Phần
4 - Các phong trào phật giáo
Từ
phong trào chấn hưng Phật giáo
-
một số suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam
với
tiến trình thống nhất dân tộc
Hòa
thượng THÍCH THANH TỨ
Phó
Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN
Trong
buổi tiếp xúc với đại biểu Hội nghị Thống nhất Phật
giáo (PG) Việt Nam ngày 8-11-1981, tại Phủ Chủ tịch, ngài
Phạm Văn Đồng (khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)
đã nói: “Trong quá khứ, PG Việt Nam đã gắn chặt với dân
tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử
đã xác nhận PG Việt Nam là một tôn giáo, từ bản chất
bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình biểu
hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân
tộc, với Tổ quốc” (1). Thật xác đáng và ý nghĩa sâu
sắc lời nhận định của một vị nguyên thủ về PG Việt
Nam, trong bối cảnh lần đầu tiên trong 2000 năm lịch sử
PG Việt Nam, 6 năm sau khi nước nhà thống nhất, đại biểu
của đủ các tổ chức, giáo hội, hệ phái PG từ khắp ba
miền vân tập về thủ đô Hà Nội với một quyết tâm chung
xây dựng hoàn thành ngôi nhà chung Giáo hội PG Việt Nam.
Nhân
ý đó, trong khuôn khổ của cuộc Hội thảo “300 năm PG Gia
Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh”, tôi có đôi dòng suy nghĩ
về phong trào vận động chấn hưng PG ở Nam Kỳ trong những
thập niên đầu của thế kỷ XX, đặt nó trong cảm thức
chung về PG Việt Nam với tiến trình thống nhất dân tộc
trong lịch sử.
Như
chúng ta đã biết, từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ
II sau Tây lịch, theo chân các Tăng sĩ và thương nhân người
Ấn, những hạt giống bồ đề đầu tiên đã được gieo
trồng và kết quả trên đất Giao Châu. Luy Lâu đã nhanh chóng
trở thành trung tâm PG sầm uất của cả khu vực.
Năm
43 sau Tây lịch, đất nước ta rơi vào tay nhà Hán, bước
vào thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc. Trong
bối cảnh nước mất nhà tan, tư tưởng - văn hóa - lối sống
PG đã hòa quyện với văn hóa - đạo lý truyền thống của
người Việt cổ, trở thành vũ khí tinh thần chống lại sự
xâm lược, nô dịch tinh thần bằng Hán Nho của các triều
đại phong kiến phương Bắc. Sự tích Tứ pháp (ở Dâu - Keo)
là một hình ảnh đẹp về sự hội nhập một cách tự nhiên,
hài hòa mà sâu sắc giữa PG và dân tộc ngay từ buổi đầu
gặp gỡ.
Cùng
với quá trình trưởng thành của dân tộc, sự truyền bá
của các dòng thiền (như Tỳ Ni Đa Lưu Chi năm 580, Vô Ngôn
Thông năm 820), PG đã trở thành lực lượng vật chất và
tinh thần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà Lý Nam Đế (544-548) - vị
“đế” đầu tiên của nước ta - ngay sau khi lên ngôi, việc
đầu tiên là cho dựng chùa Khai Quốc (chùa Mở nước) ở
giữa kinh đô. Vị vua tiếp theo lại lấy hiệu là Lý Phật
Tử (người con Phật họ Lý). Thần tích, thần phả cung cấp
cho ta một danh sách dài những vị tướng ở thời kỳ này
có liên quan đến PG. Cho dựng chùa “Mở nước” ở giữa
kinh đô, từ thuở đó, phải chăng Lý Nam Đế đã nhận thức
rõ vai trò của PG trong việc xây dựng và củng cố khối đoàn
kết thống nhất dân tộc, mà ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin
vẫn đánh giá cao “chức năng liên kết của tôn giáo”.
Trong
buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập dân tộc
Ngô - Đinh - Lê, các Thiền sư cao tăng đồng thời cũng là
những nhà chính trị - quân sự - ngoại giao xuất sắc của
thời đại. Thiền sư Vạn Hạnh thực sự là “người cha
tinh thần”, “người kiến trúc sư” của vương triều Lý,
là người “trụ tích trấn vương kỳ” (chống gậy thiền
bảo vệ quốc gia - thơ truy tán của Lý Nhân Tông). Chính văn
hóa PG là nguồn sức mạnh tinh thần quan trọng tạo nên những
chiến công hiển hách “phạt Tống, bình Chiêm, sát Thát”
của thời đại Lý-Trần, tạo nên thần thái, bản sắc văn
hóa Thăng Long - văn minh Đại Việt huy hoàng. Các Thiền sư
- hoàng đế thời Trần đã lập nên thiền phái Trúc Lâm,
một thiền phái - hệ tư tưởng đầu tiên và duy nhất ở
Việt Nam.
Thế
kỷ XVII, lịch sử dân tộc và lịch sử PG Việt Nam bước
sang một trang mới. Do điều kiện địa - chính trị (Géo -
Politique) cụ thể, cùng với “giữ nước”, “mở nước”
là yêu cầu bức thiết đặt ra lúc bấy giờ. Cùng với những
đợt di dân có tổ chức và tự do, PG cũng từ Đàng Ngoài
lan truyền vào Đàng Trong, tới tận cùng miền đất mới Nam
Kỳ, xen cư và phát triển bên các tín ngưỡng - tôn giáo bản
địa. Tuy nhiên, biên giới chính trị sông Gianh nghiêm ngặt
đã chia cắt hai miền (xem hành trạng Thiền sư Hương Hải).
Năm
1802, Nguyễn Ánh thống nhất ba miền đất nước. Tuy nhà Nguyễn
coi Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, nhưng các vua, vương
phi, công chúa và đại thần cũng không kém phần sùng Phật.
Vùng đất Gia Định-Sài Gòn xưa - từng là hậu phương tin
cậy của Nguyễn Ánh - có nhiều chùa được “sắc tứ”.
Bằng
hệ thống các chính sách về kinh tế và chính trị, các vua
đầu triều Nguyễn đã tích cực và có hiệu quả trong sự
nghiệp xây dựng một nền văn hóa thống nhất, trong đó có
Phật giáo. Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên
xâm lược nước ta, sự nghiệp đó bị dang dở.
Hòa
ước Pa-tơ-nốt ký ngày 6-6-1884, thực chất là một hàng ước,
đã chính thức thừa nhận nền thống trị của thực dân
Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Thực dân Pháp chia nước ta làm
3 kỳ, với 3 hình thức cai trị, 3 thể chế chính trị khác
nhau. Hậu quả của chính sách khai thác thuộc địa cùng với
sự du nhập xô bồ lối sống thực dụng theo kiểu tư sản
phương Tây xa lạ với truyền thống văn hóa phương Đông,
thái độ bảo thủ và bất lực của nhà Nguyễn đã gây nên
một làn sóng đấu tranh để “phản đế, bài phong”, đòi
hỏi duy tân đất nước ở khắp ba miền Trung-Nam-Bắc. Hệ
tư tưởng Nho giáo đã tỏ ra bất lực trước yêu cầu mới
của lịch sử, của nhu cầu duy tân đất nước. Câu hỏi
cần thiết đặt ra là : Vậy đâu là nền tảng đạo lý của
công cuộc duy tân ? Ngoài những câu hô hào chung chung như “đồng
bào, đồng tâm, ái quốc”..., bằng cách nào tập hợp được
quần chúng, cố kết được đồng bào? Trước tình hình đó,
những sĩ phu Nho học có đầu óc tân tiến, những thiền sư
- học giả giàu lòng yêu nước đã quay lại lục tìm những
di sản của truyền thống, những triều đại huy hoàng thuở
trước, hy vọng tìm được câu trả lời, và họ đã tìm
đến PG, như là một lực lượng tinh thần chống lại sự
nô dịch tinh thần, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân
tộc, như là một phương thức hữu hiệu để cổ động,
tập hợp lực lượng dân tộc.
Cùng
với ảnh hưởng của phong trào chấn hưng PG ở Trung Quốc,
xuất phát từ yêu cầu của bản thân các tổ chức PG trong
nước, theo tôi, đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới
sự bùng nổ và quy định mục tiêu của phong trào chấn hưng
PG ở Việt Nam - một phong trào tuy diễn ra trong một thời
gian ngắn nhưng có sức lan tỏa rất rộng, có ảnh hưởng
to lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội và tinh thần
của lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử PG Việt Nam nói
riêng thời cận đại (2).
Phong
trào chấn hưng PG xuất phát từ Nam Kỳ nhanh chóng nở rộ
khắp cả ba miền. Hội “Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học”
chính thức ra đời ngày 26-8-1931 tại Sài Gòn, Hội “Phật
học Kiêm tế”, Hội “Lưỡng Xuyên Phật học” của vùng
sông Tiền, sông Hậu. Trung Kỳ có Hội “An Nam Phật học”
ở Huế được thành lập năm 1932. Bắc Kỳ có Hội “Bắc
Kỳ PG” thành lập ngày 18-11-1934 tại chùa Quán Sứ, và Hội
“Cổ sơn môn” của tổ đình Hồng Phúc.
Dù
nội dung của phong trào rất rộng lớn, trên hầu hết các
lĩnh vực của giáo lý - giáo luật - giáo hội đều có rất
nhiều vấn đề được nêu lên để thảo luận nhằm cải
cách hoặc chấn hưng, nhưng có một nội dung cực kỳ quan
trọng có tính nhất quán ở cả ba miền là : nhằm xây dựng
một tổ chức PG Việt Nam thống nhất chung trong toàn quốc
và phổ cập hoằng pháp bằng chữ quốc ngữ. Từ những cuộc
thăm viếng cá nhân hoặc giữa các tổ đình hệ phái cho đến
những tranh luận nhiều khi khá gay gắt trên các cơ quan ngôn
luận của các Hội, dù hữu thức hay vô thức, kết quả khách
quan đưa lại đã góp phần tìm ra tiếng nói chung, xóa đi
những bất đồng, tạo ra bầu không khí hiểu biết nhau hơn
giữa các sơn môn hệ phái trong từng miền và trên phạm vi
toàn quốc. Tiếp bước của phong trào “Đông Kinh nghĩa thục”
trong việc truyền bá chữ quốc ngữ, một khối lượng Tam
tạng Thánh điển bằng chữ Hán và các tài liệu nghiên cứu
Phật học được biên dịch viết bằng chữ quốc ngữ được
phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Nếu khẳng định chữ
quốc ngữ là yếu tố quan trọng trong công cuộc xây dựng
và củng cố nền thống nhất quốc gia dân tộc, thì trên
lĩnh vực này, đóng góp của phong trào chấn hưng PG vượt
trội phong trào Đông Kinh nghĩa thục cả về bề rộng lẫn
chiều sâu.
Có
thể coi cuộc vận động của Thiền sư Khánh Hòa dẫn tới
sự ra đời của một “Thích học đường” và một “Phật
học thư xã” đầu năm 1928, với sự tham gia của Thiền sư
Huệ Quang và nhiều vị tôn túc khác, là khúc nhạc dạo đầu
của phong trào chấn hưng PG ở Việt Nam, với mục tiêu tiến
tới xây dựng một Tổng hội PG toàn quốc, chùa Linh Sơn ở
Sài Gòn - “một giao điểm động... luôn nhạy bén với phong
trào cách tân...” (trích báo cáo đề dẫn của Ban Tổ chức
Hội thảo), là nơi châm ngòi nổ cho phong trào.
Từ
trước đó, năm 1927, đọc tin trên báo Thực Nghiệm xuất
bản ở Hà Nội, được biết Thiền sư Tâm Lai có ý nguyện
chấn hưng PG, Thiền sư Khánh Hòa lập tức cử người đồng
chí nhiệt tình là Thiền sư Thiện Chiếu ra Bắc, gặp Tăng
cang Thiền sư Đỗ Văn Hỷ ở chùa Bà Đá để đến tổ đình
Tiên Lữ bàn với Thiền sư Tâm Lai về việc xây dựng một
Hội PG toàn quốc và chấn hưng PG. Trên đường về Nam, Thiền
sư Thiện Chiếu ghé qua Huế trao đổi vấn đề này với các
Thiền sư tôn túc ở miền Trung. Bởi nhiều lý do, tuy mục
đích chuyến đi của Thiền sư Thiện Chiếu không thành, nhưng
nó đã có tác dụng lớn trong việc cổ xúy cho phong trào chấn
hưng PG ở cả ba miền, chuẩn bị một Hội PG toàn quốc.
Từ đây, việc trao đổi Tăng sinh - giảng sư giữa các tổ
đình, giữa các thiền đường, thiền viện của các miền
diễn ra thường xuyên là chuyện bình thường.
Phong
trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày càng
lên cao. Sẵn tinh thần Lục hòa vô ngã, là Phật tử trên
đất Việt, hơn ai hết, hiểu rõ về nghĩa “Tứ ân” không
phân biệt sơn môn, hệ phái các miền, những người con Phật
trong phong trào chấn hưng nhanh chóng hòa chung vào dòng chảy
cách mạng. Chùa Tam Bảo, trụ sở Hội Phật học Kiêm tế
của Thiền sư Thiện Chiếu trở thành cơ sở cất giấu vũ
khí, nuôi giấu cán bộ kháng chiến. Bản thân Thiền sư bị
bắt đày ra Côn Đảo tra tấn dã man. Nhiều Thiền sư, cư
sĩ là yếu nhân của phong trào chấn hưng PG đã trở thành
những cốt cán của các tổ chức kháng chiến kiến quốc
trên khắp mọi miền đất nước. Đạo hạnh và tấm gương
dấn thân cùng dân tộc của những vị như Thiền sư Thiện
Chiếu, Thiền sư Thích Trí Độ, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám...
đã có ảnh hưởng lớn tới các thế hệ Thiền sư kế tiếp,
mà tiêu biểu là các cố Hòa thượng (HT) Thích Mật Thể,
Thích Thiện Hoa, Thích Trí Thủ, Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện
Hào...
