"Vô
khổ tập diệt đạo, (không có khổ đế, tập đế, diệt
đế, đạo đế)".
"Chư
khổ bức bách các tương công
Tụ
tập chiêu cảm tự bất đồng
Duy
diệt khả chứng cứu cánh lạc
Thị
đạo ưng tu ngộ pháp không
Tam
chuyển tứ đế pháp luân vận
Thất
giác bát chánh ý niệm cần
Nhất
đản quán thông thành thánh quả
Thiên
chân hữu dư nãi hóa thành
Dịch
:
Bao
khổ bức bách cùng công kích
Tụ
tập chiêu cảm tự không đồng
Tánh
diệt khả chứng tột an lạc
Là
đạo nên tu ngộ pháp không
Chuyển
ba lần xe pháp tứ đế
Bảy
giác tám chánh ý nệm cần
Một
lần quán thông thành chánh quả
Lệch
chân hữu dư vẫn hoá thành".
Câu
:"Không khổ tập diệt đạo", là pháp tu hành của Thanh Văn,
tức là pháp Tứ Ðế. Sao gọi là Thanh Văn ? Thanh Văn tức
nghe âm thanh của Phật mà ngộ đạo, nên gọi là Thanh Văn.
Ðây là những vị được Phật giáo hóa đầu tiên nhất,
vì là những vị có cơ duyên tiểu thừa. Khi Phật vừa mới
thành đạo, Ngài thuyết kinh Hoa Nghiêm, nhưng những người
tiểu thừa tuy có mắt mà không thấy được, có tai mà không
nghe được. Tại sao có mắt mà không thấy được ? Vì pháp
này rất vi diệu, cao siêu, quảng đại. Vì quá vi diệu nên
người nhị thừa không thể hiểu rõ diệu pháp này. Do đó,
bảo rằng thật không thể nghĩ bàn. Khi ấy Phật Thích Ca
Mâu Ni hiện thân Phật Tỳ Lô Giá Na cao ngàn thước. Người
nhị thừa như những đứa bé nhỏ, vì thân Phật quá cao nên
họ không thể thấy được. Do đó "Ngưỡng chi di cao, toản
chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu", nghĩa
là ngẫng đầu lên nhìn không thấy tới đâu, khoan xống nhưng
quá cứng, nhìn thấy hiện đằng trước nhưng đột nhiên
lại thấy chạy đằng sau. Ánh sáng từ đằng sau chiếu đến
mà họ lại chạy đuổi theo đằng trước. Ánh sáng chiếu
bên trái, lại chạy qua bên phải. Giống như hào quang của
Phật Thích Ca Mâu Ni, phóng qua bên trái, ngài A Nan chạy qua
bên phải xem. Phật phóng hào quang qua bên phải thì ngài A
Nan lại chạy qua bên trái mà xem. Nhìn thấy ánh sáng đằng
trước, nhưng đột nhiên lại hiện ra đằng sau. Vì pháp này
thật không thể nghĩ bàn, người nhị thừa không có cách
gì để chiếu cố (chấp nhận), hay hiểu rõ. Do đó, có tai
mà không nghe được pháp viên đốn, vì quá thâm sâu, nên
không thể minh bạch. Ðức Phật ẩn pháp đại thừa mà thị
hiện pháp tiểu thừa, nên chỉ hiện thân lão tỳ kheo một
thước sáu tấc để thuyết pháp Tứ Diệu Ðế. Pháp Tứ
Diệu Ðế là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Phật ba lần chuyển pháp luân Tứ Ðế. Lần thứ nhất là
thị chuyển. Lần thứ hai là khuyến chuyển. Lần thứ ba là
chứng chuyển. Chuyển tức là vận chuyển, như bánh xe luân
hồi trong sáu đường, chuyển đến chuyển lui, nên gọi là
ba lần chuyển pháp Tứ Diệu Ðế. Ba chuyển, lần thứ nhất
là thị chuyển, tức Phật nói đây là khổ, tánh bức bách,
đây là tập, tánh chiêu cảm, đây là diệt, tánh có thể
chứng, đây là đạo, tánh có thể tu.
Lần
thứ hai là khuyến chuyển, đây là khổ, các con nên biết,
đây là tập, các con nên đoạn, đây là diệt, các con nên
chứng, đây là đạo, các con nên tu.
Lần
thứ ba là chứng chuyển, đây là khổ, các con nên biết, ta
đã biết, không cần phải biết thêm nữa. Các con phải biết,
còn Ta đã từng biết qua rồi. Ta không cần đem đầu mà đặt
lên đầu nữa. Ðây là tập, các con nên đoạn; Ta đã đoạn
rồi, không cần phải đoạn thêm nữa. Ta bảo các con nên
đoạn, còn Ta đã đoạn hết rồi, không cần phải đoạn
thêm nữa. Ðây là diệt, các con nên tu chứng; Ta đã chứng
rồi, không cần phải chứng nữa; Ta đã chứng được diệt,
và pháp Niết Bàn an lạc rồi, không cần phải chứng thêm
nữa, chỉ đợi các con chứng lấy. Ðây là đạo, các con
nên tu; Ta đã tu rồi, không cần tu nữa. Ðấy là chứng chuyển,
chứng minh tự đức Phật đã chứng đạt, nên Ngài bảo chúng
ta phải y theo đó mà tu hành. Nếu tự chính Ngài chưa chứng
đắc thì không thể bảo chúng ta tu hành.
Tứ
Diệu Ðế. Thứ nhất là khổ đế. Chư vị hãy nói xem khổ
có thật hay là giả ? Ðế nghĩa là chân thật; khổ là chân
thật. Như một đệ tử của tôi nói :
"Nầy
các khách trần ! Các ngươi hãy mau đi khỏi ! Nếu các ngươi
không đi, Ta thật rất khổ."
Khách
trần nếu không đi khỏi thì mình phải chịu khổ. Khách trần
nếu đi khỏi thì khổ giảm thiểu dần dần.
Khổ
có ba loại khổ, tức khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Lại
có tám khổ, tức sanh già bệnh chết khổ (bốn loại khổ
này từ thân phát xuất). Bên ngoài cũng có bốn loại khổ
tức là khổ vì thương nhau mà xa lìa, khổ vì gần những
người mình oán ghét, khổ vì cầu không được, khổ vì năm
ấm tăng giảm hừng thạnh. Ảnh hưởng cảnh bên ngoài lại
có vô số khổ đau.
"Chư
khổ bức bách các tương công".
Khổ
đế thật rất nhiều, chúng luôn công kích, gây chiến tranh,
nên khiến cho con người bị bức bách không thể nhẫn chịu
được, cơ hồ khí lực đều bị khổ chặt đứt đoạn.
Khách trần đến, cái gì cũng đến, bảy tầng tám lớp. Sáu
trần bên ngoài cùng sáu thức bên trong đồng đến tấn công
chư vị. Mỗi việc khổ đều khiến chư vị quá khổ rồi,
mà khổ lại chồng chất lên khổ. Ba loại khổ cũng đến
bức bách, vô số khổ cũng đến bức bách. Tất cả khổ
đều đến bức bách con người, nên gọi là "chư khổ bức
bách các tương công, (bao khổ bức bách đồng công kích)".
Tập
đế là tập họp tất cả phiền não. Phiền não so với khách
trần còn lợi hại hơn nhiều. Khách trần chỉ là hình thức
khiến chúng ta thọ khổ bên ngoài thôi, nhưng chúng có thể
khiến cho phiền não công kích chúng ta từ bên trong. Tại sao
có phiền não ? Phiền não vốn là ông chủ của chúng ta, hiện
nay đang diêu động. Bị gì mà diêu động ? Phiền não bị
khách trần làm náo động. Lại vì không biết ông chủ của
mình, nên phát khởi bực tức nóng giận, tức là phiền não.
Chư vị hãy nói xem phiền não có lợi hại hơn khách trần
không ? Chư vị có thể nói : "Này khách trần ! Các ngươi
hãy đi khỏi mau lên ! Nếu các ngươi không đi, Ta thật quá
khổ !"
Chư
vị có thể đuổi chúng ra ngoài. Ông chủ phiền não này,
chư vị muốn đuổi hắn đi chỗ nào, đến chỗ nào ? Ðuổi
mãi mà hắn không đi vì hắn vẫn còn ở trong nhà của chư
vị. Thế nên bảo rằng hắn thật là lợi hại.
