Phần
3 - Những ngôi chùa cổ phật giáo gia định
Vai
trò của chùa Từ Ân
trong
sự phát triển văn hóa Phật giáo ở Gia Định
PTS.
Trần Hồng Liên
Viện
Khoa học Xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh
Thế
kỷ thứ XVII, cùng với sự nhập cư của tộc người Việt
và nhiều tộc người khác, khu vực Gia Định-Tân Bình đã
sớm trở thành một trung tâm thương mại trù phú. Sự phát
triển kinh tế đã tạo tiền đề cho sự phát triển văn hóa,
trong đó có các hình thức tín ngưỡng, đặc biệt là tín
ngưỡng Phật giáo (PG). Nhiều ngôi chùa của người Việt,
miếu thờ thần, hội quán của người Hoa kiều cũng được
mọc lên, sôi động và thị tứ, từ sau khi thiết lập cơ
cấu hành chính vào năm 1698.
1.
Cùng đi vào Gia Định với lưu dân, có Thiền sư Phật Ý,
từ vùng Biên Hòa đã cùng với một bạn đồng hành, trụ
lại tại làng Tân Lộc - huyện Tân Bình. Cả hai đã lập
một thảo am nhỏ thờ Phật, lúc ấy vào giữa thế kỷ 18
(1). Ngôi thảo am này nằm trong khu vực gần vườn Tao Đàn,
sau này có tên là Từ Ân. Sau đó không lâu, người bạn tách
riêng ra, lập ngôi chùa khác đối diện với chùa Từ Ân,
là chùa Khải Tường. Vị trí chùa này đã được M.Carmouze
vẽ ngày 20-1-1873 và bản đồ của M.Lambley vẽ ngày 28-10-1931
(2) cho phép ta đi tới kết luận rằng vị trí hai chùa Từ
Ân và Khải Tườâng thuộc khu vực vườn Tao Đàn - công viên
Văn hóa (chùa Từ Ân) và đường Võ Văn Tần (chùa Khải Tường)
ngày nay.
Trong
khoảng thời gian ban đầu ấy, hai vị thiền sư đã tự túc
lương thực, thực phẩm, cùng người dân quanh khu vực khai
khoang, vỡ đất trồng rau, làm rẫy... Bàn thờ đặt trong
thảo am đơn giản chỉ là một tờ giấy vẽ chữ “Phật”
bằng chữ Hán để thờ tự.
Trong
bối cảnh xã hội của buổi đầu đi khai hoang, nhà ở còn
tạm bợ, cuộc sống lại đầy bất trắc, khí hậu phong thổ
chưa phù hợp, bệnh tật và cái chết luôn đe dọa cư dân...
nên với ngôi thảo am có bàn thờ Phật trong đấy, nhiều
người dân đã bắt đầu tìm đến và nhờ hai vị thầy an
ủi, cầu nguyện. Được nghe thuyết giảng một ít về đạo
lý nhà Phật, được nghe tiếng kinh đọc tụng, họ cảm thấy
ấm áp và an tâm hơn.
Như
vậy là trong buổi đầu đặt nền móng tại vùng đất Gia
Định, tín ngưỡng PG đã có một vai trò quan trọng, góp phần
tăng cường lòng tự tin; khuyến khích sự bền chí và đã
tạo được sự yên ổn và phát triển tại vùng đất mới.
Nhu cầu cần có thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi qua
đời là một đòi hỏi bức bách của lưu dân. Tín ngưỡng
Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu ấy và đã tạo tiền
đề để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển nhanh chóng của
nhiều ngôi chùa trong vùng đất Gia Định thời bấy giờ.
Chùa
Kim Chương được thành lập năm 1755; chùa Giác Lâm được
xây dựng từ năm 1744, nhưng đến năm 1772 mới có thiền sư
về trụ trì ; chùa Cây Mai, chùa Phụng Sơn, chùa Giác Viên...
cũng dần được thành lập vào đầu và giữa thế kỷ
XIX.
Từ
một thảo am nhỏ, không đủ sức chứa cho nhiều người đến
lạy Phật, nghe kinh; lại thêm cuộc sống cư dân dần được
ổn định, ngôi chùa Từ Ân khang trang hơn được dựng lên
vào năm Nhâm Thân 1752. Từ đó hai chùa cùng phát triển. Có
lẽ rằng dưới triều đại nhà Nguyễn, chùa được đại
trùng tu, nên Đại Nam nhất thống chí có cho biết: “Chùa
Từ Ân ở thôn Hòa Hưng, huyện Bình Dương, nhà chùa tráng
lệ, cảnh trí u nhã...” (3). Có lẽ do sự nhầm lẫn (4) giữa
việc lập chùa và trùng tu chùa nên sách của Quốc sử quán
triều Nguyễn đã cho rằng chùa chỉ mới được xây dựng
vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Chùa cũng được Hiếu Khương
hoàng hậu sắc cho làm chùa công. Đến năm Minh Mạng thứ
II (1821), chùa được ban sắc “Sắc tứ Từ Ân tự” và
được cấp cho phu ở giữ chùa.
Như
vậy, vào giai đoạn đầu của cuộc khai phá vùng đất Gia
Định, chùa Từ Ân đã góp phần mang lại sự ổn định và
phát triển tín ngưỡng PG tại vùng đất mới qua sự có mặt
khá sớm và gần như tiêu biểu nhất của mình tại vùng đất
Gia Định.
2.
Một trong những yếu tố góp phần lớn cho công cuộc phát
triển PG còn là sự hiện diện của các nhà sư. Vai trò quan
trọng của các vị thiền sư ở chùa Từ Ân qua nhiều giai
đoạn khác nhau đã chứng tỏ điều đó. Thiền sư Linh Nhạc-Phật
Ý, qua tên gọi cho biết là vị thiền sư thuộc thế hệ truyền
thừa thứ 35, thuộc dòng đạo Bổn Nguyên, phái Lâm Tế, gốc
từ Tổ Nguyên Thiều, một trong những vị được xem là sơ
tổ hoằng truyền PG vào vùng đất Đàng Trong.
Thiền
sư Phật Ý là đệ tử của thầy Thành Đẳng ở chùa Đại
Giác (Biên Hòa, Đồng Nai). Chùa Từ Ân là nơi dừng chân và
nơi đào tạo nhiều thiền sư có tiếng sau này như: Thiệt
Thành-Liễu Đạt, thủ tọa chùa (điều khiển tăng chúng);
Tổ Đạt-Trí Tâm, tri khách (tiếp khách) sau làm trụ trì chùa
Khải Tường; Tổ Ấn-Mật Hoằng, sau thời gian tu học ở
chùa Từ Ân được cử về trụ trì chùa Đại Giác (Đồng
Nai - 1775); Tế Chánh-Bổn Giác, trị sự (lo điều hành nội
bộ chùa); Tổ Tông-Viên Quang, đệ tử của thiền sư Phật
Ý, được cử về trụ trì chùa Giác Lâm, trở thành người
trụ trì đầu tiên và là tổ khai sơn của ngôi tổ đình
của dòng đạo Bổn Nguyên ở Gia Định, là ngôi chùa cổ
nhất thành phố hiện nay...
Những
vị thiền sư sống tu tại chùa Từâ Ân, nhiều năm liền,
được đào tạo và bồi dưỡng tại một “trung tâm PG”
ở Gia Định thời bấy giờ nên không lạ gì vào những năm
dưới triều Gia Long và Minh Mạng, nhiều vị tại đây đã
được vinh hạnh mời ra kinh đô, được phong chức tăng cang,
được giao trụ trì chùa Thiên Mụ, Giác Hoàng... ở Huế:
được vua mời vào cung dạy đạo cho vua, hoàng hậu và hoàng
gia như các thiền sư: Tổ Ấn-Mật Hoằng (1804-1817) đã được
phong tăng cang (5) và giao trụ trì chùa Quốc Ân: Thiệt Thành-Liễu
Đạt; Tế Giác-Quảng Châu....
3.
Trong giai đoạn có chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh (1788-1801),
chùa Từ Ân còn là nơi trú ẩn của Nguyễn Ánh và quan quân,
chùa Khải Tường dành cho cung phi. Vào năm 1791, hoàng tử Đởm
đã ra đời tại chùa Khải Tường, sau này lên ngôi là vua
Minh Mạng, vua đã nhớ lại việc lành được “mẹ tròn,
con vuông” thuở trước nên sắc phong là Sắc tứ Từ Ân
tự vào năm 1821 và một hoành phi cho biết được khắc vào
năm Quý Mão 1843 phong “Quốc ân Khải Tường tự”.
