"Dĩ
vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa
cố, tâm vô quái ngại, (lại không có chứng đắc. Bậc
bồ đề tát đỏa, y theo bát nhã ba la mật đa nên tâm không
quái ngại)".
"Vô
tu vô chứng vô sở đắc
Hữu
tướng hữu vi hữu tận thời
Bồ
đề tát đỏa ngộ kỳ lý
Y
cứ bát nhã bỉ ngạn tề
Tâm
vô quái ngại nan báo chướng
Duy
cụ chân không nê âm tư
Kỳ
ngũ lai hiền cầu chư kỷ
Ðầu
thượng an đầu tối ngu si
Dịch
:
Không
tu không chứng không chỗ đắc
Có
tướng có làm có thời hạn
Bồ
đề tát đỏa ngộ lý này
Y
cứ bát nhã đến bờ giác
Tâm
không quái ngại, rời báo chướng
Chỉ
có chân không tuyệt ngôn ngữ
Nhắc
kẻ hiền sĩ cầu tri kỷ
Ðầu
đặt trên đầu thật ngu si".
Ðoạn
văn trên giảng về không trí huệ cũng không chứng đắc.
Không trí tức là không có trí huệ của tạng giáo Bồ Tát
hành lục độ. Không đắc tức là không chứng đắc niết
bàn hữu dư của người nhị thừa.
Lại
không có chỗ chứng đắc. Không chỗ chứng đắc là tông
chỉ của bộ kinh này. Tông chỉ của tâm kinh bát nhã ba la
mật đa là gì ? Tức là phá trừ chấp trước, khiến tâm
chư vị không chấp trước vào chỗ chứng đắc. Tuy chứng
mà không chứng, không chứng mà chứng. Sao gọi chứng mà không
chứng ? Chư vị chứng đắc quả vị thánh mà không chấp
trước mình chứng quả, vì thế mới có thể chứng đắc
cứu cánh niết bàn chân chánh. Thế nên không chỗ chứng đắc
là tông chỉ của kinh này.
Bồ
đề tát đỏa y chiếu theo bát nhã ba la mật đa nên tâm không
quái ngại. Bồ đề tát đỏa tức là Bồ Tát. Ngài y chiếu
theo bát nhã ba la mật đa, tức là pháp trí huệ thâm sâu mà
tu hành. Tu hành đắc được gì ? Ðắc được tâm không quái
ngại. Tâm chúng ta không thể đạt đến chỗ tự tại, vì
còn có chỗ quái ngại. Không còn quái ngại thì đạt được
tự tại. Không quái ngại này trừ được báo chướng, cũng
là dùng không chỗ chứng đắc mà phá trừ ba chướng. Vì
vậy phá trừ ba chướng là lực dụng của bài kinh này. Ba
chướng tức là báo chướng, nghiệp chướng, phiền não chướng.
Nếu tâm còn có chỗ quái ngại thì không thể phá trừ báo
chướng. Không quái ngại nghĩa là gì ? Tức là đạt đến
nhân không, pháp không. Chứng đến cảnh giới người và pháp
đều là không.
"Vô
tu vô chứng vô sở đắc, (không tu không chứng không chỗ
chứng đắc)".
Không
tu là gì ? Nghĩa là đã tu hành xong rồi. Không có chỗ chứng
đắc, tại sao ? Vì đã chứng đắc, đã từng hành rồi, sau
này không còn phải thọ nhận nữa. Những việc nên làm đã
làm xong. Việc lớn đã hoàn thành nên gọi là không chứng
đắc. Không tu không chứng đắc có phải là có chỗ chứng
đắc không ? Cũng là không chỗ chứng đắc. Nếu còn một
chỗ chứng đắc nào thì vẫn còn chấp trước.
"Hữu
tướng hữu vi hữu tận thời, (có tướng có làm có thời
hạn)".
Nếu
chư vị chấp trên hình tướng, hoặc chỉ nhìn trên pháp hữu
vi, đều là thời gian có cùng tận, mãi không thể vô tận.
Chư vị phải nghĩ về cái vô tận, nên không tu, không chứng
không chỗ đắc. Chư vị làm việc gì cũng không có chỗ chứng
đắc, khi ấy chính là không có chỗ quái ngại.
"Bồ
Ðề Tát Ðỏa ngộ kỳ lý, (Bồ Ðề Tát Ðỏa ngộ lý này)".
Sao
gọi là Bồ Ðề Tát Ðỏa ? Người Tàu gọi là Bồ Tát, nói
cho đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Ðó là phiên dịch từ chữ
Phạ ra chữ Tàu. Bồ Ðề tức là giác. Tát Ðỏa tức là
loài hữu tình. Sao gọi là giác hữu tình ? Tức là giác ngộ
cho các loài hữu tình.
Sao
gọi là hữu tình ? Những loài có khí huyết gọi là hũu tình.
Loài hữu tình này không chỉ đơn giản nói về loài người
thôi, mà bao quát chung cho tất cả loài vật có sanh mạng.
Giác ngộ hữu tình tức là giác ngộ tất cả loài hữu tình,
khiến cho mọi loài hữu tình đều được giác ngộ, tức
chính họ tự giác ngộ. Ví như mình đang tụng chú Lăng Nghiêm,
cũng muốn người khác biết tụng chú Lăng Nghiêm như mình.
Không phải chỉ tự mình biết tụng là đủ rồi, vì đó
biểu thị mình và người không đồng, không nên làm như thế.
Mình có đạt được lợi ích gì thì cũng đều vui vẻ khiến
cho người khác đạt được lợi ích đồng như mình. "Tôi
nghe được vài điểm hay trong kinh. Tôi hiểu đạo lý làm
người, lý lẽ học Phật pháp. Tôi cũng khuyên bạn bè, bà
con quyến thuộc đến nghe kinh thuyết pháp. Mọi người đồng
đạt lợi ích như nhau. "
Giác
ngộ hữu tình lại còn một nghĩa là trong loài hữu tình có
bậc giác ngộ. Bồ Tát xuất phát là từ đâu ? Cội gốc
của Bồ Tát là từ chúng sanh hữu tình, nhưng đã giác ngộ.
Ngài là bậc giác ngộ từ trong loài hữu tình. Vì Ngài từ
nơi chúng sanh mà đạt đến giác ngộ, nên nay Ngài phải giác
ngộ lại tất cả chúng sanh. Ðó là ý nghĩa của chữ Bồ
Tát. Bồ Tát lại có tạng giáo Bồ Tát, thông giáo Bồ Tát,
biệt giáo Bồ Tát, viên giáo Bồ Tát. Ðầy đủ bốn giáo
tạng, thông, biệt, viên, chính là Bồ Tát. Tâm lượng chư
vị nhỏ thì là tạng giáo Bồ Tát. Tâm lượng lớn chút ít
là thông giáo Bồ Tát. Tâm lượng lớn thêm chút nữa là biệt
Bồ Tát. Chư bồ tát Phổ Hiền, Văn Thù, Ðịa Tạng, Quán
Thế Âm đều là viên giáo Bồ Tát. So với viên giáo Bồ Tát,
chư vị nếu hơi khác chút ít thì là biệt giáo Bồ Tát.