Tôi
không muốn giảng về phiền não. Tại sao ? Vì nếu tôi giảng
thì chư vị sẽ thấy phiền não sao quá nhiều. Lúc không giảng,
chư vị không biết phiền não có ít hay nhiều, lại vì không
biết nên phiền não tùy tiện phát khởi, không biết không
rõ để cho chúng đi qua. Nếu tôi giảng rõ, thì chư vị nói
:"Ðấy là phiền não à !"
Chính
là chúng. Phiền não này chồng chất lên phiền não khác. Vì
vậy, tuy giảng giải và thuyết pháp đã lâu mà tôi ít giảng
về phiền não. Tôi đã từng nghe chư vị giảng về phiền
não rồi. Có phải chư vị bảo là có tám muôn bốn ngàn phiền
não không ? Không sai ! Tôi cũng đã giảng qua tám muôn bốn
ngàn phiền não rồi. Tám muôn bốn ngàn phiền não thật quá
nhiều, mà tôi chưa giảng từng danh tự của mỗi phiền não.
Nay, tôi sẽ kể rõ danh tự của phiền não cho chư vị nghe.
Chư vị nghe danh tự, tên của chúng rồi thì sẽ dễ dàng
sanh phiền não. Sanh phiền não dễ dàng hơn trước khi nghe
về phiền não, nên tôi không muốn giảng, sợ chư vị phát
khởi phiền não dễ dàng.
Nhưng
nay đã đến lúc phải giảng, cơ duyên thành thục rồi. Hôm
nay tôi sẽ giảng từng chi tiết về tên của phiền não. Phiền
não có ít hay nhiều ? Có hai mươi loại phiền não. Hai mươi
loại phiền não này gọi là tùy phiền não. Tùy tức là cân
tùy (đi theo). Ði theo ai ? Chúng đi theo tôi và chư vị. Tôi
và chư vị đi đâu thì chúng đi theo đó. Lại nữa, có sáu
phiền não. Chúng là gì ? Tức là sáu phiền não căn bản.
Hai mươi tùy phiền não cũng là tiểu phiền não, trung phiền
não, và đại phiền não. Tiểu phiền não có nhiều hay ít
? Có mười loại. Trung phiền não có hai. Ðại phiền não có
tám. Ðối với hai mươi loại phiền não này, chư vị hãy
nói xem chúng là nhiều hay ít ? Chư vị muốn nhiều thì tôi
cho nhiều. Chư vị muốn có một loại thì tôi cho một lại,
muốn mười loại thì tôi cho mười loại, muốn mười lăm
thì tôi cho mười lăm, muốn hai mươi thì tôi cho hai mươi.
Sao
gọi là tiểu phiền não ? Tôi vốn muốn miêu tả hình dung
phiền não cho chư vị xem, nhưng vì tốn rất nhiều thời gian
nên tôi chỉ nói đơn giản thôi.
Thứ
nhất là phẫn. Phẫn tức là phẫn nộ bất bình. Chư vị
hãy nói xem đó có phải là phiền não không ? Phẫn nộ bất
bình tức là tâm chư vị hỗn độn, tâm ác nỗi lên cực
điểm. Chư vị có thích hay không thích ? Nếu thích thì cứ
giữ lấy, còn tôi thì không thích. Giả như tôi đem phiền
não cấp cho người khác. Vậy, có ai dám nhận lấy không ?
Không ai dám tiếp nhận. Từ từ rồi tôi sẽ cho người.
Thứ
hai là hận. "Tôi hận chư vị. Hận đáo để, thấu trời".
Nhưng sao lại gọi là hận ? Hận tức là ngược lại với
luyến ái. Sao chư vị lại hận người khác ? Vì thương họ,
nhưng không thành nên trở lại oán hận. Tôi có cô đệ tử.
Trước khi xuất gia, cô ta có bạn trai. Nghe cô ta đi tu nên
anh chàng trở nên oán hận cô này. Vì vậy, anh ta gọi điện
thoại đến chùa nói với cô ấy:" Tôi rất oán hận cô."
Thứ
ba là lợi hại, tức là không những oán hận mà còn não hại
nữa. Não tức là khổ não, hay cũng là phiền não, hoặc não
oán. Tất cả đều không tự tại. Sao gọi là não ? Não tức
là óc não, hay đầu não. Chư vị bị phiền não thì đầu
cũng bị nhức, đôi mắt cũng nóng rực lên. Khi ấy có biết
đầu lớn hay nhỏ ? Càng bị phiền toái chừng nào thì đầu
to và nặng chừng ấy. Ðau đến cực điểm thì bị đứt
màng não, rồi sẽ chết. Có ai thích loại phiền não này không
? Nếu có ai muốn thì tôi nay sẽ bố thí cho.
Thứ
tư là phục, nghĩa là phục tàng (che giấu), cái tàng. "Thiên
phục địa tàng (trời che đất chứa)". Phục tàng (che giấu)
còn lợi hại hơn phiền não, phẫn hận nữa. Phẫn hận phát
xuất ra ngoài, còn che giấu thì không nói không ai biết, chỉ
tự giấu kín thôi, nên gọi là che giấu. Che giấu tổn hại
chính mình rất nhiều, khiến sanh bệnh loét bao tử. Người
Mỹ bị bệnh này rất ít, nhưng người Tàu thì rất nhiều,
cho đến người xuất gia lại càng nhiều hơn nữa. Tại sao
? Vì họ thường che giấu, giữ kín trong bụng, không để
cho người khác biết rằng họ có phiền não mà lại che giấu,
không dám để lộ ra ngoài. Do đó bên trong sanh bệnh loét
bao tử. Nếu ai bị bệnh này thì chư vị biết chắc rằng
người đó có che giấu phiền não chi trong bụng. Ðây là cách
giảng pháp rất chính xác. Tôi nói rõ, cặn kẻ cho chư vị
nghe về loại phiền não này rồi đó !
Thứ
năm là cuống (nói dối). Kế bên chữ ngôn là chữ cuồng
(vọng). Phục tàng (che dấu) khiến người khác không biết.
Vã lại, không có người hỏi, và là việc không quan trọng,
nên chỉ cố giữ kín. Cuống tức là vọng ngữ (nói láo).
Vốn có phiền não, nhưng khi người khác hỏi :"Vì sao anh sanh
phiền não ?"
Ðáp
:"Không ! Tôi đâu có sanh phiền não ! Ai sanh phiền não vậy
?"
Họ
hỏi lại người đó. Tự họ bị vô minh phiền não đốt
cháy rực cả trời đất, mà khi chư vị hỏi thì họ nói
láo và bảo rằng không có phiền não. Vì vậy tôi không muốn
giảng cho chư vị nghe vì sợ đến lúc đó thì sẽ nói láo.
Nếu tôi không giảng, lại không biết phương pháp, thì làm
sao chư vị tránh khỏi lỗi nói láo ! Ðầu tiên thì che giấu,
đến cuối cùng thì lại nói láo.
Thứ
sáu là siểm mị (nịnh bợ). Sao gọi là nịnh bợ ? Người
thường hay nịnh bợ tức là trong tâm rõ ràng không thích
người kia, nhưng khi gặp họ thì liền nói lời khen tán tụng,
ngọt ngào. Hiện tại gọi là "vuốt đuôi ngựa". Giống như
kẻ nghèo hèn, thấy người giàu có liền chào đón :"A ! Trương
tiên sinh, xin hỏi thăm Ngài đi đâu vậy ?"
Ðó
là lời nịnh hót tổng quát.
Thứ
bảy là kiêu ngạo. "Chư vị giàu sang thì mặc chư vị. Việc
của tôi thì tôi lo. Việc của chư vị thì chư vị tự lo.
Trên thế giới này, tôi là đệ nhất. Thân thể tôi lớn
tựa như núi Tu Di. Tại sao tôi phải khách sáo với chư vị
? "
Ở
trên là nịnh hót, còn ở đây thì không nịnh hót người
khác. "Chư vị hãy lo vuốt đuôi kẻ khác đi, còn tôi thì
xem thường họ."
Do
đó biến thành kiêu ngạo.
Thứ
tám là hại, nghĩa là tổn hại. "Chư vị có tiền có thế
lực. Một nhát đao của tôi là chư vị lìa đời, xem coi chư
vị dùng tiền và thế lực như thế nào?"
Ðó
là hãm hại người khác, mà không phải kiêu căng ngạo mạn,
chỉ là nghĩ tưởng, tức là trong tâm muốn hãm hại người
khác.
