Phần
6 - Phật giáo trong sinh hoạt văn hóa
Phật
giáo trong sinh hoạt văn hóa tại Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
VÕ
ĐÌNH CƯỜNG
Văn
hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người
tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử, định hình
cho sự hiện hữu của con người. Sự hiện hữu này tùy thuộc
vào hoàn cảnh chung quanh và vào chính thể cách, tư duy, tình
cảm của một cộng đồng con người ở một địa phương.
Do đó, trong cái chung của một nền văn hóa loài người, có
những nền văn hóa mang tính riêng biệt để có thể gọi
là văn hóa của làng xã, quận huyện, đô thị, quốc gia,
khu vực địa lý v.v... Vì văn hóa định hình cho sự hiện
hữu con người, thể hiện sự hiện hữu ấy nên văn hóa
còn mang tính hướng dẫn và dự phóng cho sinh hoạt của tương
lai. Phật giáo (PG) cũng như nhiều tôn giáo lớn khác của
loài người, đã được thể hiện trong sinh hoạt tại những
nơi mà tôn giáo của Từ bi và Trí tuệ này đâm chồi và
nẩy nở, tức là, đã dự phần làm nên văn hóa và định
hình cho nếp sống của cộng đồng.
Các
chúa Nguyễn từ đầu thế kỷ XVII, khi mở mang bờ cõi phía
Nam, trong nỗ lực xây dựng một thế lực, một bờ cõi chống
với nhà Trịnh, đã tìm cách phát triển PG để có thể xây
dựng một nền văn hóa vững mạnh, hậu thuẫn cho chính trị
và định hình cho sự phát triển quốc gia. Việc cho xây cất
chùa Linh Mụ tại Huế (1601) khi mới chân ướt chân ráo đến
Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng đã đặt cơ sở cho việc thực
hiện ý định ấy. Chúa Nguyễn Phúc Chu trùng tu, xây dựng
thêm cho chùa Linh Mụ, việc mời các Thiền sư Nguyên Thiều,
Thạch Liêm... từ Trung Hoa sang cũng là một nỗ lực xây dựng
văn hóa Phật giáo.
Năm
Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn
Hữu Kỉnh vào Nam chia đất Đông Phố, lập huyện Phước
Long, dinh Trấn Biên (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay), lập huyện
Tân Bình, dinh Phiên Trấn (thuộc Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh ngày
nay) thì PG cũng theo các đoàn di dân mà phát triển tại vùng
đất này. Bấy giờ ở Đồng Nai đã có nhiều chùa Phật
và hai chùa đã được chúa sắc tứ. Cũng chẳng bao lâu, tại
Phiên Trấn, PG phát triển nhanh chóng. Ngôi chùa cổ nhất thành
phố chúng ta hiện nay còn tồn tại là chùa Giác Lâm, được
xây dựng năm 1744 đời chúa Nguyễn Phúc Khoát là một bằng
chứng cho sự hiện diện và đóng góp của văn hóa PG từ
khi thành phố được thiết lập.
Mỗi
ngôi chùa là một trung tâm sinh hoạt văn hóa. Từ việc thực
hiện nghi lễ, việc huấn luyện nếp sống tâm linh hiền thiện,
đến việc giáo dục, nghiên cứu, biên soạn kinh sách, phát
hành các pháp khí như tranh tượng, sách báo PG ở chùa, tất
cả đã làm phong phú các sinh hoạt văn hóa của thành phố.
Từ
đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng PG tại Sài Gòn-Gia Định
đã đóng góp tích cực cho việc phát triển văn hóa của thành
phố. Việc phiên dịch kinh sách ra chữ quốc ngữ, việc thành
lập Thích học đường, Phật học Thư xã, Hội Nam Kỳ Nghiên
cứu Phật học, xuất bản tạp chí Từ Bi Âm... là những
bằng chứng hùng hồn cho sự đóng góp văn hóa của PG.
Những
đặc trưng của văn hóa PG cần được nghiên cứu sâu hơn
trong suốt 300 năm lịch sử thành phố ta qua cách kiến trúc
chùa, nghệ thuật đúc chuông, tượng, tranh vẽ, âm nhạc,
đặc biệt trong thể cách tụng đọc kinh kệ, trong cung cách
thực hiện nghi lễ, trong sinh hoạt hội đoàn Phật tử trong
sách vở, báo chí, kịch nghệ, phim ảnh PG tại thành phố
ta. Theo với đà phát triển, nền giáo dục PG từ tiểu, trung,
đại học cũng phát triển, góp phần làm phong phú, đa dạng
cho sinh hoạt văn hóa nước nhà. Nhân đây, chúng tôi xin bày
tỏ niềm mong ước của mình là làm sao giới PG thành phố
ta nỗ lực nghiên cứu sâu hơn về những đóng góp văn hóa
của PG cho thành phố. Cụ thể là chúng ta cần những bổ
sung tiếp cho cuốn lịch sử Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh mà tôi đã có dịp được đọc bản thảo.
Sau
ngày giải phóng đất nước, năm 1981, Giáo hội PG Việt Nam
được thành lập, PG thành phố ta đã nhanh chóng vươn lên,
góp phần hữu hiệu cho việc xây dựng và phát triển thành
phố. Qua đó, những hoạt động văn hóa của PG thành phố
đã chứng tỏ được sức phát triển của hoạt động PG
không những tại địa phương mà còn tiêu biểu cho văn hóa
PG cả nước. Gần 100 trong khoảng 1.000 ngôi chùa tiêu biểu
cho bộ mặt PG tại thành phố đã và đang được trùng tu,
tôn tạo. Kinh sách PG in ấn càng lúc càng nhiều, Thành hội
PG đều đặn cho in ấn và phát hành năm bảy chục đầu sách,
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Ban Văn hóa Trung ương
Giáo hội cũng đóng góp vào việc nghiên cứu Phật học và
con số trên mười đầu sách được thực hiện hàng năm cũng
là những đóng góp đáng kể. Tuần báo Giác Ngộ, nguyệt
san Giác Ngộ, Tập Văn của Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội
được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Các cuộc
hội thảo do PG thành phố tổ chức đã thu hút được nhiều
giáo sư, học giả từ nhiều giới trên khắp cả nước và
kể cả một số ở nước ngoài. Các băng từ các bài thuyết
giảng Phật pháp, phim ảnh PG, tranh tượng và nhiều pháp khí
khác được sản xuất tại thành phố cũng được quần chúng
hoan hỷ đón nhận.
Một
dấu hiệu đầy khích lệ đáng ghi nhận là các giáo sư, học
giả và giới văn nghệ sĩ thành phố ta càng lúc càng thể
hiện tình cảm và thiện chí đóng góp đối với PG. Các cuộc
lễ lạc, hội thảo, các bài nghiên cứu, sáng tác PG cũng
như những công trình xây dựng văn hóa đều có sự tham gia
của lực lượng quan trọng này.
Hoạt
động văn hóa của PG thành phố hiện nay là những kế thừa
của Phật sự mà 300 năm qua PG đã đóng góp cho thành phố.
Chúng ta có điều kiện để vươn lên, để mở rộng các
sinh hoạt văn hóa của mình. Đó là quyết tâm vì Đạo pháp
và Dân tộc, là sự ủng hộ của giới trí thức và của
đông đảo quần chúng Phật tử, sự giúp đỡ tận tình của
Nhà nước. Bên cạnh đó, chúng ta cũng còn nhiều khó khăn
cần vượt qua, trong đó nổi bật cả về mặt chủ quan và
khách quan là việc tổ chức và hành chánh. Thành hội PG cần
có thêm nhân sự chuyên môn và điều hành hành chánh trong
các sinh hoạt văn hóa. Trong lúc đó, dù Nhàâ nước vẫn lưu
tâm giúp đỡ Thành hội, nhưng những thủ tục hành chánh
đối với sinh hoạt văn hóa PG còn rườm rà, phứác tạp.
Ví dụ, các giấy phép tổ chức hội thảo, giấy phép in ấn
sách vở, tài liệu PG, thủ tục phát hành các băng từ về
Phật học và văn nghệ PG, thủ tục nhận sách vở báo chí
Phật học từ nước ngoài cũng như từ trong nước gởi đi
v.v... tất cả đã gây trở ngại nhiều cho các hoạt động
văn hóa PG.
Mong
sao, PG thành phố ta tiến hành tốt đẹp việc thực hiện
lý tưởng vì Đạo vì Đời, trong đó, việc xây dựng và
phát triển văn hóa của nước nhà có sự đóng góp tích cực
của PG, tạo nên một bản sắc văn hóa dân tộc, định hình
cho một bản chất, một lối sống tâm linh đẹp đẽ, phong
phú của người Việt Nam.«
Kỷ
niệm 300 năm Phật giáo Gia Định-Sài Gòn
Sa
môn THÍCH THÔNG BỬU
I.
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ ĐỀ KỶ NIỆM 300 NĂM PHẬT GIÁO (PG) GIA
ĐỊNH - SÀI GÒN “THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
Trước
300 năm, vùng này rải rác một vài sắc dân sống theo tục
lệ du canh du cư, dựa trên sông Đồng - sông Cửu, và cũng
chính nhờ nhân tố này mà các thương thuyền từ miền Trung
Việt Nam dừng chân buôn bán với thổ dân. Đất đai phì nhiêu,
khí hậu mát mẻ, nước ngọt, rau ngon đã khiến những người
dân nước ngoài lần lượt đến đây lập nghiệp và họ
trở thành nông dân, hoặc vợ trông nom nông trại, chồng kiêm
cả thương lẫn nông.