Lại
có thập địa Bồ Tát. Bồ Tát địa thứ nhất, Bồ Tát địa
thứ hai, Bồ Tát địa thứ ba, cho đến Bồ Tát địa thứ
mười. Có rất nhiều loại Bồ Tát, thiên sai vạn biệt, giống
như chúng ta, mỗi người đều có bằng cấp khác nhau. Tổng
quát, Bồ Tát giác ngộ là luôn thuyết đạo lý không chỗ
chứng đắc. Các Ngài hiểu rõ tâm không bị bao loại pháp
làm quái ngại (chướng ngại).
"Y
cứ bát nhã bỉ ngạn tề, (y cứ bát nhã đến bờ giác)".
Tâm
không có quái ngại thì xa rời được báo chướng. Thân thể
chúng ta chính là báo chướng. Tại sao chúng ta có thân thể
? Vì chúng ta có chỗ bị quái ngại. Không quái ngại thì khổ
và vui đều như nhau, cũng không khổ không vui. Sống chết
như nhau. Không sống, cũng không chết. Sống tức là chết.
Chết tức là sống. Sống chết đều không động. Khổ vui
như một. Thuận nghịch như nhau. Nơi cảnh thuận cũng như
thế. Nơi cảnh nghịch cũng như thế. Chết sống như nhau,
thuận nghịch như nhau, khổ vui như nhau, nói chung là không
có một việc chi mà có thể làm cho tâm lay động được.
Sao tâm không lay động ? Vì không có quái ngại. Không có việc
gì quái thì cũng không có việc gì làm trở ngại. Có quái
tức có ngại. Quái tức là mang đeo trên vai. Ngại là chướng
ngại, có chỗ chướng ngại. Không quái ngại cũng là chấm
dứt sống chết. Vì vậy bảo rằng sống chết tức niết
bàn, phiền não tức bồ đề. Khi người nhị thừa chưa hiểu
rõ đạo lý này, chư vị phải bảo họ rằng phiền não tức
bồ đề, sống chết tức niết bàn, vì họ đã quên mất
nên bỏ chạy xa, bảo rằng xưa nay tôi chưa từng nghe pháp
:"Phiền não tức bồ đề, sanh tử tức niết bàn", tôi không
tin đâu. Muốn giác ngộ sanh tử tức niết bàn, phiền não
tức bồ đề thì chư vị phải nên xoay đầu trở lại. Tại
sao chúng ta không hiểu bồ đề là gì ? Vì chúng ta bội giác
hiệp trần (phản bội lại tánh giác và hiệp với trần lao).
Phải nên bội trần mà hiệp giác.
Khi
tâm không còn quái ngại thì sanh tử, khổ vui, thuận nghịch,
tất cả cảnh giới đều không thể động được tâm. Lúc
ấy rời xa báo chướng.
Tại
sao chúng ta không thể xa rời thân thể được ? Chỉ vì cho
thân này là quan trọng. Tại sao từ sáng đến tối, ai ai cũng
chạy đuổi theo danh theo lợi ? Chỉ vì lo cho thân mình. Tìm
cách làm nô lệ tài giỏi, làm thân trâu ngựa cho thân này,
không dám đối trị thân mình. Nhưng thân này không làm khách
đối với chư vị chút nào hết. Tại sao ? Như vua Ba Tư Nặc,
khi còn trẻ thì khí huyết dồi dào, nhưng đến lúc già tóc
bạc mặt nhăn, chẳng bao lâu rồi chết. Chỉ vì còn quái
ngại. Nếu không còn quái ngại thì chư vị không còn chấp
trước vào nghiệp báo của thân. Có thân thì có báo chướng,
nếu chư vị không còn quái ngại thì không còn chấp ngã.
Vô ngã tức không có báo chướng. Thế nên, bảo rằng tâm
không quái ngại tức xa rời báo chướng.
"Duy
cụ chân không nê ngôn lự, (chỉ có chân không tuyệt ngôn
ngữ)".
Tự
tánh hay Phật tánh của chư vị đầy đủ thật tướng chân
không. Chư vị phải tự đạt đến bản thể chân như của
tự tánh mà không thể diễn tả bằng lời được. Vì vậy
bảo rằng không nê ngôn lự nghĩa là không có ý tưởng nào
mà có thể nghĩ tưởng được.
"Ký
ngữ lai hiền cầu chư kỷ, (nhắc kỷ hiền sĩ cầu tri kỷ)".
Tôi
có một lời muốn nhắc nhở những vị hiền nhân, những
vị tu hành trong tương lai là nếu chư vị muốn tâm không
quái ngại, đạt đến nơi không chứng đắc, thì phải tự
cầu tri kỷ, không nên hướng ngoại tìm cầu, hướng ngoại
truy cầu. Ðạo lý không tu không chứng, không chỗ chứng đắc
tức là lý tìm cầu chư kỷ, nghĩa là phải hồi quang phản
chiếu, xoay lại tìm cầu chính mình.
"Ðầu
thượng an đầu tối ngu si, (đầu đạt trên đầu thật ngu
si)".
Nếu
chư vị hướng ngoại truy cầu đạo lý thì thật là ngu si,
cũng giống như lấy đầu đặt lên đầu. Có ngu si lắm không
? Thật rất ngu si. Ðừng lấy đầu mà để lên đầu, phải
nên hồi quang phản chiếu, xoay thân chuyển đầu trở lại.
Nếu không chuyển được thân thì không thể đạt đến đâu
cả.
"Vô
quái ngại cố. Vô hữu khủng bố. Viễn ly điên đảo mộng
tưởng cứu cánh niết bàn, (tâm không quái ngại, không có
khủng bố, xa rời điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu
cánh niết bàn)".
"Vô
quái ngại danh chân phóng hạ
Tái
vô khủng bố nghiệp chướng trừ
Viễn
ly điên đảo sanh tướng phá
Vọng
tưởng thô tế sa hoặc như
Tam
chướng tiêu dung viên tam đức
Lục
căn hỗ dụng chứng lục thông
Hội
thử diệu tưởng thân thọ dụng
Trí
giả dịch ngộ mê nan đồ
Dịch
:
Không
quái ngại chính là xả bỏ
Lại
không sợ hãi nghiệp chướng trừ
Xa
rời điên đảo phá sanh tướng
Vọng
tưởng thô tế như cát bụi
Ba
chướng tiêu dung tròn ba đức
Sáu
căn hỗ dụng chứng sáu thông
Biết
rõ diệu tưởng thân thọ dụng
Người
trí ngộ kẻ mê gặp hiểm".