4.
Thiền sư Linh Nhạc-Phật Ý, sau một quá trình dài đổ nhiều
công sức cho công cuộc khai hoang, ổn định đời sống tinh
thần cho cư dân Gia Định, năm 1821 thiền sư viên tịch tại
chùa Từ Ân, thọ 97 tuổi. Buổi lễ an táng được tổ chức
long trọng và ngọn tháp đã được dựng lên trong khuôn viên
chùa. Nhưng những năm 1859-1961, chùa bị đốt cháy do sự chiếm
đóng thành Gia Định của Pháp, ngôi chùa đành phải bị di
dời. Một số hoành phi, liễn đối, tượng thờ được đem
về ngôi chùa mới, được dựng lên gần rạch ông Buông,
quận 6, lấy tên cũ để lưu giữ (6). Tuy nhiên, ngôi tháp
của vị tổ sư, xem như là vị tổ đầu tiên của Phật giáo
ở Gia Định, của dòng đạo Bổn Nguyên, lại được đưa
về cải táng tại chùa Giác Lâm, nên từ đó chùa Giác Lâm
trở thành tổ đình của dòng phái Bổn Nguyên.
5.
Từ trên những thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa Từ Ân
mới được dựng lên vào cuối thế kỷ XIX (1870), khiêm tốn
nằm trên đường Tân Hóa. Kiến trúc tuy không bề thế, qui
mô, lộng lẫy và khang trang tương xứng với một đại bửu
sát trước đây, nhưng bên trong ngôi chùa ấy là một “kho
tàng” vô giá, đã góp phần lưu giữ văn hóa PG Gia Định
qua nhiều thế hệ, đã giúp cho dòng chảy văn hóa PG Gia Định
vẫn còn luân chuyển tiếp nối, thể hiện qua nhiều hiện
vật có giá trị lịch sử - văn hóa như hoành phi, liễn đối,
tượng thờ, bài vị...
Hai
bức hoành phi chạm gỗ, sơn son thiếp vàng, được sắc phong
của vua vào đầu thế kỷ 19 là hai hiện vật có giá trị
lớn. Từ những dòng chữ Hán được chạm nổi trên gỗ,
nét chạm sắc sảo, tinh tế, với dãy hoa văn mềm mại viền
quanh bức hoành, đến phần lạc khoản của nó đã là một
minh chứng về sự hiện diện của các vị vua triều đại
nhà Nguyễn trong một ngôi chùa ở vùng đất Gia Định; là
sự khẳng định một nền văn hóa PG, đặc biệt là qua kiến
trúc, chạm khắc hoành... ở Gia Định thời đó. Còn nữa,
những chạm trổ trên phần lạc khoản của hoành phi còn cho
biết nó được dâng cúng bởi vị hoàng tử, vào năm Minh
Mạng tam niên, tức 1822, tháng giêng, ngày tốt. “Minh Mạng
tam niên trọng xuân ngoạt kiết nhật” (phía phải) và “Hoàng
tử Thường Tín đồng chi tạo hiến cúng” (phía trái). Cặp
đối có hai chữ đầu là “Từ Ân” (tên chùa) còn cho biết
đã được Tăng cang chùa Thiên Mụ và Giác Hoàng là Tế Chánh-Bổn
Giác hòa thượng tạo (7). khá nhiều bức hoành và câu đối
còn ghi nhận niên đại làm lễ lạc thành của chùa là vào
năm Canh Ngọ, dưới thời của hòa thượng (HT) Như Bằng-Thanh
Ấn, tức năm 1870 (là năm khánh thành chùa Từ Ân tại đường
Tân Hóa). Theo lời hT Thiện Thành-Nhựt trí, hiện trụ trì
cho biết, chùa di dời đến đây là địa điểm thứ ba. Lần
đầu ở khu vực gần Võ Văn Tần hiện nay, sau đó chuyển
sang khu vực thuộc đường Nguyễn Trãi (gần Tổng nha Cảnh
sát trước đây) và lần cuối tại đường Tân Hóa.
Hệ
thống tượng thờ trong chùa cũng cho thấy mức độ giao lưu
và dung hợp mạnh mẽ giữa PG ở Gia Định với các hình thức
tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là thờ cúng các thần nữ
(Mẫu).
Hầu
như các nữ thần được thờ tự rải rác khắp Gia Định
và Nam Bộ đều có trong điện thờ chùa Từ Ân như năm Bà
Ngũ Hành, Bà Thủy Long, Linh Sơn Thánh Mẫu... Chánh điệån
chùa còn thể hiện sự kết hợp của “Tam giáo đồng nguyên”
qua hình ảnh các vị Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Già Lam
Thánh Chúng... bên cạnh đức A Di Đà Phật và Quan Thế Âm
Bồ Tát.
Các
bài vị chạm khắc gỗ được lưu giữ tại nhà tổ cũng
là những hiện vật quí giá cho biết lịch sử truyền thừa
của các vị tổ sư. Đặc biệt chùa còn có cả những bài
vị các sơ tổ ở Đàng Trong như tổ Nguyên Thiều (đời thứ
33); Thành Đẳng (đời thứ 34), Phật Ý (đời thứ 35). Bàn
tổ còn có cả bài vị dành cho vị tổ khai sáng dòng đạo
Bổn Nguyên từ Trung Quốc truyền sang đó là Đạo Mẫn-Mộc
Trần (đời thứ 31 tông Lâm Tế, vị tổ khai bài kệ dòng
đạo Bổn Nguyên) và tổ Khoáng Viên (đời thứ 32) rồi đến
các vị tổ thuộc đời tiếp sau như Tế Chánh-Bổn Giác...
Ngày nay vị hòa thượng đang trụ trì thuộc đời thứ 41.
Bên cạnh 18 bài vị ấy còn có một điểm đặc biệt là
bài vị của Hoàng cô (chị vua Gia Long), một cư sĩ đã từng
học đạo với tăng cang Thiệt Thành-Liễu Đạt ở Huế. Bài
vị của Hoàng cô đã được đặt trên bàn thờ tổ chùa
Từ Ân cho đến hiện nay. Bên trong mỗi bài vị còn mang một
nội dung khá phong phú, đã để lại cho thế hệ tăng ni trẻ
nhiều thông tin giá trị về những ngôi chùa, chức sắc các
vị đã trụ trì và đã được phong tặng. Bài vị của Tế
Chánh ghi rằng: “Tứ y bát, Thiên Mụ tăng cang, trùng hưng
Từ Ân, đệ tam thập lục thế, húy Tế Chánh, Bổn Giác hòa
thượng giác linh” (Bốn y bát, tăng cang chùa Thiên Mụ, trùng
tu chùa Từ Ân, đời thứ 36, tên húy là Tế Chánh, Bổn Giác
hòa thượng).
6.
Ngoài những hiện vật thờ cúng còn lưu giữ, chùa Từ Ân
còn đang bảo quản hàng trăm quyển kinh, luật, luận bằng
chữ Hán và chữ Nôm. Trong kho tàng quí giá đó có bộ sách
“Ngũ gia tông phái ký toàn tập” (8) do hT Hải Tịnh chứng
minh vào năm 1875, là bộ sách đầu tiên đề cập đến sinh
hoạt PG ở Gia Định và Nam Bộ. Sách gồm 3 quyển, quyển
trung mang tên “Lược yếu sự tích Phật tổ” do pháp sư
Trí Thông chùa sắc tứ Từ Ân, kiêm giám quản phó trụ trì
chùa Khải Tường và chư sơn đại đức hiệu đính. Quyển
hạ cũng cho biết nhiều thông tin quan trọng về việc triệu
tập các tu sĩ tại chùa Khải Tường để định lại các
ngày lễ kỵ giỗ ở chùa và các ngày tạo tháp; việc hT Chánh
Trực ở chùa phó chúc cho hT Hải Tịnh thống quản tăng chúng
ở Gia Định... Qua một số sự kiện trong tập sách, đã cho
biết rõ thêm vị trí và ảnh hưởng của chùa Từ Ân đối
với PG vùng đất Gia Định thời bấy giờ và đặc biệt
là các kinh sách cổ ấy đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn
về những trung tâm in ấn kinh sách trên bản gỗ tại Gia Định,
về nơi tạng bản; về các vị hòa thượng đã chứng minh
cho sách... Một số sách lưu giữ đã được đưa từ các
chùa ở miền Trung vào để trùng khắc ở Gia Định... điều
đó cho thấy ngôi chùa Từ Ân đã góp phần lưu giữ một
số lượng khá lớn về tư liệu văn hóa PG, đồng thời đây
cũng là nơi phổ biến những ấn phẩm PG ấy đi khắp nơi
ở Gia Định và Nam bộ.