Giới
tuyến 17 tạm thời chia cắt đất nước ta làm hai miền ;
một lần nữa, ý nguyện của các Thiền sư thời chấn hưng
về một Giáo hội chung của PG Việt Nam tạm thời chưa được
thực hiện. Tuy hai miền phân cách, nhưng những người con
Phật trên đất Bắc vẫn luôn dõi về miền Nam thân yêu,
chia sẻ và cổ vũ phong trào đấu tranh chống Mỹ-ngụy của
đồng bào miền Nam nói chung và những người anh em đồng
đạo nói riêng, làm hết sức mình để có ngày đất nước
thống nhất, Giáo hội một nhà. Được tin HT Thích Quảng
Đức noi gương hạnh nguyện đại hùng đại lực, tự nguyện
thiêu thân cúng dàng Tam bảo, phản đối chế độ độc tài
phát-xít Ngô Đình Diệm, ngày 20-7-1963, Thành hội PG Hà Nội
đã kịp thời dựng “Bảo tháp Ấn Quang” tại tổ đình
Hồng Phúc - Hòe Nhai, có bài minh tán thán công đức xả thân
hộ pháp của Ngài.
Thắng
lợi mùa Xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch
sử dân tộc, một vận hội mới cho PG Việt Nam. Theo lời
bậc cổ đức đã chỉ bày: “tùy thời, tùy quốc độ”,
ngay từ đầu PG đã gắn bó chặt chẽ, đã là người bạn
đồng hành đáng tin cậy của dân tộc. Thực thú vị và sâu
sắc, lại chính tại thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh ngày 12-2-1980
đã diễn ra cuộc gặp mặt lịch sử giữa chư tôn giáo phẩm
tiêu biểu Bắc-Trung-Nam và các hàng nhân sĩ Phật tử để
tiến tới sự nghiệp thống nhất PG Việt Nam, dưới sự chủ
tọa của cố Hòa thượng Thích Trí Thủ. Sau thời gian khẩn
trương chuẩn bị, ngày 4-11-1981, lần đầu tiên trong lịch
sử PG Việt Nam, 165 đại biểu của 9 tổ chức, giáo hội,
hệ phái PG vân tập về thủ đô Hà Nội với một ý hướng
chung hoàn thành ngôi nhà Giáo hội PG Việt Nam. Sau hơn nửa
thế kỷ, ý nguyện của các nhà chấn hưng Phật giáo đã
được thực hiện trọn vẹn.
Lịch
sử là một tấm gương trung thực và hàm chứa trong nó bao
bài học sâu sắc. Với PG Việt Nam, lịch sử đã chứng minh
rõ ràng: thực hành chính pháp và gắn bó cùng dân tộc là
lẽ sống còn. Lịch sử đã cho phép tôi xác tín rằng: Dưới
ngôi nhà chung Giáo hội PG Việt Nam, tinh thần “Lục hòa vô
ngã” và phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa
xã hội”, mọi người con Phật trên đất Việt thân yêu
sẽ cùng nhau xây dựng ngôi nhà chung đó ngày thêm tố hảo.
Chân
thành cảm ơn quý vị để tâm theo dõi.
(1)
Kỷ yếu Hội nghị Thống nhất PG Việt Nam - 1981
(2)
Trong thời gian vận động bắt đầu từ những năm 20 ở Nam
Kỳ và dư âm còn kéo dài tới giữa những năm 40, nhưng chính
thức các Hội PG ở các miền trong phong trào chấn hưng PG
chỉ tồn tại từ năm 1931 đến năm 1941.
Đoàn
Sinh viên Phật tử Sài Gòn đấu tranh cho tự do tôn giáo (1963)
lương
hữu định
Năm
1963, sau khi hay tin Hòa thượng (HT) Thích Quảng Đức đã tự
thiêu để bảo vệ chánh pháp, toàn thể các giới ở trong
nước, nhất là giới trí thức, thanh niên, sinh viên, học
sinh, Phật tử hay không phải Phật tử, đã sôi nổi, ồ ạt
đứng lên, tham gia tích cực vào phong trào chống chế độ
“gia đình trị” của ông Ngô Đình Diệm. Động cơ của
sự tham gia này có nhiều, nhưng riêng đối với tôi, thì khi
tham gia vào sự kiện này, qua Đoàn Sinh viên Phật tử Sài
Gòn thời ấy, thì động lực duy nhất là đòi hỏi tự do
tôn giáo. Tôi chỉ xin trình bày các sự kiện dưới con mắt
chủ quan của tôi, còn việc đánh giá đúng sai sẽ không nói
tới.
1-
Sinh viên và Phật giáo:
Gia
đình tôi vốn theo đạo Phật, nên thời thơ ấu của tôi
đã đậm mùi khói hương, kinh kệ. Cứ mỗi buổi chiều, khoảng
5 giờ, bà ngoại tôi và bà dì tôi lại lên một thời kinh
(vì mẹ tôi mất khi tôi mới 4 tuổi). Dì tôi tụng kinh gõ
mõ, bà ngoại tôi ngồi lim dim lần tràng hạt. Những ngày
lễ, Tết, tôi được theo bà lên chùa. Hình ảnh những ngôi
chùa to, những pho tượng đẹp, những tu sĩ trang nghiêm và
đáng kính, đã trở thành quen thuộc với tôi. Đến độ bây
giờ, chỉ cần nghe tiếng chuông chùa từ xa vọng lại, tôi
lại nhớ thấy cảnh kẻ ra người vào tấp nập, miệng luôn
chào nhau “A Di Đà Phật”.
Khi
ấy, đạo Phật đối với tôi chỉ là những nghi lễ dành
cho người lớn, một cách sống của người già. Đối với
tuổi trẻ thì chùa là loại thắng cảnh để rủ nhau đi chơi
vào những ngày nghỉ, kiểu như “hôm nay em đi chùa Hương,
hoa cỏ còn mờ hơi sương” để rồi “em không dám đi mau,
sợ chàng chê hấp tấp, số gian nan không giàu”. Còn đối
với con nít như tôi hồi đó, thì đức Phật là đấng ban
lộc oản chuối, xôi chè.
Cái
quan niệm ấy tôi giữ cho tới thời kỳ đi vào đại học,
là sinh viên. Khi ấy, đến với Đoàn Sinh viên Phật tử Sài
Gòn, tôi chỉ muốn tìm được những người bạn cùng trang
lứa, cùng làm việc xã hội: đi thăm các cô nhi viện, các
viện dưỡng lão, các làng tình thương, và khi xảy ra thiên
tai bão lụt thì đi quyên góp tiền bạc, quần áo, đi cứu
trợ. Việc lễ Phật chỉ là một nghi lễ mở đầu hay chấm
dứt cho một buổi sinh hoạt.
2-
Sinh viên và tự do tín ngưỡng:
Dần
dần, việc đi lễ mỗi sáng Chủ nhật trở thành thói quen:
sáng Chủ nhật được nghỉ học, ở nhà buồn, đi lễ cho
vui. Khi ấy ở chùa Xá Lợi, sau mỗi khóa lễ từ 8 giờ tới
9 giờ, là có một lớp giáo lý ở giảng đường, từ 9 giờ
tới 11 giờ. Về sớm cũng chẳng có việc gì làm, tôi vào
dự nghe. Từ từ, những bài giảng của đức Thích Ca đến
với tôi: Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo...
Nhất là khi ấy tôi lại học Đại học Văn khoa, được giới
thiệu các vấn đề triết học, tôn giáo, triết Đông, triết
Tây, nên tôi càng tin tưởng hơn ở một tôn giáo đã có lịch
sử 2.500 năm.
Tôi
có được biết là ông Diệm theo đạo Thiên Chúa. Ông tin
tưởng ở những người Công giáo hơn, người Công giáo được
ưu đãi hơn. Nhưng chưa có gì lộ liễu, cho tới đầu năm
1963.
Tháng
Tư năm ấy, ông Diệm tuyên bố không thừa nhận Phật Đản
là ngày lễ chính thức và không cho phép treo cờ tôn giáo
ngoài phạm vi cơ sở tôn giáo, đúng vào dịp sắp tới lễ
Phật Đản. Cuộc tranh đấu của Phật giáo (PG) bắt đầu,
đòi bình đẳng tôn giáo. Còn đối với tôi, đó là đòi
tự do tín ngưỡng, một trong những quyền căn bản của con
người. Tôi chỉ còn nhớ được vài sự kiện chính :
Ngày
8-5-1963, đêm trước Phật Đản, tại Huế, các đồng bào
Phật tử tụ tập trước Đài Phát thanh để đợi nghe phát
đi bài thuyết pháp của thầy Trí Quang đã được ghi âm từ
buổi sáng. Nhưng bài ấy đã không được phát thanh, có thể
là vì trong đó thầy đòi treo cờ PG. Đồng bào Phật tử
tụ tập càng lúc càng đông, chính quyền Huế cho xe tăng ra
đàn áp. Đồng bào không chịu giải tán, kết quả có 8 người
bị xe tăng cán chết. Những tấm hình chụp được gửi đi
các nơi, mọi người phẫn uất.
Ngày
25-5, Ủy ban Liên phái Bảo vệ PG được thành lập để lãnh
đạo cuộc tranh đấu đòi tự do tôn giáo. Nguyên tắc tranh
đấu là bất bạo động : chỉ tổ chức những buổi thuyết
pháp, tuyệt thực, biểu tình, phổ biến thông tin... Đoàn
Sinh viên Phật tử đặc biệt đóng góp vào việc thông tin
trong giới học sinh, sinh viên, để mọi người biết rõ sự
thực, vì khi ấy chính quyền miền Nam kiểm duyệt chặt chẽ
báo chí, chỉ đưa ra những tin tức có lợi cho Nhà nước.
Ngày
11-6, HT Thích Quảng Đức tự thiêu. Một hình thức tranh đấu
đặc biệt của Phật giáo để bảo vệ chánh pháp.
Ngày
20-8, chính quyền miền Nam bắt đầu một cuộc bắt bớ rộng
khắp, đầu tiên là các Tăng Ni ở trong chùa, sau tới các
Phật tử ở nhà. Nhiều đoàn viên sinh viên Phật tử đã
bị bắt vào dịp này, trong đó có tôi. Đầu tiên, chúng tôi
bị tạm giữ ở Tổng nha Cảnh sát đô thành để lấy lời
khai. Vì chẳng có gì phải giấu diếm, nên việc lấy cung
rất nhanh. Sau đó, chúng tôi được đưa qua trại Lê Văn Duyệt,
gọi là để học tập, cho tới ngày 1-11. Đối với chúng
tôi, những ngày tháng ở trại Lê Văn Duyệt chỉ lưu lại
những kỷ niệm vui nhiều hơn là buồn.
3-
Bi, Trí và Dũng:
Nhìn
lại thời kỳ sinh hoạt với Đoàn Sinh viên Phật tử và nhất
là qua cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo, tôi thấy rõ ba
giai đoạn thể hiện ba mức độ mà tôi đến với Đoàn:
Đầu
tiên chỉ là một ước muốn được đóng góp một cái gì
đó cho xã hội, cho những người nghèo khổ; vì biết riêng
mình chẳng làm được gì, nên tôi đã đến với Đoàn Sinh
viên Phật tử để gặp những người bạn cùng ước mơ ấy.
Đó là Bi.
Rồi
trong thời gian học ở Đại học Văn khoa, tôi được biết
về các vấn đề nhân sinh quan, vũ trụ quan, bản thể luận,
cũng như các hệ thống triết học nhằm giải quyết những
vấn đề căn bản ấy. Nên khi theo các lớp giáo lý PG, tôi
thấy đó là cả một hệ thống triết học toàn diện, chứ
không chỉ là những nghi thức trong đời sống hàng ngày. Theo
Phật không chỉ là tụng kinh, gõ mõ, lễ Phật, ăn chay...
dành cho ông già bà cả hay giới Tăng sĩ, mà còn là cả một
quan niệm sống, một cách sống dành cho giới trẻ, giới trí
thức. Càng biết nhiều càng say mê, đó là Trí.
Còn
Dũng thì thật là khó khăn. Dũng không phải là khỏe mạnh
để đi đánh nhau với người khác, mà Dũng là sức mạnh
để tự thắng mình. Ngồi yên đó để cho bị đánh đập,
bị giam cầm, nhịn đói để biểu lộ sự phản đối, tự
thiêu để cảnh tỉnh. Tôi nhìn hình ảnh HT Quảng Đức ngồi
giữa ngọn lửa bốc lên, tôi nhớ tới hình ảnh Chúa Giê-su
bị đóng đinh trên thập giá. Người ta nói trái tim của HT
không cháy vì khi ấy tâm trí Ngài tập trung về trái tim với
ước nguyện cầu cho nhà cầm quyền thức tỉnh, cầu cho PG
đồ mau qua cơn pháp nạn. Tôi liên tưởng tới lời cầu xin
của Chúa Giê-su trước khi tắt thở: “Lạy Cha, xin Cha tha
thứ cho những người này vì họ không biết việc họ đang
làm”.
l
Kết luận: Khế lý và khế cơ
Thì
ra, nếu chỉ hiểu PG qua các biểu hiện ở bên ngoài thì dễ
hiểu lầm PG. Nếu chỉ tụng kinh và y kinh chú giải, thì dễ
oan tam thế Phật lắm. Còn có vị thiền sư chỉ giác ngộ
khi ông thầy chẻ pho tượng Phật bằng gỗ, bỏ vào đống
lửa để sưởi ấm một đêm giá lạnh, tuyết rơi trong hang
đá. Tìm trong kinh không thấy, tìm trong ảnh tượng lại càng
bị trói buộc. Vậy mà khi đi vào đời, tới với người
nghèo khổ, những lúc bản thân hay gia đình gặp khó khăn,
hoạn nạn, thì lời dạy của đức Thế Tôn lại vang lên,
chỉ đường giải thoát. Người ta đã nói về đạo Phật
cho giới cư sĩ, cho giới trẻ, cho ngày nay. Khi biết khế lý
và khế cơ, thì PG sẽ là của mọi người, mọi thời đại.