Nếu
tâm không quái ngại thì không có khủng bố sợ hãi. Không
sợ hãi thì xa rời điên đảo mộng tưởng. Hết mọi mộng
tưởng thì điên đảo không còn. Nếu không sợ hãi thì phá
trừ được nghiệp chướng. Không còn mộng tưởng điên đảo
thì phá trừ được phiền não chướng. Nhưng không quái ngại
thật rất khó đạt đến. Có người bảo rằng tôi không
lo nghĩ gì cho mình cả mà chỉ lo nghĩ về cha mẹ thôi. Không
sai ! Ðó là đạo hiếu thảo. Tuy là đạo hiếu nhưng vẫn
còn quái ngại. Hoặc giả bảo rằng tôi không nghĩ gì về
mình cả mà chỉ lo nghĩ cho vợ con thôi. Ðó là tâm từ bi.
Tuy là tâm từ bi, nhưng vẫn còn quái ngại. Hoặc giả nói
là tôi có người bạn thân thiết lâu năm mà chưa gặp lại;
tôi luôn nhớ nghĩ, tìm kiếm, nhưng không thể gặp được,
đó là quái ngại. Nói chung, nếu chư vị xả bỏ không được
tức là quái ngại. Xả bỏ được tức là không quái ngại.
Vì vậy bảo rằng tên thật của không quái ngại là xả bỏ.
Giảng
đến đây, tôi nhớ một hòa thượng ở Tô Châu, Trung Quốc,
tên là Ðại Tu. Hoà thượng này thường tham thiền từ sáng
đến tối. Sau này, việc gì Ngài cũng xả bỏ hết. Ngài viết
câu phú đối liễn :
"Vô
đại vô tiểu vô nội ngoại
Tự
tu tự liễu tự an bài
Dịch
:
Không
lớn không nhỏ không trong ngoài
Tự
tu tự rõ tự an bài".
Nghĩa
là không có chi lớn nhỏ, trong ngoài. Ngài đã tự tu tự liễu
ngộ và tự an bài tất cả sự tình. Ngài an bài sự việc
gì ? Thật kỳ quái ! Nơi Ngài ở là một hang đá, chỉ đủ
cho một người ngồi thiền, lại dùng tảng đá lớn làm cửa
hang. Trên cửa đá đó làm một then chốt để đóng để mở.
Sau đó, Ngài ngồi thiền trong hang động đó và đóng cửa
đá lại để tu hành. Tu hành đạt đạo xong, Ngài nhập niết
bàn. Chư vị thấy có đơn giản lắm không. Ngài chân thật
xả bỏ mọi duyên. Ðó là không quái ngại.
Chúng
sanh chúng ta thật rất điên đảo, sanh khởi tướng vô minh
mà không thể phá trừ được. Nếu không có điên đảo thì
chư vị không có thô hoặc, tế hoặc, trần sa hoặc, và làm
việc gì cũng hợp với chân lý. Khi đó, ba chướng tức nghiệp
chướng, báo chướng, phiền não chướng đều tiêu trừ, và
ba đức như đức giải thoát, đức bát nhã, đức pháp thân
đều tròn đầy, viên mãn. Chư vị có thể dùng sáu căn hỗ
dụng với nhau. Mỗi căn có diệu dụng của sáu căn. Khi đó
chư vị có thể đắc được sáu thần thông. Sáu căn tức
là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Mỗi căn đều có diệu dụng
của tất cả căn. Chứng được sáu thần thông tức là thiên
nhãn thông, thiên nhĩ thông, thần túc thông, túc mạng thông,
tha tâm thông, lậu tận thông. Chư vị đã hiểu rõ đạo lý
vi diệu này rồi thì phải nên thọ dụng chân chánh. Nếu
hiểu rõ thì biết được đạo lý giác ngộ, còn ngược lại
thì sẽ bị lạc vào đường tà hiểm nạn trùng trùng.
"Cứu
cánh niết bàn. Tam thế chư Phật, y bát nhã ba la mật đa cố,
đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, (cứu cánh niết
bàn, ba đời chư Phật y theo bát nhã ba la mật đa nên đắc
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề)".
"Ðức
vô bất bị chư chướng trược
Cứu
cánh viên tịch hiệu niết bàn
Quá
khứ vị lai cập hiện tại
Tam
thế chư Phật bổn đồng nguyên
Y
thử bát nhã ba la mật
Chí
chánh đẳng giác vô thượng tiên
Hành
nhân đản năng cần tinh tấn
Hà
sầu bất hoạch pháp tánh điền
Dịch
:
Ðức
chẳng bị bao chướng ô trược
Cứu
cánh viên tịch gọi niết bàn
Quá
khứ vị lai và hiện tại
Ba
đời chư Phật vốn đồng nhau
Y
theo bát nhã ba la mật
Ðạt
chánh đẳng giác vô thượng tiên
Người
tu nên siêng cần tinh tấn
Lo
gì không đến ruộng pháp tánh".
Vì
chư vị phá trừ được báo chướng, nghiệp chướng, phiền
não chướng, nên xa rời được mộng tưởng điên đảo. Nhờ
nghĩa lý cùng tột của Tâm Kinh mà chúng ta mới biết rằng
chúng sanh chúng ta sống trong chín cõi cũng như đang sống trong
mộng. Trong mộng, chư Bồ Tát nguyện trên cầu Phật đạo,
dưới hóa độ chúng sanh; cầu Phật đạo, thành Phật đạo,
độ chúng sanh đều là mộng cả. Chư Duyên giác mộng gì
? Tức là mộng tự thân mình làm việc thiện, ở trong thâm
sơn cùng cốc tự tu tự liễu ngộ đạo. Tự mình làm việc
thiện mà không thể làm hết mọi việc thiện ở thế gian,
đó cũng là mộng. Chư Thanh Văn mộng chấp vào không, mộng
nhập hữu dư niết bàn. Chư thiên mộng sống sung sướng,
an lạc. Ở trên thiên cung họ cảm giác rất sung sướng, rất
tự tại, cho là thọ diệu lạc thù thắng. Con người mộng
trong danh lợi, cầu danh cầu lợi, thăng quan phát tài, suốt
đời điên đảo, lấy khổ làm vui, ngày ngày chạy đuổi
theo mộng danh lợi. A Tu La mộng chiến tranh, giống như trong
hiện tại, đảng này đảng nọ tranh giành quyền hành, đấu
tranh lẫn nhau.