7.
Nhiều sinh hoạt nghi lễ PG diễn ra tại chùa Từ Ân, từ hơn
hai
trăm năm qua, với các hình thức như mở khóa An cư kiết hạ,
mở giới đàn, cúng ứng phú; các lễ hội như lễ tảo tháp,
lễ Vu Lan, lễ giỗ tổ... đã tạo điều kiện cho các tăng
sĩ khắp nơi có dịp gặp gỡ, trao đổi kinh sách, giao lưu
với các nơi khác qua các dịp lễ giỗ tổ. Nhiều bức hoành
câu đối còn ghi lại trong phần lạc khoản do các hT trụ
trì tại khắp nơi ở Gia Định và Nam Bộ tặng. Hoành phi
“Đại Hùng bửu điện” do hT chùa Thới Bình, quận Cần
Giuộc, dâng cúng nhân ngày lễ lạc thành của chùa; hoành
phi “Pháp vũ ân triêm” do chủ hương Hiếu Nghĩa chùa Phước
Tường ở Bến Lức dâng tặng; hoành phi “Pháp nhũ ân thâm”
do thiền chủ Từ Thông chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức, dâng tặng...
Còn nhiều hoành phi khác do các chùa Giác Lâm, Sắc tứ Huệ
Lâm; chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một), chùa Long Thạnh (Bình
Chánh) v.v.. dâng cúng.
Những
buổi đi cúng ứng phú tại nhà Phật tử, các lễ trai đàn
có hát bội được tổ chức ở Nam Bộ và Gia Định, do yêu
cầu của lễ cúng cần thiết mời nhiều tu sĩ cùng tham gia,
cũng tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của PG ở
Gia Định xuống các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và ngược
lại, đã làm cho vùng đất Gia Định nhanh chóng trở thành
trung tâm phát triển văn hóa PG và lan tỏa đi các nơi khác.
Sự
kiện nhiều thiền sư thuộc chùa được mời ra kinh đô, được
phong chức tăng cang, được vua phong cho y áo, dao cạo tóc,
cấp độ điệp xuất gia như hT Hải Tịnh, được vua phong
làm tăng cang chùa Thiên Mụ (1821), Long Quang (1841-42), Giác Hoàng
(1842) (9), khi trở về Nam Bộ được vua ban giá võng, hài,
y áo... Những hiện vật ấy là những yếu tố của “văn
hóa PG cung đình” đã hội nhập vào dòng văn hóa dân gian
ở Gia Định qua các cuộc thỉnh mời thiền sư ở Gia Định
ra giảng đạo tại kinh đô. Mặt khác, từ những chuyến đi
của khá nhiều thiền sư ở chùa Từ Ân ra Huế đã cho thấy
được trong sự truyền bá của PG, ở Gia Định nói riêng
và cả ở Nam Bộ, đã có mối quan hệ giao lưu và ảnh hưởng
lớn đế PG ở kinh đô, đặc biệt là vai trò quan trọng của
các thiền sư Gia Định bấy giờ.
Tóm
lại, là một ngôi chùa cổ có mặt sớm ở đất Gia Định,
qua quá trình phát triển, chùa sắc tứ Từ Ân đã dần dần
xác lập được vị thế vững chắc trong lòng cư dân có tín
ngưỡng tại đây. Trong suốt hơn hai trăm năm qua, dù đã phải
chịu cảnh di dời do nhiều biến cố lịch sử, nhưng cho đến
nay ngôi chùa vẫn xứng đáng là một kho tàng văn hóa PG phong
phú, đã để lại dấu ấn đậm nét trong sự phát triển
chung của nền văn hóa vùng đất Gia Định. Ngày nay, kỷ niệm
thành phố 300 tuổi, những đặc thù trong văn hóa cư dân Gia
Định xưa - TP Hồ Chí Minh nay - đã có sự góp phần của
văn hóa PG ở Gia Định từ cái nôi của trung tâm PG “Sắc
tứ Từ Ân tự”.
1 Huệ
Chí: Lược sử chùa Giác Lâm, Bản thảo, 1983.
2 Xem
bản đồ vị trí chùa Khải Tường trong sách Trần Hồng Liên:
Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt
Nam - Nxb KHXH.1995, tr.46).
3 Đại
Nam nhất thống chí. Lục tỉnh Nam Việt, Tu Trai Nguyễn Tạo
dịch, tập thượng, tr.95, Nha văn hóa Phủ QVKĐTVH tái bản.
Sài Gòn, 1973.
4 Về
những điểm sai lầm này, chúng tôi đã có nhận xét trong
bài viết: “Vài tư liệu về chùa cần xem xét lại trong Đại
Nam nhất thống chí”, đăng trong sách “Mùa thu lịch sử”.
Nxb Trẻ, 1996, tr. 143-147.
5 Chức
sắc cao nhất thời bấy giờ, trên cả hòa thượng.
6 Chùa
Từ Ân hiện nay thuộc số 23 đường Tân Hóa, phường 14,
quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.
7 Thiền
sư Tế Chánh-Bổn Giác là đệ tử của Thiền sư Thiệt Thành-Liễu
Đạt (hòa thượng Liên Hoa) - được thiền sư Phật Ý giao
chức trị sự, điều hành nội bộ chùa. Khi thiền sư Phật
ý viên tịch, hòa thượng Liên Hoa về trụ trì chùa ; sau khi
hòa thượng Liên Hoa tự thiêu (1823), thiền sư Tế Chánh Bổn
Giác lên trụ trì.
8 Bộ
sách trước đây được in ấn và tạng bản tại chùa Giác
Lâm. Sau sự tìm tòi nghiên cứu về các kinh sách cổ của
PG tại các chùa ở Nam Bộ do chúng tôi tiến hành cùng với
trung tâm nghiên cứu Hán-Nôm, sách đã được đưa ra dịch
sang Việt ngữ và sẽ được xuất bản nay mai.
9 Hải
Tịnh (chứng minh): Ngũ gia tông phái ký toàn tập, quyển Hạ.
Kiến
trúc các ngôi chùa xưa và nay
NGUYỄN
QUẢNG TUÂN
Vùng
đất Sài gòn được kể như đã hình thành từ năm 1698, sau
khi Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu
vào tổ chức việc quản lý hành chính vì lúc này dân vào
định cư cũng đã khá đông.
Ngoài
lớp người Việt này còn có một số người Hoa gồm cả
những quan quân nhà Minh không chịu thuần phục nhà Mãn Thanh
cũng tới xin định cư.
Các
người mới định cư này đều không tránh khỏi tâm trạng
của những kẻ lưu dân, xa nơi quê cha đất tổ. Họ đều
nhớ đến làng cũ, nhớ đến mồ mả của ông cha nên ai cũng
muốn cầu xin sự phù hộ của đức Phật từ bi để được
mạnh khỏe, yên ổn làm ăn.
Người
Hoa thì lập ra các hội quán và các miếu thờ quan Đế, thờ
Thiên Hậu. Người Việt thì lập ra các đình, chùa thờ Phật,
thờ thần.
Truyền
rằng, hồi đó, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, vào khoảng năm
1747, Tổ Phật Ý đã từ miền Trung vào Nam truyền bá đạo
Phật. Khi vào tới vùng đất Sài gòn, thuộc huyện Tân Bình,
xã Minh Hương, tổ trụ lại ở làng Tân Lộc và đã lập
một thảo am để thờ Phật.
Năm
Nhâm Thân (1752), tổ Phật Ý đã cho sửa am thành một ngôi
chùa gồm chánh điện và nhà hậu tổ đặt tên là Từ Ân
tự, ngụ ý nhờ được ân huệ của đức Từ Bi mà dựng
được nơi thờ tự và truyền bá đạo pháp.
Đồng
thời với việc thiết lập chùa Từ Ân (1) còn có chùa Khải
Tường (2). Hai ngôi chùa này được kể là hai ngôi già lam
cổ nhất ở vùng đất Sài gòn, nhưng đều đã bị phá hủy
vì chiến cuộc, thời chống quân Pháp xâm lược, nên ngày
nay chúng ta không còn được biết kiến trúc hồi đó ra sao.