Sau
năm 1964, tôi hết là sinh viên và cũng vì bị lôi cuốn theo
dòng đời, tôi đã rời Đoàn Sinh viên Phật tử, chúng tôi
ít có dịp gặp lại nhau, nhưng chắc chắn là ở bất cứ
nơi nào, chúng tôi vẫn nhớ đến nhau vì lòng cùng hướng
về một đấng Từ Phụ.
Tháng
4-1998
Về
phong trào Phật giáo Sài Gòn năm 1963
PTS
LÊ CUNG
(Đại
học Sư phạm Huế)
Trong
lịch sử phát triển gần 2000 năm của Phật giáo (PG) Việt
Nam, phong trào PG miền Nam năm 1963 có một dấu ấn hết sức
quan trọng. Đối với đất nước, phong trào này “đã ghi
đậm nét trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân miền Nam” (25, 64). Có thể nói rằng, từ sau thời
đại Lý - Trần đến nay, trong nhiệm vụ phục vụ dân tộc
và đạo pháp của PG Việt Nam, chưa có sự kiện nào có qui
mô và tiếng vang rộng lớn như phong trào PG miền Nam năm 1963.
Tuy nhiên, phải khách quan mà thừa nhận rằng, trong suốt 35
năm qua, cả giới sử học Việt Nam và phía PG vẫn chưa có
một công trình chuyên khảo nào ngang tầm với phong trào này.
Trong ý hướng tiến đến việc nghiên cứu phong trào PG miền
Nam năm 1963 một cách có hệ thống và toàn diện, bài viết
này xin được góp phần tìm hiểu phong trào PG Sài Gòn năm
1963.
* *
*
Ngày
6-5-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD) ra lệnh cấm treo
cờ PG thế giới trong dịp lễ Phật Đản 2507-1963 bằng công
điện số 9159. Tiếp theo, chính quyền NĐD gây ra vụ thảm
sát tại Đài Phát thanh Huế đêm 8-5-1963 làm 8 Phật tử thiệt
mạng và nhiều người khác bị thương. Tin “tình trạng bi
đát” ở Huế lan nhanh vào Sài Gòn khiến cho phong trào PG
ở đây phát khởi. Mở đầu, ngày 9-5-1963, dưới hình thức
của một “lá tâm thư” gởi toàn thể Tăng tín đồ, giới
lãnh đạo PG Sài Gòn đã vạch trần những tội ác của chính
quyền NĐD trong suốt gần 9 năm thống trị, rằng “Phật
tử chúng ta (cả xuất gia và tại gia) có nơi bị chôn sống,
bị vu khống, bị tù đày, bị thiên cư, bị nhục mạ, ngày
nay lại thêm một cái tát đau đớn nữa là lá cờ PG quốc
tế - linh hồn của PG - bị hủy bỏ ngay ngày kỷ niệm đấng
Giáo chủ của chúng ta, đến nỗi cuộc hy sinh vì đạo đã
phải diễn ra tại Huế”, đồng thời kêu gọi “toàn thể
Phật giáo đồ, không phân biệt xuất gia hay tại gia, người
Việt hay ngoại kiều, hễ ai còn nhiệt tâm vì đạo, chúng
ta hãy tự bình tĩnh, luôn luôn muôn người như một, sẵn
sàng bảo vệ đạo, chết vì đạo” (16).
Ngày
10-5-1963, trong cuộc mít-tinh của Tăng Ni, Phật tử tại chùa
Từ Đàm - Huế, giới lãnh đạo PG miền Nam đã đưa ra Tuyên
ngôn gồm 5 nguyện vọng tối thiểu (*), khẳng định mục
tiêu và quyết tâm tranh đấu của mình: “Chúng tôi sẵn sàng
hy sinh cho đến lúc nào những nguyện vọng hợp lý trên đây
được thực hiện” (1).
Trong
khí thế phong trào ở Huế đang lên mạnh, ngày 14-5-1963, Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) ra tuyên
bố vạch rõ: “Cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền phát-xít
Mỹ-Diệm đối với đồng bào biểu tình tay không ngày 8-5
ở Huế là một hành động tội ác tày trời không thể tha
thứ được đối với nhân dân ta nói chung và đối với đồng
bào theo đạo Phật nói riêng... Cuộc đàn áp đẫm máu lần
này đã bóc trần lời của Mỹ-Diệm vẫn thường vỗ ngực
xưng là hữu thần, là tôn trọng tự do tín ngưỡng, và nhất
định nó sẽ càng nung nấu thêm lòng căm thù và chí kiên
quyết tiêu diệt chúng của tín đồ các tôn giáo ở miền
Nam Việt Nam” (9, 227). Trong tình hình đó, ngày 15-5-1963, NĐD
phải chịu tiếp phái đoàn PG, gồm các vị Tăng già, cư sĩ
cao cấp của Nam tông và Bắc tông tại Sài Gòn. Tại cuộc
gặp mặt này, ngoài 5 nguyện vọng đã nêu trong bản Tuyên
ngôn ngày 10-5-1963, phái đoàn PG Sài Gòn còn ghi thêm 2 nguyện
vọng sau:
“1-
Chính phủ đảm bảo an ninh cho một phái đoàn ra thăm PG đồ
tại Huế và an ủi các gia đình nạn nhân.
“2-
Ra lệnh cho các cấp quân dân chính đừng làm điều gì trở
ngại những buổi lễ cầu siêu cho vong linh nạn nhân ở khắp
các chùa toàn quốc theo chỉ thị của Tổng hội PG” (43,
66).
Cuộc
gặp hai bên kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ, nhưng không một
nguyện vọng nào của PG được giải quyết; ngược lại,
NĐD cho rằng thủ phạm tại Đài Phát thanh Huế là do phía
những người cộng sản gây ra.
Khi
phái đoàn PG trở về chùa Xá Lợi, họ đã bị Tăng Ni, Phật
tử phản ứng dữ dội. Điều này thể hiện rõ trong văn
thư ngày 17-5-1963 của trưởng phái đoàn PG gởi cho Bộ trưởng
Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu: “Chúng tôi trở về tới chùa
Xá Lợi được một số Tăng Ni chừng vài trăm vị đã túc
trực tại đó để chào đón phái đoàn và yêu cầu chúng
tôi cho biết kết quả cuộc tiếp kiến Tổng thống... Thuyết
trình xong thì Tăng chúng nhao nhao phát biểu ý kiến, cho rằng
phái đoàn đã không đem lại kết quả nào cụ thể cả, chỉ
có vấn đề cờ được thỏa mãn một phần nào mà thôi.
Rồi phái đoàn chúng tôi bị chỉ trích kịch liệt” (38).
Không
chịu lùi bước trước những ngang ngược của chính quyền
NĐD, ngày 16-5-1963, giới lãnh đạo PG Sài Gòn tổ chức họp
báo tại chùa Xá Lợi, chính thức công bố bản Tuyên ngôn
ngày 10-5-1963. Về cuộc hội ngày hôm trước, giới lãnh đạo
PG cho biết không một ai thỏa mãn. Tiếp theo, ngày 17-5-1963,
tại chùa Ấn Quang, một cuộc trưng bày những hình ảnh về
vụ thảm sát tại Huế cũng được tổ chức. Tất cả đã
có một sức thuyết phục to lớn đối với dư luận về cái
lý mà PG phải đứng dậy đấu tranh.
Ngày
21-5-1963, một cuộc lễ cầu siêu cho các nạn nhân bị thảm
sát tại Huế được tổ chức trên toàn miền Nam, thu hút
hàng triệu tín đồ tham gia. Tại chùa Ấn Quang, từ sáng sớm
có rất đông PG đồ tập trung để dự lễ cầu siêu. Số
người tham gia đông ngoài sức dự kiến của Ban tổ chức.
Sau lễ cầu siêu, dưới hình thức “rước linh”, gần 1.000
Tăng Ni đã tổ chức một cuộc biểu tình hòa bình từ chùa
Ấn Quang về chùa Xá Lợi. Họ chỉ mang theo một biểu ngữ
viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh: “Tưởng nhớ những
Phật tử Việt Nam đã chết vì chính nghĩa ở Huế”. Đoàn
biểu tình đi lặng lẽ, không hô khẩu hiệu, nhưng một hệ
thống loa phóng thanh gắn ở dọc đường đã phát đi những
khẩu hiệu đòi thực hiện những yêu sách của PG. Nhân dân
Sài Gòn đã làm đúng yêu cầu của giới lãnh đạo PG là
ủng hộ cuộc đấu tranh nhưng không tham gia tuần hành. Lần
đầu tiên, tại Sài Gòn, PG đã chính thức đưa cuộc đấu
tranh từ trong nhà chùa ra ngoài đường phố, tới các công
trường.
Ngày
25-5-1963, một hội nghị đại biểu của 11 tông phái và các
đoàn thể PG được tổ chức tại chùa Xá Lợi để thảo
luận kế hoạch đấu tranh. Hội nghị cho thành lập Ủy ban
Liên phái Bảo vệ PG (UBLPBVPG). Sự kiện này có ý nghĩa rất
quan trọng, nó thể hiện sự thống nhất ý chí và lực lượng
của PG Sài Gòn trong cuộc đấu tranh. Hội nghị ra Tuyên ngôn
“ủng hộ toàn diện 5 nguyện vọng tối thiểu... Nguyện
đoàn kết đến cùng trong cuộc tranh thủ bất bạo động
và hợp pháp để thực hiện những nguyện vọng ấy” (43,
73).
Trước
những yêu sách của PG, chính quyền NĐD trước sau vẫn không
thay đổi. Thái độ này đã làm cho giới lãnh đạo PG nhận
thức rằng các cuộc điều đình và những yêu sách nhất
định không thể đưa lại kết quả, mà cần phải có những
biện pháp quyết liệt hơn. Điều này được tỏ rõ trong
thư văn ngày 24-5-1963 của Hòa thượng (HT) Thích Tịnh Khiết,
Hội chủ Tổng hội PG Việt Nam gởi NĐD: “Để cho những
nguyện vọng tối thiểu và hoàn toàn thuộc phạm vi tín ngưỡng
ghi trong bản Tuyên ngôn và bản Phụ đính của chúng tôi được
thấu hiểu và chấp thuận, tôi thiết nghĩ PG đồ - mà Tăng
sĩ PG là phần chính - phải có một cách nào hơn những việc
đã làm. Do đó, tôi đã chỉ thị cho các vị lãnh đạo thuộc
sáu tập đoàn PG Việt Nam sẽ tuyệt thực 48 giờ đồng hồ,
có bác sĩ giám hộ, kể từ 14 giờ 30 ngày 30-5-1963” (43,
78).
Chấp
hành chỉ thị trên đây, ngày 30-5-1963, từ 14 giờ 30, cuộc
tuyệt thực của giới lãnh đạo PG được tiến hành trên
toàn miền Nam. Tại Sài Gòn, trước giờ tuyệt thực, gần
400 Tăng Ni đã biểu tình ngồi trước trụ sở Quốc hội
Diệm. Chính quyền NĐD đã huy động lực lượng cảnh sát,
công an mật vụ, lực lượng đặc biệt chống biểu tình
và chỉ cần đoàn biểu tình có một bạo động nhỏ nhoi
để “bạo động” gấp ngàn lần. Nhưng đoàn biểu tình
chỉ có những đầu trọc và những bàn tay chắp, khiến bạo
lực phải khoanh tay và thất bại trước sức mạnh tinh thần
(29). Cùng với Sài Gòn, những cuộc biểu tình phản đối
chính quyền NĐD đàn áp PG diễn ra trên khắp miền Nam, đặc
biệt tình hình ở Huế trở nên hết sức căng thẳng. Các
chùa Từ Đàm, Báo Quốc, Linh Quang đều bị lực lượng Diệm
phong tỏa.
Trong
lúc đó, khắp nơi trên thế giới đưa tin về cuộc đấu
tranh chính nghĩa của PG, phóng viên cùng quan sát viên quốc
tế đổ tới Sài Gòn càng lúc càng đông. Để giảm bớt
tình hình căng thẳng, ngày 1-6, Diệm cách chức các viên chức
cao cấp trong bộ máy chính quyền ở Thừa Thiên-Huế. Tới
ngày 4-6, chính quyền NĐD cho thành lập Ủy ban Liên bộ (UBLB)
để “nghiên cứu và đề xuất từng bước nhằm giải quyết
những vấn đề đang tồn tại từ ngày 8-5” (45, 126).
Mặc
dầu ý thức được rằng đây chỉ là một âm mưu hoãn binh
của chính quyền NĐD, song tuân thủ đúng đường lối bất
bạo động, phía PG vẫn chấp nhận “hợp tác” với UBLB.
Ngày 5-6, cuộc hội đàm hai bên được tiến hành. Cuộc hội
đàm kéo dài 6 giờ đồng hồ, nhưng không đem lại một kết
quả cụ thể nào, trừ việc thỏa thuận cử một phái đoàn
ra Huế để giải quyết tình trạng đang căng thẳng tại đây.
Tuy nhiên, chính quyền NĐD đã tìm cách đánh lừa dư luận
bằng cách phát đi một “Thông cáo chung” nói rằng “hai
bên đã gặp gỡ trong bầu không khí thân ái và hiểu biết
lẫn nhau” (20). Giới lãnh đạo PG đã vạch rõ rằng họ
không hề ký một bản tuyên bố chung nào cả: “Chúng tôi
từ chối không ký vào bản tuyên bố chung và việc công khai
rằng bản tuyên bố chung đó đã được ký kết là một biểu
hiện của sự thiếu thiện chí của Chính phủ” (20).
Trước
thái độ cương quyết của giới lãnh đạo PG, chính quyền
NĐD buộc phải rút bỏ lệnh phong tỏa các chùa ở Huế, để
được xem như là một “thiện chí” trong cách giải quyết.
Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền NĐD vẫn ngấm ngầm
bắt cóc, thủ tiêu Tăng Ni, Phật tử, vu khống họ là “cộng
sản nằm vùng”, cho công an mật vụ len lỏi vào các quán
ăn, tiệm cà-phê để theo dõi và bắt giam những người bàn
tán về cuộc đấu tranh của PG. Tại Huế, chính quyền NĐD
xúi giục các gia đình có con em tử nạn trong vụ đàn áp
tại Đài Phát thanh, xin rút ra khỏi danh sách Phật tử, danh
sách Thánh tử đạo. Tại Sài Gòn, Diệm cho mật vụ giả
danh Phật tử, Tăng Ni vào các chùa để do thám và xúi giục
nhằm chia rẽ hàng ngũ Phật giáo. Nổi bật nhất là chính
quyền NĐD tìm cách làm mất uy tín Tổng hội PG Việt Nam,
coi nó như là một nhóm phân liệt, bằng cách cho khánh thành
một ngôi chùa mới ở Sài Gòn cho phái PG Cổ sơn môn, một
giáo phái không được Tổng hội PG Việt Nam thừa nhận. Jerrold
Schecter viết: “Cách lập luận của Chính phủ là phái Cổ
sơn môn sẽ chia rẽ hàng ngũ những người PG và sẽ làm mất
giá trị và uy tín phong trào của họ. Đó là một chiến thuật
quen thuộc của Diệm nhằm làm chia rẽ lực lượng chống
đối ông” (46,176). Ngày 8-6-1963, Phong trào Phụ nữ Liên đới
ra thông cáo lên án những người PG. Trong tình thế ấy, giới
lãnh đạo PG bị bắt buộc phải đưa cuộc đấu tranh lên
một mức độ cao hơn.
Ngày
11-6-1963, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng
(nay là đường Cách Mạng Tháng Tám-Nguyễn Đình Chiểu), HT
Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu trước sự chứng
kiến của hàng chục ngàn Tăng Ni, Phật tử cùng những quan
sát viên quốc tế. Lực lượng Diệm được điều động
đến để hòng phá tan cuộc tự thiêu, nhưng bị thất bại
vì Tăng Ni, Phật tử đã kiên quyết bảo vệ bằng cách vây
quanh nhiều vòng. Có người nằm lăn trước xe cứu hỏa, xe
cảnh sát không cho can thiệp. “Cuộc hy sinh phi thường và
dũng cảm của HT Thích Quảng Đức, hình ảnh cụ ngồi ngay
thẳng như tượng đá trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh như
một làn sóng điện làm sôi nổi dư luận trong cả nước
Việt Nam và trên thế giới. Ảnh của vị HT Việt Nam Thích
Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa được đăng trên hầu hết
các báo khắp năm châu, với những dòng chữ nói lên sự khâm
phục” (9, 342).
Thật
vậy, ở trong nước, “cái chết vô úy của HT Quảng Đức
là một hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi người, một tiếng
gọi đàn cho hàng tứ chúng” (4). Hành động cao cả của
Thích Quảng Đức đã làm tăng thêm sự công phẫn của nhân
dân miền Nam, kể cả tín đồ Thiên Chúa giáo, đối với
chính quyền NĐD. Nó được xem như là một lời kêu gọi khẩn
thiết đối với tất cả những ai có lương tri hãy đứng
lên chống lại chế độ độc tài gia đình trị NĐD. Ngày
12-6, tại chiến khu, Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN đã long trọng
tổ chức lễ truy điệu Thích Quảng Đức. Xã luận báo Nhân
Dân, số ra ngày 13-6 viết: “Gương hy sinh anh dũng của HT
Thích Quảng Đức là một sự tố cáo, lên án trước dư luận
toàn thế giới chế độ độc tài cực kỳ tàn bạo của
bọn Mỹ-Diệm. Chế độ ấy phải bị đánh đổ. Mười bốn
triệu đồng bào miền Nam quyết đánh đổ chế độ ấy”
(19).
Về
phía Giáo hội Thiên Chúa giáo, ngay từ đầu của cuộc đấu
tranh, có người đã lên tiếng tố cáo Diệm và bày tỏ sự
ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của PG. Sau cái chết của
Thích Quảng Đức, ngày 16-6-1963, Tổng Giám mục Nguyễn Văn
Bình, cai quản giáo khu Sài Gòn, đã chính thức lên tiếng
trong một bức thư luân lưu. Bức thư xác định rõ: “Giáo
hội Thiên Chúa giáo Việt Nam hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh
chấp, mặc dù vai trò chủ động gây ra cuộc tranh chấp là
tín đồ Thiên Chúa giáo” (33, 166). Trong bức thư thứ hai
gởi cho các hàng tu sĩ và tín đồ Thiên Chúa giáo trước
lúc lên đường đi La Mã tham dự Công đồng Vatican II, Tổng
Giám mục Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh: “Giáo hội không những
không gây nên biến cố, mà còn đau đớn vì những tai họa
đã và còn là ác quá của biến cố” (33, 167).
Đối
với thế giới, sự hy sinh của Thích Quảng Đức là “một
hành động tiêu biểu vĩ đại. Nó không chỉ chống lại chế
độ Diệm, để chỉ sự hiện hữu của PG và được để
ý tới, mà nó còn có ý nghĩa chống lại sự bất công, bất
chính của toàn thế giới... Với một hành động lặng thinh,
không nói một lời, một vị HT Việt Nam đã nêu ra một tấm
gương sáng rùng rợn, một kháng nghị cao đẹp, lộng lẫy,
chống lại mọi xấu xa, đê hèn của loài quỷ sứ đang còn
tồn tại trong thế giới này” (7, 37-38). “Đây là một trạng
thái mới lạ và huyền ảo của bất bạo động. Nó chứng
tỏ rõ rệt cái uy quyền tối thượng của tinh thần. Không
một bạo lực nào có thể làm suy giảm được tâm hồn, sức
chịu đựng của một cá thể đối với mọi ức chế đàn
áp chính trị độc tài thật vô biên” (26, 93).
Ngày
30-6-1963, trong một bài giảng tại một nhà thờ lớn ở New
York, mục sư Donalds Harrington đã xem cái chết của Thích Quảng
Đức giống như cái chết của Chúa Giê-su, Michel Servetus, Jeanne
d’ Arc. Ông cho rằng hành động mổ bụng của người Nhật
cũng không thể nào so sánh nổi với sự tự thiêu của Thích
Quảng Đức, tuy rằng gan dạ như nhau, bởi vì “sự tự thiêu
của Ngài đã cứu vớt bao nhiêu sinh linh đang chìm đắm trong
khổ hận, kẻ đàn áp cũng như kẻ bị đàn áp đều bừng
tỉnh. Ngài đã tô đậm nét vàng son vào trang sử huy hoàng
của PG và dân tộc” (26, 112).
“Tại
Hoa Thịnh Đốn ngày 12-6-1963, nhân dân Mỹ đã đón nghe một
cách xúc động tin cuộc biểu tình tranh đấu của giới Phật
tử miền Nam” (11). Vụ tự thiêu đã gây nên một chấn động
mạnh, đặc biệt làm cho dư luận Mỹ quay sang chống NĐD và
gia đình y. “Uy thế của Mỹ-Diệm bị một cú đánh tinh
thần mạnh như trời giáng” (9, 343).
Trên
thực tế, cái chết của Thích Quảng Đức đã “có một
tầm quan trọng rất lớn và đã chuyển mạnh cuộc vận động
của PG sang một thế mới, trên cả hai bình diện quốc nội
và quốc tế... Nó thúc đẩy cuộc vận động cho PG ở Việt
Nam cũng như ở quốc tế tiến mạnh, tiến nhanh” (28).
Thật
vậy, cái chết của Thích Quảng Đức đã làm rung chuyển
chính quyền NĐD. Chiều ngày 11-6-1963, chính quyền NĐD ra lệnh
phong tỏa các chùa, nhất là chùa Xá Lợi, nơi đang đặt thi
hài của Thích Quảng Đức. Khắp các nẻo đường dẫn về
chùa Xá Lợi, cảnh sát được huy động để ngăn chặn làn
sóng người đang đổ xô về đây. Buổi tối cùng ngày, qua
đài truyền thanh, NĐD đọc thông điệp lên án vụ tự thiêu
của Thích Quảng Đức là do “một số người bị đầu độc
gây án mạng” (37) và “kêu gọi đồng bào hãy bình tĩnh
nhận định tình thế” (37). Lời lẽ trong thông điệp một
lần nữa bộc lộ bản chất độc tài của Diệm, khi y tuyên
bố: “ Sau lưng PG trong nước còn có Hiến pháp, nghĩa là
có tôi” (37).
Mặc
dầu vậy, những con đường dẫn về chùa Xá Lợi, cảnh sát
đã bị làn sóng người tràn ngập. Ngày 12-6-1963, giới lãnh
đạo cao cấp của PG từ Huế vào Sài Gòn trực tiếp lãnh
đạo cuộc đấu tranh ở đây. Đám tang của Thích Quảng Đức
được ấn định vào ngày 16-6 và giới lãnh đạo PG dự định
sẽ tổ chức vào dịp này một cuộc biểu tình lớn để
phản kháng chính quyền NĐD không chịu giải quyết các nguyện
vọng đã đề ra. Lo sợ một sự bùng nổ lớn vào ngày 16-6,
chính quyền NĐD cấp tốc mở cuộc điều đình với giới
lãnh đạo PG. Buổi họp đầu tiên được tổ chức từ ngày
14-6. Sau 4 buổi họp, một bản Thông cáo chung được ký kết
vào lúc 2 giờ sáng ngày 16-6-1963.
Nội
dung bản Thông cáo chung về cơ bản thỏa mãn được 5 nguyện
vọng mà giới lãnh đạo PG đã đề ra trong bản Tuyên ngôn
ngày 10-5-1963. Đứng về phương diện thương thuyết, việc
ký kết bản Thông cáo chung là một thắng lợi lớn của phía
PG.
Dĩ
nhiên, giới lãnh đạo PG quá thừa hiểu bản chất của chính
quyền NĐD, nên họ không tin tưởng một cách ngây thơ rằng
bản Thông cáo chung sẽ được thực hiện một cách nghiêm
chỉnh. Trong Thông bạch gởi toàn thể Tăng Ni, Phật tử ngày
17-6, HT Thích Tịnh Khiết, lãnh đạo tối cao của UBLPBVPG,
viết: “Một điều quan trọng mà tất cả Tăng Ni và Phật
tử đều thắc mắc tự hỏi : Liệu những lời cam kết được
ghi trong bản Thông cáo này có được thực thi đúng đắn
khắp nơi trong nước hay không ? Điều đó còn đợi thời
gian trả lời, tuy nhiên chúng ta tin tưởng ở những lời tuyên
bố của Tổng thống và UBLB, nếu những lời cam kết không
được thực thi đúng thì đó không phải là trách nhiệm của
chúng ta” (43, 143-144).
Để
tỏ thiện chí, giới lãnh đạo PG còn ra lệnh hoãn đám tang
Thích Quảng Đức và kêu gọi quần chúng ở nhà (vì đám
tang đã được hoãn lại) và “hãy trở lại nếp sống bình
thường, thành tâm cầu nguyện cho bản Thông cáo chung, một
văn kiện được cam kết long trọng giữa Chính phủ và PG
được thi hành nghiêm chỉnh” (43, 144).
Về
phía quần chúng Phật tử, mặc dầu có lời kêu gọi của
giới lãnh đạo PG, nhưng sáng ngày 16-6, một khối lượng
quần chúng 700.000 người đã đổ ra đường phố kéo về
chùa Xá Lợi, nơi đặt thi hài của Thích Quảng Đức. Cuộc
xô xát giữa quần chúng và lực lượng cảnh sát đặc biệt
của Diệm xảy ra ở ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Thanh Giản.
Thanh niên, học sinh, phụ nữ, bà già đã hăng hái chiến đấu
hàng mấy giờ đồng hồ. “Quần chúng hòa với nhau như những
giọt nước trong đại dương và trong tình yêu, người ta tự
thấy mình lớn lên và không còn sợ hãi nữa” (28). “Đây
là cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt nhất ở Sài Gòn
trong mấy năm nay. Nó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa
nhân dân ta với chế độ độc tài phát-xít Mỹ-Diệm, đẩy
chúng vào tình trạng bị cô lập hơn bao giờ hết” (24).
Thái
độ hòa hoãn của giới lãnh đạo PG đã làm nhiều người
nóng nảy bất mãn. Họ sợ rằng giới lãnh đạo PG chỉ quan
tâm đến việc thỏa mãn 5 nguyện vọng, chứ không nghĩ đến
nguyện vọng của quần chúng về tự do, dân chủ và công
bằng. Để cho quần chúng khỏi ngộ nhận về mục tiêu đấu
tranh, trong lần giải thích về bản Thông cáo chung ngày 23-6
tại chùa Ấn Quang, giới lãnh đạo PG đã chỉ ra rằng: “Có
người đã đi tới chỗ cho rằng các nhà lãnh đạo PG đã
bị mua chuộc”. Về nguyện vọng của quần chúng, giới lãnh
đạo PG cho rằng: “Có bình đẳng tôn giáo sẽ có bình đẳng
về mọi mặt. Bình đẳng chẳng phải là thực chất thiết
yếu của dân chủ, tự do ư ? PGViệt Nam đã hiểu rõ nhu cầu
của dân tộc và đã đặt cuộc vận động trong cuộc đấu
tranh của dân tộc” (28).
Về
phía chính quyền NĐD, chúng ra lệnh loan truyền bản Thông
cáo chung ngay khi vừa được ký kết bằng xe phóng thanh của
Bộ Thông tin. Điện tín đánh đi các tỉnh loan tin về nội
dung của bản Thông cáo chung. Đài Phát thanh Sài Gòn loan tin
trên ngay khi trời chưa sáng. Thực ra, đối với chính quyền
NĐD, việc ký kết Thông cáo chung chỉ là một kế hoãn binh,
một sự nhượng bộ tạm thời để chuẩn bị cho một cuộc
đàn áp đại quy mô nhằm đè bẹp phong trào. Âm mưu này được
tiết lộ trong một bức mật điện mang số 13242/VP/TT ngày
19-6-1963 của Văn phòng Phủ Tổng thống đánh đi cho các Đại
biểu Chính phủ các miền, Tư lệnh các vùng, nguyên văn như
sau: “Để tạm thời làm dịu tình hình và khí thế đấu
tranh quá quyết liệt của bọn Tăng Ni và PG phản động, Tổng
thống và ông Cố vấn ra lệnh tạm thời nhún nhường họ.