Loài
địa ngục trong mộng thọ khổ. Loài ngạ quỷ trong mộng
bị đói khát. Loài súc sanh trong mộng bị ngu si. Mỗi cõi
trong chín pháp giới đều có mộng riêng. Duy chỉ có Phật
là đạt đến niết bàn cứu cánh, không còn mộng nữa. Niết
nghĩa là không sanh, bàn nghĩa là không diệt. Vì thế, người
không hiểu Phật pháp nói niết bàn là chết mất. Cái chết
này khác với sự chết của phàm phu. Cái chết này là do tự
ý mình chết, mình biết rõ sẽ chết. Sao gọi là tự nguyện
chết ? Nhân vì phạm hạnh đã lập, hạnh thanh tịnh đã có,
việc nên làm đã làm xong, không còn thọ thân sau nữa, tức
theo ý nguyện mà nhập vào cảnh giới niết bàn không sanh
không diệt, và dự biết thời lúc nhập niết bàn. "A ! Tôi
tự dự biết thời lúc nhập niết bàn".
Tại
sao hiểu rõ sự chết ? Khi sắp nhập niết bàn hiểu biết
rõ ràng, thân không bịnh khổ, tâm không tham luyến, ý không
điên đảo. Thân không bịnh khổ. Tâm không tham tiền tài,
sắc đẹp, danh lợi, thức ăn, ngủ nghỉ. Ý không điên đảo
tức là ý nghĩ trước lúc nhập niết bàn không điên đảo,
thần trí thanh tịnh rõ ràng. Người tu hành trước lúc nhập
niết bàn tự biết giờ khắc, ngày tháng mình sẽ nhập niết
bàn, nói chuyện với mọi người rành mạch rõ ràng. Ðó gọi
là minh bạch, hiểu rõ. Lại nữa, không nên nói niết bàn
là chết, vì niết bàn là không sanh không diệt. Tại sao có
chết ? Vì có sanh. Nhưng khi nhập niết bàn thì không còn sanh
còn chết nữa.
"Ðức
vô bất bị chư chướng trược, (đức chẳng bị bao chướng
ô trược)".
Ðức
hạnh viên mãn, tròn đầy, tất cả chướng ngại đều không
còn.
"Cứu
cánh viên tịch hiệu niết bàn, (cứu cánh viên tịch gọi
niết bàn)".
Tất
cả chướng ngại không còn nên gọi là viên tịch, cũng là
niết bàn. Niết bàn là chữ Phạn, dịch qua tiếng Tàu là
viên tịch. Viên tịch tức là đạo không gì mà không tròn
đầy, đức không gì mà không tịch. Ðạo đã viên mãn. Ðức
đã đạt đến nơi tịch tĩnh. Sao nói đức không gì mà không
tịch ? Ðức đã đạt đến tột điểm nghĩa là đạt đến
điểm cùng tột của đức tánh thường lạc ngã tịnh, đức
và tướng khế hợp nhau. Thế nên đắc được nơi an lạc
tịch tĩnh.
"Quá
khứ vị lai cập hiện tại, (quá khứ vị lai cùng hiện tại)
Tam
thế chư Phật bổn đồng nguyên, (ba đời chư Phật vốn đồng
nhau)".
Ba
đời chư Phật cũng là chư Phật trong đời quá khứ, hiện
tại, vị lai. Không những chư Bồ Tát y chiếu theo pháp môn
niết bàn cứu cánh tu hành mà chư Phật trong ba đời cũng
đều y theo đó mà tu hành.
"Y
thử bát nhã ba la mật, (y theo bát nhã ba la mật)
Chí
chánh giác đẳng vô thượng tiên, (đạt chánh đẳng giác
tiên vô thượng)".
Ba
đời chư Phật đều y chiếu theo trí huệ vi diệu của bát
nhã mà đắc được a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nghĩa
là đắc đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Vô thượng có nghĩa là không gì cao siêu sánh bằng được.
Là ai ? Tức là Phật. Chánh đẳng là Bồ Tát. Chánh giác là
nhị thừa. Chánh giác cùng phàm phu không đồng. Phàm phu không
giác ngộ. Phàm phu luôn tạo việc sai lầm, mà không tự biết
mình làm việc sai lầm, lại cũng không biết hối cải, nên
gọi là bất giác. Chánh giác là người nhị thừa đã đạt
đến. Thanh Văn Duyên Giác vì đã đạt được giác ngộ nên
không đồng với phàm phu, nhưng không thể thành chánh đẳng
được, không giống như Bồ Tát hành lục độ vạn hạnh,
tự mình giác ngộ rồi lại dạy người giác ngộ theo: tự
độ, độ người, tự lợi lợi người. Người nhị thừa
chỉ tự liễu ngộ, không lo cho người khác, nên không phải
là chánh đẳng. Bồ Tát đạt đến quả vị chánh đẳng,
nhưng chưa đạt được quả vị vô thượng. Ðạt được
quả vị chánh đẳng tức là gần quả vị Phật, gọi là
Bồ Tát đẳng giác. Bồ Tát tuy đạt được quả vị chánh
đẳng nhưng chưa đạt đến quả vị vô thượng. Chỉ có
Phật mới đạt đến thôi, nên gọi Phật là đấng vô thượng
sĩ, điều ngự trượng phu, hay vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Ba đời chư Phật đều y chiếu theo trí huệ bát nhã
này mà đạt đến bờ giác. Do đó, bảo rằng đạt đến
chánh đẳng giác vô thượng tiên, cũng tức là Phật. Phật
cũng được xưng là vị tiên đại giác kim.
"Hành
nhân đản năng cần tinh tấn, (người tu nên siêng cần tinh
tấn)".
Người
tu hành phải nên hướng về trước mà tinh tấn dũng mãnh,
chớ thối lui quay lại. Chớ phơi nắng một ngày, rồi để
lạnh mười ngày. Phải nên tu đạo năm này qua tháng nọ,
ngày này qua ngày nọ, giờ này qua phút nọ. Thời thời khắc
khắc tinh tấn tu hành. Ngày ngày, tháng tháng, năm năm năm,
trong mọi thời gian đều tu hành tinh tấn. Không nên hôm nay
tu, ngày mai thối, hay bước lên một bước nhưng lại lùi
năm bước.
"Hà
sầu bất hoạch pháp tánh điền, (lo gì không đến ruộng
pháp tánh)".
Chư
vị phải nên tinh tấn thì mới đạt đến ruộng pháp tánh.
Pháp tánh ví như thửa ruộng. Nơi thửa ruộng này, chư vị
gieo giống thì sẽ thu hoạch được, chỉ yếu là chư vị
phải cần mẫn chăm sóc lúa mạ thì sẽ thu hoạch được.
Thửa ruộng pháp tánh tức là chính tự pháp thân mà chư vị
đang tu hành đây. Khi tự tánh viên mãn thì sẽ thành Phật,
cũng giống như từ trong ruộng pháp tánh sanh xuất ra lúa thóc.