Nếu
kể thêm các ngôi chùa cổ thì chùa Kim Chương cũng là một
danh lam mà Trịnh Hoài Đức đã nói đến trong quyển “Gia
Định thành thông chí” như sau:
“Chùa
ở phía Tây Nam trấn hơn bốn dặm, về phía Bắc quan lộ.
Ở giữa là Phật điện, trước sau có đông-Tây đường,
sơn môn, phương trượng, kinh thất hương viện và phạn đường,
chạm trổ sơn then thếp vàng, đẹp đẽ nguy nga...”.
Trong
bản đồ Gia Định-Sài gòn-Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ
năm 1815, chúng ta thấy có ghi rõ địa điểm chùa Kim Chương
và chùa Cây Mai.
Chùa
Cây Mai (Mai Khâu tự) cũng được Trịnh Hoài Đức nói đến
trong Gia Định thành thông chí:
“Gò
Cây Mai ở cách phía nam trấn độ 30 dặm, ở đây có nhiều
cây nam mai, cành lá rườm rà... Trên gò có ngôi chùa Ân Tông...
quanh chân gò có hào nước bao bọåc. Chiều mát, các thiếu
nữ chèo thuyền hái sen. Gặp những giai tiết lại có những
văn nhân thi sĩ lên ngâm vịnh tại nơi đầu gò, dưới gốc
cây mai... Thật là một thắng cảnh cho người du lãm”.
Các
ngôi chùa cổ ấy, cũng như các ngôi chùa Pháp Vũ, Phước
Hải, Phước Hưng, Kim Tiên, Gia Điền, chỉ còn được nhắc
lại trong sách sử chứ đến nay đã không còn để lại một
vết tích nào, ngoại trừ pho tượng Phật của chùa Khải
Tường còn được lưu giữ và hiện được trưng bày ở viện
Bảo tàng lịch sử (số 2, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận
1) và tấm hoành QUỐC BẢO KHẢI TƯỜNG TỰ còn được lưu
giữ và hiện được treo ở chánh điện chùa Sắc tứ Từ
Ân (về sau đã được xây cất lại ở đường Tân Hóa, quận
6).
Ngày
nay, muốn tìm hiểu về kiến trúc các ngôi chùa cổ, chúng
ta chỉ còn căn cứ vào một số những ngôi chùa còn tồn
được như sau:
Chùa
Giác Lâm
Quận
Tân Bình
Chùa
Giác Viên
Quận
11
Chùa
Giác Sanh
Quận
11
Chùa
Từ Ân
Quận
6
Chùa
Tập Phước
Quận
Bình Thạnh
Chùa
Trường Thọ
Quận
Gò Vấp
Chùa
Phụng Sơn
Quận
1
Chùa
Huệ Lâm
Quận
8
Chùa
Gò (Phụng Sơn)
Quận
11
Chùa
Huê Nghiêm
Huyện
Thủ Đức
Chùa
Phước Tường
Huyện
Thủ Đức
Chùa
Hội Sơn
Huyện
Thủ Đức
Chùa
Linh Sơn
Huyện
Củ Chi
Chùa
Long Thạnh
Huyện
Bình Chánh
Nhưng
trong số các ngôi chùa kể trên cũng có những ngôi chùa đã
được sửa lại, không còn giữ nguyên dạng ban đầu nữa.
Ngoài ra có những ngôi chùa cổ như chùa Linh Sơn ở quận
1, chùa Long Huê ở quận Gò Vấp, chùa Long Nhiễu ở huyện
Thủ Đức... đã xây cất lại hoàn toàn nên chỉ còn cái
danh là chùa cổ, chứ về mặt kiến trúc thì phải coi là
chùa mới.
Vậy,
căn cứ vào những nhận định trên, chúng tôi xin trình bày
vắn tắt về một số chùa cổ và chùa mới ở thành phố
Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin tạm lấy mốc thời gian là năm
1900 để phân định chùa cổ và chùa mới.
Nếu
những ngôi chùa nào được lập trước năm đó, dù đã được
trùng tu nhưng còn giữ được khung gỗ truyền thống thì được
coi là chùa cổ.
Nếu
những ngôi chùa nào được lập sau năm đó, mà dù có làm
theo khung gỗ cổ truyền vẫn được coi là chùa mới.
NHỮNG
NGÔI CHÙA CỔ
Trước
hết phải kể đến chùa Giác Lâm. Ngôi chùa này đã được
Trịnh Hoài Đức nói đến trong quyển Gia Định thành thông
chí:
“Ở
trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm, đột
khởi một gò đất hình tròn... rộng ba dặm, cây cao như rừng,
hoa nở như gấm, sáng chiều mây khói quanh quất, địa thế
tuy nhỏ mà có nhã thú.
Mùa
xuân năm Giáp Tý (1744) đời chúa Thế Tông (Nguyễn Phúc Khoát)
năm thứ 7, người xã Minh Hương là Lý Thụy Long, quyên góp
xây dựng nhà chùa trang nghiêm, cửãa thiền u tịch...”.
Hồi
ấy, khi mới xây xong chùa, cư sĩ Lý Thụy Long có đến chùa
Từ Ân xin với Tổ Phật Ý cho một đệ tử về trụ trì
chùa của mình. Tổ Phật Ý đã cử Thầy Viên Quang về trụ
trì. Nếu kể từ đời trụ trì thứ nhất ấy đến nay thù
chùa Giác Lâm đã trải qua 10 đời trụ trì và chùa cũng được
gọi là tổ đình của dòng Lâm Tế ở miền Nam. Chùa đã
được trùng tu lớn hai lần:
Lần
thứ nhất từ 1799 đến 1804.
Lần
thứ hai từ 1906 đến 1909.
Xưa
kia xung quanh chùa còn vắng vẻ, chưa có nhà ở của dân chúng
lấn chiếm vào khuôn viên chùa như hiện nay, nên cảnh chùa
thật u tịch, đúng như câu đối ở chánh điện đã diễn
tả:
Tự
cổ Tăng nhàn thường dẫn yên hà vi bạn lữ;
Sơn
thâm thế cách chỉ bằng thảo mộc ký xuân thu.
Diễn
nôm:
Chùa
cổ sư nhàn, sẵn khói ráng kết duyên bầu bạn.
Non
sâu đời khất, nhờ có cỏ hoa ghi dấu tháng năm.
Hoặc:
Dưỡng
tính vô như thiền cảnh tỉnh;
Minh
tâm phương giác pháp môn thâm.
Diễn
nôm:
Dưỡng
tính gì hơn thiền cảnh tỉnh;
Minh
tâm mới thấy pháp môn sâu.
Các
câu đối ở chùa Giác Lâm hầu hết được khắc liền trên
cột rất công phu. Cả chùa có 98 cột dựng chạy dọc từ
ngoài vào trong, chia thành ba lớp nhà nên có người cho là
xây theo kiểu chữ (tam), nhưng không hẳn đúng vì các chùa
xây theo hình chữ “tam” như chùa Tây Phương, chùa Kim Liên
đều có ba dãy nằm theo chiều ngang: chùa thượng 5 gian, chùa
trung 3 gian và chùa hạ 5 gian.
Chùa
Giác Lâm tuy còn bộ cột gỗ cổ truyền nhưng tường bao quanh
đã được xây cất lại. Mặt tiền chính điện cũng không
còn lớp cửa bức bàn mà đã được xây gạch với bốn cửa
sổ và hai cửa đi như ở các tư gia (có gắn chống song sắt).
Nền nhà trong chánh điện cũng đã được lát gạch hoa.
Nói
chung, kiến trúc chùa Giác Lâm tuy bên ngoài có sửa đổi nhiều
so với lúc ban đầu, nhưng vẫn xứng đáng là ngôi chùa cổ
tiêu biểu nhất ở thành phố Hồ Chí Minh nên Bộ Văn hóa
đã xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia ngày
16-11-1988.
Các
chùa cổ khác như chùa Giác Viên, chùa Huê Nghiêm, chùa Phước
Tường, chùa Hội Sơn... đều đã sửa chữa mặt tiền nên
đã mang phần nào nét hiện đại, nhất là chùa Huê Nghiêm
ở Thủ Đức.