Cũng
thuở ấy ở Trung Hoa, nhà Thanh thắng nhà Minh. Quan trường
nhà Minh, một số không chịu đầu hàng, họ giong thuyền tỵ
nạn, tìm nơi đất lành tạm trú để chờ dấy nghiệp “phản
Thanh, phục Minh”. Họ chạy sang phía Việt Nam, dựa theo sông
Đồng - sông Cửu, họ gặp người Việt Nam và một số sắc
dân an cư lạc nghiệp ở đây, nên họ nhập vào cùng ăn cùng
ở cùng làm. Lúc bấy giờ chưa có nền hành chánh. Quan trọng
trong số quan tướng nhà Minh có 3 vị: Thượng tướng Trần
Thượng Xuyên, ở Biên Hòa (vùng Cù lao Phố), sau dời về
vùng bến Lê Quang Liêm (Chợ Lớn bây giờ). Vị thứ nhì là
quan văn Mạc Cửu, ở tại Hà Tiên, và thứ ba là quan văn
Dương Ngạn Địch, ở vùng Mỹ Tho. Sau đó người nhà ám
sát Dương Ngạn Địch, gây nội chiến. Cùng lúc, lại có
giặc Xiêm La (Thái Lan) xua quân đánh phá vùng này. Triều đình
vua nhà Nguyễn cử quân dẹp loạn. Khi an bình, nhà Nguyễn
lập nền hành chánh tại đây. Từ đây, vùng này được mang
tên Gia Định và sau đó dần dần có tên Nam Kỳ lục tỉnh.
Tất cả các quy thức chính trị, quân sự, hành chánh, xã
hội, văn hóa... đều rập khuôn theo triều đình nhà Nguyễn
(Tham khảo tài liệu Việt Nam nhất thốngchí và sử liệu
của học giả Trần văn Giàu và thi phẩm Từng giọt ma ni).
Lúc
bấy giờ về tôn giáo thì có Nho - Thích - Lão; nhưng Nho và
Lão có lẽ còn lẻ loi, nên dấu vết văn hóa chẳng còn bao
nhiêu. Các cơ sở của PG, chùa tháp đã hiện hữu trong nền
văn hóa và tín ngưỡng dân chúng đa số. Nhưng khi Pháp chiếm
Việt Nam thì Nam Kỳ lục tỉnh bị nhượng cho Pháp và nửa
phần đất Gia Định bị cắt cống hiến đứt cho Pháp một
nửa. Từ đây mới có hai chữ Sài Gòn (mà người Hoa gọi
là Tây Cống). Vì quyết tâm Tây hóa phần đất Sài Gòn, nên
người Pháp đã dỡ phá rất nhiều ngôi chùa, đập nhiều
ngôi tháp ở vùng này. Tuy vậy nay vẫn còn nhiều ngôi chùa
“đại già lam” với tầm vóc kiến thiết quy mô, nên nay
được liệt kê vào nơi văn hóa lịch sử.
Chứng
tích những ngôi chùa bị Pháp dỡ, điển hình nhất là pho
tượng Phật bằng gỗ của chùa Phước Tường, hiện nay vẫn
còn tại Viện Bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh (Thảo
cầm viên).
Đạo
Phật tại Việt Nam, vào thời kỳ Pháp đô hộ, không chỉ
riêng ở Nam Kỳ lục tỉnh (miền Nam Việt Nam), hoặc ở riêng
Sài Gòn là bị đập tháp, dỡ chùa, phá bỏ tượng Phật,
mà cả nước cũng đều chung số phận. Thảm khốc hơn hết
là mất tự do tín ngưỡng. Đây mới chính là điều nghiệt
ngã nhất của người Việt Nam. Ngày 6-8-1950, người Pháp mật
lệnh cho Quốc trưởng Bảo Đại ban hành đạo dụ số 10,
tinh thần đạo dụ là triệt hạ tôn giáo. Riêng chỉ có đạo
Thiên Chúa được công nhận là tôn giáo duy nhất mà thôi.
Các đạo khác, nhất là PG, một tôn giáo chiếm đa số dân
chúng và đã hiện diện lâu đời ở đất nước này thì
lại bị đạo dụ số 10 hạ xuống ngang hàng là một hiệp
hội, như hiệp hội đua ngựa, hiệp hội đá gà... Nhiều
người Việt Nam có tín ngưỡng PG vẫn hoài tưởng Pháp, là
vì họ chưa hiểu được dã tâm tiêu diệt PG Việt Nam, qua
đạo dụ số 10 của thực dân Pháp. Chẳng những riêng đối
với PG, mà cả dân tộc Việt Nam, người Pháp đã áp dụng
đúng chính sách “thực dân”. Chữ “thực” ở đây là
trồng dân, chứ không phải là ăn - thực dân là trồng dân.
Ai vô dân Tây - nhận theo quốc tịch Pháp thì được ưu tiên,
nhất là đồng tín ngưỡng như người Pháp.
Vua
nhà Trần dâng công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, được
vua Chiêm đáp nghĩa hai châu Ô, Lý và phong công chúa Huyền
Trân lên ngôi Hoàng hậu Chiêm bang; vua nhà Nguyễn cắt nửa
phần đất Gia Định, cống hiến cho vua nước Pháp. Vua Pháp
chẳng những không đáp nghĩa, mà còn đập phá đền miếu,
chùa tháp của dân tộc Việt Nam.
Người
Pháp thuở đó còn có cái bệnh “được chân lân đầu”.
Khi được đất, được người lại muốn làm cha, làm cố,
làm ông, làm bà người Việt Nam. “Mẫu quốc Pháp vạn tuế”.
Từ các công sở, tư sở cho đến nơi tín ngưỡng, đâu đâu
cũng bắt người Việt Nam xưng mình là ông cha ông cố, ông
Tây, bà đầm... dù ông Tây bà đầm ấy tuổi chỉ đáng cháu
con! Người Pháp đã áp dụng chính sách cai trị hà khắc hơn
bất cứ thời đại nào trong lịch sử Việt Nam bị xâm lược.
Người dân Việt Nam bần cùng khốn khổ, hơn bất cứ thời
kỳ nào. Nhất là những người Việt Nam có tín ngưỡng Phật
giáo, rất thấm thía rằng chưa từng thấy lúc nào bị khinh
miệt, bị ngược đãi, bị “kỳ thị tôn giáo” như thời
kỳ được mẫu quốc Pháp bảo hộ. Bị chửi mắng “mẹc
xà lù”, đá đít, bạt tai... tù đày, thủ tiêu... Con chó
bị xéo đến đường cùng, nó còn tự vệ, tức là bảo tồn
lẽ sống, huống gì con người, mà lại là con người có ngót
năm ngàn năm lập quốc và đã từng chiến thắng vẻ vang
biết bao lượt xâm lược hung hãn bạo tàn.
Tức
nước vỡ bờ, toàn dân không phân biệt đạo - đời, hướng
theo tiếng gọi giành độc lập từ vườn hoa Ba Đình, ngày
mùng 2 tháng 9 năm 1945. Tất cả đều đứng dậy, giành độc
lập, dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc trường kỳ kháng chiến
9 năm kết thúc bằng những trận đánh uy hùng khắp nơi, cao
điểm nhất là trận Điện Biên Phủ. Việt Nam bắt buộc
chính quyền Pháp và nước Pháp phải đầu hàng. Pháp vẫn
chưa buông tay, lại tiếp tục sang nhượng Việt Nam cho Mỹ.
Mỹ thay Pháp, đưa vị cựu thượng thơ Ngô Đình Diệm lên
địa vị Thủ tướng, sau đó lên Tổng thống Việt Nam cộng
hòa - từ bến Hải đến Cà Mau.
Việc
làm đầu tiên của người Mỹ tại Việt Nam là xóa hiệp
định Genève về hòa bình Việt Nam. Mỹ cho Ngô triều ban hành
nhiều sắc luật và đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật,
đặc biệt nhất là việc duy trì đạo dụ số 10 của Pháp,
để tiếp tục tiêu diệt PG. Những Mỹ tinh vi hơn, biết cách
sử dụng Phật tử để tiêu diệt PG. Như trường hợp dùng
Nguyễn Văn Đẳng - tỉnh trưởng Thừa Thiên-Huế và Thiếu
tá Đặng Sĩ là Phật tử, sử dụng xe tăng Mỹ cán chất
6 em Phật tử tại Huế. Tại Phú Yên chôn sống 47 Phật tử
chung ba hầm, trong lúc đó vị tỉnh trưởng Phú Yên lại là
một Phật tử... Khắp nơi, từ Cà mau đến bến Hải, nơi
nào PG đồ cũng bị đàn áp dã man. Công chức, tướng lãnh,
sĩ quan, quân nhân nào có lý tưởng tôn thờ đạo Phật thì
bị đày đến các vùng tử địa. Tăng ni Phật tử bị thủ
tiêu, bị bắt bớ, tù đày, tra tấn dã man. Tại Huế, ba ngôi
chùa lớn, trụ sở trung ương của Tổng hội PG bị phong tỏa
(nội bất xuất, ngoại bất nhập), cúp điện, cúp nước.
Nói chung, đâu đâu cũng phủ trùm một màn tang thương, vận
mạng PG đặt trong tình trạng “hấp hối”. Phong trào đấu
tranh của toàn dân, nhất là mặt trận giải phóng cũng đang
gặp nhiều gian nan, bởi quốc sách ấp chiến lược của Ngô
triều.