Có
một vị tu hành rất tinh tấn. Tu mãi cho đến khuya chẳng
ngủ, nhưng đợi đến sáng thì đi ngủ. Ðó không phải là
tu đạo, không thể gọi là tinh tấn được. "A ! Chư vị ngủ
mà tôi thì chưa ngủ". Nhưng đến sáng hôm sau người ta thức,
còn chư vị thì đi ngủ. Ðó không gọi là tinh tấn. Tối
không ngủ mà sáng lại ngủ thì không đúng.
"Cố
tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh
chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ
nhất thiết khổ, chân thật bất hư, (vì thế nên biết
bát nhã ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú,
là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, luôn trừ tất
cả khổ, chân thật không hư".
"Thị
đại thần chú năng cùng trắc
Thị
đại minh chú chiếu tam thiên
Thị
vô thượng chú trần giác quả
Vô
đẳng đẳng chú chí cực đỉnh
Trừ
nhất thiết khổ luân hồi hưu
Chân
thật bất hư các hướng tiền
Dĩ
thượng hiển thuyết thâm bát nhã
Lược
giải đông tây tổ sư thiền
Dịch
:
Là
đại thần chú khó đo lường
Ðại
minh chú chiếu ba ngàn cõi
Là
chú vô thượng đạt quả giác
Chú
không gì sánh tột cùng cực
Trừ
tất cả khổ, ngưng luân hồi
Chân
thật không hư đồng hướng trước
Trên
nói rõ bát nhã thậm thâm
Lược
giải đông tây tổ sư thiền".
"Thị
đại thần chú nan cùng trắc, (là đại thần chú khó đ lường)".
Trên
đã bàn về lý bát nhã ba la mật đa là trí huệ vi diệu đạt
đến bờ giác, là pháp đại thần chú. Sao gọi là đại (lớn)
?
Lớn
tức là so với nhỏ mà nói. Lớn này là cái lớn mà không
ngoài cái lớn, lại không thể lớn hơn nữa. Nếu ngoài cái
lớn này còn có cái lớn hơn nữa thì chính nó là nhỏ. Vì
lớn mà không ngoài cái lớn, nên không có gì so sánh lớn
bằng được. Sao gọi là thần chú ? Thần tức là không thể
nghĩ bàn. Chữ thần này gần giống với chữ tư và chữ diệu;
diệu nghĩa là bất động; thần là động; diệu là ngay nơi
bất động mà quan sát thấy rõ hết tất cả sự việc, nên
không cần dùng động. Thần không động là không phải thần,
nên phải động. Thần tức là thần thông. Thông tức là thông
quá khứ. Thông này cũng nghĩa là động. Không dùng động
mà có thể biết, đó là diệu. Chư Phật tại những cõi nước
khác giáo hóa chúng sanh, thành đạo, nhập niết bàn, mình
đều biết hết, giống như khi phóng phi thuyền lên mặt trăng,
liền biết mặt trăng ra thế nào, đất như thế nào, cấu
tạo ra sao ? Ðó là bàn về một điểm nhỏ của thần. "Diệu",
không cần đến nơi đó mà vẫn biết mặt trăng ra sao, lại
không dùng toán số mà tính, không dùng lý khoa học mà luận
bàn nhưng vẫn biết, lại không động đạo tràng mà biết
tất cả. Thần phải cần động đạo tràng, phải đến nơi
kía mới biết rõ.
Sao
gọi là chú ? Chú là lời bí mật không thể nghĩ lường.
Chú có bốn ý nghĩa.
Thứ
nhất là tất cả chú đều có tên của quỷ thần vương như
Tỳ Xá Giá, Cưu Bàn Trà. Chư vị tụng niệm tên của các
vua quỷ thần thì các quỷ nhỏ thần nhỏ cũng hiểu rõ. Tại
sao ? "A ! Làm sao chư vị biết quỷ vương, thần vương của
chúng tôi ?"
Các
quỷ nhỏ thần nhỏ không dám không thủ quy củ.
Thứ
hai là chú như mật lệnh trong quân đội. mật lệnh trong quân
đội là khẩu lịnh. Trong quân đội, mỗi ngày khẩu lịnh
khác biệt, không đồng, chỉ những người có chức vụ mới
biết khẩu lịnh thôi, người ngoài không thể biết được.
Ví như khẩu lịnh hôm nay là "thắng lợi". Trong quân đội
đều biết khẩu lịnh đó là "thắng lợi". Nếu tôi không
biết chư vị, nhưng khi gặp nhau thì hỏi khẩu lịnh. Chư
vị bảo "thắng lợi". Như thế là đúng, chính là người
trong quân đội của mình. Nếu tôi hỏi chư vị khẩu lịnh
mà chư vị đáp "kiết tường", thì là sai rồi, nên phải
nổ súng. Tại sao vậy ? Vì chư vị không phải là người
thuộc quân tôi. Chú cũng như khẩu lịnh. Chúng ta tụng chú
thì quỷ thần đều đến nghe. Khẩu lịnh của chúng ta cũng
như thế, tất cả quỷ thần đều hiểu rõ và đều thủ
quy củ, nếu không thì chúng cùng chư vị chiến đấu lẫn
nhau.
Thứ
ba là lời mật ngữ, người ngoài không thể biết được,
chỉ có mình biết thôi. Ví như có người nghèo hèn, vì tham
tiền của nên chạy ra nước ngoài. Người ngoại quốc không
biết ông ta cớ sao mà bỏ nước đi. Khi được hỏi, ông
ta đáp :" Tôi là vua của nước kia. Vì quân nhân đảo chánh.
Quốc gia rối loạn, nên tôi chạy đến nước này tị nạn".
Vua
nước đó tuy không biết là thật hay giả, nhưng cũng cho là
thật, nên gả công chúa cho hắn. Sau khi gã nghèo hèn kia kết
hôn cùng với cô công chúa, liền làm dạng như mình chính
là một ông vua. Từ sáng đến tối khởi tâm nóng giận, càng
ngày càng hung dữ thêm. Sau này, có người nhận ra hắn là
kẻ nghèo hèn, nên đến nói với công chúa :" Khi hắn phát
cáu, nóng giận, công chúa hãy nói như vầy ' Ông vốn là kẻ
nghèo hèn, nhưng khi đi qua xứ khác, sao nỗi sân quá vậy ?".
Sau
khi biết là có người nhận ra lai lịch của mình, nên không
dám khởi tâm nóng giận nữa. Chú này cũng như thế. Chư vị
tụng niệm chú, quỷ thần biết chư vị nhận ra lai lịch,
việc làm của chúng là gì, nên khi đối mặt với chư vị,
không dám không thủ quy củ.