Các nơi hãy theo đúng chủ trương trên và đợi lệnh. Một
kế hoạch đối phó thích nghi sẽ gởi đến sau. Ngay từ bây
giờ, hãy chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới,
hãy theo dõi, điều tra, thanh trừng những phần tử PG bất
mãn và trình thượng cấp, kể cả sĩ quan và công chức cao
cấp” (15, 421). Trong một cuộc họp của 18 tướng tá vào
đầu tháng 7-1963, Ngô Đình Nhu tuyên bố: “Nếu chính phủ
này không giải quyết vấn đề PG, nó sẽ bị lật đổ vì
một cuộc đảo chánh quân sự” (46, 197). Theo Nhu, “bất
cứ chính phủ nào thay thế chính phủ này trước hết phải
đập tan những người PG” (46, 182).
Vạch
trần những âm mưu trên đây của chính quyền NĐD, ngày 21-6,
Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN ra lời kêu gọi đồng bào miền
Nam và tín đồ theo đạo Phật hãy nâng cao cảnh giác, kiên
quyết đấu tranh. Lời kêu gọi viết: “Hiện nay, tuy ngoài
mặt bọn Mỹ-Diệm chịu nhận giải quyết một số yêu sách
của đồng bào theo đạo Phật, nhưng cuộc đấu tranh chưa
kết thúc. Với bản chất ngoan cố và xảo quyệt, Mỹ-Diệm
vẫn tìm đủ mọi cách để hãm hại và đàn áp đồng bào...
Vì vậy, đồng bào theo đạo Phật cũng như các tầng lớp
nhân dân quyết không vì những lời hứa hẹn xảo quyệt của
bọn Mỹ-Diệm mà buông lơi và bỏ dở cuộc đấu tranh. Ngược
lại, chúng ta cần tăng cường đoàn kết hơn nữa để kịp
thời vạch trần mọi mưu đồ xảo quyệt của chúng, buộc
chúng phải tôn trọng những lời chúng đã hứa, trả lại
tự do cho những người bị bắt, bồi thường cho những người
bị thương, những gia đình có người chết và chấm dứt
ngay những hành động khủng bố trả thù đối với đồng
bào theo đạo Phật và các tầng lớp nhân dân” (21).
Đúng
như nhận định trên đây, ngay sau khi Thông cáo chung được
ký kết, bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, chính
quyền NĐD liên tiếp gây ra những vụ vi phạm Thông cáo chung.
Sau đây là một số vụ vi phạm tiêu biểu tại Sài Gòn:
- Ngày
18-6, chính quyền NĐD cho phái Lục hòa Tăng thành lập Tổng
hội PG, lấy tên là Tổng hội PG Cổ sơn môn để chống lại
phong trào PG. Tổ chức này mới xuất hiện đã bị đồng
bào Sài Gòn đả kích mạnh mẽ. Ngày 29-6, Tổng hội PG Cổ
sơn môn đánh điện cho Hội PG Sri Lanka, tố cáo Tổng hội
PG Việt Nam, “một chi nhánh của Hội PG Sri Lanka”, đang lợi
dụng danh nghĩa của Hội để hoạt động chính trị và yêu
cầu Hội PG Sri Lanka lên tiếng phản đối.
Ngay
sau khi nhận được điện văn, ông W.P.Daluwatte, Tổng Thư ký
Hội PG Sri Lanka, đã có điện tín trả lời cho PG Cổ sơn
môn rằng: “Hội chúng tôi không có chi nhánh nào ở Việt
Nam cũng như ở nơi khác... Mặt khác, chúng tôi cũng biết
rằng tại Việt Nam có một Tổng hội PG, và theo như chỗ
chúng tôi biết, Tổng hội này có đủ uy tín để đại diện
và thay lời cho Phật tử Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng
Tổng hội PG Việt Nam này không bao giờ làm những điều gì
trái hoặc thái độ nào có thể gọi là phản PG... Hơn nữa,
PG Sri Lanka đã tỏ thái độ rõ rệt của họ về những biến
cố vừa rồi ở Việt Nam và họ đã phản đối mạnh mẽ
những hành động kỳ thị tôn giáo và những đối xử có
tánh cách lăng nhục. Chúng tôi đã yêu cầu Chính phủ chúng
tôi và Hội PG Thế giới dùng mọi biện pháp khả dĩ xoa dịu
và cải thiện những lỗi lầm đã xảy ra. Chúng tôi đang
tiếp tục công việc này, quý Ngài có thể phổ biến bức
thư này theo ý muốn của quý Ngài” (33, 66-67).
- Ngày
1-7, trong một lần giải thích về Thông cáo chung tại trụ
sở Thanh niên Cộng hòa, Ngô Đình Nhu ra sức công kích, nhục
mạ PG, gán cho những người biểu tình đấu tranh chống đối
từ ngày 8-5 là những “phần tử phiến loạn”. Đối với
giới lãnh đạo PG, Nhu cho là “rất hăng hái lợi dụng xuyên
tạc một cách trắng trợn và ngoan cố để đầu độc một
số tín đồ và gây áp lực với các vị đại đức từ bi,
hầu phát động một chiến dịch bất tuân pháp luật”, rằng
“sự nguy hiểm trong việc thiếu giáo dục, thiếu học tập,
thiếu cảnh giác nhân dân, để một số bất cứ lúc nào
cũng trở thành cuồng tín” (43, 150)... Về sự hy sinh của
Thích Quảng Đức, Nhu cho là “một vụ làm chết người có
tổ chức, bằng cách tưới xăng đốt một vị HT” (43, 151).
Trong
lúc phía PG đang ở trong thế hòa hoãn thì chính quyền NĐD
quyết định đem các nhân vật tham gia “vụ đảo chánh hụt
11-11-1960” và “nhóm Caravelle” ra xử trước Tòa án Quân
sự đặc biệt vào ngày 8-7, trong ý đồ để cảnh cáo và
“dằn mặt” những phần tử lăm le đảo chánh; đồng thời
để đánh lệch sự chú ý của quần chúng, đưa họ ra khỏi
phong trào. Để phản đối chính quyền NĐD, trước đó một
ngày (7-7-1963), nhà văn Nhất Linh uống thuốc độc tự tử.
Cái chết của Nhất Linh gây xúc động mạnh trong quần chúng
và là một đòn nặng đánh vào chế độ Diệm. Deepe, đại
diện báo Newsweek tại Sài Gòn lúc đó nhận định rằng:
“Sau vụ tự thiêu của HT Thích Quảng Đức, cái chết của
Nhất Linh sẽ đóng thêm một cái đinh vào quan tài của ông
Tổng thống Diệm” (15, 203).
Mặt
khác, để đề phòng một cuộc tấn công quân sự trong nội
bộ chống lại chính phủ, Diệm cách chức một số sĩ quan
giữ những nhiệm vụ quan trọng, thuyên chuyển vòng quanh để
các sĩ quan không liên kết được với nhau, đồng thời ra
sức ve vãn mua chuộc, như tặng huân chương cao nhất cho hơn
100 sĩ quan cao cấp hoặc lập ra cái gọi là Quốc gia Nghĩa
tử cuộc để đảm bảo quyền lợi cho những binh lính, sĩ
quan tử trận. Chính Mỹ cũng thừa nhận Diệm là “một tên
gian ngoan, nhất mực bênh vực quyền lợi cho gia đình, hay
đàn áp một cách thô bạo những khuynh hướng công kích lại”
(10).
Tiếp
theo, ngày 9-7, bằng Nghị định số 358-BNV/KS, chính quyền
NĐD quy định thể thức treo cờ PG chỉ dành riêng cho Tổng
hội PG Việt Nam. Tiếp theo, ngày 11-7, UBLB gởi văn thư số
16/UBLB cho giới lãnh đạo PG, trong đó nói rõ trách nhiệm
về vụ thảm sát tại Đài Phát thanh Huế (8-5-1963) không thuộc
trách nhiệm của chính quyền NĐD, mà là thuộc những người
cộng sản: “Những nạn nhân chết đều do chất nổ “plastic”
của Việt cộng (chất này, các lực lượng võ trang Việt
Nam Cộng hòa không có), chớ không phải bị xe tăng hay xe thiết
giáp đằng, như đã có trong luận điệu trước đây” (3).
“Chiến
tranh một phía” của chính quyền NĐD không cho phép giới
lãnh đạo PG hòa hoãn được nữa, buộc họ phải phát động
trở lại cuộc đấu tranh. Trong văn thư số 83 ngày 14-7 gởi
NĐD, HT Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội PG Việt Nam,
khẳng định rằng: “Vì sự tồn vong của PG, tôi kính thưa
Tổng thống tường, kể từ hôm nay, với tư cách là lãnh
đạo tối cao, tôi thấy có bổn phận chỉ thị cho Tăng Ni
và thiện tín phát động một phong trào đòi hỏi sự thực
thi bản Thông cáo chung dưới mọi hình thức bất bạo động
và trong sự tôn trọng các điều khoản của bản Thông cáo
chung ấy” (39). Cũng trong ngày hôm đó, ông gởi Thông bạch
kêu gọi toàn thể Tăng tín đồ “nhất tề thực hiện phong
trào” (35).
Hưởng
ứng lời kêu gọi của giới lãnh đạo PG, cuộc đấu tranh
của Tăng Ni, Phật tử trên toàn miền Nam tiếp tục trở lại
với quy mô và cường độ cao hơn trước. Tại Sài Gòn, chiều
ngày 16-7, gần 200 Tăng Ni biểu tình trước tư dinh Đại sứ
Mỹ. Họ đòi Mỹ và các nước khác không được viện trợ
cho chính quyền NĐD. Chính quyền Mỹ phải chịu trách nhiệm
trước chính sách áp bức PG tại miền Nam. Sau cuộc biểu
tình, họ trở về chùa Xá Lợi và tham gia cuộc tuyệt thực.
Ngày
17-7, nhịp độ cuộc đấu tranh gia tăng, chỉ trong buổi sáng
đã có tới 2 cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình thứ nhất
xuất phát từ chùa Giác Minh với mục đích như biểu ngữ
đã viết: “Chúng tôi đi thăm thầy chúng tôi đang tuyệt
thực để đòi thực thi bản Thông cáo chung”. Tuy nhiên, trước
lúc cuộc biểu tình xuất phát, chùa Giác Minh đã bị chính
quyền NĐD bao vây với các lớp hàng rào kẽm gai. Nhiều xe
phun nước và lực lượng cảnh sát được huy động để
mở cuộc đàn áp. Quần chúng phẫn nộ đã vượt qua hàng
rào kẽm gai, tràn ra đường phố, nhiều biểu ngữ có nội
dung cứng rắn xuất hiện, như: “Chúng tôi đã bị lường
gạt quá nhiều”, “Cờ PG phải là cờ của tất cả PG đồ”,
“Yêu cầu Chính phủ giữ đúng lời thành tín đã hứa”,
và khi không còn vượt qua được nữa, đoàn người ngồi
xuống tụng niệm. Cuộc biểu tình đã bị đàn áp dữ dội
làm nhiều người bị thương. Đoàn biểu tình rút trở lại
chùa Giác Minh. Chính quyền NĐD cho phong tỏa chùa, làm trên
600 Tăng Ni bị vây hãm phải chịu đói khát trong suốt 54 giờ
đồng hồ.
Cuộc
biểu tình thứ hai xuất phát từ chùa Xá Lợi. Bằng cách
“đánh lừa” sự cản đường của lực lượng cảnh sát
Diệm, Tăng Ni từ chùa Xá Lợi đã từ nhiều ngả đường
khác nhau, đến tập hợp trước chợ Bến Thành. Họ đã căng
lên nhiều biểu ngữ đòi chính quyền NĐD phải thi hành đầy
đủ và nghiêm chỉnh các thỏa thuận ghi trong Thông cáo chung.
Đại diện của đoàn biểu tình đã lên tiếng tố cáo: “Chúng
tôi tới đây để tỏ cùng quốc dân đồng bào biết rằng
: Bản Thông cáo chung đã ký kết hơn tháng nay nhưng Chính
phủ đã không thực thi nghiêm chỉnh, mà còn dùng đủ mọi
cách để khủng bố, bao vây, bắt bớ, đàn áp, xuyên tạc
PG đồ” (15, 440). Đông đảo quần chúng từ chợ đổ ra
và từ các ngả đường kéo đến nhập cuộc tham gia đấu
tranh, khí thế hết sức sôi nổi. Giám đốc Cảnh sát của
Diệm trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp. Tăng Ni bị cảnh sát
bắt quẳng lên xe bịt bùng và họ đã chống lại quyết liệt
bằng cách xiết chặt lấy tay nhau.
Không
khuất phục được ý chí đấu tranh của Tăng Ni, Giám đốc
Cảnh sát bày trò thương lượng, bằng cách hứa sẽ chở
Tăng Ni về chùa Xá Lợi. Nhưng khi Tăng Ni lên xe, chúng lại
cho xe chạy về hướng Lục tỉnh. Biết mình bị lừa, Tăng
Ni đã sử dụng rất nhiều biện pháp (như đập cửa xe, đạp
thắng, gạt tay lái, mở cửa xe phóng xuống đường). Kết
cục, xe phải dừng lại, Tăng Ni thoát ra khỏi xe, tập hợp
lại để tiếp tục đấu tranh. Chính quyền NĐD đã điều
động một lực lượng lớn cảnh sát để đàn áp. Tăng Ni
bị đánh đập, bị bắt quẳng lên xe chở về An dưỡng địa
Phú Lâm. Tường thuật về cuộc đàn áp này, tờ Star and Stripes
số ra ngày 18-7-1963, viết : “Với sự trợ lực của lính
mũ sắt, cảnh sát chiến đấu đã dùng báng súng và gậy
gộc đánh các người biểu tình rồi túm cổ họ vất lên
xe camion của nhà binh đang đậu bên cạnh. Tăng Ni, đàn bà
và trẻ con bị cảnh sát đánh ngã lăn ra đường. Rất nhiều
người đổ máu. Cà sa vàng của Tăng Ni và áo dài của đàn
bà bị xé rách tả tơi trong khi họ bị dồn lên xe” (8, 220).