Thứ
chín là đố kỵ. "Vì đời trước tôi không bố thí nên không
có. Chư vị ai ai cũng có hết, nhưng không biết ăn cắp từ
chỗ nào ?"
Như
tôi đã giảng ở trên là rất nhiều người có tâm đố kỵ.
Chư vị đố kỵ, ganh ghét họ. Họ đố kỵ ganh ghét chư
vị. Nhưng chư vị không biết rằng đố kỵ phát sanh từ
đâu. Vì không biết nó phát sanh từ đâu nên tôi nói là chư
vị ăn cắp nó. Vì không biết nó từ đâu đến nên giống
như là ăn cắp vậy. Chư vị không biết nó, nên nay tôi sẽ
chỉ cho.
Thứ
mười là san tham (keo kiệt). Gọi keo kiệt là vì xả bỏ không
được, không dám bố thí. Có một đồng xu nào thì giữ gìn
nắm chặt trong bàn tay. Bóp chặt mãi cho đến khi nó biến
thành nước luôn. "A ! Tiền tôi mất rồi ! Tôi không thể
dùng được nữa, vì nó biến thành nước rồi !"
Trên
đây là mười tiểu phiền não.
Hai
trung phiền não là gì ? Ðó là vô tàm và vô úy, nghĩa là
không biết tàm úy (hổ thẹn). Chữ tàm có chữ tâm một bên,
và kế bên là chữ trảm tức trảm đầu (chém đầu). Chém
đoạn phiền não, cũng là nói về chữ sát (giết). Ðối với
phiền não này, chính tâm mình sai quấy mà không nhận là mình
sai. Như bảo rằng chư vị đã giết người thì chính là phạm
pháp. Tự chư vị biết mình đang giết hại chúng sanh, mà
lại không biết sám hối sửa đổi.
Chữ
tàm nghĩa là chư vị lý ra phải chém đứt phiền não, mà
lại không làm, nên gọi là vô tàm. Tâm giết hại còn nằm
ẩn bên trong, không biết tự sửa đổi, nên gọi là vô tàm
(không hổ thẹn). Sao gọi là hổ thẹn ? Nghĩa là không thể
đối mặt nhìn người khác. Chư vị làm việc không quang minh
chính đại, nên không dám nhìn mặt người khác. Nhưng chư
vị lại không nhận rõ việc đó là không đúng. "Có quan hệ
gì đâu ?"
Tạo
việc sai trái rồi tự mình làm luật sư biện hộ cho mình,
bảo rằng tôi có lý do này lý do nọ, chân thật đúng đắn.
Ðó là vô tàm (không hổ thẹn).
Quý.
Sao gọi là quý ? Bên phải của chữ quý là chữ quỷ, tức
quỷ thần; nghĩa là tâm chư vị không quang minh chánh đại.
Vì không quang minh mà chư vị cho là đúng, nên gọi là quý.
Quý tức là quý cứu, tựa như tâm chư vị có thiếu sót chi,
không thể đối mặt với người, nhưng khi ấy lại không
dám nói là mình không thể đối mặt với người, nói :"Tôi
có làm gì sai trái đâu !"
Vô
tàm, vô quý (không hổ thẹn), là hai phiền não của trung phiền
não.
Lại
có tám loại tùy phiền não lớn. Thứ nhất là bất tín. Chư
vị không nghĩ rằng bất tín không phải là phiền não à !
Chư vị có giảng gì đi nữa, họ cũng không tin là không đúng.
Càng nói càng không tin. Tổng quát, dầu chư vị có nói gì
đi nữa, họ cũng vẫn không tin. Chư vị bảo rằng trên trời
mưa hoa rơi khắp đất, dưới đất hoa sen vàng phóng vụt
lên. Dầu đang nghe nhưng họ vẫn giả bộ như không nghe. Chư
vị giảng giải có lý lẽ, họ không tin. Chư vị giảng giải
không có lý lẽ, họ lại càng không nghe thêm. Chư vị giảng
một việc nhiều lần, nhưng họ không tin. Chư vị giảng việc
đó ít lần, họ cũng không tin. Giảng nhiều họ không tin.
Không giảng họ cũng không tin. Giảng về lý không, họ không
tin. Giảng về lý chẳng có không, họ cũng không tin. Nói chung,
tông chỉ, đường hướng của họ là không tin gì hết.
Tùy
phiền não lớn thứ hai là giãi đãi, tức là làm biếng. Ðâu
có ai nghĩ rằng làm biếng là tùy phiền não lớn. Sao gọi
là giãi đãi ? Giãi đãi, làm biếng nghĩa là không chuyên cần
học Phật pháp. Cho dầu làm việc gì cũng giãi đãi. Thậm
chí ăn cơm cũng làm biếng nữa. Ăn một muỗng rồi đợi
đến năm phút sau mới ăn muỗng thứ hai. Khi ngủ cũng làm
biếng, mộng mị. Khi nào họ mới không làm biếng ? Chỉ khi
đánh cờ bạc thì họ mới có tinh thần.
Có
người, đối với Phật pháp rất giãi đãi, tu hành cũng rất
giãi đãi. Không những tự làm biếng mà lại ảnh hưởng
đến những người khác nữa. Không những ảnh hưởng xấu
mà họ cũng lại không muốn người khác làm việc nữa. Như
tôi có một đệ tử, ngủ mãi cho đến tám giờ sáng. Tại
sao ? Vì người ngủ bên cạnh phòng thức dậy sớm, nên hắn
chạy qua phòng đó ngủ tiếp. Ðó là một loại làm biếng.
Loại làm biếng này phát sanh ra một loại phiền não. Hắn
biết chư vị đều tu hành, nên nói :"Tôi không muốn tu hành.
Tôi muốn chư vị không tu hành như tôi. Chư vị nỗ lực hai
ngày, nhưng đến ngày thứ ba nên làm biếng đi !"
Hắn
đã làm biếng rồi mà lại gây ảnh hưởng đến những người
khác nữa.
Tùy
phiền não lớn thứ ba là phóng dật. Sao gọi là phóng dật
? Phóng tức là phóng khai (mở toang). Dật tức là tản mác.
Phóng dật tản mác cũng là không thủ quy củ, luật lệ. Không
những không giữ quy củ mà lại còn hy vọng người người
đều không giữ quy luật. Chính họ thích uống rượu, cũng
muốn mọi người đều đến biển rượu để uống. Họ thích
việc gì liền rủ kéo người khác đi theo. Họ muốn nhảy
đầm, liền kéo mọi người đi theo. Họ thích đi xem chiếu
bóng, liền kéo mọi người mà họ quen biết đi xem. Họ thích
xuống địa ngục, liền kéo mọi người xuống địa ngục.
Họ thích làm ngạ quỷ, nói :"Làm ngạ quỷ hay lắm. Chư vị
hãy mau đi theo tôi !", nên dẫn tất cả thân bằng quyến thuộc
đi vào đường ngạ quỷ. Họ muốn loài loài vật, nói :"
Tôi làm người hay làm chó cũng được, nhưng làm chó lại
hay hơn. Chư vị thấy mấy con chó, chúng đâu cần phải làm
việc, mà lại có người hằng ngày cấp cho đồ ăn, được
người che chở bảo hộ. Vậy có vui lắm không !"
Không
những muốn làm chó mà lại khiến thân bằng quyến thuộc
nhập vào dòng chó nữa.
Thứ
tư là hôn trầm. Mọi người phải nên tránh đi. Nghe giảng
kinh, ngồi tọa thiền, họ đều nhập định cả, nhưng kỳ
thực là hôn trầm, nói :"Tôi nghe giảng kinh rất rõ ràng.
Ðầu tôi chỉ nghiêng xuống, muốn làm bạn với đôi chân
thôi".
Ðó
là hôn trầm. Hôn trầm cũng là khi chư vị làm bất cứ việc
gì mà tinh thần không thể khởi lên được, nên muốn ngủ.
Nói rằng ngủ, nhưng không giống ngủ. Bảo rằng không ngủ,
lại không tỉnh táo. Nghe giảng "Như thị ngã văn (tôi nghe
như vầy)", nói :"Tôi đâu có nghe gì đâu !".
Ðó
gọi là hôn trầm.
Thứ
năm là trạo cử. Trạo nghĩa là nghiêng qua một bên. Cử là
khởi cử dậy. Như đang nghe kinh, đầu chư vị lại động
đậy. Ðây không phải như ngài A Nan, vì muốn xem hào quang
của Phật Thích Ca, nên nghiêng đầu qua phải trái để xem.