Trong
lúc đạo pháp và dân tộc lâm nguy thì vùng đất Gia Định-Sài
Gòn lại bừng lên khí thế đấu tranh. Đấu tranh để giành
sự sống. Buổi lễ cầu siêu lần thứ 4, từ chùa Phật Bửu
(đường Cao Thắng) đến chùa Xá Lợi (đường Bà Huyện Thanh
Quan) của hàng ngàn tăng ni Phật tử đã đổi thành cuộc
diễu hành. Ngay trong cuộc diễu hành quy mô này, đất Gia Định-Sài
Gòn có một ngài Hòa thượng, bước ra chuyển cuộc diễu
hành thành cuộc biểu tình bất bạo động. Đoàn biểu tình
đi đến ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, liền đổi
thế hàng dọc, thành hình vòng tròn hoa sen. Y áo tăng ni màu
vàng, nên hình vòng tròn như một bông sen vàng. Ngài Hòa thượng
Thích Quảng Đức, trụ trì chùa Quán Thế Âm, Phú Nhuận,
thuộc tỉnh Gia Định; Ngài rời đoàn biểu tình, bước ra
ngồi giữa vòng tròn như một gương sen, giữa đóa sen vàng.
Ngài tẩm xăng vào người và chính tay châm lửa tự thiêu
thân mình, để cứu nguy dân tộc và đạo pháp. Lửa bốc
cao phủ kín thân ngài. Ngài vẫn ngồi vững yên 15 phút. Khi
Ngài nằm xuống, tay vẫn còn kiết ấn cam lộ.
II.
QUẢ TIM BẤT DIỆT VÀ NGÔ TRIỀU
Ngày
trưa hôm ấy, ngày 20-4 nhuần Quí Mão (Dương lịch là 11 tháng
6 năm 1963). Đài phát thanh Sài Gòn truyền thanh lời Tổng thống
Ngô Đình Diệm, ông có vẻ xúc động đối với việc tự
thiêu của ngài Thích Quảng Đức. Nhưng em dâu của Tổng thống
là bà vợ ông cố vấn Ngô Đình Nhu - thì ngược lại.
Cùng
ngày hôm ấy, giả thân của ngài Thích Quảng Đức đem về
quàn tại chùa Xá Lợi, sau một tuần lễ mới di quan đến
lò thiêu An dưỡng địa (Phú Lâm) làm lễ trà tỳ. Hàng triệu
người uất nghẹn lặng lẽ tiễn đưa. Suốt tám tiếng đồng
hồ với lửa nung ngàn độ mà quả tim vẫn không cháy. Nung
lại một lần nữa - cũng không cháy. Ngay chiều hôm ấy, nguồn
tin QUẢ TIM BẤT DIỆT được truyền đi khắp năm châu. Ngô
triều bối rối, cấp tốc mở phiên họp gia tộc, bàn thảo
kế hoạåch ngăn chặn lợi thế đấu tranh của PG, qua ảnh
hưởng quả tim bất diệt. Bác sĩ Trần Kim Tuyến - chúa trùm
ngành tình báo của Ngô triều, lãnh sứ mệnh đi khám nghiệm
quả tim tại chùa Xá Lợi, bác sĩ Tuyến về phúc trình rằng,
ông đã đủ cách, nhưng không còn chất hóa học nào, kể
cả a-xít cực mạnh, cũng chẳng thể làm hủy diệt được
quả tim! Đúng là quả tim bất diệt! Bác sĩ Tuyến đề nghị
Ngô triều nên “HÒA” với PG. Vợ chồng ông cố vấn Ngô
Đình Nhu không chấp nhận lời đề nghị của bác sĩ Tuyến.
Thế là đêm 20-8-1963, chiến dịch “Nước lũ” tổng tấn
công các chùa, bắt tất cả tăng ni. Điểm chính là chùa Xá
Lợi, để cướp quả tim bất diệt của Bồ Tát Quảng Đức.
Nhưng khi cướp được quả tim đem về, lúc ấy mới vỡ lẽ
rằng họ đã thu chiến lợi phẩm là một quả tim giả bằng
thạch cao!
Ngày
30-4-1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, quả tim bất diệt
được Nhà nước Việt Nam giữ gìn và bảo quản cho đến
ngày nay.
Lúc
Hòa thượng Trí Thủ làm Chủ tịch Giáo hội PG Việt Nam,
có đề nghị chúng tôi, hãy nhân danh trưởng tử Bồ Tát,
làm đơn xin nhận lãnh quả tim về tôn thờ tại nơi di tích
cuối cùng của Bồ Tát Quảng Đức, chờ khi nào Giáo hội
có chùa thì giao lại cho Giáo hội! Chúng tôi ngại vì chưa
xây được bảo tháp, nên không dám nhận lãnh bảo quản.
Nay quả tim bất diệt vẫn được Nhà nước Việt Nam giữ
gìn và bảo quản cẩn trọng, vì đây chẳng những là của
quý bảo riêng PG và cũng chẳng phải riêng gì của Việt Nam,
mà là của cả nhân loại và muôn loài.
Ngoài
quả tim bất diệt, Bồ Tát Quảng Đức còn lưu lại hậu
thế những vần thơ kệ, những huyết tâm thư, nhất là những
lời dặn bảo huyền nhiệm nhập đời. Trích một đoạn thơ
kệ của Ngài:
“Đệ
tử hôm nay nguyện đốt mình
“Làm
đèn soi sáng nẻo vô minh
“Khói
thơm cảnh tỉnh bao người ác
“Tro
trắng phẳng san hố bất bình
Đúng
vậy! Thân ngài làm đèn đã soi sáng nẻo vô minh và tro trắng
của thân Ngài đã phẳng san hố bất bình - trước nhất là
bình đẳng tôn giáo; chẳng những chỉ có thời đó, mà còn
là nhu cầu cho mãi mãi ngàn sau, chẳng những quả đất, mà
còn cho cả liên hành tinh. Ba ngàn thế giới đều được nhuần
triêm.
(Cần
tham khảo thêm chi tiết, xin đón xem tập Kỷ yếu kỷ niệm
năm thứ 35 Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu và Chư Thánh tử
đạo, do tổ đình Quán Thế Âm biên soạn).
* *
*
Trên
phần đất Gia Định-Sài Gòn thuở xưa, giới Tăng tín đồ
PG, nhất là các bậc chân tu, đã đóng góp tâm sức mình cùng
hợåp với mọi giới, xây dựng và bảo vệ Việt Nam, trong
đó có Gia Định-Sài Gòn. Cũng trên phần đất Gia Định-Sài
Gòn, ngày nay giới Tăng tín đồ PG lại cũng đổ mồ hôi,
nước mắt, lẫn tim tủy, kể cả xương máu của mình, để
hợp sức đồng tâm với toàn dân cả nước bảo vệ quê
hương. Đặc biệt là Bồ Tát Quảng Đức - đã lưu tâm trạng
mình cho hàng đệ tử Gia Định-Sài Gòn bằng những dòng thơ
kệ:
“Gia
Định-Sài Gòn hỡi các con
“Năm
mươi năm hạnh nguyện đã tròn...
“Những
gì đáng độ Thầy đã độ
“Thầy
tranh chánh pháp lúc mất còn!
Chăng
riêng gì Bồ Tát Quảng Đức ở vùng đất Gia Định-Sài Gòn,
mà còn biết bao Tăng Ni Phật tử đã hy sinh để bảo vệ
Đạo pháp và Dân tộc:
* Đại
đức Thích Thiện Mỹ (ngày 27-10-1963) đã tự thiêu tại Công
trường Sài Gòn.
* Cũng
trên đất Gia Định-Sài Gòn, Đại đức Thích Huệ Hồng tự
thiêu tại đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa), quận
Ba.
* Thượng
tọa Thích Thiện Lai, năm 1970 tự thiêu tại chùa Phổ Quang
(Phú Nhuận - Gia Định) để cầu nguyện hòa bình.
* Đại
đức Thích Thiện Ân, năm 1970 bị thảm sát tại Việt Nam
Quốc tự - Sài Gòn.
* Đại
đức Thích Thành Tuệ, bị bắt tại Gia Định-Sài Gòn, đày
đi Côn đảo và chết ở Côn Đảo.
* Đại
đức Thích Nguyên Tài, năm 1964 mất tích tại Hóc Môn -
Gia Định.
* Ni
cô Thích nữ Huệ Lạc, năm 1967 tự thiêu để bảo vệ Hiến
chương tại tỉnh Gia Định.
Ngoài
chư Tăng Ni thì còn nhiều Phật tử tại Gia Định-Sài Gòn
đã hy sinh để bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc:
* Nữ
sinh Quách Thị Trang (1963) biểu tình chống bạo quyền, bị
thảm sát tại chợ Bến Thành!
Bồ
tát Quảng Đức và các bậc tiền nhân đã lưu truyền bí
pháp gì, lời dạy gì. Hay là ngày nay, các cấp lãnh đạo
thế quyền lẫn giáo quyền có truyền dạy những phương pháp
gì, những lời dạy gì cho đàn hậu tấn, cho lớp trẻ đang
sống trên mảnh đất thân yêu. Trên quê hương Gia Định-Sài
Gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh, để lớp người thừa
kế đủ khả năng hầu dấn bước trên con đường xây dựng
quê hương, hài hòa cùng nhân loại và muôn loài, chẳng những
riêng quả địa cầu, mà cả liên hành tinh, cũng đều là
tình huynh đệ.
Kỷ
niệm những ngày qua và sẵn sàng cho những ngày đến, cả
hai phải song hành!«
Mùa
Phật Đản 2542 năm Mậu Dần (1998)
Hoạt
động báo chí Phật giáo
trong
300 năm phát triển của Gia Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
THÍCH
THIỆN BẢO
I.
TỔNG QUÁT TÌNH HÌNH IN ẤN XUẤT BẢN BÁO CHÍ
1/
Thời kỳ khai hoang (buổi đầu đến 1859): Theo đà Nam tiến,
người Việt đã dần dần đặt chân đến vùng đất phương
Nam để khai phá, lập nên thêm làng và kiến tạo cuộc sống
nơi vùng đất mới... để rồi, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh
chính thức thiết lập chế độ hành chánh-cai trị, đặt
phủ lập huyện trên vùng đất Đồng Nai-Sài Gòn.