Và khi về An dưỡng địa, Tăng Ni vẫn tiếp tục đấu tranh.
Chính quyền NĐD buộc phải trả họ về chùa Xá Lợi sau 4
ngày giam giữ, chịu đủ mọi thứ ngược đãi.
Trước
sự phục hồi phong trào, ngày 18-7, NĐD ra “hiệu triệu”
chấp thuận việc treo cờ PG “sẽ được áp dụng cho tất
cả môn phái nào tự ý công nhận PG kỳ”, đề nghị giới
lãnh đạo PG hợp tác “để cùng nghiên cứu, điều tra và
giải quyết tại chỗ, nếu cần, những khiếu nại liên quan
đến sự thực thi Thông cáo chung” và kêu gọi “quốc dân
đồng bào ghi nhận ý chí hòa giải tột bực của Chính phủ
trong vấn đề Phật giáo” (12).
Trên
thực tế, “ý chí hòa giải tột bực của Chính phủ...”
cũng chỉ là sự tiếp nối những thủ đoạn chính trị như
trước đây nhằm đánh lừa dư luận. Ngay khi Diệm ra lời
“hiệu triệu”, các chùa Ấn Quang, Xá Lợi, Giác Minh vẫn
tiếp tục bị phong tỏa. Ngày 19-7, giới lãnh đạo PG gởi
văn thư số 94 cho chính quyền NĐD, khẳng định: “Toàn thể
Tăng Ni chúng tôi trong Ủy ban Liên phái thà cam chịu chết
chứ không chịu để cho lòng tin tưởng của chúng tôi nơi
thành tín của Chính phủ bị thực tế đánh đổ một lần
nữa” và yêu cầu giải quyết hết thảy những vấn đề
đã xảy ra từ ngày Phật Đản (8-5-1963), họ “mới có thể
hợp tác với UBLB mà nghiên cứu, xem xét những vấn đề khác,
để cho cuộc hòa giải được hoàn toàn tốt đẹp” (40).
Ngày
21-7, một nhóm thanh niên mặc thường phục len lỏi vào đám
đông quần chúng Phật tử tại chùa Xá Lợi, phân phát tài
liệu giả mạo. Một người trong nhóm họ bị bắt quả tang,
y khai nhận lệnh cấp trên đến chùa Xá Lợi để phát những
tài liệu giả mạo nói trên. Tiếp theo, ngày 23-7, trong lúc
Sư bà Diệu Huệ đang tổ chức họp báo tại chùa Xá Lợi,
để công bố ý nguyện tự thiêu của bà để góp phần bảo
vệ PG, thì bên ngoài, chính quyền NĐD tổ chức một cuộc
biểu tình mạo danh thương phế binh, lên án và xuyên tạc
cuộc đấu tranh của PG. Tuy vậy, việc làm của chính quyền
NĐD không đánh lừa được dư luận, ngày hôm sau (24-7), một
nhóm thương phế binh gởi thư cho giới lãnh đạo PG, lên án
cuộc biểu tình và bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với
phong trào: “Chúng con nguyện xin chung góp một phần nào cuộc
đấu tranh hợp pháp với tinh thần bất bạo động của đồng
bào Phật tử cho đến khi nào sự bình đẳng tôn giáo và
tự do tín ngưỡng được hoàn toàn thực thi trên lời nói
cũng như việc làm trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (43, 238).
Trong
lúc phong trào đang được đẩy mạnh thì tín đồ các tôn
giáo khác cũng lên tiếng tố cáo chính quyền NĐD đàn áp
PG và bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với cuộc đấu
tranh của PG.
Ngày
20-7-1963, Đoàn Sinh viên Liên giáo tại Sài Gòn ra lời hiệu
triệu, nói rằng: “Việc tàn sát PG đồ tại Huế trong ngày
lễ Phật Đản vừa qua, việc giở trò lừa bịp giả ký kết,
thỏa thuận để xoa dịu những lúc lòng công phẫn trong nhân
dân lên quá cao rồi lại tiếp tục bắt bớ, tra tấn, tàn
sát đẫm máu, tất cả những việc ấy đã đem lại lợi
ích gì cho quốc gia, dân tộc ? Phải chăng chỉ để thỏa
mãn lòng đố kỵ nhỏ nhen, óc kỳ thị tôn giáo hẹp hòi
của một vài cá nhân?... Các tôn giáo trong nước đều tố
cáo hành vi hạn chế tín ngưỡng phản hiến pháp của chính
quyền. Ngay cả những tín đồ Thiên Chúa giáo vô tư cũng
lên án hành động của chính quyền là hẹp hòi, bẩn thỉu”
(17) và khẳng định rằng: “Đoàn Sinh viên Liên giáo chúng
tôi gồm đủ thành phần của các tôn giáo: PG, Thiên Chúa
giáo, Hồi giáo, Tin Lành giáo, Cao Đài giáo, Bahai giáo... được
thành lập với mục đích ủng hộ PG đấu tranh ôn hòa đòi
tự do tín ngưỡng và hành giáo” (17).
Ngày
24-7, đại diện một nhóm sinh viên và thanh niên Thiên Chúa
giáo tại Sài Gòn gởi thư đến đức Khâm sứ Tòa thánh Vatican
ở Việt Nam. Bức thư viết: “Sau khi theo dõi những biến
cố xảy ra tại Sài Gòn cũng như ở Huế từ 8-5 đến nay,
cũng như sau khi đã chứng kiến tận mắt cái chết vô cùng
can đảm của nhà sư Thích Quảng Đức và các cuộc biểu
tình bất bạo động mới đây của Tăng Ni, chúng con là một
nhóm sinh viên Công giáo yêu chuộng tự do và công lý không
thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh đau khổ, bị đánh đập,
bị bắt bớ của những người dù rằng khác tín ngưỡng
nhưng cũng là đồng bào anh em với chúng con.
“Hành
động đàn áp nói trên của chính phủ Công giáo đối với
PG đồ đã làm tổn thương nhiều đến thanh danh của hàng
giáo phẩm Việt Nam nói riêng và Giáo hội nói chung. Không
những thế, nó còn gây ra những phản ứng vô cùng bất lợi
cho Giáo hội Công giáo trên khắp các quốc gia Á châu... Chúng
con tin chắc rằng Đức cha cũng đã khách quan nhận xét, đã
phê phán và phúc trình về Tòa thánh những sự việc đã diễn
ra” (41).
Ngày
25-7, một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo gồm nhiều thành phần
xã hội khác nhau đã gởi thư cho giới lãnh đạo PG. Bức
thư viết: “Mặc dầu chúng tôi là đồng bào Công giáo, nhưng
ngay từ khi xảy ra những cuộc tàn sát, đàn áp dã man của
nhà cầm quyền đối với đồng bào PG, chúng tôi rất đau
lòng vì chính những kẻ xuẩn động đã gây ra thảm cảnh
và những tiếp diễn của những thảm cảnh đó là những
người đã được ánh sáng Phúc âm rọi tới như chúng tôi.
Còn đâu trong người của họ tinh thần công bằng, bác ái,
kính Chúa, yêu người như mình ta vậy? Họ đã phản bội
tinh thần Công giáo của chúng tôi” (43, 239).
Ngày
30-7, nhân ngày lễ chung thất của Thích Quảng Đức, giới
lãnh đạo PG đã ra Thông bạch vạch rõ thực trạng xã hội
miền Nam dưới chính quyền NĐD: “Sự suy đồi của nền
đạo đức dân tộc... nền đạo giáo vẫn bị hăm dọa, quốc
gia lâm vào tình trạng chia rẽ đổ nát, người làm kẻ hưởng,
nỗi bất bình oan khúc không sao kể xiết” (36), và kêu gọi
mọi giới đồng bào hãy đình công bãi thị để phản đối
thái độ ngoan cố và độc ác của chính quyền NĐD đối
với PG.
Hưởng
ứng lời kêu gọi trên, tại Sài Gòn, từ 5 giờ sáng, đồng
bào đã tấp nập đổ về chùa Xá Lợi, “ngoài thanh niên
ra, hầu hết những người đến dự lễ đều là đàn bà.
Họ đều trẻ, khá hấp dẫn và duyên dáng trong bộ áo dài
và quần trắng, hoặc cả bà già nhăn nheo, răng bị nhuộm
đen vì ăn trầu. Tất cả đều có đính băng nhỏ màu vàng
trước ngực, một biểu hiện thương tiếc HT Thích Quảng
Đức” (46, 193).
Sau
buổi lễ, giới lãnh đạo PG ra Tuyên ngôn tố cáo chính quyền
NĐD không chịu thi hành Thông cáo chung và khẳng định lại
một lần nữa quyết tâm tranh đấu của mình “để đưa
cuộc đấu tranh đến thành công” (34, 112).
Trong
lúc cuộc đấu tranh của PG được phục hồi và đang phát
triển mạnh mẽ khắp trên các đô thị miền Nam, nhất là
ở Huế và Sài Gòn, thì Đại sứ Mỹ Frederick E.Nolting, trong
một cuộc phỏng vấn của Don Baker, ký giả của Hãng thông
tấn UPI, đã bào chữa cho chính quyền NĐD. Nolting nói: “Hơn
hai năm tôi sống ở Việt Nam, tôi chưa bao giờ nhận thấy
dấu hiệu nào chứng tỏ có sự kỳ thị tôn giáo” (43, 298).
Tiếp
theo, ngày 3-8, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân
sự, Trần Lệ Xuân lên tiếng công kích và mạ lỵ PG, rằng
“hoạt động của PG là một hình thức phản bội xấu xa...”
(46, 196). Về sự tự thiêu của Thích Quảng Đức, Trần Lệ
Xuân cho là sư "nướng sư". Trả lời phỏng vấn của ký giả
báo New York Times, Trần Lệ Xuân nói: “Tôi còn đánh sư gấp
10 lần như thế nữa à. Phương pháp giải quyết vấn đề
PG là phớt tỉnh, không cần biết tới” (43, 307).
Trước
thái độ ngang ngược của Mỹ-Diệm, mức độ phong trào đột
ngột gia tăng. Trong vòng chưa đầy nửa tháng (4 đến 16-8)
đã có tới 4 cuộc tự thiêu. Riêng Huế, phong trào lên rất
mạnh, đã có 2 cuộc tự thiêu. Ngày 17-6, Linh mục Cao Văn
Luận từ chức Viện trưởng Viện Đại học Huế, các khoa
trưởng và giáo chức và giáo sinh đại học từ chức tập
thể, sinh viên đồng loạt bãi khóa. Tại Sài Gòn, ngày 12-8,
nữ sinh Mai Thị Tuyết An tự chặt tay trái của mình để
phản đối chính quyền NĐD; ngày 18-8, một cuộc lễ cầu
siêu cho tất cả các vị tử đạo được tổ chức tại chùa
Xá Lợi. Sau lễ cầu siêu, Đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn
kêu gọi quần chúng tham gia tuyệt thực tại chỗ, có tới
10.000 người tham gia. Suốt ngày hôm đó, đông đảo đồng
bào Sài Gòn kéo đến chùa Xá Lợi để ủng hộ cuộc tuyệt
thực, khí thế đấu tranh của quần chúng hết sức sôi nổi.
Để
cứu nguy cho chế độ, chính quyền NĐD đã cho thực hiện
“kế hoạch nước lũ”, “cương quyết thanh trừng các phần
tử phản bội và quá khích trong các giới Tăng Ni, công chức,
giáo sư, sinh viên, cũng như trong các đoàn thể nhân dân”
(13) nhằm giải quyết dứt điểm “vụ PG”. "Thời gian ấn
định cho việc thực hiện xong kế hoạch là từ 21-8 đến
30-8-1963" (13). Đêm 20 rạng ngày 21-8, chính quyền NĐD cho quân
tấn công đồng loạt hầu hết các ngôi chùa được dùng
làm cơ sở đấu tranh trên toàn miền Nam.
Tại
Sài Gòn, cảnh sát dã chiến và lực lượng đặc biệt của
Ngô Đình Nhu mặc quân phục (âm mưu của lối cải trang này
nhằm để đánh lừa dư luận rằng chính quân đội đã ủng
hộ Diệm trong việc “thanh trừng những phần tử phản bội
và quá khích”, làm cho phía PG tập trung mũi nhọn về phía
quân đội, như vậy quân đội sẽ đứng về phía Diệm) tấn
công các chùa và bắt giữ Tăng Ni, Phật tử. Tại chùa Xá
Lợi, trụ sở của UBLPBVPG, cuộc tấn công diễn ra rất ác
liệt. Mặc dầu có mật báo cho biết chính quyền NĐD sẽ
mở cuộc tấn công, nhưng giới lãnh đạo PG vẫn không một
ai chịu lùi bước. Tăng Ni, Phật tử đã chống trả mãnh
liệt, cho đến lúc kiệt sức thì bị bắt tống lên xe chở
vào trại giam. Hầu hết các nhà sư trong giới lãnh đạo PG
đã bị bắt trong cuộc tấn công này.