Thứ
tư, chú là tâm ấn, mật ngữ của chư Phật, chỉ Phật và
chư Phật biết thôi, còn chúng sanh thì không thể hiểu. Vì
vậy không thể phiên dịch chú được. Lại nữa, dùng một
âm thanh diễn thuyết chú, chúng sanh tùy loại mà tôn thủ.
Loại chúng sanh nào thì nghe hiểu loại chú đó. Ví như hiện
nay, tuy chúng ta không hiểu lời chú nhưng quỷ thần vương,
A Tu La, súc sanh, yêu ma quỷ quái đều hiểu rõ. Do đó, một
khi đọc chú, chúng đều hiểu cả. Xưa kia có ông vua cần
tiên đà bà. Tiên đà bà là tiếng Phạn. Nó có bốn tên khác
nhau, tức là muối, nước, ngựa, đại tiểu tiện. Thế nên,
khi vua bảo rằng ta cần tiên đà bà thì những quan đại thần
không biết là muối, nước, ngựa, hay đại tiểu tiện. Nhưng
có một vị thông minh trí huệ, khi nghe vua nói tiên đà bà
liền biết nhà vua cần gì. Khi ăn cơm, cần tiên đà bà, đương
nhiên là không phải đại tiểu tiện mà là cần muối. Khi
nhà vua chuẩn bị ra đường thì gọi "tiên đà bà". Người
kia hiểu rõ là nhà vua cần ngựa. Khi vua khát mà gọi tiên
đà bà thì chắc chắn là nhà vua cần nước. Khi thấy nhà
vua không khát nước, không ăn cơm, không ra đường, thì biết
là nhà vua muốn đi đại tiểu tiện. Thế nên, khi đọc chú
ra, quỷ thần có trí huệ liền biết ngay, còn quỷ thần khác
thì không biết đến.
"Nan
cùng trắc. (Khó đo lường)".
Nan
tức là khó khăn, không dễ dàng. Cùng nghĩa là cùng tận.
Trắc nghĩa là thôi trắc (đo lường). Biểu thị cho đại
thần chú này không thể suy tưởng, biết đến được, vì
là cảnh giới không thể nghĩ lường. Lên một bậc, tôi sẽ
giảng cho chư vị nghe về chữ thần và chữ diệu. Thần là
chung quy vào cái động không thể nghĩ bàn. Diệu là chung quy
nơi tịnh không thể nghĩ bàn. Ðộng tịnh đều không thể
nghĩ bàn. Trong động không thể nghĩ bàn là thần. Trong tịnh
không thể nghĩ bàn là diệu. Thế nên, thần cũng là diệu,
mà diệu cũng chính là thần. Không phải thần tức không phải
diệu. Không phải diệu tức không phải thần. Thần diệu
khó đo lường. Vì vậy, hiện tại, tôi không có cách nào
để giảng tường tận rõ ràng, vì cái đó quá thần quá
diệu.
"Thị
đại minh chú chiếu tam thiên, (là đại minh chú chiếu ba ngàn
cõi)".
Tâm
kinh bát nhã ba la mật này cũng chính là đại minh chú. Ðại
minh tức là tạng tánh Như Lai sáng suốt chói ngời. Tạng
đại quang minh, đại minh chú chiếu soi phá trừ tất cả vô
minh hắc ám. Nói về hướng nội, chư vị phải tụng tâm
kinh, để phá trừ tất cả vô minh hắc ám, phiền não từ
đời vô thủy cho đến ngày nay. Tự chiếu soi phá trừ vô
minh phiền não của mình. Nói về hướng ngoại, tức là chiếu
soi khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới. Khi chư vị niệm
đại minh chú này thì sẽ phóng ánh sáng. Ánh sáng chiếu khắp
ba ngàn đại thiên thế giới, nên bảo rằng đại minh chú
chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Ba ngàn đại thiên
thế giới tức là thế giới bên ngoài. Tự chúng ta phá trừ
tự tánh phiền não, thì chính là phá trừ thế giới phiền
não bên trong. Trong là ngoài, ngoài mà là trong. Trong ngoài đều
chiếu sáng. Ánh sáng trí huệ trong ngoài của chư vị đều
hiện tiền. Ánh sáng này chính là bản thể trí huệ của
chư vị. Trí huệ sẵn có của chư vị chiếu khắp ba ngàn
đại thiên thế giới.
"Thị
vô thượng chú trần giác quả, (là chú vô thượng đạt quả
giác)".
Vô
thượng tức là không có gì cao bằng. Quả vị Phật cao thượng
nên gọi là vô thượng. Chư vị tụng tâm kinh bát nhã ba la
mật đa chính là bước từng bước từ địa vị phàm phu
mà tiến lên quả vị Phật, đạt đến quả vị giác ngộ
vô thượng, nên gọi là trần giác quả. Trần tức là đã
đạt đến. Ðạt đến nơi giác quả.
"Vô
đẳng đẳng chú chí cực đỉnh, (chú không gì sánh tột cùng
cực)".
Vô
đẳng tức là không còn gì so sáng bằng được. Ðó chính
là quả vị Phật tối thượng, quả vị giác ngộ cao tột.
Thế nên đạt đến tột đỉnh, tức là đỉnh núi cao nhất.
"Trừ
nhất thiết khổ luân hồi hưu, (trừ tất cả khổ, ngưng
luân hồi)".
Việc
quan trọng nhất là phải trừ được tất cả khổ. Nếu không
thể trừ được tất cả khổ thì tụng kinh có ích chi. Tất
cả khổ ách đều có thể trừ hết cả. Khổ có ba khổ :
khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Tám khổ : sanh già bệnh chết
khổ, khổ vì thương nhau mà xa lìa, khổ vì gần gũi người
mình oán ghét, khổ vì cầu mà không được toại nguyện,
khổ vì năm ấm thường thay đổi hừng thịnh (khổ này rất
khó dẹp trừ). Nếu dẹp trừ hết tất cả khổ thì dòng
luân hồi liền chấm dứt. Nếu không thoát ra khỏi dòng luân
hồi thì không thể nghỉ ngơi, nghĩa là cắt đứt được
sanh tử thì xuất ra khỏi dòng luân hồi. Muốn dẹp trừ khổ
thì phải làm gì ? Phải chặt đứt khổ vì kiến ái, ái dục,
sắc ái, vô sắc ái, vô minh sắc ái, cùng năm trụ và hai
tử phải vĩnh viễn mất. Năm trụ gồm có : ái trụ tức
là phiền não kiến ái trụ; dục ái trụ tức là phiền não
dục ái; sắc ái trụ tức là phiền não sắc ái; vô sắc
ái trụ là phiền não vô sắc ái; vô minh ái trụ là phiền
não vô minh ái. Sao gọi là trụ ? Trụ nghĩa là kiên lao, cứng
chắc, kiên cố bất động.