Nếu tự mình động đậy cũng không biết ai bảo mình động
đậy, thì đó gọi là trạo cử. Nếu tâm luôn bị phiền
não thì phát sanh trạo cử. Một khi phiền não phát sanh, thì
tâm không an, không biết chi là hay là dở, nghe giảng kinh mà
không để ý đến, ngồi thiền mà cảm giác như thân đang
ngồi trên bàn châm, thống khổ, đau nhức. Tâm bất an lạc
cũng gọi là trạo cử. Chư vị hãy xem, nếu tôi không giảng
thì chư vị không biết những tật xấu này, nhưng nó chính
là phiền não lớn trong tám thứ tùy phiền não. Chư vị hãy
nói xem trạo cử là gì ? Chư vị bảo trạo không phải là
trạo sao? Cử không phải là cử sao ? Nếu chư vị trạo mà
không trạo, đó là cử. Không cử, chính là trạo.
Thứ
sáu là thất niệm. Thất nghĩa là mất. Thất niệm tức là
quên mất chánh niệm. Hoặc giả chư vị nói rằng thất niệm
chính là không còn vọng tưởng, vậy rất tốt. Tại sao có
phiền não ? Chỉ vì quên mất chánh niệm. Tựa như chư vị
muốn niệm Phật, nhưng khi niệm đến câu thứ ba "Nam mô A
Di Ðà Phật", thì tuy niệm mà quên mất chánh niệm. Chư vị
muốn tụng chú Lăng Nghiêm, niệm câu "Diệu trạm tổng trì
bất động Tôn, thủ Lăng Nghiêm vương thế hy hữu ... A !
Lại đến câu gì ?"
Giống
như tụng kinh, niệm chú, tụng niệm đến lúc mọi người
đều dừng lại hết, không biết niệm đến chỗ nào. Ðây
không phải hiển thị là chư vị nhập định, như vậy là
gì ? Ðó là quên mất chánh niệm. Niệm kinh, niệm chú, dần
dần quên mất chánh niệm, lại không phải là chư vị đều
không niệm, mà niệm không ra tiếng, mọi người đều nhập
vào tam muội (định), không âm thanh. Ðấy là chư vị quên
mất chánh niệm.
Thứ
sáu là không có chánh tri kiến (bất chánh tri). Không có chánh
tri tức là tà tri tà kiến. Không có chánh tri chánh kiến,
việc đúng bảo là sai, việc sai bảo là đúng, trắng bảo
là đen, đen bảo là trắng, việc tốt bảo là hư hoại, việc
hư hoại bảo là việc tốt. Như tôi có vài đệ tử thường
nói :"Ăn nhiều là hành khổ hạnh".
Thế
nên, họ ăn nhiều thục mạng, mà lại bảo đó là hành khổ
hạnh. Họ giống như những người mà tôi đã giảng ở bên
trên. Họ bảo :" Tôi không màng, không quản chư vị. Khổ
hạnh của chư vị là khổ hạnh. Muốn làm gì thì cứ làm".
Hôm
nay tôi nói cho chư vị biết đó đều là tà tri tà kiến.
Thứ
tám là tán loạn. Tán loạn tức là không có định lực, cũng
là lo ra, để tâm chạy ra ngoài, như dùng kiếng để rọi
người. Chiếu kiếng bên phải bên trái, soi này soi nọ, chiếu
người này người nọ, mà không tự chiếu chính mình. Ðó
là không có định lực, nên gọi là tán loạn. Thiền định
trị tâm tán loạn.
Bên
trên đã giảng hai mươi loại tùy phiền não, lớn có tám
loại, trung có hai loại, nhỏ có mười loại, cộng thành hai
mươi.
Ðối
với sáu phiền não căn bản, tôi tin rằng chư vị rất quen
thuộc, có thể nói chúng là những người bạn rất thân thiết
với chư vị. Thứ nhất là tham. Tôi tham lam, chư vị tham lam.
Tham tuy là giống nhau, nhưng cũng bảo là khác nhau. Tại sao
khác nhau ? Chư vị tham nhiều, còn tôi tham ít. Chư vị tham
ít, còn tôi thì tham nhiều. Mỗi người đều có cái tham của
chính mình. Tham lam hại chúng ta rất nhiều. Tại sao ? Chư
vị vẫn chưa biết rõ sự tổn hại của tham lam. Tại sao
cho đến hôm nay, chư vị vẫn chưa thành Phật ? Có phải vì
còn ngu si, không có đủ trí huệ phải không ? Tham lam không
bao giờ biết đủ. Cái gì cũng không sợ nhiều như tiền
bạc, vật chất, hình trạng, phiền não, càng có chừng nào
thì càng tốt chừng đó. Như cách dụng binh của Hàn Tín đời
Hán, ông bảo rằng càng dùng binh lính nhiều chừng nào thì
tốt chừng đó. Ðó là biểu hiện cho sự tham lam.
Thứ
hai là sân hận, giận tức. Sân hận tức là vô minh, cũng
là sự giận nổ lên như pháo bông. Pháo bông còn nhỏ lắm.
Hiện tại có bom nguyên tử và bom khinh khí đều đã được
phát minh ra, vì do oai lực của tâm vô minh, sân hận. Sân hận
cũng là loại nóng giận, tức tối.
Thứ
ba là si mê. Tại sao chúng ta thường làm việc sai lầm ? Chỉ
vì ngu si mà khiến cho chúng ta làm những việc không đáng
làm, học những gì không đáng học. Ví như ngày nay có một
số thanh niên thường thích hút thuốc phiện, vốn không nên
hút mà lại hút. Càng hút càng ghiền, không biết gì hết,
lại hút thêm. Tại sao ? Vì do ngu si. Họ nghĩ rằng hút thuốc
phiện thì nhất định sẽ phát hiện ra việc kỳ lạ, như
Kha Luân Bố phát hiện ra Tân thế giới. Chư vị hãy nói xem,
đó có ngu lắm không ? Ngu si khiến cho họ điên đảo.
Thứ
tư là ngã mạn hay kiêu mạn, là một loại phiền não.
Thứ
năm là nghi hoặc, tức sanh tâm không tin. Việc gì cũng hoài
nghi hết. Nghi thần nghi quỷ, nghi đúng, nghi sai, nghi mình nghi
người. Ðối với chính mình cũng hoài nghi. Ðối với người
khác cũng hoài nghi. Ðạo lý chân thật chính xâc hay không
chân thật chính, đều hoài nghi hết.
Thứ
sáu là tà kiến tức tri kiến không chánh đáng, chỉ giữ
tà tri tà kiến.
Hôm
nay tôi giảng về phiền não. Tôi hy vọng mọi người đều
dứt tận, đừng nhận chúng làm thân thuộc hay bạn hữu.
Phải nên dẹp trừ chúng, Chớ để chúng tạo thêm nghiệp
tội. Chư vị giúp đỡ phiền não, phiền não giúp chư vị
tạo nghiệp tội. Chư vị chuốc lấy nghiệp tội vào thân
mà phiền não "ta bà ha" không quản chư vị. Chúng không quản
là chư vị thọ nghiệp tội hay không thọ nghiệp tội, thọ
quả báo hay không thọ quả báo. Khi thọ quả báo, phiền não
chạy mất. Khi chư vị đọa xuống địa ngục, phiền não
cũng không đi theo.
"Tụ
tập chiêu cảm tự bất đồng, (tụ hội chiêu cảm tự không
đồng)".
Căn
bản phiền não có sáu loại. Tùy phiền não có hai mươi loại.
Chúng thuộc về Tập Ðế của Tứ Ðế. Tập đế tức là
tập hợp, chiêu cảm phiền não. Phiền não khiến chư vị
không thể đạt đến trí huệ chân chánh. Nếu muốn đắc
được trí huệ chân chánh, trước tiên chư vị phải hàng
phục được phiền não. Trước khi hàng phục phiền não, chư
vị phải nhận rõ chúng là phiền não, nếu không thì chư
vị hàng phục cái gì ? Ví như muốn giết kẻ cướp, thì
phải biết hang ổ của chúng ở đâu. Phải nhận ra mặt mũi
của chúng. Nếu không thể nhận diện được thì thì khi đối
diện với chúng, chư vị lại kết bạn với chúng. Tại sao
? Vì chư vị không nhận rõ là chúng ăn cắp tài vật, châu
báu của mình. Phiền não cũng như thế. Chư vị phải nhận
ra chúng thì sau này mới không bị chúng chuyển. Phải nên
hàng phục chúng.