Phật
giáo (PG) có mặt rất sớm trong sinh hoạt của cư dân. Với
những am tranh vách lá trong buổi đầu nhưng chùa đã đáp
ứng nhu cầu tín ngưỡng của những người xa xứ. Chùa cũng
phát xuất từ những am, cốc bằng tranh vách lá này được
hình thành, phát triển, và những nhu cầu cảm thụ về văn
hóa, nghi lễ, giáo dục, truyền bá Phật pháp cho cư dân cũng
được các Tăng nhân đáp ứng phục vụ cho tinh thần tín
ngưỡng của nhân dân.
Với
hàng nghìn năm bị Nhà nước phong kiến Trung Hoa đô hộ, người
Việt chủ yếu dùng chữ Hán làm văn tự chính. Sự truyền
bá giáo lý lúc đó chỉ bằng các bản chép tay, hoặc khắc
trên bản gỗ, và đó là yếu tố hạn chế không phổ biến
giáo lý được sâu rộng trong quần chúng nhân dân thời bấy
giờ.
Người
Việt Nam cũng đã biết làm giấy rất sớm, trong sách Địa
Dư Chí của Nguyễn Trãi có chép, ở xã Yên Thái (tức làng
Bưởi) trước năm 1435 đã làm giấy. Nghề in sách cũng xuất
hiện khá sớm ở Việt Nam, vào khoảng TK 12, người Việt
đã có in sách như: Cuốn Thiền tông chỉ nam được khắc
bản gỗ sau khi vua Trần Thái Tông (1218-1277) viết xong. Năm
1295, nhà vua cho in kinh Địa Tạng, năm 1319 Thiền sư Pháp Loa
cho in 5.000 cuốn kinh Địa Tạng, được lưu trữ ở Viện
Quỳnh Lâm. Đây là một ví dụ điển hình cho sự hình thành
của công việc in ấn. Ở Đàng Trong cũng được tiếp tục
phát triển mà thành tựu, tiêu biểu là nghề in tranh ởã
làng Sình (Phú Xuân) và các tác phẩm Hán-Nôm khác. Các bản
gỗ in kinh ở xứ Gia Định xưa thì muộn hơn và đa phần
là cuối thế kỷ XIX.
2/
Thời kỳ Pháp thuộc: Từ khi người Pháp đặt chân lên đất
Nam bộ, nhằm thực hiện ý đồ thống trị và đồng hóa
nhân dân ta nên họ đã nghĩ ra phương cách truyền bá chủ
trương đường lối của “mẫu quốc”, và chữ Quốc ngữ
ghi bằng mẫu tự La-tinh ra đời thay cho chữ Hán - Việt và
chữ Nôm, và nó đã trở thành văn tự hành chính chính thức.
Các vị Tổ sư vẫn khắc bản gỗ, chép tay những kinh sách
bằng chữ Hán, chữ Nôm nhằm phổ biến giáo lý trong nội
tự hoặc cho tín đồ, bằng nhiều loại hình khách nhau, nổi
bật trong thời kỳ này là quyển: Hứa sử vãn truyện, Tỳ
ni Sa di nhật dụng yếu lược do Tổ Hoằng Ân-Minh Khiêm, chùa
Giác Viên, tổ chức in ấn bằng bản khắc gỗ với những
thợ in tại chùa... Những tài liệu này đã trở thành những
giáo tài giảng dạy cho người xuất gia tại các trường hương,
trường kỳ, trường hạ lúc bấy giờ; và kế đó là các
bản in kinh của chùa Kim Cang.
Giai
đoạn sau này, chúng ta nhận thấy báo, tạp chí PG chưa thấy
xuất hiện, vẫn là những tác phẩm in ấn bằng gỗ như:
Phát Bồ đề tâm văn, Quy nguyên trực chỉ của ngài Từ Phong...
và một số tác phẩm chép tay lưu hành nội bộ.
Khi
toàn bộ Nam Kỳ bị người Pháp chiếm, với những chính sách
thuộc địa được đặt lên đất nước ta, người Pháp đã
sử dụng phương tiện thông tin đại chúng làm công cụ hữu
hiệu và đắc lực cho chính sách thực dân. Năm 1863, viên
Thống đốc Nam kỳ đã gởi thư cho Bộ trưởng thuộc địa
Pháp yêu cầu chính phủ Pháp gởi thợ sắp chữ sang Việt
Nam, dần dần nhu cầu về thông tin đa dạng, phong phú, nên
các viên chức thuộc địa phải đào tạo công nhân in tại
chỗ. Năm 1862, đường dây điện thoại đã được nối từ
Sài Gòn - Biên Hòa, và năm 1863, Bưu điện Sài Gòn đã xây
dựng hoàn chỉnh. Cũng từ đây, hệ thống viễn thông phát
triển, góp phần tích cực thúc đẩy sự nghiệp báo chí ở
Nam kỳ. Và năm 1865, tờ Gia Định báo ra đời, đánh dấu
khởi điểm của lịch sử báo chí Việt Nam. Tuy nhiên, tờ
báo này còn ít nhiều mang tính chất công báo, chứ chưa là
một tò báo thật sự; và phải đến đầu thế kỷ XX, mới
có các tờ báo của những người làm báo Việt Nam, lấy báo
chí làm cơ quan ngôn luận cho phong trào duy tân, cho chủ đích
xã hội - văn hóa của mình.
II.
NHỮNG BƯỚC CHUYỂN MÌNH CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN TÁC ĐỘNG
VÀO NỘI TÌNH PHẬT GIÁO
Đứng
trước cảnh người Pháp chiếm Nam Kỳ, phong trào Duy Tân của
cụ Phan Châu Trinh nhằm phục hưng Quốc học, mục tiêu khai
hóa cho nền dân trí, xác định ý thức hệ dân tộc để
khỏi bị đánh mất tinh thần dân tộc trong lúc đất nước
ta đang bị ngoại bang đô hộ. Phong trào Đông Kinh nghĩa thục
đã tác động mạnh vào những Tăng nhân thạc đức trước
thực trạng suy vi của đạo Phật. Đây chính là tiền đề
khơi nguồn cho phong trào chấn hưng PG.
1.
Phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Nam:
Ngoài
sự tác động của nhân sĩ trí thức lúc bấy giờ, phong trào
chấn hưng PG tại miền Nam còn chịu sự tác động của phong
trào chấn hưng PG Trung Hoa do Thái hư Đại sư khởi xướng
trên tạp chí Hải Triều Âm (Trung Quốc). Nhìn vào bối cảnh
chung của đất nước, ai có tâm huyết đối với đất nước
đều cùng chung một quan điểm là muốn thoát khỏi sự nô
lệ của người Pháp, trong đó từng đoàn thể xã hội phải
có sự chuyển mình để làm cho tinh thần dân tộc được
khơi dậy. Đây chính là yếu tố PG bước vào giai đoạn chấn
hưng.
2.
Các tổ chức hội, báo, tạp chí Phật học ra đời:
a/
Như ở phần trên đã trình bày, những Tăng nhân và các vị
tôn đức nhìn thấy đất nước bị đô hộ, Phật giáo đang
lâm vào con đường suy vi, nên các Ngài đã thao thức lo lắng
cho tiền đồ của PG, nên đứng ra tập hợp thành lập tổ
chức đoàn thể Tăng già nhằm chấn hưng lại những nội
tình Tăng già. trong số đó có Hòa thượng (HT) Khánh Hòa,
một trong những vị tiên phong chấn hưng Phật giáo tại miền
Nam. Chí nguyện đó được sự đồng tình ủng hộ của HT
Huệ Quang, Khánh Anh, Thiện Chiếu... Muốn gây ý thức phong
trào trong Tăng đoàn, ngoài những cuộc vận động thuyết
phục, hợp tác thành lập hội, Ngài còn cho ra đời tạp chí
Pháp Âm, số ra mắt đầu tiên ngày 13-8-1929. Đây là tờ báo
PG đầu tiên tại Việt Nam và cũng là tờ báo làm tiền đề
cho những báo, tạp chí Phật học xuất hiện tại miền Nam.
Người
tiếp sức cho tờ Pháp Âm và tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên của
sư Thiện Chiếu đặt trụ sở tại chùa Chúc Thọ (xóm Gà
- Gia Định) với mục đích thiết thực hơn Pháp Âm, nhưng
mới chỉ ra được 2 số thì bị đình bản.
b/
Đến năm 1931, Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học ra đời và
ngày 1-1-1932, tờ Từ Bi Âm của Hội cũng được xuất bản
số đầu tiên do HT Khánh Hòa làm chủ nhiệm, trụ sở đặt
tại chùa Linh Sơn cổ tự, quận 1 (đường Cô Giang ngày nay).
Báo ra được 45 số thì HT Khánh Hòa xin từ chức, HT Chánh
Tâm (Thiên Phước - Trà Ôn) được đề cử làm chủ nhiệm.