Riêng
chùa Gò (Phụng Sơn tự) tọa lạc tại số 1408 đường Ba
Tháng Hai, quận 11, tuy được khai sơn từ đầu thế kỷ XIX,
nhưng lúc ban đầu chỉ là một thảo lư, mãi đến năm 1904
mới được xây cất lại. Kiến trúc hiện nay được khánh
thành năm 1915. Cổng tam quan ngoài đường mới được xây
năm 1997. Nếu căn cứ vào bộ cột kèo cổ truyền bằng gỗ
thì chùa Gò được coi là ngôi chùa cổ, nhưng thực ra kiến
trúc ấy cũng mới được tạo dựng vào đầu thế kỷ 20
do công của Hòa thượng Tuệ Minh. Thời ấy chùa này còn chưa
có đường chạy qua nên cả khu vực còn rất hoang vắng. Chung
quanh gò còn có bàu sen rộng ở phía sau và phía trước có
hào nước bao bộc. Nay khuôn viên chùa đã bị lấn chiếm
: hào nước bị rác rưởi lấp cạn và bàu sen bị thu hẹp
lại bởi các căn nhà mọc lên quanh bờ.
Cảnh
trí chùa đã mất đi nhiều vẻ đẹp thiên nhiên nên cần
được tôn tạo để xứng đáng là một danh lam đã được
xếp hạng di tích văn hóa bậc quốc gia.
Chúng
tôi chỉ nói qua như vậy về mấy ngôi chùa cổ ở thành phố
Hồ Chí Minh, vì nếu đi vào chi tiết của từng chùa thì phạm
vi hạn hẹp của một bài thuyết trình không cho phép được
trình bày thêm.
NHỮNG
NGÔI CHÙA MỚI
Như
đã nói ở trên, chúng tôi chỉ kể là chùa mới những ngôi
chùa được lập từ sau năm 1900 dù cho có được tạo dựng
bằng khung gỗ cổ truyền với cột kèo rui mè... như chùa
Giác Huê ở huyện Hóc Môn hoặc chùa Giác Nguyên ở Bến Vân
Đồn, quận 4.
Các
ngôi chùa mới, nhất là các ngôi chùa ở ngoại thành, thường
có cảnh trí thiên nhiên đẹp đẽ nên thích hợp cho sự tu
hành hơn là ở trong nội thành ồn ào và chật hẹp về khuôn
viên. Chính vì lẽ này mà giữ thế kỷ thứ XX đến nay, phong
trào xây chùa theo kiểu mới, có lầu, có hội trường dùng
vật liệu hiện đại như xi-măng cốt thép, gạch hoa, chấn
song sắt, cửa kính mái ngói Tây hoặc mái đúc bằng bê tông...
trở nên thịnh hành.
Người
ta còn cho bắt đèn điện, đèn nê-ông, đèn màu hào quang
trên bàn thờ Phật thay cho những ngọn đèn dầu mù mờ...
Có
người thắc mắc, xây chùa theo kiến trúc mới thì không còn
giữ được vẻ đẹp truyền thống của dân tộc nữa, nhưng
vấn đề cũng không hẳn đơn giản như vậy.
Xưa
kia, dân chúng còn ở thưa thớt, đất đai rộng rãi nên chùa
không cần phải xây cho có qui mô như hiện nay gồm đủ cả
lầu gác, hội trường và giảng đường với các tiện nghi
công cộng.
Đáng
kể nhất, về mặt kiến trúc, là chùa Giác Hải ở đường
Hùng Vương, phường 12, quận 6, đã được xây như một ngôi
nhà thờ Thiên Chúa giáo. Chùa được khánh thành vào năm Canh
Dần (1820) như có ghi ở mặt tiền.
Bên
trong, chánh điện là một căn phòng rộng có trần khá cao,
nền nhà lát gạch bóng láng. Hai bên tường, mỗi bên có 8
cửa sổ, phía trên có cửa gương hình tròn. Có 10 cột xi
măng tròn chia chánh điện thành 3 gian theo chiều dọc. Cuối
gian giữa kê bàn thờ Phật. Ở đây không có một tấm bao
lam, một bức hoành phi hay một câu đối nào.
Đây
có thể là trong thời kỳ Pháp thuộc các công trình kiến
trúc đều do các kiến trúc sư người Pháp vẽ. Điều này
chúng ta cũng thấy phần nào ảnh hưởng của kiến trúc Pháp
qua các ngôi chùa cổ được trùng tu như đã nói ở phần
trên.
Về
sau, khi chế độ bảo hộ bị chấm dứt, chúng ta thấy các
kiến trúc sư Việt Nam đã có sự dung hòa hơn nhưng vẫn còn
chịu ảnh hưởng của kiến trúc Tây phương.
Trong
quyển Mỹ thuật Việt Nam, Nguyễn Phi Hoanh đã có nhận xét:
“Ngôi
chùa Xá Lợi ở Bà Huyện Thanh Quan tuy chưa đạt phong cách
dân tộc và nghệ thuật kiến trúc như chùa Vĩnh Nghiêm nhưng
cũng cho thấy kiến trúc sư biết áp dụng kỹ thuật kiến
thiết nhà thờ thiên Chúa ở Tây Âu vào việc xây dựng phần
chánh điện”.
Điều
nhận xét này cũng có phần đúng vì chánh điện chỉ thờ
có một pho tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở giữa có
hai hàng cột ngăn làm ba gian theo chiều dọc. Ngọn tháp ở
trước chùa cũng được dùng để treo quả hồng chung chứ
không dùng để thờ Phật.
Kiến
trúc này do hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá
Vinh vẽ họa đồ và đã do hai kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hà
Tố Thuận trông coi việc xây cất.
Chùa
Xá Lợi được khởi công ngày 5-8-1956 và khánh thành vào ba
ngày 2,3,4 tháng 5 năm 1958, đã mở đầu cho kiểu kiến trúc
“chùa hội trường”.
Nhưng
phải đợi đến khi có chùa Vĩnh Nghiêm thì nghệ thuật kiến
trúc mới mang nặng dấu ấn dân tộc.
Chính
Nguyễn Phi Hoanh trong quyển Mỹ thuật Việt Nam cũng đã có
nhận xét:
“Chùa
Vĩnh Nghiêm đánh dấu một thành công ít có của nghệ thuật
kiến trúc tôn giáo ta. Ngôi tháp bên ngoài nhắc nhở những
tháp vĩ đại nay không còn, của đời Lý mà sử sách đã
tả tỉ mỉ cái nguy nga đẹp đẽ như tháp Bảo thiên, tháp
Chương Sơn ở Ngô Xá v.v...".
Chùa
Vĩnh Nghiêm được khởi công năm 1964 và hoàn thành năm 1971
do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu với sự cộng tác
của hai kiến trúc sư Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Chùa
có một tầng trệt và một tầng lầu.
Tầng
trệt có giảng đường, văn phòng và Tăng phòng v.v..
Tầng
lầu có Phật điện là một tòa vũ nguy nga kiến trúc theo
kiểu chữ I (công) gồm có ba nếp: bái điện, bản điện
và Địa tạng đường.
Các
mái chùa đều uốn cong ở đầu góc, có hình đầu phượng
trang trí.
Chùa
Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa có kiến trúc đẹp đẽ nguy
nga, nhưng tiếc rằng khuôn viên lại không được rộng rãi
và vị trí lại ở trên một con đường đông xe cộ, ồn
ào náo nhiệt, không thích hợp với cảnh thiền vốn cần
sự yên tĩnh.
Chúng
tôi rất tiếc không thể giới thiệu chi tiết hơn về ba ngôi
chùa nói trên vì còn có rất nhiều các ngôi chùa khác cũng
rất đặc biệt về mặt kiến trúc như Ngọc Hoàng điện,
chùa Trường Thạnh, chùa Lâm Tế (quận 1), chùa Phước Hòa,
chùa Kỳ Viên (quận 3), chùa Kim Liên, chùa Giác Nguyên (quận
4), chùa Vạn Phật (quận 5), Hưng Minh tự, chùa Tuyền Lâm,
chùa Nam Phổ Đà (quận 6), chùa Pháp Quang (quận 8), chùa Ấn
Quang (quận 10), chùa Sùng Đức, chùa Linh Quang, chùa Huê Lâm
(quận 11), chùa Pháp Hoa, chua Đại Giác, Thanh Minh thiền viện
(quận Phú Nhuận), chùa Phổ Đà, chùa Dược Sư, tịnh xá
Trung Tâm (quận Bình Thạnh), chùa Phật Bảo (quận Tân Bình),
Quảng Hương Già Lam (quận Gò Vấp), tu viện Quảng Đức,
Nam Thiên Nhất Trụ (huyện Thủ Đức), chùa Huệ Nghiêm (huyện
Bình Chánh) v.v.. mà chúng tôi chưa đề cập đến được,
vì phạm vi hạn hẹp của bàn tham luận không cho phép chúng
tôi được nói rộng hơn nữa.