Diệt
đế. Diệt đế nghĩa là như như bất động.
"Tánh
diệt khả chứng cứu cánh lạc, (tánh diệt khả chứng tột
an lạc)".
Nếu
chứng được diệt đế tức là chứng đạt chân đế an lạc,
gọi là bốn đức của niết bàn, nghĩa là thường lạc ngã
tịnh. Ðạt đến thường lạc ngã tịnh thì cũng là chứng
được quả diệt đế. Nhưng chứng đến quả vị này chỉ
là quả vị tiểu thừa của A La Hán, mới đoạn được phần
đoạn sanh tử thôi, chưa đoạn hết biến dịch sanh tử, và
chỉ chứng được một phần chân lý, mà không phải là diệu
quả rốt ráo đại thừa.
Phần
đoạn sanh tử là gì ? Phần tức là tôi có một phần, chư
vị có một phần, mỗi người đều có một phần. Ðoạn
tức là tôi và chư vị, mỗi người có riêng một đoạn thân,
như thân cao một thước sáu, thước bảy, thước tám v.v...Thế
nên, thân của mỗi người cao thấp khác nhau. Từ sanh đến
chết gọi là đoạn lạc; từ hôm nay đến ngày mai cũng gọi
là đoạn lạc (từng đoạn). Tất cả phàm phu đều có đầy
đủ phần đoạn sanh tử này. Người tiểu thừa đã cắt
đứt phần đoạn sanh tử nên chứng quả an lạc tịch diệt.
Khi chứng đắc quả tịch diệt thì phá được kiến hoặc
và tư hoặc. Sao gọi là kiến ? Do chư vị đối trước cảnh
giới mà sanh tâm tham lam luyến ái, bị cảnh giới làm mê
hoặc. Sao gọi là tư hoặc ? Không hiểu đạo lý nên khởi
tâm phân biệt. Ðối với đạo lý mà không minh bạch nên
sanh tâm phân biệt. Càng phân biệt chừng nào thì càng đi
xa chừng đó. Càng đi xa chừng nào thì phân biệt thêm nhiều
chừng đó, nên gọi là đi lạc đường.
Chứng
đắc quả an lạc tịch diệt thì cắt đoạn được kiến
hoặc và tư hoặc, nhưng chưa đoạn hết vô minh, mà chỉ mới
hàng phục được thôi. Không những chư A La Hán chưa đoạn
được vô minh mà cho đến bồ tát Ðẳng Giác vẫn còn một
phần sanh tướng vô minh chưa phá hẳn. Thế nên chứng đạt
quả vị vô thượng tịch diệt, mà vô minh vẫn còn. Tuy cắt
đứt phần đoạn sanh tử mà biến dịch sanh tử vẫn còn
tồn tại.
Sao
gọi là biến dịch sanh tử ? Biến dịch là tâm niệm sanh
khởi của chúng ta. Niệm sau theo niệm trước. Niệm niệm
không ngừng. Niệm niệm lưu chuyển. Một niệm sanh khởi tức
một lần sanh. Một niệm diệt tức một lần chết. Ðó gọi
là biến dịch sanh tử. Biến dịch sanh tử này, niệm niệm
không dừng, có phải gọi là sanh tử không ? Vì cảnh giới
này chưa đạt đến thiền định chân chánh. Ðịnh chân chánh
nghĩa là một niệm lự cũng không còn. Cảnh giới sơ thiền,
tim không còn đập. Cảnh giới nhị thiền không còn hô hấp.
Cảnh giới tam thiền, niệm lự đình chỉ. Cảnh giới tứ
thiền, dứt niệm, không còn niệm lự, nhưng cảnh giới tứ
thiền này cũng chưa phải là chứng quả, bất quá chỉ là
quá trình tu đạo thôi, và không phải là tầng bậc cao siêu.
Phổ thông, người tu đạo đa số có thể đạt đến cảnh
giới này.
Ðạo
đế. Diệt tức là phải chứng đắc. Ðạo là phải nên tu
hành. Bàn về vấn đề đạo, đầu tiên chúng ta hãy giải
thích chữ đạo trước. Chữ đạo dùng chữ tẩu (đi), tức
là chư vị phải đi, phải hành. Nói đến đạo là phải tu
hành. Nếu không tu hành thì có lợi ích chi. Phải bước đi
mà tu hành. Thế nên, đạo là hành. Không hành thì không phải
là đạo. Nếu không tu hành thì chư vị là chư vị, đạo
là đạo, không thể hợp nhất. Chư vị phải y pháp mà tu
hành, đạo chính là chư vị, chư vị cũng chính là đạo.
đạo cùng chư vị vốn không thể tách rời. Chư vị muốn
tu đạo không ? Phải nên thật hành, tức là y chiếu theo phương
pháp mà thật hành. Cho đến đức hạnh, đức là phải làm,
không làm thì sao có đức ? Không thể từ sáng đến chiều
chỉ nói "tạo đức, tạo đức, tạo đức", trên môi mép
mà thật tế lại không làm. Miệng nói tạo đức mà thân
lại tạo nghiệp, thì không có đức gì hết. Vì thế, bảo
"Treo đầu heo, bán thịt chó".
Chư
vị bảo tạo đức thì phải nên làm. Có muốn tu đạo không
? Nếu muốn thì phải y theo phương pháp mà tu hành.
Ở
trên chữ "tẩu" lại có chữ "thủ", cộng thành chữ đạo.
Thủ nghĩa là đầu. Tu hành là việc quan trọng nhất trên
thế gian. Chư vị muốn chấm dứt sanh tử không ? Nếu muốn
thì phải tu đạo. Lại nữa, tuy không muốn cắt đứt sanh
tử, mà lại nói rằng không thèm tu hành. Cắt đứt sanh tử
rồi thì không còn sợ sanh tử nữa. Người sống đều sợ
chết. Cắt đứt sanh tử là không muốn có sanh tử, lại không
sợ sanh tử. Nếu muốn chấm dứt sanh tử thì đầu tiên phải
tu hành. Thế nên có chữ "thủ" ở bên trên chữ "tẩu". Nếu
không tu hành thì không thể chấm dứt sanh tử được.
Ðối
với chữ "thủ (đầu)", chúng ta hãy phân tích thêm. Trên chữ
đầu có hai điểm, nhưng nay tạm để qua một bên, không giảng
ngay, mà chỉ giảng về chữ "tự". Tự tức là tự kỷ, nghĩa
là phải tự chính mình tu đạo, không thể bảo người khác
tu giùm mình. Không thể chỉ nói tu hành mà cắt đứt được
sanh tử. Chư vị phải thật sự tạo đức, tự tu, tự lo
lắng những việc quan trọng của mình. Trên chữ "tự" có
một đường ngang, để dùng chi ? Mọi người trên thế gian
đều chỉ có một lần sanh ra. Bắt đầu từ đâu ? Bắt đầu
từ một. Có một thì sau này mới có hai. Có hai rồi lại
có ba, có bốn, có năm, cho đến vô số trăm ngàn, muôn vạn
v.v..., đều từ một mà phát xuất ra. Vì vậy, một là vô
số, vô số là một. Nếu không có một thì không có vô số.
Nếu không có vô số thì không có một. Tôi giảng như vầy
thì cho dầu ai đi nữa cũng không có thể phản đối được.
Tại sao ? Vì tôi biết rằng con số trong toán học bắt đầu
bằng số một.