Từ Bi Âm hiện diện 11 năm, đến năm 1942 thì đình bản do
kiệt quệ về tài chánh.
c/
Năm 1937, Hội Cư sĩ Tịnh Độ cho xuất bản tờ Pháp âm do
Lê Văn Hậu làm chủ nhiệm và Trần Quỳnh làm chủ bút, ra
được 16 số thì đình bản.
d/
Năm 1958, Hội Phật học Nam Việt cho xuất bản tạp chí Từ
Quang do Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm chủ bút, ra đuợc 214
quyển. Sau khi Mai Thọ Truyền mất, tạp chí này kéo dài cho
đến tháng 4-1975 mới đình bản. Trong VNPGSL, Nguyễn Lang cho
rằng tạp chí Từ Quang đã đóng góp đáng kể trong việc
truyền bá tinh thần Phật học tại Sài Gòn nói riêng và cả
nước nói chung, được Tăng Ni cả nước hưởng ứng viết
bài công tác.
e/
Tịnh độ tạp chí: của Hội Tịnh Độ tông Việt Nam do Đoàn
Trung Còn làm chủ nhiệm và Hội trưởng, mỗi năm ra 4 số
từ năm 1955, đặt trụ sở tại 143 Đề Thám, quận 1.
f/
Tạp chí Phật giáo Việt Nam của Tổng hội PG Việt Nam do
HT Huệ Quang làm chủ nhiệm, xuất bản vào năm 1955, nhưng
chỉ được 3 năm sau thì đình bản.
III.
NHỮNG THẬP NIÊN SAU THỜI KỲ CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO
1/
Giai đoạn 1963-1975:
Ở
giai đoạn này, khi công nghệ in được phát triển mạnh, với
sự du nhập thông tin từ nhiều nguồn bên ngoài đổ về,
các luồng tư tưởng nhiều khuynh hướng cũng được đưa
vào đất nước Việt Nam, sách báo PG bắt đầu bùng nổ,
các nhà xuất bản như Lá Bối, An Tiêm, Sen Vàng, Phật học
tùng thư v.v.. với nhiều loại hình sách báo PG ra đời trong
các cuộc đấu tranh về quan điểm tư tưởng và cả phong
trào bất bạo động của PG tại miền Nam. Có người cho giai
đoạn này là giai đoạn phát khởi mạnh mẽ nhất, là giai
đoạn bùng nổ kinh, sách, báo PG.
Sau
công cuộc đấu tranh năm 1963, Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất (GHPGVNTN) ra đời, Viện Hóa đạo đã cho xuất
bản tuần báo Hải Triều Âm (tuần báo văn nghệ - thông tin
- nghị luận do HT Nhất Hạnh làm chủ bút, HT Hộ Giác làm
chủ nhiệm, số đầu tiên ra ngày 21-4-1964, dày 12 trang. Tòa
soạn và trị sự đặt tại 220 Lê Thánh Tôn, Q.1). Một năm
sau, do tình hình thực tế của Giáo hội, đáp ứng nhu cầu
của PG lúc bấy giờ, Hải Triều Âm được đổi thành nhật
báo Chánh Đạo, nhưng ngày 13-9-1969 thì bị đình bản do đăng
nhiều bài công kích chính quyền Sài Gòn, TT Thiện Minh bị
chính quyền truy tố ra tòa án quân sự vùng 3 và kết tội
“tán trợ đào binh, chứa chấp vũ khí và liên lạc với
cộng sản”.
Sau
khi báo Chánh Đạo bị đóng cửa không cho hoạt động, GHPGVNTN
đã xuất bản báo Thiện Mỹ vào ngày 27-10-1964 gồm 16 trang,
do ông Lê Văn Hiếu làm chủ nhiệm, cư sĩ Võ Đình Cường
làm Tổng thư ký, nhưng chỉ được 53 số thì bị đình bản.
Năm
1971, GHPGVNTN cho ra nhật báo thứ 2 với tên Gió Nam, do TT Huyền
Diệu làm chủ nhiệm, nhưng chỉ hơn một năm sau thì bị đình
bản do GHPGVNTN tố cáo tội ác vụ Sơn Mỹ, Mỹ Lai, trước
tòa án Hoa Kỳ, nên phiên xử ngày 31-12-1969 ủy quyền cho luật
sư Paul Marking đại diện quyền lợi nạn nhân và bị đình
bản. Đây là hai tờ báo nhật báo đầu tiên từ khi PG du
nhập vào Việt Nam cho đến ngày nay.
Ngoài
ra, có các tạp chí như Giữ thơm quê mẹ (do nhà sách Lá Bối
xuất bản), tạp chí Vạn Hạnh (do HT Đức Nhuận làm chủ
nhiệm), Tư Tưởng (của Đại học Vạn Hạnh), tạp chí Thiện
Chí (của đoàn thanh niên Thiện Chí), Đất Tổ (do Lê
Văn Hòa làm chủ nhiệm, xuất bản 1965), Tin Tưởng (của sinh
viên Phật tử, xuất bản 1968)... Bên cạnh đó, các tạåp
chí của các Tổng vụ GHPGVNTN cũng được ấn hành nhằm truyền
bá tinh thần Phật học như: Bát Nhã của Tổng vụ Tài chánh-Kiến
thiết do HT Thích Trí Thủ làm chủ nhiệm, tạp chí Hoằng
pháp của Tổng vụ Hoằng pháp do HT Huyền Vi làm chủ nhiệm,
tạp chí Văn Hóa của Tổng vụ Văn hóa do HT Mãn Giác làm
chủ nhiệm, tạp chí Hải Triều Âm của Tổng vụ Thanh niên
do HT Thiện Minh, Giác Đức, Nhật Thường luân phiên giữ trách
nhiệm, tạp chí An Lạc của TT Thích Thông Bửu làm quản nhiệm.
2/
Giai đoạn 1975 cho đến ngày nay:
Vào
ngày 1-1-1976, báo Giác Ngộ ra số đầu tiên do Ban Liên lạc
PG yêu nước TP. Hồ Chí Minh quản lý, HT Thích Minh Nguyệt
làm chủ nhiệm, cư sĩ Võ Đình Cường làm Tổng Biên tập,
đây là tờ báo bán nguyệt san, mỗi tháng 2 kỳ.
Vào
ngày 20-10-1990, báo Giác Ngộ trực thuộc THPG TP.HCM do
HT Thích Trí Quảng làm Tổng Biên tập. Kể từ 6-4-1996, báo
GN đã trở thành tuần báo, ra thêm tờ nguyệt san.
Với
gần 23 tuổi, báo GN đã 3 lần thay đổi khổ báo và nội
dung. Ngày nay Giác Ngộ đã trở thành tiếng nói duy nhất của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), từng bước thay đổi
nội dung và hình thức, phù hợp với tình hình xuất bản
báo chí hiện đại, hòa vào hệ thống báo chí của TP. HCM
nói riêng và báo chí VN nói chung.
Tập
văn do Ban văn hóa T.Ư GHPGVN xuất bản sau khi thống nhất Phật
giáo 1981, cư sĩ Võ Đình Cường chủ biên, đến nay đã được
41 số. Đây là tập văn chuyển tải những tư tưởng Phật
học của các nhà nghiên cứu Phật học trong cả nước.
IV.
MỘT VÀI Ý KIẾN THAY CHO LỜI KẾT
- Tuy
từng thời điểm trong sự chuyển mình của lịch sử đất
nước Việt Nam có khác nhau, nhưng tất cả đều nỗ lực
truyền bá tư tưởng đạo Phật Việt Nam trở nên phổ biến
để mọi người hiểu được giá trị đích thực của nền
giáo lý Phật Đà.
- Những
giai đoạn sống còn để vươn lên tìm lối đi đúng với
chánh pháp có những sự xung đột giữa cũ và mới trong cuộc
đấu tranh nội bộ PG nhưng vẫn giữ được bản sắc ôn
hòa, khoan dung và độ lượng, xem trọng việc tu tập hướng
về sự giải thoát giác ngộ để giải quyết vấn đề khổ
đau của con người là chính. Mọi quan niệm tư tưởng, ý
thức hệ chỉ là những phương tiện để làm sáng tỏ lối
đi đến chân lý đúng với tinh thần đức Phật đã dạy.
Nhìn
lại chặng đường đã đi qua của các bậc tiền bối tổ
sư đã dày công đóng góp xây dựng, chúng ta mọi người con
Phật mới thấy được giá trị đích thực mà các ngài đã
đặt chân lên đất Gia Định-Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh trong
suốt chiều dài lịch sử, từ lúc khởi đầu khai hoang lập
ấp của nhân dân vùng đất mới này. Cũng từ đó chúng ta
nhận ra được giá trị thiêng liêng mà chúng ta đang thừa
hưởng, ngõ hầu tiếp bước “theo dấu chân xưa”, phát
huy tinh thần tích cực của báo chí PG trong giai đoạn bùng
nổ thông tin, nhằm góp phần giữ được bản sắc của nền
văn hóa dân tộc, đồng thời làm cho gHPGVN sánh vai cùng các
nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Đó là nhiệm
vụ của những người lãnh đạo về mặt tinh thần của PG
Việt Nam, làm sáng tỏ hơn nữa tinh thần khế lý, khế cơ
mà đức Phật đã để lại, nó đã được một thời huy
hoàng và thịnh vượng trên quê hương Việt Nam trong nhiều
thế kỷ qua.
Sách
tham khảo:
- Việt
nam Phật giáo sử luận - Nguyễn Lang (tập 3)
- Lịch
sử báo chí Việt Nam - Hồng Chương
- Phật
giáo Nam bộ - Trần Hồng Liên
- 50
năm chấn hưng Phật giáo - HT Thiện Hòa
300
năm ngày thành lập Gia Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
tiểu
ban nghi lễ thành hội pg tp hcm
Nội
dung bài này trong góc độ chuyên môn của mình, chúng tôi xin
lược vài nét về vai trò nghi lễ của Phật giáo (PG)
trong sự hình thành phát triển của Gia Định-Sài Gòn-TP. Hồ
Chí Minh nói riêng và cho đời sống con người nói chung.
Nói
đến nghi lễ hoặc nói riêng NGHI và LỄ là một vấn đề
sinh động, rộng lớn, nó bàng bạc trong đời sống tinh thần,
cư xử giữa con người với con người, giữa con người với
thiên nhiên.