Hai
tử vĩnh vong. Có vài người chưa từng nghe giảng kinh thuyết
pháp, bảo hai tử túc là hai lần chết. Không phải thế !
Con người có hai loại sanh tử : phần đoạn sanh tử và biến
dịch sanh tử. Sao gọi là phần đoạn sanh tử ? Tức là chư
vị có một phần, tôi có một phần, nên gọi là phần. Chư
vị có một đoạn thân phần. Tôi có một đoạn thân phần.
Từ ngày sanh đến ngày chết có một đoạn thời gian. Từ
dưới chân lên đến đầu có một phần đoạn. Ðó gọi là
phần đoạn sanh tử. Tứ quả A La Hán chặt đứt được phần
đoạn sanh tử; còn biến dịch sanh tử thì chưa xong.
Bồ
Tát có thể cắt đứt biến dịch sanh tử. Danh xưng của Bồ
Tát rất thần thánh. Bồ Tát là danh xưng ngắn gọn, nói cho
đủ tức là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Có người tuy không phải
là Bồ Ðề Tát Ðỏa mà lại cho mình chính là Bồ Ðề Tát
Ðỏa. Có người chính mình là Bồ Ðề Tát Ðỏa mà lại
không thừa nhận mình là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Chư vị xem, kỳ
lạ lắm không ? Vậy là thế nào ? Không phải mà bảo là
phải. Phải mà bảo là không phải. Không phải tức là không
phải. Phải cũng không thể nói được. Là Bồ Ðề Tát Ðỏa
mà chư vị không cần nói mình là Bồ Ðề Tát Ðỏa mới
chính thực là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Bồ Ðề Tát Ðỏa không
phải do chính mình tự quảng cáo trên báo chí :" Chư vị có
biết tôi chính là Bồ Ðề Tát Ðỏa không ?"
Không
phải như thế. Vậy, làm sao mới phải ? Là Bồ Ðề Tát Ðỏa
phải tồn giữ tâm Bồ Tát, hành hạnh Bồ Tát, làm việc
Bồ Tát, không thể nói mình là Bồ Tát trên đầu môi chót
lưỡi. Trên đầu môi chót lưỡi nói mình là Bồ Tát tức
là quỷ của ma chướng, quỷ của nghiệp chướng. Tại sao
? Giống như vài Quan Ðế Công của tà thần ngoại đạo. "A
! Ta là Quan Ðế Công. Quan Ðế Công đã đến !".
Kỳ
thật nó chính là tiểu quỷ. Thậm chí cũng không phải là
tiểu quỷ nữa, mà chính là súc sanh tà tri tà kiến biến
hóa thành. Trong kinh Pháp Hoa có nói về một loại mèo tinh.
Mèo tinh này giả biến thành thần. Chân chánh là Bồ Ðề
Tát Ðỏa thì không tự bảo mình là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Ví
như Tổng thống đến nơi nào thì không cần tự mình giải
thích mình chính là tổng thống. " Chư vị có nhận ra hay không
?"
Không
cần giảng giải cho mọi người biết. Thế nên, chư vị là
Bồ Ðề Tát Ðỏa người khác cũng biết. Chư vị không phải
là Bồ Ðề Tát Ðỏa, người khác cũng biết. Nếu chư vị
là Bồ Ðề Tát Ðỏa, vậy có bằng chứng gì ? Tôi nói cho
chư vị biết nếu là Bồ Ðề Tát Ðỏa thì cắt đứt được
hai loại chết, tức phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh
tử. Sao gọi là biến dịch sanh tử ? Niệm này sanh rồi niệm
kia diệt, không dừng nghỉ. Nếu thường tại định thì không
lúc nào lại không trụ trong định, đã chấm dứt được
sanh tử. Cắt đứt được phần đoạn sanh tử, biến dịch
sanh tử thì mới chân thật là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Nếu chư
vị không nhận rõ được thì ngay nơi đó chính là sự vi
diệu. Chân chánh Bồ Ðề Tát Ðỏa chư vị phải nên nhận
ra. Khi ấy chính chư vị cũng là Bồ Ðề Tát Ðỏa.
"Chân
thật bất hư các hướng tiền, (chân thật không hư hướng
trước)".
Phần
đoạn sanh tử đã hết, biến dịch sanh tử đã hết, năm
trụ đã đạt đến cùng tột, đây mới thực là chân chánh
trừ tất cả khổ trong dòng sanh tử, được rảnh rỗi, nghĩ
ngơi. Ðó thực là Bồ Ðề Tát Ðỏa, không phải giả. Chư
vị muốn làm Bồ Ðề Tát Ðỏa không ? Nếu muốn thì phải
tiến bước tu hành, dõng mãnh tinh tấn hướng về phía trước,
đừng học theo các tỳ kheo, sa di, cư sĩ làm biếng, cả ngày
từ sáng đến tối đều ngủ gà ngủ gật, đôi mắt mở
không nỗi.
"Dĩ
thượng hiển thuyết thâm bát nhã, (trên nói rõ bát nhã thậm
tha)".
Phần
trên nói rõ về lý lẽ cao thâm của tâm kinh bát nhã ba la
mật đa này. Phần văn kinh bên dưới thì thuộc về mật thuyết
(lời nói bí mật).
"Lược
giải đông tây tổ sư thiền".
Những
câu kệ bên trên tôi đã nói là để giải thích về phương
pháp tọa thiền của chư tổ sư ở đông phương lẫn tây
phương. Phương pháp tọa thiền là gì ? Câu kệ đầu tiên
ở bên trên có nói :"Hồi quang phản chiếu quán tự tại".
Giác
ngộ cho loài hữu tình tức là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Chư vị
phải nên hồi quang phản chiếu (đem ánh sáng trí huệ phản
chiếu lại tự tâm mình). Ai ai cũng có đầy đủ đức tướng
Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp mà không thể chứng đắc
được quả vị Phật. Nếu muốn đắc được đức tướng
trí huệ của Như Lai, chư vị phải nên xoay lại ánh sáng
tự tâm mình và đừng nên chấp trước. Phải tụng đọc
câu kệ này cho thành thục, cùng tham thiền đả tọa. Lời
dạy của chư tổ sư ở tây phương hay đông phương đều
như thế. Tây phương tức là Ấn Ðộ. Ðông phương tức là
Tàu. Hiện tại tây phương không phải là Ấn Ðộ cũng không
phải là Tàu. Vậy là nước nào ? Ðông tức là đông phương.
Tây tức là tây phương. Phương hướng vẫn không biến đổi,
nhưng hoàn cảnh lại đổi thay. Tại tây phương phải cần
xuất hiện tổ sư. Hiện tại, chư tổ sư bên đông phương
có rất nhiều vị đi qua tây phương hoằng pháp ví như nước
chảy. Ai muốn làm tổ sư thì chớ nên ngủ nhiều thì mới
có thể làm được.