Ở
chùa Ấn Quang, theo Phiếu đệ trình số 0289 ngày 22-8-1963 của
Tư lệnh Quân đoàn III của Diệm, thì cuộc tấn công của
lực lượng Diệm cũng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt
của Tăng tín đồ Phật tử: “Việc khám xét chùa Ấn Quang
cũng gặp trở ngại vì chùa đã tổ chức phòng thủ và báo
động. Khi lực lượng an ninh tiến vào chùa thì gặp một
hàng rào kẽm gai có truyền điện nên một số nhân viên ta
bị điện giật và bị thương. Một số Tăng Ni canh gác trong
chùa dùng gậy định chống trả lúc đầu, nhưng sau đó lại
rút lui lên lầu. Các sư liền sử dụng máy phóng thanh kêu
gọi đồng bào quanh vùng thức dậy để chứng kiến quân
đội tấn công chùa. Trong chùa, trống đánh ầm ĩ để báo
động và sử dụng điện thoại để liên lạc với các chùa
khác.
“Các
Tăng Ni tiếp tục ném đá và ve chai vào các toán an ninh. Đặc
biệt là các Tăng Ni có ném một chất hóa học cay mắt và
một chai a-xít vào trung đội an ninh trong lúc tiến công vào
chùa, nhưng may không có nhân viên nào bị thương” (27).
Cùng
lúc với “kế hoạch nước lũ”, Diệm đọc tuyên cáo và
ban hành sắc lệnh giới nghiêm, công khai đặt miền Nam trong
sự cai trị của chế độ quân phiệt. Sắc lệnh giới nghiêm
cho phép quân đội có quyền “xét các tư gia bất cứ giờ
nào, bắt giữ những người xét có hại cho an ninh công cộng”
(Điều 3), “Tất cả mọi sự vi phạm đến trật tự công
cộng đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Quân sự” (Điều
4) (31). Ngày 21 và những ngày kế tiếp, chính quyền NĐD đã
cho người đi bắt thêm khoảng 2.000 người khác tại nhà riêng
của họ, trong đó đa số là giáo sư, luật sư và sinh viên,
đông nhất là ở Sài Gòn và Huế.
Bằng
việc đánh phá chùa chiền, bắt giữ Tăng Ni và ban hành lệnh
giới nghiêm, chế độ gia đình trị NĐD đã “thực sự dẫm
trúng vỏ chuối do PG quăng ra” (30), đã tự chọn cho mình
một tuyệt lộ.
Sau
“kế hoạch nước lũ”, chính quyền NĐD thi hành một loạt
âm mưu gian xảo nhằm đánh lừa dư luận, hòng tránh được
sự nổi dậy của quần chúng. Ngày 22-8, chính quyền NĐD ra
thông cáo cho biết đã khám xét và tịch thu được một số
khí giới và dụng cụ bất hợp pháp tại chùa Xá Lợi, Ấn
Quang... Ngày 24 và 25-8, anh em Diệm tạo ra một số thư giả
mạo của giới lãnh đạo PG gởi cho NĐD, như thư của HT Thích
Tịnh Khiết nói rằng HT ủy nhiệm cho một số Thượng tọa
(TT) trong Giáo hội Tăng già toàn quốc để trông nom Phật
sự, hoặc kiến nghị của 5 vị TT ở Huế nói rằng “trong
chế độ cộng hòa nhân vị do Tổng thống NĐD lãnh đạo,
chúng tôi xác nhận PG được tùy duyên phát triển tự do tín
ngưỡng và hành đạo. Tổng thống và Chính phủ không chủ
trương đàn áp và kỳ thị tôn giáo”, rằng “trong cuộc
đấu tranh cho 5 nguyện vọng của PG Việt Nam đệ đạt lên
Tổng thống, chúng tôi xác nhận đã được Tổng thống giải
quyết, thực thi và hòa giải tột bực” (14).
Ngày
26-8, chính quyền NĐD thành lập Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ
PG thuần túy. Tổ chức này họp báo lên án giới lãnh đạo
PG và tán thành cuộc đại khủng bố của chính quyền NĐD.
Ngày 10-9, Trần Lệ Xuân lên đường đi châu Âu và châu Mỹ
để làm cái nhiệm vụ mà y gọi là “giải độc” cho thế
giới. Nhưng đến đâu, Lệ Xuân cũng đều bị nhân dân thế
giới tẩy chay, đặc biệt là người Việt Nam ở hải ngoại
đã chống lại y một cách quyết liệt, có nơi y đã bị nhân
dân ném trứng thối và cà chua vào mặt.
Bằng
tất cả những biện pháp trên đây, chính quyền NĐD vẫn
không tài nào dập tắt được phong trào. Thật vậy, sau cuộc
tấn công vào chùa chiền, phong trào không những không bị
đè bẹp mà còn phát triển sâu rộng trong hầu hết các tầng
lớp nhân dân. Liền sau “kế hoạch nước lũ”, ngày 22-8,
MTDTGPMNVN ra tuyên bố chỉ rõ: “Điều quan trọng bậc nhất
hiện nay là tín đồ PG cũng như nhân dân các đô thị kiên
quyết giữ vững tinh thần, giữ vững đội ngũ, giữ vững
đấu tranh... Tinh thần bất khuất trước sau vẫn là võ khí
bất khả chiến thắng của chúng ta. Với ý chí và tinh thần
ấy, chúng ta sẽ làm cho Mỹ-Diệm bị thất bại nhục nhã”
(6).
Thật
vậy, những ngày sau 21-8, cả Sài Gòn rung động trước sự
phát triển của phong trào. Nhiều bộ trưởng, khoa trưởng,
giáo sư đại học từ chức. Ngày 22-8, một nhóm giáo chức
rải truyền đơn lên án chính quyền NĐD tấn công chùa và
kêu gọi trí thức vùng dậy đấu tranh: “Chúng ta phải làm
gì trong khi khắp nơi, đồng nghiệp của chúng ta thẳng thừng
từ bỏ chức vụ để đòi hỏi sự giải quyết vấn đề
kỳ thị tôn giáo của Chính phủ. Hơn thế nữa, mới đây,
khoảng 1 giờ đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, để xác định tính
chất tàn ác, vô nhân đạo, Chính phủ NĐD đã cho quân đội
tàn phá tất cả chùa chiền ở thủ đô và toàn quốc, bắt
giết các vị Tăng Ni và các cấp lãnh đạo PG một cách dã
man.
“Quý
vị nghĩ sao trước lời kêu gọi này?
“Chúng
tôi đang đợi phản ứng của quý vị, là những thức giả
có nhiệm vụ tiên phong trong giai đoạn đấu tranh này” (32).
Về
phía sinh viên, ngày 22-8, Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa
được thành lập, hai hôm sau (24-8) đổi tên là Ủy ban Chỉ
đạo Sinh viên và Học sinh. Ủy ban này “tuyên bố bãi khóa,
nghỉ học để đấu tranh cho tự do tín ngưỡng” (42). Hầu
hết các trường đại học, cao đẳng đều bãi khóa. Ngày
24-8, tại Trường Đại học Khoa học có tới 1.200 sinh viên
tới trường để thi vào năm dự bị, nhưng không chịu vào
phòng thi, họ xé phiếu báo danh, hô các khẩu hiệu: “Đả
đảo Chính phủ” và hô hào bãi khóa. Tại Trường Đại
học Dược khoa, 700 sinh viên đến trường nhưng không chịu
vào lớp. Truyền đơn của UBLPBVPG dán trên bảng đen kêu gọi
đình công, bãi thị, bãi khóa để đấu tranh bảo vệ cho
sự sống còn của đạo pháp và dân tộc. Tại Trường Đại
học Y và Nha khoa, sinh viên đã xông vào phòng hội đồng xé
đề thi để lộ đề thi toán. Tại Trường Đại học Luật
khoa, có trên 1.200 sinh viên họp mít-tinh lên án chính quyền
NĐD và kêu gọi bãi khóa để đấu tranh (42).
Tiếp
theo, sáng ngày 25-8, bất chấp lệnh giới nghiêm của chính
quyền NĐD, thanh niên, sinh viên, học sinh từ nhiều hướng
khác nhau đổ về trước chợ Bến Thành tổ chức biểu tình
lên án chính quyền NĐD. Đông đảo đồng bào từ trong chợ
đổ ra đường hưởng ứng cuộc biểu tình. Cuộc đàn áp
diễn ra, thanh niên, sinh viên, học sinh đã chống trả quyết
liệt. Cảnh sát Diệm bắn vào đoàn biểu tình, nữ sinh Quách
Thị Trang hy sinh và có tới 2.000 nam nữ sinh viên, học sinh
bị bắt đưa về giam tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.
Chính quyền NĐD ra huấn lệnh cho phép các lực lượng an ninh
được bắn vào bất cứ đám đông nào tụ tập trên đường
phố mà không xin phép. Để đẩy lùi cao trào nổi dậy của
sinh viên, chính quyền NĐD ra lệnh đóng cửa các trường đại
học và cao đẳng, lùng bắt cán bộ chỉ đạo phong trào.
Lên
án hành động trên đây của chính quyền NĐD, trong Lời tuyên
bố ngày 18-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Gần đây,
ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực
kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn NĐD đốt phá chùa chiền,
khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng
cửa trường học, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên,
học sinh. Tội ác dã man của chúng, trời đất không thể
dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận,
cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến
bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình... Trước tình thế ấy, đồng
bào miền Nam ta đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông
công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết
đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự thắng lợi tất yếu
của cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam: “Dưới ngọn
cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cuộc đấu tranh chính
nghĩa của đồng bào miền Nam được sự ủng hộ của nhân
dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất định giành
được thắng lợi” (18).
Sau
ngày 25-8, nhìn bên ngoài, chính quyền NĐD dường như có vẻ
làm chủ tình hình. Tuy nhiên, trên thực tế, phong trào đang
tìm đối sách thích ứng trước sự khủng bố dã man của
chính quyền NĐD. Ngày 6-9, đài BBC trong phần bình luận, cho
rằng: “Diệm đã nắm vững và Hoa Thịnh Đốn đã nhượng
bộ, không đòi vợ chồng Nhu đi nữa” (30). Như để cải
chính một cách hùng hồn, ngày 7-9, học sinh các trường bãi
khóa. Tại Trường Trung học Võ Trường Toản, học sinh đánh
nhau hàng giờ với cảnh sát chiến đấu và đã hô những
khẩu hiệu đòi Mỹ chấm dứt viện trợ cho chính quyền NĐD
và tuyên bố là Mỹ đã đi với Diệm, không đi với dân Việt
Nam. Rất nhiều học sinh nam nữ bị bắt tống lên xe hơi có
mang dấu hiệu viện trợ Mỹ để đưa đến trại giam. Buổi
chiều hôm đó, phụ huynh học sinh đã tụ tập ở Nha Cảnh
sát, biểu tình đòi con. Đoàn biểu tình đã chỉ trích Mỹ
ủng hộ Diệm.
Ngày
8-9, học sinh Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng bãi khóa.
Cuộc chiến đấu của học sinh chống lại lực lượng cảnh
sát Diệm diễn ra rất dữ dội. Trong lúc học sinh đang hô
hào bãi khóa biểu tình, cảnh sát chiến đấu được huy động
tới bao vây và đàn áp. Học sinh đã dùng búa và các khí
cụ của nhà trường chống lại cảnh sát. Hai bên giao tranh
suốt buổi sáng làm cho một số cảnh sát Diệm bị thương
tích trầm trọng.
Cùng
ngày, học sinh Trường Chu Văn An bãi khóa. Tại đây, học
sinh đã căng lên nhiều biểu ngữ viết bằng máu tố cáo
chính quyền NĐD chà đạp tự do tín ngưỡng, đòi Mỹ ngưng
viện trợ cho Diệm. Cuộc chiến đấu chống sự đàn áp của
cảnh sát Diệm diễn ra rất mãnh liệt. Học sinh đã dùng
bàn ghế và các dụng cụ sẵn có chống lại sự tấn công
của cảnh sát. Hai đợt tấn công đầu của cảnh sát Diệm
đều bị đẩy lùi. Đợt thứ ba, chính quyền NĐD huy động
thêm lực lượng quân đội mới đàn áp được. Có tới 1.200
học sinh bị bắt đưa về trại giam An Nhơn ở Gò Vấp.
Cùng
với phong trào đấu tranh mãnh liệt của quần chúng, một
số nhà sư trong giới lãnh đạo PG trốn thoát được cuộc
khủng bố, hoặc bị quản thúc, vẫn tiếp tục bí mật hoạt
động lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi trả tự do cho những
Tăng Ni, Phật tử bị bắt. Nhiều thư của giới lãnh đạo
PG bí mật gởi Tổng Thư ký Liên hiệp quốc và cho phái đoàn
điều tra Liên hiệp quốc khi phái đoàn này đến miền Nam.
Thời gian này, nhiều đoàn thể được thành lập gấp rút
để đối phó với tình hình, như Đoàn Thanh niên cứu nguy
PG, Thanh niên Tăng đoàn Việt Nam, Thanh niên Quốc Tuệ, Thanh
niên Ái quốc đoàn. Các đoàn thể này đã tiến hành các
hoạt động bí mật, như rải truyền đơn tố cáo chính quyền
NĐD và ra lời kêu gọi nhân dân vùng lên chống bạo quyền.
Lời kêu gọi của Đoàn Thanh niên Quốc Tuệ viết: “Gia đình
họ Ngô chẳng từ một hành động tàn bạo nào! Chúng bất
chấp dư luận, bất chấp lời phản đối của nhân dân trong
nước và thế giới. Chúng đã bị vinh hoa che mờ mất lương
tri và không còn lấy một chút đạo đức sơ đẳng của con
người.
“Thậm
chí phá chùa, bắt sư, xả súng vào các đám biểu tình là
một hành động man rợ chưa từng có trong lịch sử loài người.
“Các
bạn thanh niên, học sinh, sinh viên và đồng bào!
“Giờ
phút lịch sử đã điểm.
“Tất
cả chúng ta hãy kết khối vùng lên, hô to khẩu hiệu:
“Chiến
đấu ! Chiến đấu ! Quét sạch chế độ bạo tàn !” (43,
443-444)
Trong
điều kiện lưới mật vụ cũng như lực lượng chống biểu
tình của Diệm giăng ra dày đặc, trong phong trào quần chúng
xuất hiện nhiều hình thức đấu tranh mới, như các bà mẹ
đã lấy bong bóng kết theo những biểu ngữ mang nội dung chống
Diệm thả lên không trung; hoặc là những tấm áp-phích hí
họa mô tả chế độ độc tài gia đình trị NĐD; hoặc ở
chợ Bến Thành có hình thức thả khỉ mang tên những anh em
Diệm v.v...