Nghi
là những việc phải làm.
Lễ
là những việc phải tuân.
Làm
con người sống không chỉ biết cơm ăn, áo mặc, nhà ở...
bởi lẽ thiếu nghi con người sẽ thiếu nghĩa, thiếu nhân
bản để sống trong xã hội, đem lại tình thương xây dựng
trên nền tảng trái tim biết nói và lòng nhân hậu của con
người. Thiếu lễ xã hội sẽ loạn ly, lâm vào tình trạng
vô cương đưa đến mất luân thường đạo lý. Qua đây chúng
ta xóa bỏ được định kiến ngộ nhận nghi lễ là hình thức,
là phương tiện đàn tràng! Trái lại, nó là chất liệu thiết
yếu phải luôn hiện hữu trong tư duy, trong tập quán con người.
Sự tiếp nối nòi giống con người, sự truyền thừa giềng
mối của Tổ đạo, đều phát nguyên từ đạo lý thiết lập
những nghi thức và lễ nghĩa. Ở mức độ cao, hình thức
nghi lễ biểu hiện qua lăng kính văn hóa, giáo dục v.v..
Do
vậy, những bước chân đầu tiên của chư Tổ đã hoằng
hóa tại đất Gia Định như... Nguyên Thiều-Siêu Bạch chùa
Kim Cang, Thành Đẳng-Minh Lượng chùa Đại Giác - Biên Hòa,
Phật Ý-Linh Nhạc chùa Từ Ân, Tổ Tông-Viên Quang chùa Giác
Lâm, Đạt Bổn chùa Kim Cương, Thiệt Thoại-Tánh Tường chùa
Hoa Nghiêm, đều ở đất Gia Định, cũng đã mang trên mình
hành trang nghi lễ hòa nhập cùng với di dân với vùng đất
mới.
Mặt
tích cực của lịch sử dân tộc chúng ta khó có thể quên
những công lao của Sĩ Nhiếp trong những năm đầu công nguyên
đã hướng dẫn cho dân chúng Đại Nam những phương cách sống
về nghi lễ, văn hóa, thời tiết, về nông nghiệp. Những
triết lý “uống nước nhớ nguồn” “lễ bái lục phương”
như trong kinh Thiện Sanh, dạy cho mọi người lễ nghi của
đạo làm người. Sống cho đủ tình, chết cho trọn đạo,
đó là thao thức hai mặt trong đời sống con người. Những
thao thức đó đã được nhà chùa dùng lễ, dùng nghi đáp
ứng đòi hỏi của thực tế. Nhà khoa học kỹ thuật nghiên
cứu, nhà văn học nghệ thuật sáng tác, nhà bác học chế
tác, nhà sư thì có khả năng hun đúc tinh thần của cộng
đồng dân chúng, để thăng hoa tâm hồn, sản sinh những tâm
linh hoàn thiện. Lời kinh tiếng kệ những cung bậc âm điệu
du dương của nghi lễ đã làm lắng đọng lòng người, quên
đi những ưu phiền hướng tâm tư về chân thiện mỹ.
Vị
thầy - vị sư được xuất thân từ chốn thiền môn, nơi
mà những ngày đầu nhập đạo sa cơ đã được học luật
Tỳ ni, để rèn luyện cho vị thầy tương lai có phong cách
đĩnh đạc, đạt tới đạo phong với đầy đủ lễ nghi,
theo tinh thần của Tỳ ni “Hữu uy khả úy, hữu nghi khả
kính”. Đó là những bài pháp không lời giáo hóa đắc dụng
đã đi vào lòng người một cách dịu êm và thiết thực.
Vì
thế, giáo dục của PG không chỉ là sự dạy và học mà còn
là quá trình chuyển hóa nội tâm, cải tạo cái xấu, bồi
dưỡng và phát triển cái tốt, trang bị cho mỗi cá nhân những
nhận thức chánh kiến của đức tin chân chánh, những phẩm
chất tâm linh, ý chí và đạo đức nhân bản, để họ làm
hành trang tư lương cho đời sống an lạc, hạnh phúc cá nhân,
gia đình và cộng đồng xã hội.
Năm
1992 nhân mùa Vu Lan báo hiếu, nhà văn hóa thanh niên TP. Hồ
Chí Minh đã tổ chức một buổi mạn đàm về người mẹ,
điều đó thể hiện truyền thống đạo Phật đã thâm nhập
và thích hợp với xã hội gần đây, một thống kê nhu cầu
tín ngưỡng đi lễ chùa.
Chúng
ta thường nói khi nào đất nước bình yên thì đạo Phật
phát triển hoặc PG hưng thì đất nước thanh bình thịnh trị.
Trong đó đất nước phát triển nhờ có minh quân chính chúa.
Đạo Phật xương minh nhờ có minh sư khéo điều ngự trong
vận cách lễ nghi mà thể hiện bằng nhân trị và đức trị
của xã hội qua nhiều lĩnh vực.
Qua
đó, chúng ta thấy rằng giáo dục cũng chính là lễ nghi, là
việc thiết yếu hướng dẫn con người trong sinh hoạt, nó
góp phần duy trì lâu dài cuộc sống sinh học và tâm linh tốt
đẹp hơn.
Tóm
lại, suốt chặng đường 300 năm của Gia Định-Sài Gòn đến
TP. Hồ Chí Minh, PG khi ẩn khi hiện, khi thịnh khi suy,
vẫn luôn luôn hòa mình trong lòng con người và mảnh đất,
đã góp công sức của mình vào công cuộc kiến quốc; trong
đó phạm trù nghi lễ đã góp vai trò quan trọng trong nền
tảng đạo đức xã hội cho việc trị quốc an dân, duy trì
phát triển cơ sở và niềm tin của Đạo, của Đời.
Ôn
lại 300 năm của thành phố cũng là 300 năm của PG, dòng chữ
số 1698 trên bức phù điêu nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM
thể hiện công sức của các bậc tiền nhân đã đứng lên
và nằm xuống để trang điểm cho thành phố này luôn thăng
hoa trong suốt ba thế kỷ qua. Tôn giáo nói chung, PG nói riêng,
vẫn luôn hòa nhập với người Việt Nam trên tinh thần thể
nhập.
“Trang
sử Phật cũng là trang sử Việt
Trải
bao độ hưng suy
Có
nguy mà chẳng mất”
(V.H.C.)
Việc
làm của chúng ta hôm nay là việc làm đầy hiếu kính và lễ
nghi của truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền đáp
bốn ơn, trong đó có ơn đất nước quốc gia, mà trang sử
PG Gia Định-Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh đã góp phần tô điểm
thành phố quang huy, trở thành trung tâm cho các mặt phát triển
đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ.
Một
chặng đường 300 năm đi qua với bề thế quy mô của PG trong
các thời đại và xã hội ngày nay, đã và đang xây dựng
để nói lên tiếng nói của mình trong âm ba vang dội của
thời đại mới, xã hội mới. Tiến trình 300 năm tới của
PG, chúng ta sẽ làm gì để nối tiếp đạo mạch truyền thừa,
để thừa tự di sản của tiền nhân. Làm gì để giữ gìn
nghi lễ, đạo đức, đào tạo cho thế hệ tương lai để
xây dựng Giáo hội, xây dựng xã hội, trong thời đại mới
vẫn đầy đủ thuần phong mỹ tục, giữa cộng đồng dân
tộc, giữa lòng TP.Hồ Chí Minh ngày nay đang hướng về phía
trước vẫn còn là những đóng góp cần khám phá và định
hướng của PG thành phố chúng ta.
Một
số vấn đề chung quanh di sản chữ Hán
(gồm
câu đối liên và hoành phi) trong các chùa ở đất Gia Định
xưa
GS
HUỲNH MINH ĐỨC
I.-
THỰC TRẠNG
Gia
Định xưa gồm chung Phước Long và Tân Bình, là mảnh đất
mà các chúa Nguyễn đã chọn làm bổn doanh đầu tiên trong
công cuộc khai khẩn đất đai để hoàn thành cuộc Nam tiến.
Trong khoảng thời gian 300 năm, nơi này đã nhận lấy nhiều
sự kiện lịch sử.
Trong
phạm vi hạn hẹp của tài liệu nghiên cứu này, chúng tôi
muốn nhận định lại bức tranh mang tầm vóc của một chứng
tích lịch sử thuộc văn hóa : “Qua các chữ Hán trên các
câu đối trong các chùa, cổ nhân muốn để lại gì và căn
dặn gì với con cháu?”.
Trước
hết, về mặt tư liệu, chúng tôi muốn kiểm chứng rồi đánh
giá lại xem, qua một thời gian dài nhiều biến cố tàn phá
(do con người, do chiến tranh, do thời gian), hiện trạng nguyên
thỉ của nó như thế nào. Dĩ nhiên khi nghiên cứu, chúng ta
chỉ dựa vào những phần còn mang giá trị nguyên thỉ, xứng
đáng mà thôi.
