợ vọng tưởng, cũng là sợ khai ngộ. Chư vị
muốn khai ngộ thì tim đánh bình bịch. Tim đập liên tục,
tức là vô hình chung nghiệp chướng sợ hãi :"Nếu nó khai
ngộ thì mình phải làm gì ?" Nghiệp chướng không thể làm
gì được.
Vietnamese
Buddhism