Chúng
tôi chỉ xin nói thêm rằng, nếu xét về mặt kiến trúc thì
mỗi chùa có một vẻ đẹp riêng, không chùa nào giống hẳn
chùa nào. Đến cổng tam quan các chùa cũng vậy, có chùa xây
thật nguy nga như cổng tam quan chùa Gò (Phụng Sơn tự), chùa
Huê Nghiêm, thiền viện Vạn Hạnh, chùa Lâm Tế, chùa Pháp
Hoa, Quảng Hương Già Lam...; có chùa lại xây cổng tam quan
thật giản dị như chùa Giác Lâm, chùa Phước Hòa, Nam Thiên
Nhất Trụ v.v.. Những dù lớn hay nhỏ, cổng tam quan cũng phải
phù hợp với khuôn viên của ngôi chùa. Nếu khuôn viên nhỏ
quá, sân trước ngắn quá mà xây cổng tam quan như chùa Lâm
Tế (quận 1) thì cổng tam quan sẽ che lấp cả ngôi chùa, không
còn gì là vẻ mỹ quan nữa.
Ở
các chùa mới, chánh điện thường được thiết trí ở tầng
lầu, phong quang và rộng rãi. Mái chùa đều không có uốn
cong ở các đầu góc như chùa Vĩnh Nghiêm.
Tháp
chùa thì có nhiều hình loại khác nhau, đáng kể hơn cả là
tháp chùa Xá Lợi và tháp chùa Vĩnh Nghiêm. Tháp mộ cũng rất
đa dạng và cũng có nhiều kiểu xây đắp công phu như các
tháp Tổ chùa Giác Lâm, chùa Giác Viên... hoặc giản dị như
các tháp mộ ở chùa Hội Sơn, chùa Long Thạnh...
Cho
nên, ở thành phố Hồ Chí Minh, mới có 300 năm lịch sử,
chỉ còn có mấy ngôi chùa cổ thì chúng ta - nhất là các
vị trụ trì các ngôi chùa ấy - phải bảo tồn lấy các kiến
trúc xưa, không nên vì cái đẹp hào nhoáng bề ngoài mà hiện
đại hóa đi.
Chúng
tôi lại cũng yêu cầu các cấp chính quyền lưu tâm đến
các ngôi chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa
cấp quốc gia, hãy có biện pháp hữu hiệu giải tỏa các
phần đất bị lấn chiếm để cho cảnh quan các chùa ấy
được tôn nghiêm đúng với chủ trương của nhà nước và
cũng để làm cho thành phố được mỹ quan hơn nhân dịp kỷ
niệm 300 năm lịch sử.«
(1)
Địa chỉ ban đầu ở đường Võ Văn Tần, ngày nay khoảng
góc Lê Quí Đôn - Võ Văn Tần.
(2)
Khoảng khu chợ Đũi.
Đặc
trưng kiến trúc truyền thống của chùa Nam Bộ
HUỲNH
NGỌC TRẢNG
Đặc
điểm phổ biến của kiến trúc thờ tự bao gồm đình, chùa,
miếu, võ - ở Nam bộ phân biệt rõ rệt với kiến trúc dân
dụng là ngôi nhà tứ trụ. Nói cách khác nhà tứ trụ là
kiến trúc để thờ thần, thờ Phật và không một ai cả
gan làm một ngôi nhà theo kiểu tứ trụ để ở. Tại sao lại
có điều kiêng kỵ này? Đây là câu hỏi mà ở bài tham luận
này, chúng tôi thử tìm cách giải đáp.
I.
Kiểu nhà tứ trụ là kiểu kiến trúc nhà rường (còn gọi
là xiên trính/xuyên trếnh), một trong hai kiểu kết cấu phổ
biến của thức kiến trúc Đàng Trong. Cái khác của nhà tứ
trụ và nhà rường dân dụng là bốn cây cột cái bố trí
cách đều nhau ở bốn góc một diện tích hình vuông, và từ
4 cột cái đó, các kèo đấm và kèo quyết đưa đều ra 4
hướng tạo thành một ngôi nhà vuông vức. Nhà tứ trụ khác
nhà rường dân dụng là ở chỗ gian trung tâm hình vuông thay
vì hình chữ nhật, và như thế không gian nội thất được
mở rộng đều ra bốn phía, xác lập một không gian trung tâm
- hiểu là ở giữa và quan trọng nhất, vuông vắn và không
thiên lệch về kích cỡ cho bốn phương tám hướng.
II.
Vấn đề tiếp theo là tại sao không gian vuông vắn ấy được
coi là thiêng, dành cho việc thờ tự thần, Phật?
Một
cách trực quan rất dễ nhận ra, đó là kiểu thức của một
ngôi tháp. Nhiều nhà nghiên cứu đã giải lý từ “chùa chiền”
của tiếng Việt bắt nguồn từ âm của từ Stupa và Caitya.
Stupa
(sanskrit) hay dagoba (Pàli) dịch và âm Hán là phù đồ, tháp...
nguyên nghĩa là gò, đống, ụ đất cao và tháp đài để chứa
đựng hài cốt người chết,đặc biệt là xá lợi của Phật.
Caitya
cũng có nghĩa gần như stupa tức cũng là nơi để hài cốt,
xá lợi nhưng lại hàm nghĩa rộng hơn: là nơi để kinh tạng,
ảnh tượng - hiểu là nơi thờ, chùa miếu.
Nói
chung, stupa/caitya du nhập vào xứ ta, được gọi chung chung
là “chùa chiền”, hay gọi nghiêm túc hơn là chùa tháp -
với sự phân biệt chùa khác với tháp, mặc dù đều nằm
trong tổng thể một cụm kiến trúc Phật giáo (PG) - gọi chung
là chùa. Rồi trong tiến trình lịch sử, chùa là kiến trúc
có nhiều canh cải và càng ngày càng biến đổi khác xa với
kiểu thức của stupa/caitya nguyên thỉ.
Trong
sự tiến hóa đó ngôi nhà tứ trụ là kiểu thức kiến trúc
thờ tự còn bảo lưu được những đặc trưng cơ bản của
stupa/caitya - kiến trúc thờ tự truyền thống của PG mà ngay
nay chúng ta có thể tìm thấy ở các di tích cổ của PG ở
khắp châu Á - đặc biệt nhất là tháp Sãnchi (thế kỷ I
trước Tây lịch - thế kỷ I sau Tây lịch, ở Madya Pradesh/Ấn
Độ). Nói cách khác, việc sử dụng kiểu nhà tứ trụ để
làm chánh điện thờ Phật như một chuẩn tắc phổ biến
và duy trì mãi đến nay (trong một số chùa mới làm bằng
bê tông cốt sắt) có thể coi là sự bảo lưu truyền thống
kiến trúc stupa/caitya ; và mặt khác, việc chọn kiểu nhà
trứ trụ để làm đình, miếu, võä để thờ tự các thần
linh ở Nam bộ là chứng tích chỉ ra sự ảnh hưởng của
kiến trúc PG đối với kiến trúc miếu, vũ của các tín ngưỡng
dân gian và truyền thống khác ở mảnh đất này. Đó là một
ảnh hưởng của PG đối với văn hóa phương Nam (hay rộng
hơn là Đàng Trong).
III.
Về kiểu nhà tứ trụ, có ý kiến cho rằng đó là kiểu thức
kiến trúc bắt nguồn từ dịch lý gọi là kiểu nhà tứ tượng:
thái âm - thiếu dương - thái dương - thiếu âm; đây là kiến
giải tư biện pha chút màu sắc phong thủy và định vị ngũä
phương theo thuyết ngũ hành mà thế nhân đời sau, do ảnh
hưởng của đạo giáo/nho gia đề xuất ra.
1.