Chúng
ta đều biết, suốt 300 năm hình thành và phát triển vùng
đất Gia Định này, nhiều tư liệu lịch sử, trong đó có
những câu đối, hoành phi trong các chùa... hiện đang bị mất
mát, hoặc bị thay hình đổi dạng rất nhiều. Thực trạng
này qua điều tra, thu thập trong bước đầu, chúng tôi có
phân tích như sau:
Chùa
là nơi luôn có người ở và gìn giữ. Tuy vậy, so với các
đình miếu thì tư liệu chữ Hán trên các câu đối hoặc
hoành phi tại các chùa lại:
a)-
Mất mát nhiều hơn. Ở đây, chúng tôi muốn nói về số lượng
chứ chưa nói về chất lượng.
b)-
Thậm chí có những ngôi chùa rất cổ, lại bị mất trắng,
không còn câu nào. Một trong những lý do bị mất mát, theo
chỗ suy đoán của chúng tôi, không phải do bị trộm, mà chính
vì do sửa chữa nhiều lần, mỗi lần sửa chữa thì chùa
có vẻ mới hơn, rực rỡ hơn, nhưng những tấm gỗ có khắc
câu đối lại bị bỏ rơi, thất thoát.
c)-
Có nơi, người ta lại tự động viết thêm lên các vách những
câu đối có tính hình thức, mà chữ viết thật nguệch ngoạc,
nội dung tầm thường.
d)-
Cũng có khi vì muốn làm mới câu đối, bằng cách cho phục
chế câu đối cũ, người ta đã phục chế sai cả chánh tả
chữ Hán.
e)-
Ngoài ra, còn một số ngôi chùa được đưa từ miền Bắc
vào trong thời gian vài chục năm gần đây thôi. Chúng tôi
chưa dám kết luận gì về giá trị tư tưởng của những
câu đối này, nhưng chúng tôi không thể đưa vào chung với
những ngôi chùa cổ tại đất Gia Định.
f)-
Có một vài ngôi chùa cổ, qua nhiều lần sửa chữa, tất
cả các câu đối mất hết, thay vào đó, các vị sư trụ
trì cho treo lẻ tẻ vài cặp câu đối, nội dung hay tuyệt
vời, nhưng lại thuộc thuần túy dạy làm người theo tư tưởng
Nho giáo. Theo lời của thầy trụ trì thì đây là do thầy
nhặt được trong một dịp thăm nhà quen, thấy được hai
cặp câu đối bị thất lạc nơi từ đường của một gia
đình, thầy vội xin về treo phía hậu liêu chùa. Nếu thầy
không xin và mang về chùa treo thì nó sẽ bị thất lạc. Thế
là câu đối của từ đường lại được treo trong chùa. Ví
dụ chùa Long Phú ở Biên Hòa (Đồng Nai).
g)-
Nhưng cũng có trường hợp, câu đối liên của chùa, nhưng
không biết vì sao bị thất lạc, người ta lại mang vào đình
miếu, treo xen lẫn vào nhau với các câu đối ca tụng thần
linh. Ví dụ tại đình An Hòa (Biên Hòa, Đồng Nai).
II.-
Giá trị tư liệu
Tất
cả tư liệu thuộc di sản chữ Hán còn lại tại hiện trường
trong các chùa đều ở hình thức câu đối liên và hoành phi,
toàn viết bằng chữ Hán.
a)-
Giá trị hình thức cấu tạo theo luật âm dương bằng trắc
Hình
thức câu đối liên được quy định một cách chặt chẽ
về luật âm dương. Câu đối là kết tinh của phú. Dịch
Quân Tả trong quyển Văn học sử Trung Quốc (GS Huỳnh Minh
Đức dịch), đã định nghĩa: “Phú... giống với tản văn
mà cũng khác với tản văn, giống với thi mà cũng khác với
thi. Nó là một hỗn hợp giữa thi và văn. Nói theo danh từ
hiện đại thì nó là loại tản văn mang tính chất thơ, hoặc
nó là loại thơ có hình thức tản văn. Về mặt cú pháp,
phú được viết theo những câu dài ngắn không đều nhau.
Theo nghĩa cổ điển thì phú có nghĩa là trình bày việc gì
đó một cách trực tiếp... Điểm đặc biệt của nó là “âm
luật”, nghĩa là chú trọng đến “vận”.
Ông
nói tiếp: “Sự hình thành của Hán phú hiển nhiên đã chịu
ảnh hưởng của Kinh Thi lẫn Sở từ”.
Dần
dần, Hán phú chịu ảnh hưởng nặng nề của âm luật của
biền văn thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, cho ra lối văn
đi từng cặp như biền văn. Văn tế và phú thí dụ điển
hình của lối Đường phú. Về hình thức, thực chất bài
văn tế gồm nhiều cặp biền văn hợp lại. Mỗi cặp có
quy định âm luật và số chữ riêng. Nếu tách riêng từng
cặp thì gọi là “cặp đối liên”.
Có
một điều khá thú vị là, căn cứ vào sự nghiên cứu của
chúng tôi, chúng tôi có thể khẳng định rằng lối văn đối
liên tuy đến đời Đường mới thành hình, nhưng về mặt
ứng dụng để sáng tác thì :
* Trung
Quốc chỉ ứng dụng để làm riêng từng cặp câu đối liên
mà thôi.
* Việt
Nam chúng ta chẳng những làm riêng từng cặp đối liên, mà
còn dùng chúng ghép thành bài văn tế, phú...
Việt
Nam ta có những bài văn tế hoặc phú làm bằng chữ Nôm rất
nổi tiếng như : Hàn Nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ,
bài Tài tử đa cùng phú của Cao Bá Quát, bài Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc và Văn tế Trương Công Định của Nguyễn Đình
Chiểu...
Dù
gọi là phú hay văn tế thì hình thức cấu tạo đại thể
cũng như nhau : không có câu riêng lẻ, mà chỉ cấu tạo thành
từng cặp một. Trong phạm vi này, chúng ta không đi sâu vào
phú hay văn tế. Phú và văn tế như chúng ta vừa kể trên
ở Việt Nam ít thấy đề cập trong văn học sử Trung Quốc.
Văn
tế Việt Nam được làm theo lối Đường phú.
Chúng
ta thử phân tích về mặt cấu tạo hình thức các cặp đối
liên:
1-
Câu viết theo lối tứ tự : Mỗi vế độc lập gồm 4 chữ.
Ví
dụ : (Văn tế Trương Công Định của Nguyễn Đình Chiểu)
................tứ
tự................ /................tứ tự................
Giặc
cỏ bò
lan / Tướng quân
mắc nạn
vần bằng
vần trắc
2-
Câu viết theo lối bát tự : Mỗi vế độc lập gồm 8 chữ.
................bát
tự ................/................bát tự................
Ví
dụ : (Văn tế Trương Công Định của Nguyễn Đình Chiểu)
Tiền
vàng ơn chúa, trót đã rỡ ràng/ Yên bạc mưu binh, nào còn
trễ nãi
vần bằng
vần trắc
3-
Câu viết theo lối song quan (hai cánh cửa) : Mỗi vế có từ
5 chữ đến 9 chữ.
................song
quan................/ ................song quan................
Ví
dụ : (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu)
Mười
tám ban võ nghệ nào đợi tập rèn/ Chín chục trận binh thư
không chờ bày bôë
vần bằng
vần trắc
4-
Câu viết theo lối cách cú : Mỗi câu gồm 2 vế, một dài
một ngắn.
................a................/
................b................
................a’................/
................b’................
Vế
a đối với vế a’ qua sự cách ngăn của b, hoặc b đối
với b’ phải qua sự cách ngăn của a’.
Ví
dụ : (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu)
Bữa
thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn
gan
vần trắc
vần bằng
Ngày
xem ống khói chạy đen sì
muốn ra cắn cổ
vần bằng
vần trắc
5-
Câu viết theo lối hạc tất (gối hạc) : Mỗi câu gồm 3 vế.
................a................/
................b................/ ................c................
................a’................/
................b’................/ ................c’................
a đối với a'
b đối với b'
c đối với c'
Ví
dụ : (Văn tế dân Lục tỉnh của Nguyễn Đình Chiểu)
Tiếc
non nước ấy nhân dân dường ấy
gây sự này nào thấy phép tẩy oan
vần trắc
vần trắc
vần bằng
Biết
cha mẹ đâu tộc loại ở đâu
chạnh tình đó mới ra ơn điều khuất
vần bằng
vần bằng
vần trắc
Điểm
lại thì tất cả các câu đối liên trong tất cả các chùa,
trong phạm vi nói riêng và có lẽ ở khắp nơi trên nước
Việt Nam, khi làm câu đối đều phải tuân thủ tuyệt đối
các luật đối và luật bằng trắc như chúng tôi đã trình
bày trên. Chỉ có điều là tùy theo trình độ của tác giả
cao hay thấp mà các chữ đối có chỉnh hay không mà thôi.
* Cấu
tạo đối theo luật hư và thực :
Ví
dụ : trắng lốp đối với đen sì (tính từ đối với tính
tưâ, đối đúng và hay)
ăn gan đối với cắn côí (danh từ đối với danh tưâ, đối
đúng và hay)
Ngày
xưa các cụ thường gọi là hư phải đối với hư, thực
phải đối với thực.
III.-
KẾT LUẬN
Quá
trình hoằng dương Phật pháp là trách nhiệm của cộng đồng
Phật giáo (PG). Chùa (tự) là trụ sở vừa là nơi để tu
hành và đồng thời cũng là nơi thuyết pháp để hoằng dương
Phật pháp. Vấn đề dùng kinh kệ để thuyết pháp là vấn
đề khác. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến hình thức
dùng những cặp đối liên để hoằng dương Phật pháp.
Như
chúng ta đã biết, hình thức câu đối rất ngắn, gọn, không
dài dòng lê thê như văn xuôi, như thi ca, như bài minh, bài
kệ. Cho nên, khi dùng câu đối liên thì phải cô đọng tối
đa tư tưởng muốn phát biểu vào trong phạm vi hai câu, vừa
ngắn, vừa phải tuân thủ một cách nghiêm khắc của luật
bằng trắc.