Trong
lúc những hoạt động chống đối của quần chúng liên tục
diễn ra bằng đủ mọi hình thức, thì trưa ngày 5-10, Đại
đức (ĐĐ) Thích Quảng Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành.
Một số nhà báo Mỹ bị lực lượng Diệm đánh khi họ đang
chứng kiến vụ tự thiêu này. Dư luận Mỹ sôi nổi phản
đối Diệm. Trong điều kiện phong trào đang gặp rất nhiều
khó khăn, ngọn lửa Thích Quảng Hương đã chứng tỏ cho dư
luận trong nước và quốc tế biết rằng “vụ PG” vẫn
còn nguyên vẹn và có tác động mạnh mẽ đến Liên hiệp
quốc trong phiên họp ngày 7-10-1963 tại New York khi bàn đến
vấn đề PG Việt Nam. Tại phiên họp này, đại biểu Sri Lanka
tố cáo chính quyền NĐD đàn áp PG và vi phạm nhân quyền,
và đề nghị cử một phái đoàn sang miền Nam điều tra “vụ
PG”. Đại hội đồng Liên hiệp quốc chấp thuận và đồng
ý hoãn việc thảo luận “vụ PG” cho đến khi có phúc trình
của phái đoàn về vấn đề này.
Vào
lúc 0 giờ 30 ngày 24-10, phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc
đến Sài Gòn. Giữa lúc phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc
đang hoạt động, thì vào 10 giờ ngày 27-10, ĐĐ Thích Thiện
Mỹ tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà (Sài Gòn). Sự hy sinh
của Thích Thiện Mỹ được xem như là lời kêu gọi khẩn
cấp đối với Liên hiệp quốc trong việc tố cáo chế độ
bạo tàn NĐD trước diễn đàn quốc tế, hầu mong sớm chấm
dứt nỗi thống khổ của Tăng tín đồ PG miền Nam.
Cùng
với phong trào đô thị, nổi bật là phong trào PG, phong trào
đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam không ngừng phát
triển, làm cho mâu thuẫn Mỹ-Diệm từng bước phát triển
và trở nên gay gắt không thể nào khắc phục được. Thật
vậy, từ sau chiến thắng Ấp Bắc (2-1-1963), Mỹ đã tính
đến việc thay Diệm. Tờ New York Times, ngày 5-2-1963 nhận định
rằng: “Bây giờ mà thay ngựa ở miền Nam là một việc làm
nguy hiểm, nhưng thà nguy hiểm mà sẽ đem lại những khả
năng thành công, còn sợ nguy hiểm thì chắc chắn sẽ thất
bại” (22). Tờ Tin tức hàng ngày Washington viết: “Tổng
thống Diệm phải hiểu rằng, giữa việc cứu vớt chế độ
ông ta và việc cứu vớt bản thân ông ta, thì việc sau là
thứ yếu” (22). Tuy nhiên, đây chỉ là ý nghĩ bước đầu
của kế hoạch “thay ngựa” của Mỹ.
Từ
tháng 5 trở đi, trước những thất bại liên tiếp và nặng
nề về chính trị và quân sự, chính quyền Kennedy bắt đầu
gây sức ép với Diệm. Trong một cuộc tiếp xúc với Diệm,
Truheart - đại diện Mỹ - chỉ ra rằng: “Chính quyền Kennedy
không ưa thích rối ren” (46, 135). Mâu thuẫn Mỹ-Diệm càng
trở nên căng thẳng, nhất là từ sau khi chính quyền NĐD tấn
công chùa và ban hành lệnh giới nghiêm. Ngày 24-8, sau khi đến
Sài Gòn nhận chức Đại sứ được hai ngày, Cabodge Lodge nhận
được điện văn từ Nhà Trắng, trong đó vạch rõ: “Cố
vấn Ngô Đình Nhu chịu trách nhiệm về sự tấn công đàn
áp chùa chiền. Đại sứ Hoa Kỳ phải minh danh: Chính lực
lượng đặc biệt của ông Nhu, chứ không phải quân đội
tham dự... Hoa Kỳ không thể tha thứ tình trạng quyền hành
nằm trong tay Ngô Đình Nhu. Tổng thống NĐD được dành một
cơ hội để loại trừ Ngô Đình Nhu và tay chân, phải thay
thế họ bằng những nhân vật quân sự và chính trị có khả
năng nhất... Nếu Tổng thống Diệm vẫn còn ngoan cố, thì
chúng ta (người Mỹ) sẽ đi tới chỗ không thể tiếp tục
ủng hộ ông nữa. Ông Đại sứ có thể loan báo cùng các
vị tư lệnh quân sự liên hệ rằng: “Chúng ta sẽ trực
tiếp yểm trợ cho họ trong mọi trường hợp tạm thời gián
đoạn của một chính quyền trung ương” (5, 227-228).
Tại
Sài Gòn, trong một cuộc tiếp xúc với Diệm, Lodge đã chính
thức yêu cầu Diệm gạt bỏ Nhu, nhưng không được Diệm
chấp nhận. Ngày 2-9-1963, Tổng thống Kennedy tuyên bố: “Bằng
việc thay đổi chính sách và thay đổi cả người nữa, có
thể giành được thắng lợi ở Việt Nam” (9, 395). Tuy nhiên,
Mỹ vẫn chưa quyết định dứt khoát việc thay Diệm. Sau khi
Mc. Namara và Taylor sang miền Nam vào cuối tháng 9 trở về báo
cáo tình hình, ngày 2-10, chính quyền Kennedy ra một bản tuyên
bố 5 điểm, trong đó nói rằng: “Tình hình chính trị tại
Nam Việt Nam vẫn còn hết sức nghiêm trọng. Mỹ vẫn tiếp
tục phản đối các hành động đàn áp tại Nam Việt Nam”
(44, 234). Tại Sài Gòn, Lodge trách mắng Diệm “đừng phá
hoại các cố gắng chiến tranh của Mỹ” (2). Mặt khác, trong
tháng 10, Mỹ gia tăng áp lực kinh tế bằng cách cắt bỏ viện
trợ cho lực lượng đặc biệt của Nhu và một phần “viện
trợ thương mãi hóa”. Mỹ còn tạo ra những động tác đánh
lừa Diệm về tình hình, như Mỹ đồng ý cho Diệm tổ chức
bầu cử “quốc hội”; Lodge báo tin cho Diệm hay y về Mỹ
để thảo luận lại chính sách đối với Diệm; Đô đốc
Felt, Tư lệnh Quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, đi dự Hội
nghị Đông-Nam Á, đến Sài Gòn. Cả Felt và Lodge giả vờ
ghé thăm Diệm vào sáng ngày 1-11-1963.
Miếng
đất tốt cho một cuộc đảo chánh quân sự đã được Mỹ
chuẩn bị ráo riết bằng mọi cách. Ngày 1-11-1963, cuộc đảo
chánh thực sự đã diễn ra. Anh em Diệm-Nhu bị giết chết.
Chế độ độc tài gia đình trị NĐD sau 9 năm thống trị
miền Nam bị sụp đổ. Phong trào PG miền Nam nói chung, phong
trào PG Sài Gòn kết thúc.
* *
*
Đối
diện với “cái khổ” của dân tộc và đạo pháp bị ngoại
bang dày xéo, bị bàn tay bạo quyền thống trị, Tăng Ni, Phật
tử Sài Gòn cũng như Tăng Ni, Phật tử trên toàn miền Nam
đã cùng với nhân dân miền Nam buộc phải đứng dậy đấu
tranh. Bạo quyền NĐD đã sử dụng hết mọi phương kế để
bóp chết phong trào từ trong trứng nước, nhưng cái đức
của PG: “Từ bi, cứu khổ cứu nạn, vô ngã vị tha” vốn
được nuôi dưỡng từ mạch sống của dân tộc, đã vươn
dậy cùng với cả dân tộc quật khởi. Chính quyền NĐD bị
đánh đổ.
Nhìn
lại lịch sử dân tộc và lịch sử PG kể từ khi được
du nhập vào nước ta, điều khẳng định là trên cả hai bình
diện dựng nước và giữ nước cũng như trong đấu tranh chống
bất công cường quyền, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam đã khẳng
định là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với dân tộc,
đã góp tiếng nói và công sức vào cuộc đấu tranh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống hạnh phúc của
nhân dân. Cuộc đấu tranh của Tăng Ni, Phật tử Sài Gòn năm
1963 góp thêm một cứ liệu hùng hồn chứng minh cho nhận định
trên đây.
Điều
cần nhấn mạnh thêm là Sài Gòn - thủ đô của “Việt Nam
Cộng hòa”, cứ điểm vững mạnh nhất cả về mặt chính
trị và quân sự của Mỹ-Diệm, nơi mà anh em Diệm-Nhu dốc
hết sức lực để đàn áp, khủng bố, nhưng qua thực tế
đấu tranh cho thấy Tăng Ni, Phật tử Sài Gòn đã đóng trọn
ý nghĩa vị trí tiền tiêu của mình trong phong trào PG miền
Nam năm 1963, góp phần rất xứng đáng trong cuộc đấu tranh
lật đổ chính quyền NĐD.«
Chú
thích
(*)
5 nguyện vọng như sau : 1- Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng
hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của PG ;
2- Yêu cầu PG phải được hưởng một quy chế đặc biệt
như các Hội Truyền giáo Thiên Chúa đa được ghi trongDụ
số 10 ; 3- Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ,
khủng bố tín đồ PG ; 4- Yêu cầu cho Tăng, tín đồ PG được
tự do truyền đạo và hành đạo ; 5- Yêu cầu Chính phủ đền
bồi một cách xứng đáng cho những kẻ giết oan vô tội và
kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức.
Tài
liệu tiếng Việt
1-
Bản Tuyên ngôn của Tăng, tín đồ PG Việt Nam đọc trong cuộc
metting của Phật tử tại chùa Từ Đàm - Huế, ngày 10-5-1963.
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8352.
2-
Hồng Chuyên. Từ lâu Mỹ đã chuẩn bị đảo chính quân sự
để thay Diệm. Báo Nhân Dân, ngày 3-11-1963, tr.3.
3-
Công văn số 16 ngày 17-7-1963 của UBLB gởi TT Thích Thiện Minh,
Trưởng phái đoàn PG. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu
tài liệu SC.HS.8353.
4-
Diễn từ của HT Hội chủ Tổng hội PG Việt Nam, sau lễ hỏa
thiêu nhục thân của HT Thích Quảng Đức. Hồ sơ lưu tại
chùa Từ Đàm - Huế.
5-
Kiêm Đạt. Chiến tranh Việt Nam. Nxb Đại Nam, Chicago, Illinois,
USA, 1992.
6-
Đó là một bằng chứng hùng hồn nhất về sự suy yếu, lúng
túng, cô lập của chính quyền Diệm (Tuyên bố của MTDTGPMNVN
ngày 22-8-1963). Tuần báo Thống Nhất, số 323, ngày 30-8-1963,
tr.3.
7-
Thích Mãn Giác. Ông René De Berval. Nguyệt san Liên Hoa, Huế,
ngày 27-2-1963.
8-
Tuệ Giác. Việt Nam PG tranh đấu sưã. Nxb Hoa Nghiêm, Sài Gòn,
1964.
9-
Trần Văn Giàu. Miền Nam giữ vững thành đồng, tập II. Nxb
Khoa học, Hà Nội, 1966.
10-
T.H. Nội tình nhà Diệm đang rối ren nghiêm trọng. Báo Quân
đội Nhân dân, ngày 15-8-1963, tr.4.
11-
Hành động phát-xít của Mỹ-Diệm đàn áp đồng bào Pg miền
Nam đang bị dư luận thế giới lên án. Báo Quân đội Nhân
dân, ngày 15-6-1963, tr.1.
12-
Hiệu triệu của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (18-7-1963).
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8468.
13-
Kế hoạch thanh toán vụ tranh chấp bạo động của Tổng hội
PG tại Thừa Thiên. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu
tài liệu SC.04-HS.8466, tr.1-5.
14-
Kiến nghị của 5 vị TT ở Huế gởi Tổng thống Việt Nam
Cộng hòa. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu
SC.04-HS.8466.
15-
Nguyễn Lang. Việt Nam PG sử luận, tập III. Nxb Văn học, Hà
Nội, 1994.
16-
Lá tâm thư ngày 9-5-1963 của TT Thích Tâm Châu, Phó Hội chủ
Tổng hội PG Việt Nam gởi quý HT, TT, ĐĐ Tăng Ni cùng toàn
thể Phật tử Việt Nam. Hồ sơ lưu tại chùa Từ Đàm - Huế.
17-
Lời hiệu triệu của Đoàn Sinh viên Liên giáo gởi toàn thể
sinh viên, học sinh Việt Nam. Hồ sơ lưu tại chùa Từ Đàm
- Huế.
18-
Lời tuyên bố ngày 28-8-1963 của Hồ Chủ tịch về tình hình
miền Nam Việt Nam hiện nay. Báo Quân đội Nhân dân, ngày 29-8-1963,
tr.1.
19-
Lửa căm hờn đang rực cháy. Xã luận báo Nhân Dân, ngày 13-6-1963,
tr.1.
20-
Hùng Lý. Cửa từ bi nổi cơn phẫn nôå. Báo Nhân Dân, ngày
12-6-1963, tr.4.
21-
MTDTGPMNVN kêu gọi đồng bào và tín đồ theo đạo Phật nâng
cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh. Báo Nhân Dân, ngày 22-6-1963,
tr.4.
22-
M.N. Về vai trò của PG miền Nam trong cuộc lật đổ chế độ
độc tài NĐD. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 89, tháng
8-1966, tr.4-10.