Một
là vô số, vô số là nhiều. Hiện tại, chúng ta không phải
một cũng không phải nhiều, không phải nhiều cũng không phải
một. Tại sao biến đổi như thế ? Thật ra cũng không có
biến đổi thành số một. Số một này cũng tượng trưng
cho một vòng tròn, tiếng Anh là số không. Số không bao hàm
xum la vạn tượng. Chân không và diệu hữu đều nằm trong
số không. Số không này phát xuất từ đâu ? Nó là biến
tướng của số một hay chữ nhất. Chữ nhất này vẽ cong
thành một vòng tròn, uốn thẳng lại thành chữ nhất. Số
không hay vòng tròn là bổn thể của chữ nhất, lại là bổn
thể của tất cả vạn vật trên thế gian, cũng là tạng đại
quang minh, tánh Như Lai tạng, và Phật tánh. Phật tánh cũng
là chữ nhất và chữ o. Chữ o cũng đại biểu cho tất cả
sanh sanh hóa hóa ở trên thế gian, tức chân không diệu hữu,
diệu hữu và chân không. Chữ o này không có điểm khởi đầu,
cũng không có điểm cuối. Nếu phá chữ không này thì nó
liền biến thành chữ nhất (gạch ngang). Gạch ngang (chữ nhất)
là gì ? Tức là vô minh. Có một gạch ngang tức là có một
phần vô minh. Khi không có gạch ngang thì đó là một vòng
tròn. Khi vòng tròn đó không phá được thì đó là tánh tạng
Như Lai. Chữ nhất (gạch ngang) là bắt nguồn của sự vô
minh, nên bảo rằng một là nhiều, nhiều là một. Một điểm
phiền não xuất sanh vô số phiền não. Vô số phiền não xuất
sanh từ một điểm phiền não. Tại sao chư vị lại tạo bao
việc vụng dại ? Chỉ vì một điểm vô minh. Tạo bao việc
vụng dại tức là tạo bao nghiệp tội, mà phiền não cũng
từ đó phát sanh ra. Vì thế, chư vị nếu muốn tu đạo thì
phải uốn nắn chữ nhất (gạch ngang) thành chữ o, tức vòng
tròn, phản bổn hoàn nguyên (xoay về cội gốc). Lúc đó, chư
vị có thể xoay về tạng tánh Như Lai, đạt đến chân không
diệu hữu.
Một
chữ nhất có hai điểm. Hai điểm này là một âm và một
dương. Kinh Dịch giảng một âm một dương chính là đạo.
Thiếu âm thiếu dương gọi là bịnh. Thuần âm là quỷ. Thuần
dương là thần, nên gọi thiếu âm, thiếu dương là bịnh.
Lại
phân tích rõ hai điểm đó. Từ vô minh phát sanh ra kiến hoặc
và tư hoặc, nên gọi hai điểm đó là kiến hoặc và tư hoặc.
Có kiến hoặc và tư hoặc rồi thì phát sanh ra vô lượng
vô số hoặc. Bao phiền não đều từ chữ nhất này khởi
lên. Nếu muốn xoay về cội gốc thì phải uốn nắn chữ
nhất này thành chữ o. Làm thế nào ? Không khó, chư vị chỉ
việc dụng công tu hành hằng ngày, tham thiền đả tọa, thì
mới uốn nắn chữ nhất thành chữ o, cũng biến thành tánh
tạng đại quang minh. Chư vị bảo rằng không thể tin tưởng
được những cảnh giới đó, chỉ vì tâm còn ám muội. Chư
vị phải nên tin tưởng, thì mới hoàn phục được tánh tạng
đại quang minh đó. Vì không tin pháp này nên mỗi ngày từ
sáng đến tối không thể xa rời phiền não được. Vô minh
phiền não nếu không thể xa rời, thì chư vị sẽ biến thành
lóng tre đen, (là thuật ngữ của thiền tông). Một cây tre
có nhiều lóng tre đen. Chư vị phải tin tưởng pháp này thì
mới khôi phục lại trí huệ vốn có sẵn, xoay về lại cội
gốc, đạt đến tánh tạng đại quang minh, cũng là đại viên
cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quán sắc trí, thành
sở hữu trí.
Tôi
chỉ giảng một ít điểm trong muôn phần của chữ đạo.
Nếu giảng tường tận vi tế thì sợ mất rất nhiều thời
gian, vì chữ "đạo" này rất vi diệu, nên giảng hoài giảng
mãi vẫn không hết. Ðại sư Trí Giả giảng chữ "Diệu" trong
kinh Pháp Hoa cả chín tuần. Giảng về chữ đạo, nếu nói
tường tận rõ ràng thì không phải chỉ là chín mươi ngày
mà cho đến chín mươi năm sợ vẫn chưa hết. Ðời tôi ngắn
ngủi nên chỉ giảng một vài điểm thôi.
Lại
giảng thêm về chữ "đạo" này chút ít. Chúng ta vừa bàn
ở trên về một âm một dương. Một âm một dương là chữ
"nhân (người)". Tức bảo rằng đạo không phải ở trên trời
hay ở dưới địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, mà là nơi con
người. Mỗi người đều có thể tu đạo, không phải từ
bên ngoài vào. Ai ai cũng có thể thành đạo được hết. Tu
thành đạo này tức là thành Phật. Hiện tại chư vị chưa
tu thành đạo, vậy đạo này có mất không ? Không có mất.
Trong mình ai ai cũng có đầy đủ đạo này hết.
Hai
điểm chính là từ trên trời, có thể nói là mặt trời và
mặt trăng. Một điểm là mặt trời; một điểm là mặt trăng.
"Thị
đạo ưng tu ngộ pháp không, (là đạo nên tu ngộ pháp không)".
Chư
vị phải dùng mắt trí huệ để tu đạo. Người ngu si không
thể tu đạo này. Có trí huệ thì mới tu được đạo này.
Xoay về cội gốc tức là uốn chữ nhất (gạch ngang), thành
chữ o (vòng tròn). Chữ o này chính là tạng tánh Như Lai, là
tạng đại quang minh, là Phật tánh của chúng ta. Nếu có thể
khôi phục lại Phật tánh tức là hiện đời thành Phật,
không cần đợi trải qua ba a tăng kỳ kiếp mà tu phước huệ,
trăm kiếp tu tướng hảo. Không cần đợi thời gian lâu xa
như thế, mà tức khắc liền thành Phật. Vì sao chư vị vẫn
chưa thành Phật ? Vì chư vị chưa biết "đạo" này, chưa tu
đạo này, và không có ai dạy cho mình đạo này. Do đó, cho
đến hôm nay, chư vị vẫn sanh rồi chết, chết rồi sanh,
trong sáu cõi luân hồi, bị lưu chuyển tới chuyển lui. Chư
vị chạy mãi trong sáu đường luân hồi thì chữ o (vòng tròn)
liền biến mất. Lưu chuyển tới, lưu chuyển lui trong sáu
đường luân hồi, đột nhiên sanh lên trời, đột nhiên sanh
xuống đất, đột nhiên vào địa ngục, đột nhiên làm thú
vật, chợt tại thiên đường, chợt xuống địa ngục, chợt
vào A Tu La, chợt làm người. Bị lưu chuyển như thế, không
thể thoát ra khỏi vòng luân hồi. Nếu thoát khỏi vòng luân
hồi thì phá được chữ nhất này, xoay về cội gốc, đạt
đến tạng quang minh Như Lai, chính là quê hương nhà cửa,
đất đai của mình. Ai ai cũng tu đạo được. Có tu đạo
thì mới ngộ nhân không pháp không, nhân pháp đều không,
không còn chấp trước, nên bảo rằng khổ tập diệt đạo
đều không.
"Tam
chuyển tứ đế pháp luân vận, (ba lần chuyển xe pháp tứ
đế)".
Ba
lần chuyển bánh xe pháp tứ đế, bên trên tôi đã giảng
rõ rồi. Chuyển vận bánh luân tức là xoay qua chuyển lại
pháp môn tứ đế.
"Thất
giác bát chánh ý niệm cần, (bảy phần giác, tám chánh đạo,
ý niệm cần tu)".
Bảy
giác tức là bảy phần giác chi, cũng gọi là bảy phần bồ
đề. Tám chánh tức là tám chánh đạo. Bao trùm hết bảy
giác chi, tám chánh đạo, năm căn, năm lực, bốn như ý túc,
bốn chánh cần, hợp lại thành ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Bảy
phần bồ đề là trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, xả, niệm,
định giác phần. Tu hành y chiếu theo bảy phương pháp. Sao
gọi là trạch pháp giác phần ? Trạch tức là tuyển trạch.
Pháp tức là phương pháp. Giác là minh bạch, hiểu rõ, cũng
là giác ngộ. Ðối với pháp tu hành, chư vị phải nên chọn
lựa, tuyển trạch, tức là phải có trạch pháp nhãn (con mắt
chọn lựa pháp), thì chư vị mới biết gì là pháp, gì là
không phải pháp, gì là pháp thiện, gì là pháp ác, biết pháp
trắng pháp đen, phải có sức chọn lựa tuyển trạch như
thế. Không nên lấy đúng làm sai, lấy đen làm trắng, lấy
lành làm ác. Nếu làm như thế thì không phải là trạch pháp
giác phần. Sau khi chọn lựa, tuyển trạch xong, thì phải y
theo pháp mà tu hành. Y pháp tu hành tức phải tinh tấn, nên
giác phần thứ hai là tinh tấn. Chư vị phải chánh tinh tấn,
chớ nên tà tinh tấn. Chánh tinh tấn tức là hoặc ngồi thiền,
trì chú, học giáo điển, trì giới luật, tu nhẫn nhục, tất
cả pháp đó đều phải tinh tấn. Nếu không tinh tấn như
hôm nay ngồi thiền, ngày mai không ngồi, hôm nay trì giới
ngày mai không trì giới, hôm nay tu hạnh nhẫn nhục ngày mai
lại không tu, đó không phải là tinh tấn giác phần. Có tinh
tấn giác phần tức là ngày đêm sáng tối sáu thời đều
hằng tinh tấn. Sáng ba thời, tối ba thời đều tinh tấn không
nghỉ ngơi.