Trở lại ngôi chính điện của chùa Phật ở Nam bộ để
quan sát, chúng ta thấy rằng việc thiết lập Đại Hùng bửu
điện ở khu trung tâm ngôi nhà tứ trụ và cách bài trí tượng
thờ ở bửu điện là sự tái lập có tính chất tượng trưng
ngọn núi TuDi - một ngọn núi trung tâm của thế giới theo
vũ trụ luận Phật giáo. Theo đó 4 hướng của TuDi là 4 cõi:
1) Bắc Cu Lư châu/Uttarakuru, 2) Nam Thiệm Bộ Châu/Jambhuvipa
(là trái đất của chúng ta), 3) Tây Ngưu Hóa Châu/Godana và
4) Đông Thắng Thần Châu/Purva-videha. Bốn cõi ấy bao quanh
núi TuDi có bốn vị Thiên vương (Tứ Đại Thiên Vương) thống
quản: 1) Trì Quốc Thiên Vương/Phrtarastra; 2) Quảng Mục Thiên
Vương/Virùpàka; 3) Tăng Trưởng Thiên Vương/Virùdhaka; 4) Đa
Văn Thiên Vương/Dhanada. Theo Phật thoại, Phật Bổn Sư Thích
Ca đã có ngự đến núi TuDi để thuyết pháp và 4 vị Tứ
Thiên Vương (cùng với chư Phật, Bồ Tát, Long thần hộ pháp...)
đều đến nghe pháp và rất hoan hỷ nguyện hỗ trợ Phật
pháp và các bậc tu hành. Đây là một trong những căn cứ
để từ đó biện sự ra cách bài trí Phật điện cũng như
kiểu thức kiến trúc chính điện của chùa. Mô hình tượng
trưng như vậy rất dễ nhận thấy ở các chùa Nam bộ mà
đặc biệt là chính điện chùa Giác Viên với các tượng
Tứ Đại Thiên Vương được đặt ở bốn góc trên trính
của gian trung tâm nếp nhà tứ trụ. Nói cách khác, ngôi chính
điện tứ trụ trong chừng mựåc nhất định được coi là
hình ảnh tượng trưng cho núi TuDi và Phật điện là ảnh
tượng tái hiện cuộc pháp hội lớn đã từng diễn ra ở
đó.
2.
Tất nhiên điều này cũng bị tác động của những quan niệm
khác mà rõ rệt nhất là sự kết hợp với các thành phố
khác nhằm biểu thị của một đàn tràng (mandala/mandâra: linh
phù, đạo tràng). Mandàla, theo cách hiểu trực quan và đơn
giản là một đồ án (diagram) hay một sơ đồ biểu hiện
về thế giới/vũ trụ. Nó được căn cứ vào đó để thể
hiện một điện thờ tròn hay vuông, nhiều lớp đồng tâm.
Ở đó đặt tượng Phật, Bồ Tát thành nhóm, hay nhiều nhóm.
Borobudur
(Indonesia) là một kiến trúc tiêu biểu. Nó vừa là một caitya
(chandi/tháp) vừa là một đàn tràng mà tất cả tượng và
tranh khắc/vẽ đều hướng về trung tâm; hay nói cách khác,
borobudur là những cụm kiến trúc nghệ thuật hướng ra 4 hướng
(và cái tâm trống rỗng). Đối với PG/chơn ngôn tông, mandàla
là một tập hợp những thế lực linh thiêng đủ loại có
khả năng bảo hộ nhà cửa, tịnh thất... Còn đàn hay đạo
tràng, theo quan niệm thông thường được coi là tu hành (một
cuộc đất, một chỗ ngồi): nơi ấy người tu học ngồi
thiền định mà thâu nhiếp sự linh thiêng của chư Phật,
chư thánh, chư tiên, chư thần bảo hộ cho nơi ấy và rộng
hơn là bảo hộ cho nhà ở, tịnh thất. Do đó, chùa được
xây dựng theo mô hình đó. Như vậy, sự kết hợp giữa một
stupa/ hay caitya và mandàla đã mở ra khả năng dung nạp nhiều
đối tượng thờ tự vào ngôi chính điện, và ngôi nhà tứ
trụ ấy cũng được phân bố mặt bằng ra những khu vực
thờ tự riêng, bao quanh bửu điện/tu di sơn.
IV.
Nói chung, kiểu nhà tứ trụ đã biểu thị những nguyên lý
khác nhau để tạo nên ngôi chính điện có tính chất vừa
khế lý vừa khế cơ. Đó là đặc trưng đáng chú ý của
bộ phận chính yếu của tổng thể kiến trúc chùa Nam bộ.
Từ
những năm đầu thế kỷ này đến nay, kiến trúc chùa ở
Gia Định-Sài Gòn, ở Nam bộ nói chung, có nhiều thay đổi
theo những xu hướng và kiến trúc đa dạng. Một ít chùa khi
tái thiết, tuy có kiểu thức mới, song còn bảo lưu chính
điện kiểu tứ trụ; còn đa phần thì theo kiểu khác - có
chùa lại theo kiểu kiến trúc trở đòn dông dọc của nhà
thờ, hay chú tâm đến giảng đường nhiều hơn chính điện.
Mọi sự canh cải đều đáng được trân trọng vì có
như vậy mới thích ứng được với yêu cầu thực tế của
mỗi thời đại.
Tuy
nhiên, những cải đổi đó, trừ một vài trường hợp, đa
phần là đa tạp và chưa định hình thành một mẫu mực nào
nhất định - nhất là mẫu mực “cách tân truyền thống”.
Trong quá trình đó cũng kéo theo sự cải đổi điện thờ.
Chẳng hạn như chỉ thờ ở chính điện một tượng Phật
Thích Ca duy nhất được thêm vào hai bên: một Bồ Tát Quan
Thế Âm có chức năng độ sanh; một bên là Địa Tạng Vương
Bồ Tát có chức năng độ tử là một bước tiến khá xa
với chính điện truyền thống.
Rõ
ràng, việc đề xuất chỉ thờ một Phật tượng là nhằm
“nhất tâm bất loạn” có thể được coi là rất hợp lý,
nhưng trong thực tế xu hướng này có phần cực đoan, có tính
chất khế lý mà không lưu tâm đến tính chất khế cơ. Ngược
lại, việc đưa Bồ Tát độ sinh và Bồ Tát độ tử ở vị
trí tả hữu Phật Bổn Sư lại coi ra có phần thực dụng;
vì với Phật điện này có khả năng dẫn đến xu hướng
quá chú tâm đến tính chất “khế cơ” và vô hình chung
làm nhạt đi tính chất khế lý. Tất nhiên, việc “chất
chồng” vào Phật điện đủ thứ tượng thờ, cũng như việc
lạm dụng thiết bị chiếu sáng chớp tắt màu mè lòe loẹt...
lại đã làm mất hẳn tính chất trang nghiêm thanh tịnh của
chốn thiền môn. Đây là câu chuyện của một vấn đề khác.
30-4-1998
(1)
A dictionary of the chinese Buddhist term. Broadway House xb, London, 1937.
Stupa xem các trang 342a, 343a, 359a, 389a; Caitya xem các trang 152b,
227b, 250b, 336b, 342a, 444b.
Chùa
Sùng Đức 300 năm tồn tại và phát triển
Ni
sư thích nữ mỹ thuận
Cách
đây 300 năm, chúa Nguyễn Phúc Chu, vốn là người mộ đạo,
đã trùng tu và xây dựng nhiều chùa chiền, và đạo Phật
được xem là quốc đạo.
Hiện
nay Phật giáo (PG) Việt Nam đang ở thời kỳ phát triển. Bao
tầng lớp nhân dân đều tìm về cội nguồn. Đặc biệt tại
thành phố Hồ Chí Minh đã ôn lại quá trình phát triển của
thành phố 300 năm, trong đó Phật pháp đã khai dẫn nhiều
ý thức kết hợp Đạo và Đời thành triết lý sống cao đẹp.
Đặc biệt trên vùng phía Bắc Sài Gòn, và trong số hơn 200
ngôi chùa, chùa Sùng Đức là một cơ sở tín ngưỡng đã
đóng góp thiết thực vào sự phát triển của Sài Gòn-Gia
Định xưa và nay. Cụ thể tại chùa Sùng Đức, qua các thời
kỳ dân tộc Việt Nam đang bị áp bức dưới sự thống trị
của các thế lực ngoại xâm, chùa đã tham gia phong trào kháng
chiến chống Pháp, chống được nạn bệnh tật, nghèo dốt
với mục đích phát huy tinh thần từ bi, vô ngã của đức
Phật.
A.-
KIẾN TRÚC CHÙA SÙNG ĐỨC XƯA VÀ NAY
Chư
vị tiền bối xưa đã chọn phần đất 14.600m2 tọa lạc tại
ấp Bình Thọ, phường Trường Thọ, làm nơi tôn nghiêm thờ
phượng để kết hợp Đạo và Đời.