Ngày
nay, đông cũng không phải là đông, tây cũng chẳng phải là
tây, nên không thể gọi là đông hay tây. Nam bắc cũng như
thế. Tại sao ? Chúng ta có mối quan hệ khắng khít với mặt
trăng. Thế nên chúng ta không biết phải đi theo bên nào. Ðông
tây nam bắc đều không thể lập. Ngày nay, chúng ta là một
nguyên hợp, trung tâm. Tuy là trung tâm mà không phải là trung
tâm, lại biến thành lớn mà không ngoài cái lớn, nhỏ mà
không nằm trong cái nhỏ. Tuy có lớn nhỏ nhưng không có trong
ngoài. Bên trên tôi có nói :"Không lớn không nhỏ, không trong
ngoài. Tự tu tự liễu tự an bài".
Ðạt
đến cảnh giới này, chư vị thấy có vi diệu lắm không
! Khi ấy một điểm phiền não hay buồn bực gì cũng không
còn. Nhưng cùng tột của cảnh giới đó không lớn không nhỏ,
không trong không ngoài là gì ? Chư vị phải tự hiểu rõ.
Tôi không cần nói nhưng chắc chư vị sẽ hiểu rõ. Nếu chư
vị không muốn biết, dẫu tôi có nói ra đi nữa thì chư vị
cũng không thể biết được.
"Cố
thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết : yết
đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề
tát bà ha, (nên thuyết ra chú bát nhã ba la mật đa. Tức
thuyết chú rằng : yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba
la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha)".
"Chú
nãi mật phân phỉ tư lượng
Như
vương chiếu chỉ kiểm đồng đạo
Diệc
dĩ quân trung bí mật lịnh
Vấn
đáp bất phù tiện chấp hành
Ðại
thừa diệu lý ly phân biệt
Phàm
phu tri kiến vọng duyên chân
Nhân
chỉ vọng nguyệt chỉ phi nguyệt
Tạ
chú minh tâm chú tức tâm
Dịch
:
Chú
là mật, không thể suy luận
Như
chiếu chỉ vua cùng tôn kính
Là
lịnh bí mật trong quân đội
Vấn
đáp hợp liền phải chấp hành
Diệu
lý đại thừa rời phân biệt
Tri
kiến phàm phu vọng thay chân
Ngón
tay chỉ trăng chẳng phải trăng
Nhờ
chú sáng tâm, chú tức tâm".
Ấn
Ðộ, câu chú không thể dịch ra thành nghĩa nhưng phiên dịch
chữ chứ không phiên dịch âm. Vì vậy không thể giảng hay
suy tưởng nghĩ bàn được.
"Chú
nãi mật phân phỉ tư lượng, (chú là mật không thể suy luận)".
Chú
thuộc về mật giáo. Trong mật giáo không thể giảng giải
chú được. Không thể dùng tư tưởng mà suy luận được,
vì nơi đó, đường ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành nơi tịch
diệt.
"Như
vương chiếu chỉ kiểm đồng tôn, (như chiếu chỉ vua cùng
tôn kính)".
Chú
cũng giống như chiếu chỉ của nhà vua, mà ở trên đã giảng
qua về bốn loại ý nghĩa của tiên đà bà. Kiểm đồng tôn
tức là một khi chiếu chỉ nhà vua ban ra thì quan dân đều
phải tuân phục.
"Diệc
thị quân trung bí mật lịnh, (lại là mật lịnh trong quân
đội)".
Chú
giống như lịnh bí mật trong quân đội. Như trên đã bàn
qua, trong quân đội, mỗi ngày đều có khẩu lịnh như "thắng
lợi". Nếu khi gặp người lính mình không quen biết, mà hắn
hỏi khẩu lịnh là gì. Chư vị bảo :"thắng lợi", đó là
thuộc quân đội của mình, không cần giải thích. Nếu khi
hắn hỏi khẩu lịnh mà chư vị nói :" Kiết tường", vậy
là sai rồi, nên hắn sẽ nổ súng bắn chư vị. Trong quân
đội, vì quân lính rất nhiều nên mỗi ngày phải có mật
lịnh để cho người ngoài không thể lọt vào quân đội được.
Nghĩa của chú cũng như thế.
"Vấn
đáp bất phù tiện chấp hành, (vấn đáp không hợp phải
chấp hành)".
Nếu
chư vị vấn đáp mà không hợp với khẩu lịnh thì họ phải
thi hành nhiệm vụ.
"Ðại
thừa diệu lý ly phân biệt, (diệu lý đại thừa rời phân
biệt)".
Bát
nhã thuộc pháp đại thừa. Ðây là pháp đại thừa diệu
lý không thể nghĩ bàn, không thể phân biệt, quét sạch tất
cả pháp, xa rời tất cả tướng. Bát nhã tùy thuyết tùy
liễu ngộ.
"Phàm
phu tri kiến vọng duyên chân, (phàm phu tri kiến vọng thay chân)".
Phàm
phu chứa bao vọng tưởng, tri kiến, kiến giải phan duyên,
lầm nhận tất cả pháp chân thật, nhận kẻ trộm làm con,
chấp trước mọi vật có hình có tướng có bóng ảnh.
"Nhân
chỉ vọng nguyệt chỉ phi nguyệt, (ngón tay chỉ trăng chẳng
phải trăng)".
Kinh
điển chỉ dẫn con đường tu hành cho mình, như dùng ngón
tay chỉ mặt trăng, bảo rằng mặt trăng ở nơi kia, nhưng
có người không y theo ngón tay để nhìn mặt trăng mà chỉ
nhìn vào ngón tay, cố chấp cho ngón tay là mặt trăng. Chư
vị chớ nhận lầm ngón tay là mặt trăng. Kinh điển chỉ
dẫn cách tu hành, chứ kinh điển không phải là đạo. Ðạo
là chính tự chư vị phải tu trì, không nên cho kinh điển
là đạo.
"Tạ
chú minh tâm chú tức tâm, (nương chú sáng tâm, chú tức tâm)".
Nương
nhờ oai lực của chú để làm sáng tâm vì lời chú không
thể nghĩ bàn. Chư vị lại phải nên xa rời tâm phân biệt,
tâm phan duyên, tất cả tâm vọng tưởng. Tuy không hiểu nghĩa
khi trì chú, nhưng ngay nơi không hiểu đó mới thật là hiểu.
Thế nên, nhờ oai lực của chú để làm sáng tâm và thấy
tánh. Chú cũng là tâm. Khi đã minh tâm kiến tánh, chư vị
sẽ hiểu rõ ý nghĩa của chú.
Vietnamese
Buddhism