Sau
khi tinh tấn được rồi thì có thiền duyệt (vui trong thiền
định). Thiền duyệt tức là hỷ giác phần. Ví như, khi ngồi
thiền, công phu ngồi đến một giờ thì tự cảm giác an lạc,
tự tại, vừa ý vô cùng; hút thuốc á phiện chỉ vui thích
trong chốc lát, còn khi ấy làm bất cứ việc gì chư vị đều
cảm giác an lạc vui thích hết cả. Ðạt đến an lạc này,
gọi là hỷ giác phần. Lại nữa, khi ngồi thiền, đạt đến
cảnh giới khinh an thì tâm rất là an lạc. Nhưng cảnh giới
này có lúc thì sanh khởi giống như trên, có lúc thì dễ dàng
sanh tẩu hỏa nhập ma. Tại sao tẩu hỏa nhập ma ? Khi sanh
tâm chấp trước, tức truy cầu nắm giữ cảnh giới vừa
thấy, thì ma vương liền nhập vào tâm. Nếu chư vị không
chấp trước, thì ma vương không có cách nào để nhập vào.
Chư vị nếu chấp vào cảnh giới nào thì ma liền hiện ra
cảnh giới đó. Làm thế nào để giải ? Lúc đó phải dùng
trừ giác phần. Trừ tức là thẩm tra, dọ xét các ác giác
quán. Phải tẩy trừ các ác giác quán, còn chánh giác quán
thì phải bảo tồn.
Khi
chư vị trừ bỏ chấp trước thì là xả giác phần. Xả này
tức là xả bỏ vọng tưởng chấp trước. Nếu không thể
xả bỏ vọng tưởng chấp trước thì không đắc được tam
muội và đạt đến bảy phần bồ đề. Sau khi xả được
vọng tưởng chấp trước thì bảo tồn được niệm tinh tấn,
mà đã bàn ở bên trên. Chớ để quên mất, niệm này đeo
đuổi niệm kia (niệm huyền tại huyền), niệm niệm không
quên, tu tinh tấn. Tu tinh tấn thì sau này đắc được định
giác phần, tức thuộc bảy bồ đề phần hay bảy giác phần.
Tám
chánh đạo. Thứ nhất là chánh kiến. Kiến tức là ý kiến.
Nơi ý niệm có một kiến (thấy). Kiến này phải nên chân
chánh, nghĩa là kiến giải phải chánh xác. Nếu không có chánh
kiến thì dễ dàng lạc vào đường tà. Nếu kiến giải chân
chánh thì đi được trên đường thẳng. Tại sao gọi là chánh
kiến, tà kiến ? Nếu bảo rằng phải nên học Phật pháp.
Phật pháp là chân chánh, phải nên học. Ðó là chánh kiến.
Nếu như học đánh cờ bạc, chơi bời, làm biếng, hại người,
đó gọi là tà kiến. Vì vậy chánh kiến rất quan trọng.
Nếu
có chánh kiến rồi thì có chánh tư duy. Có kiến giải rồi
thì phải có suy nghĩ; suy nghĩ việc này việc nọ là đúng
hay không đúng. Học Phật pháp là một công việc tối thượng
nhất trên thế gian. Không sai trái tức là chánh tư duy. Tà
tư duy nghĩa là khi học Phật pháp cho rằng không có lợi ích
chi. Họ nghĩ :"Trong thời đại khoa học, Phật pháp giảng
đến giảng lui chỉ khuyên người làm việc thiện, làm người
tốt thôi. Hiện nay ai là người tốt ? Không có ai là người
tốt hết, chỉ toàn là người xấu không thôi. Tôi thấy ông
A kia, chuyên tạo việc xấu, mà lại có tiền, có rượu để
uống, cái gì cũng có."
Suy
nghĩ rằng học Phật pháp không có ích chi như thế, tức là
tà kiến, đi trên đường tà. Nếu có chánh tư duy thì không
lạc vào đường tà.
Có
chánh tư duy thì kế tiếp là có chánh ngữ. Chánh ngữ tức
là lời nói nào cũng đều chính xác, không nói lời say sưa,
cáu tiết, không dẫn người lạc vào đường tà. Nói lời
chân chánh, chánh xác, khiến ai ai cũng đều vui thích lắng
nghe, vui thích làm theo.
Có
chánh ngữ rồi thì có chánh nghiệp, tức tự tìm, hành nghề
chân chánh. Ai ai cũng biết rõ nghề nghiệp chân chánh là gì,
chớ nên làm những nghề nghiệp phạm pháp.
Thứ
năm là chánh mạng. Có chánh nghiệp thì sanh mạng chân chánh.
Thứ
sáu là chánh tinh tấn. Tạo chánh nghiệp thì phải nên tinh
tấn. Chớ nên tinh tấn tạo những nghiệp bất chánh.
Thứ
bảy là chánh niệm. Thứ tám là chánh định. Ðó là tám chánh
đạo.
Bốn
như ý túc tức là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, niệm
như ý túc, tư duy như ý túc. Bốn niệm xứ tức là thân,
thọ, tâm, pháp. Quán thân bất tịnh. Quán thọ là khổ. Quán
tâm vô thường. Quán pháp vô ngã. Bốn chánh cần là điều
lành chưa sanh khiến cho sanh khởi, điều lành đã sanh khiến
cho tăng trưởng. Ðó là giảng về phương diện điều lành.
Những điều ác chưa khiến cho không sanh khởi. Những điều
ác đã sanh khởi khiến cho chúng đoạn diệt. Ðó là nói về
phương diện điều ác.
Năm
căn là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn.
Năm căn này phát sinh ra năm lực. Tín có tín lực. Tấn có
tấn lực. Niệm có niệm lực. Ðịnh có định lực. Huệ
có huệ lực. Cộng năm căn năm lực lại thành mười. Bốn
niệm xứ, bốn như ý túc, bảy phần bồ đề, tám chánh đạo
cộng chung là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
"Nhất
đản quán thông thành thánh quả, (một lần quán thông thành
thánh quả)".
Chư
vị tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thì một ngày nào đó
sẽ đột nhiên quán thông, minh bạch, hiểu rõ. Lúc ấy, chư
vị chứng được quả thánh.
"Thiên
chân hữu dư nãi hoá thành, (lệch chân hữu dư nãi hóa thành)".
Chư
vị chớ nghiêng trụ tại niết bàn hữu dư, thiên chân hữu
dư niết bàn chính là hóa thành, nghĩa là thành này do biến
hóa mà có, không phải là thật. Ðạt đến thiên chân hữu
dư niết bàn, tức là không phải niết bàn cứu cánh, nên
phải còn tu thêm nữa.
"Vô
trí diệc vô đắc, (không trí cũng không đắc)".
"Tạng
giáo bồ tát sự lục độ
Viên
tu diệu giác lý đốn minh
Vô
trí phá chấp không chư tướng
Bất
đắc phi chứng liễu pháp dung
Ư
nhất mao đoan hiện bảo sát
Tọa
vi trần biểu chuyển pháp luân
Thử
ngôn thuyết xuất tiên thành tín
Vị
tất tri âm hữu cơ nhân
Dịch
:
Tạng
giáo Bồ Tát hành sáu độ
Tròn
tu diệu giác lý rõ ràng
Vô
trí phá chấp không các tướng
Không
đắc không chứng rõ pháp dung
Nơi
một đầu lông hiện bảo tòa
Ngồi
trên hạt bụi chuyển pháp luân
Lời
nói ra người liền tin ngay
Nào
hay tri âm có mấy ai".