Vào
năm 1806, một Phật tử tục gọi là Kiển, cúng dường mảnh
đất nói trên. Chính ông bà Kiển cũng đứng ra xây một ngôi
chùa với kiến trúc đơn sơ và cung thỉnh chư Sư về trụ
trì nơi đây, từ đó chùa Sùng Đức được hình thành và
phát triển.
Cùng
với Sài Gòn 300 năm, chùa Sùng Đức đã trải qua 14 đời
Hòa thượng (HT) kế thừa, lãnh đạo ngôi vị trụ trì. Hiện
nay bài vị của chư Tổ sư được an trí tại Tổ đường.
Cùng
với sự biến thiên của thời gian, ngôi chùa cổ đã xuống
cấp. Đến năm 1967, HT Thích Tuệ Hải đã trùng tu, tôn tạo
về phần chánh điện, bằng cách thay thế kiến trúc nhẹ
cũ thành một cơ sở tôn giáo trang nghiêm hơn để phù hợp
với tín ngưỡng của đồng bào Phật tử.
Phần
tiền đường được kiến trúc với hai mái cong được lợp
bằng ngói vẩy cá thay cho ngói âm dương.
Tổ
đường phía sau chánh điện vẫn giữ nguyên được nét cổ
kính, là nơi thờ phượng chư vị Tổ sư có công khai sáng
và trùng tu chùa Sùng Đức. Vào năm 1990 đã được kiến tạo
thêm cổng tam quan với chiều cao là 7,5m, ngang là 12m. Một
giảng đường có sức dung chứa hơn 200 đồng bào Phật tử,
một thiền đường được xây dựng nơi khu đất yên tĩnh,
rộng rãi. Ngoài ra, chùa còn có vườn tháp là nơi an trí chư
vị Tổ sư.
Cơ
sở từ thiện gồm có lớp học tình thương và phòng khám
bệnh, phát thuốc từ thiện.
Ngoài
các kiến trúc, chùa còn những cổ vật có giá trị lịch
sử :
- Quả
chuông cổ có giá trị lịch sử hơn 300 năm. Chuông được
đúc từ thời Đại Cồ Việt.
- Tượng
Phật Thích Ca được nhà điêu khắc thực hiện trên một
cây gỗ mít lớn và những bức hoành phi, câu đối có thời
gian hơn 100 năm, làm cho ngôi cổ tự càng thêm phong phú về
mặt thời gian.
B.-
SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHÙA SÙNG ĐỨC
Phần
kiến trúc chưa đủ để nói lên thành tựu của chùa Sùng
Đức. Quan trọng là tâm linh nội dung tiêu biểu cho ý nghĩa
cao cả của ngôi chùa. Sự gắn bó Đạo và Đời được ghi
nhận trên phương diện giúp nước, cũng như trên lãnh vực
truyền bá Phật pháp được thể hiện qua những việc làm
sau:
1-
Thành quả cách mạng của chùa Sùng Đức
Trải
qua hai cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chùa Sùng Đức là
một cơ sở cách mạng, nuôi dưỡng cán bộ và chiến sĩ,
nơi quy tụ biết bao nhà sư và tín đồ đã hy sinh cho nền
độc lập tự do của dân tộc.
Vào
năm 1940-1945, HT Thích Pháp Linh, thế danh Phan Thanh Hà, pháp
hiệu Hồng Liên, nguyên trụ trì chùa Sùng Đức, là một bậc
chân tu học thức uyên bác, là nhà hoạt động cách mạng,
đã đóng góp vào cuộc thành tựu cách mạng bằng cách vận
động tuyên truyền giáo dục Tăng Ni và tín đồ Phật tử
tinh thần yêu nước, yêu quê hương, nhất là tham gia kháng
chiến tại Gia Định, là Ủy viên Huyện ủy tỉnh Gia Định,
không những Hòa thượng chiến đấu sức người, sức của
mà còn là chủ bút của tờ tuần báo Tiến Hóa, trụ sở
đặt tại chùa Tam Bảo - Rạch Giá, Kiên Giang, phát hành được
14 số. Tuần báo kêu gọi, động viên giới Tăng Ni và đồng
bào Phật tử phát huy lòng yêu nước, bảo vệ Tổ quốc dưới
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản. Ngoài ra, tại
chùa Hòa thượng còn thành lập cơ sở dệt vải, tạo môi
trường để chiến sĩ cách mạng thuận lợi hoạt động.
Ngài
là một pháp sư lỗi lạc, cho nên dân gian có câu tục ngữ
: “Nhứt Chiếu, nhì Linh, tam Không, tứ Đạo”. (Chiếu là
Sư Thiện Chiếu, Linh là HT Pháp Linh, Không là Sư Thái Không,
Đạo là Sư Thành Đạo).
Thực
dân Pháp phải nể sợ khi nghe nhắc tới câu tục ngữ này.
Năm
1941, HT Pháp Linh bị giặc bắt đày ra Côn Đảo. Để ghi công
đức của HT, năm 1997, Phòng Văn hóa lấy tên HT Thích Pháp
Linh để đặt tên đường, thay thế cho đường Truông Tre
tại địa phương.
Chùa
Sùng Đức là nơi hoạt động cách mạng của nhiều vị có
tên tuổi như Thiếu tướng Đào Sơn Tây hiện đang sống tại
Thủ Đức, đã cùng tham gia cách mạng hoạt động chính trị
với HT Thích Pháp Linh.
Trong
tông môn của HT Thích Pháp Linh hiện nay còn có HT Thích Huệ
Thành, hiện là Phó Pháp chủ Giáo hội PG Việt Nam.
2-
Hoạt động chủ yếu hiện nay
Hoạt
động chính của chùa vẫn là nơi truyền bá giáo lý. Mỗi
tháng, chùa tổ chức thọ Bát quan trai 4 lần và dạy giáo
lý cho Phật tử hàng tuần. Ngoài ra trong những tháng an cư
kiết hạ tổ chức nhiều buổi thuyết giảng do những vị
giảng sư tại Thành hội đảm trách, sinh hoạt Phật pháp
tại chùa lúc nào cũng phù hợp với Hiến chương của Giáo
hội và Hiến pháp của Nhà nước, kết hợp hài hòa giữa
Đạo và Đời. Ngoài ra, thể hiện tinh thần người con Phật
qua phương châm “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư
Phật”, chùa Sùng Đức đã thực hiện trạm chữa bệnh,
phát thuốc từ thiện, thực hiện thường xuyên mỗi tháng
bốn kỳ cho những người già neo đơn, với số bệnh nhân
hơn 100 người mỗi lần, khám bệnh do các bác sĩ có tên tuổi
ở các bệnh viện lớn trong thành phố đảm trách, và đã
tạo được niềm tin cho nhân dân địa phương. Ngoài việc
khám bệnh, chùa Sùng Đức còn có lớp học tình thương cho
những con em nghèo không có điều kiện đến trường, số
học sinh hiện nay hơn 100 em, chia làm 4 lớp: 2 lớp Một, 1
lớp Hai và 1 lớp Ba, và có những sân chơi rộng, thoáng mát.
Nhân
dịp kỷ niệm 300 năm lịch sử của thành phố Hồ Chí Minh
(Sài Gòn-Gia Định), người am hiểu lịch sử phải nghĩ ngay
đến sự đóng góp hữu hiệu của PG. Từ sự vận động
phát triển, từ sự đóng góp của cách mạng yêu nước và
từ sự phổ biến đạo lý con người đến sự trưởng thành
của đất nước là thừa kế nền giáo lý của Phật pháp.
Sự phát triển vật chất và trí tuệ, từ đó được tiếp
nối theo trong lịch sử. Đặc biệt, chùa Sùng Đức cũng đã
đóng góp phần nào vào sự phát triển của thành phố 300
năm.
Trong
phạm vi nhỏ hẹp, chùa Sùng Đức đã nói lên được tinh
thần yêu nước, tư tưởng lợi tha, ý niệm phát triển trí
tuệ và vật chất của con người.
Với
phương châm “tốt Đạo đẹp Đời”, là viên gạch xây
ngôi nhà Phật pháp ngày thêm vững mạnh cùng với các công
tác từ thiện v.v..., tất cả được chùa Sùng Đức chủ
trương thực hiện nhằm đem ánh sáng của đức Phật tỏa
khắp mọi nơi để chúng sanh được an lành và hạnh phúc.