Không
trí cũng không đắc. Trí là trí huệ. Ðắc là chứng đắc
quả vị. Ðạt đến cảnh giới đó, trí huệ cũng không cần,
quả vị chứng đắc cũng không có, hy vọng điều gì cũng
không có. Chúng ta học Phật pháp, đều muốn đạt được
trí huệ; có trí huệ rồi thì chứng đắc được quả vị
Phật. Nay trí bát nhã cũng không có, muốn đắc được Phật
quả cũng không thể đắc. Ðấy là lạc vào không à ? Không
phải vậy. Chẳng đạt được trí huệ, chẳng chứng đắc
được tức là trí huệ không chấp trước. Không có chấp
trước rằng mình có chỗ chứng đắc.
"Tạng
giáo Bồ Tát sự lục độ, (tạng giáo Bồ Tát hành sáu độ)".
Tạng
giáo Bồ Tát tức là ba tạng kinh điển giáo huấn Bồ Tát.
Pháp tu hành của Bồ Tát là pháp môn có trí huệ, có chứng
đắc. Hành sáu pháp ba la mật tức có chấp trước. Chấp
chúng sanh có thể độ được, tức là có trí huệ. Chấp
trước Phật đạo có thể thành được, tức là có chứng
đắc.
Sao
gọi là làm sáu độ ? Sáu độ tức là hành bố thí thì cứu
độ tham lam. Phải hành bố thí thì mới không còn tham lam.
Một lần bố thí thì là một lần dẹp bỏ tham lam. Trì giới
thì độ hủy phạm. Chư vị trì giới thì tâm được thanh
tịnh, như ánh sánh tinh khiết trong sạch của hạt minh châu.
Trì giới thì không có ô nhiễm. Ô nhiễm thì dơ bẩn, không
tinh khiết, không trong sạch. Không trì giới giống như tờ
giấy trắng bị lấm mực đen, càng lấm chừng nào thì càng
đen chừng đó. Chư vị trì giới tức phải như tờ giấy,
xưa nay vốn đã trắng sạch.
Nhẫn
nhục độ sân hận. Chư vị tu nhẫn nhục thì không có nóng
giận. Nếu có nóng giận thì không có nhẫn nhục. Chư vị
tu nhẫn nhục thì sân hận sẽ không còn.
Tinh
tấn độ giải đãi, làm biếng. Phải nên tinh tấn hằng ngày,
luôn luôn tinh tấn, dũng mãnh tinh tấn. tinh tấn thì không
có giải đãi làm biếng.
Thiền
định độ tán loạn. Ngồi thiền hồi lâu thì có công phu
tức là định trụ. Có định lực rồi thì không có tán loạn.
Bát
nhã độ ngu si. Bát nhã khiến dẹp trừ ngu si.
Ðấy
là sáu độ, cũng là sáu sự tướng có thể thấy, có hình
tướng nên biểu hiện được. Ví như bố thí thì không còn
tham lam. A ! Vẫn còn chấp trước là nhờ bố thí mà không
còn tham lam. Vì vậy, bảo rằng sáu độ tức là tạng giáo
chư Bồ Tát phải nên tu.
"Viên
tu diệu giác lý đốn minh, (tròn tu diệu giác lý rõ ràng)".
Viên
giáo Bồ Tát tu hành sáo độ. Viên giáo Bồ Tát tức là Diệu
Giác Bồ Tát. Biệt giáo Bồ Tát cũng tu hành sáu độ. Sáu
độ chỉ có lý, không có sự tướng, không có chấp trước.
Gọi lý đốn minh (lý lẽ chỉ rõ minh bạch), nghĩa là tức
khắc minh bạch, hiểu rõ đạo lý bố thí mà chưa từng bố
thí, hành sáu độ mà chưa từng hành, vốn không chấp trước
vào sự của sáu độ. Không chấp trước vào chi hết, nên
gọi là không trí cũng không đắc.
Lý
sáu độ có nhiều loại. Tu theo viên giáo không tạo sáu độ,
làm bất cứ việc gì cũng không chấp trước, tạo việc gì
ra cũng như không tạo. Tuy nhiên, chưa tạo việc thì không
thể nói đã tạo việc. Nói thí mà chưa thí. "Tôi chưa bố
thí mà cũng như đã bố thí".
Không
thể nói như thế được. Chỉ có bố thí rồi thì mới nói
rằng chưa có bố thí, mà không thể bảo rằng chưa bố thí
cũng là đã bố thí.
"Vô
trí phá chấp không chư tướng, (vô trí phá chấp không các
tướng)".
Vô
trí phá chấp tức là phá chấp trước về những phần còn
lại của bát nhã. Không chư tướng tức là tất cả tướng
đều là không. Mọi tướng đều là không, nên bảo rằng
vô trí cũng vô đắc.
"Bất
đắc phi chứng liễu pháp dung, (không đắc không chứng rõ
pháp dung)".
Bất
đắc tức là không có chi để chứng đắc, cũng là không
chấp trước vào chứng đắc quả vị Phật. Trên, không Phật
đạo có thể thành. Dưới, không chúng sanh có thể độ. Chẳng
phải nói rằng không chúng sanh có thể độ, nhưng là độ
mà chưa từng thấy có độ. Tuy diệt độ hết tất cả chúng
sanh mà thật không có chúng sanh nào được diệt độ hết.
Chẳng phải là không chúng sanh đã được độ, mà là không
có chấp trước. Không nên chấp trước vào trí huệ và chứng
đắc. Không này cũng chính là đại viên cảnh trí, mà trong
đó không có chấp trước nào hết, nên liễu đạt pháp dung.
"Ư
nhất mao đoan hiện bảo sát, (nơi một đầu lông hiện bảo
tòa)".
Chứng
đắc được cảnh giới này rồi thì chỉ vừa ngồi xuống
liền xuất hiện một tòa bảo vương. Trong tiểu hiển đại.
"Tọa
vi trần biểu chuyển pháp luân, (ngồi trên hạt bụi chuyển
pháp luân)".
Ngồi
trên hạt bụi mà chuyển đại pháp luân. Ðó là đạo lý
trong kinh Thủ Lăng Nghiêm.
"Thử
ngôn thuyết xuất tiên thành tín, (lời nói ra người liền
tin tưởng)".
Lời
này vừa nói ra thì ít nhiều người đều tin tưởng.
"Vi
tất tri âm hữu cơ nhân, (nào hay tri âm có mấy ai)".
Một
vài người tin tưởng rồi thì không biết có bao nhiêu người
tri âm (nhớ tưởng), lại cũng không có bao nhiêu người hiểu
rõ đạo lý.
Hư
Vân lão hòa thượng bảo :
"Tẩu
biến thiên nhai tầm tri kỷ
Vị
tri nhược cá thị tri âm".
Dịch
:
"Lên
tận cõi trời tìm tri kỷ
Vẫn
chưa biết được kẻ tri âm".
Thiên
nhai tức là cõi trời. Tri kỷ tức là bạn thân của mình.
Lên tận cõi trời tìm tri kỷ, mà không biết ai là người
tri âm. Sao gọi là tri âm ? Tức là hiểu được ý phát xuất
từ lời nói của mình. Không có tri âm, tức là mình có nói
ra lời gì nhưng không có ai hiểu hết. Có người hiểu lời
mình tức là có người tri âm.
Chư
vị bảo :" Pháp sư ! Ngài giảng con đều hiểu cả. Ngài là
người bạn tri âm của con. Ngài thuyết mà con không hiểu
rõ, nên không phải là người tri âm. Ngài thuyết, con không
hiểu và lại hiểu, con tri âm và lại không tri âm".
Tri
âm và không tri âm xuất phát từ đâu ? Tôi thuyết một bài
kệ, ai y chiếu theo đó mà tu hành thì người đó là tri âm.
Ai không y chiếu theo đó mà tu hành thì không phải là tri âm.
Tin lời tôi nói đạo lý tức là tri âm, còn ngược lại thì
không phải là tri âm. Ðạo lý gì ? Nơi một cọng lông, ngồi
xuống liền hiện bảo sát. Ngồi trên hạt bụi, chuyển đại
pháp luân. Ngồi trên một cọng lông, xuất hiện các cõi Phật.
Bảo vương sát tức là cõi nước mà Phật thường giáo hóa
chúng sanh. Ngồi trên hạt bụi mà chuyển đại pháp luân,
giáo hóa chúng sanh. Cảnh giới này là trong tiểu mà hiển
đại. Chư vị nếu hiểu rõ cảnh giới này thì là tri âm.
Chư vị không hiểu rõ nhưng lại muốn tu hành. Ðợi khi chư
vị ngồi trên hạt bụi mà chuyển pháp luân thì liền hiểu
rõ.
Vietnamese
Buddhism