Tuy
nhiên, chúng ta phải hãnh diện về vấn đề này, vì, nếu
so ra với các chùa thuộc các quốc gia quanh ta như Campuchia,
Lào, Thái Lan... thì các chùa này xây cất chắc chắn hơn,
trang trí thếp vàng rực rỡ hơn, nhưng bên trong tuyệt không
có chữ nghĩa. Mà chữ nghĩa dĩ nhiên là những chứng tích
cao cấp của văn minh, văn hóa.
Chúng
tôi có những đề nghị như sau:
1-
Từ nay nếu có sửa chữa chùa, xin cố gắng giữ lại tất
cả những cặp đối liên và các bức hoành phi vốn vô cùng
quý giá trong các ngôi chùa cổ.
2-
Nâng cao thật sự trình độ Hán văn thuộc kinh điển PG và
Nho giáo cho các tu sĩ trẻ đang có trọng trách hoằng dương
Phật pháp cho tương lai.
3-
Phải có một kế hoạch, một chương trình, dịch kinh điển
PG sang Việt văn thật khoa học, chú giải rõ ràng, Hán-Việt
đối chiếu... Những kinh sách Phật đã dịch hiện nay, chưa
đạt đến tầm cao.
4-
Phải lập một ủy ban thu tập, điều tra tình trạng còn hay
mất tất cả các câu đối, hoành phi trong các chùa thuộc
phạm vi đất Nam Kỳ.
5-
Thu tập xong, phải có một ủy ban phân loại, dịch giải,
xiển dương tư tưởng Phật giáo còn tiềm ẩn trong những
mảnh gỗ vô tri treo trên các hàng cột của các chùa.
Xong,
mong các vị tu sĩ trong mỗi chùa, tối thiểu phải thông hiểu
những gì mà chùa mình đang cất giữ (nếu có), đang treo trên
vách. Nói khác đi, đã đến lúc chúng ta phải học và biết
rõ những vị đại sư các thế hệ trước đã muốn nói gì
với con cháu hiện nay qua các câu đối đó? Hay là các câu
đối đó chỉ treo cho đẹp mà thôi? Tôi nghĩ các câu đối
trong chùa cũng là một cách hoằng pháp tuyệt vời chứ không
chỉ treo cho đẹp mà con cháu cứ vứt bỏ.
Những
nhận xét về hiện trạng của các câu đối liên như đã
nói trên, tôi cũng chỉ mong tìm hiểu lại một hình thức
hoằng pháp của cổ nhân mà thôi.
Biết
đâu khi chúng ta hiểu được ý nghĩa của những câu đối
liên và hoành phi trên một cách rõ ràng thì nội thất của
ngôi chùa lại chẳng sáng hẳn lên?
Hy
vọng trong một ngày rất gần đây, tôi sẽ lần lượt cho
ra những tác phẩm liên quan đến vấn đề trên trong các chùa,
đình miếu và từ đường tại đất Gia Định từ 300 năm
nay.«
TP
Hồ Chí Minh, Mạnh hạ, cát nhật, tháng 5-1998
Vài
đặc điểm của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương
THÍCH
PHƯỚC SƠN
Vị
giáo chủ đầu tiên của đạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương là
đức Phật Thầy Tân An, thế danh Đoàn Minh Huyên. Sau khi ông
qua đời, có các vị Phật Trùm, đức Bổn sư Ngô Lợi, ông
sư Vãi Bán Khoai..., các vị này được xem là hậu thân của
đức Phật Thầy - tiếp tục sứ mệnh truyền bá đạo giáo.
Nhưng tùy lúc, danh xưng giáo phái được thay đổi. Lúc đầu
gọi là đạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, lấy ý nghĩa là “mùi
hương lạ trên vùng núi báu”. Đến khi đức Bổn sư Ngô
Lợi truyền đạo thì đạo giáo lấy tên là đạo “Tứ Ân
Hiếu Nghĩa”, nhấn mạnh trọng trách thực hiện bổn phận
đối với bốn ân. Chúng ta có thể ghi nhận mấy nét đặc
sắc của giáo phái này như sau :
1-
Hình thức và nếp sống của các vị giáo chủ:
Các
vị giáo chủ này không mang hình thức của một Tăng sĩ đầu
tròn áo vuông, không có sự truyền thừa rõ ràng, chính thống,
không thực hành nếp sống xuất gia ly dục như các vị Tỳ
kheo. Họ ăn mặc như người thường, sống một đời sống
giản dị, đạm bạc, với tâm nguyện phụng sự tha nhân nhiệt
thành.
2-
Cách thức thờ tự và nghi lễ :
Giáo
phái này chủ trương không thờ tượng cốt, không dùng chuông
mõ, không tụng kinh, không cúng các thực phẩm, mà chỉ thờ
một tấm vải đỏ gọi là trần điều, tượng trưng cho tinh
thần vô tướng viên dung của đạo Phật, cúng Phật bằng
hoa quả và nước lã, kính lạy ông bà và tổ tiên.
3-
Giáo lý căn bản :
Căn
bản giáo lý của đạo giáo này vẫn là giáo lý của Phật
Thích Ca, khuyên người làm lành, lánh dữ, tin nguyên nhân quả
tội phước, nhưng có pha trộn một luân lý Nho giáo trong cung
cách xử thế. Nói chung gồm có hai phương diện:
a)-
Phương diện tu thân: Lấy Giới, Định, Tuệ làm kim chỉ nam
cho sự tu học để hướng đến một đời sống hạnh phúc,
an lạc. Giới: ngăn ngừa những hành vi bất thiện, tội lỗi.
Định: làm cho tâm an tịnh, không rối loạn. Tuệ: thấy rõ
chân tướng của các sự vật và sự thật của cuộc đời.
b)-
Phương diện xử thế: Nỗ lực làm tròn bổn phận đối với
4 trọng ân: 1. Ân tổ tiên, cha mẹ: Dạy cho tín đồ nhớ
đến nguồn gốc tổ tiên, giữ tròn hiếu thảo đối với
cha mẹ, chu toàn đạo nghĩa làm người. 2. Ân đất nước:
Dạy tín đồ tấm lòng yêu nước, có nghĩa vụ giữ gìn và
bảo vệ giang sơn do cha ông để lại. 3. Ân Tam bảo: Khuyên
tín đồ tôn thờ và biết ơn 3 ngôi báu, nơi mình cần phải
nương tựa để hướng đến chân-thiện-mỹ. 4. Ân đồng
bào và nhân loại: Dạy tín đồ tấm lòng nhân ái, biết yêu
thương và biết cứu giúp đồng bào, đồng loại.
4-
Quan tâm đến vấn đề y tế xã hội:
Hầu
hết các vị giáo chủ và các vị cao đồ đều vô cùng tận
tụy trong công tác chữa bệnh cho dân chúng bằng những phương
thuốc dân tộc, và đều nổi tiếng là những thầy thuốc
mát tay, được mọi người tín nhiệm. Vì lúc bấy giờ, tình
trạng đất nước và xã hội ta còn nghèo nàn, lạc hậu,
phương tiện y học và thuốc men còn quá thiếu thốn, các
vị này đã lợi dụng cơ hội chữa bệnh để giảng đạo,
khuyên quần chúng làm việc phước thiện ; nhờ đó mà đạo
giáo phát triển nhanh, tín đồ mỗi lúc một đông.
5-
Quan tâm đến công tác dinh điền khuyến nông:
Đức
Phật Thầy ngoài tài trị bệnh cứu dân, còn đặc biệt khuyến
khích nông dân khai hoang lập ấp, đặt tên các nơi đó là
trại ruộng. Những trại này được mở ra nhiều nơi tại
vùng đất núi Thất Sơn. Kế tục sự nghiệp ấy, đức Bổn
sư Ngô Lợi đi giảng đạo trong vòng 15 năm tại vùng núi
Thất Sơn đã lập ra 4 thôn : An Định, An Hòa, An Thành và
An Lập v.v... Đến sư Vãi Bán Khoai cũng vậy, Ngài đi sâu
vào làng mạc, gần dân nghèo... để thuyết pháp, khuyên dân
chúng phát triển nông nghiệp. Những chỗ thuyết pháp của
các vị, quần chúng tham dự rất đông, nơi nào ít nhất cũng
1 - 2 nghìn người tham dự.
Các
vị ấy đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp là vì ý thức
được rằng “có thực mới vực được đạo” và “no
thì nên Bụt, đói sẽ ra ma”, như ông bà ta từng bảo. Nếu
dân chúng lâm vào cảnh bần cùng đói khổ, họ rất dễ làm
liều, gây nên tội ác.
6-
Cổ vũ tinh thần yêu nước:
Trách
nhiệm đối với quê hương và dân tộc là hai điểm trong
bốn trọng ân của đạo giáo này. Những hoạt động của
các vị giáo chủ luôn luôn gắn liền với nghĩa vụ cứu
nước, giúp dân. Họ rất ưu tư trước cảnh mất nước,
nô lệ và sẵn sàng lên tiếng bênh vực đồng bào khi chứng
kiến những nạn tham quyền, cường hào, những sự áp bức
bất công xảy ra trong xã hội. Do đó, chính quyền Pháp thường
theo dõi và tìm cách ngăn trở, thậm chí có lúc bắt giam,
khủng bố, không cho họ truyền giáo và cứu giúp dân lành.
Ngoài đức Phật Thầy Tây An, các đức Phật Trùm, đức Bổn
sư Ngô Lợi, cho đến sư Vãi Bán Khoai, không ai tránh khỏi
cặp mắt dòm ngó, cản trở của nhà cầm quyền Pháp lúc
bấy giờ.
Thiết
tưởng sự ưu thời mẫn thế là một tình cảm đáng quý,
nhưng đối với các bậc tu sĩ phải có một giới hạn nhất
định, và phải coi đó như một phương tiện chứ không phải
cứu cánh. Nếu xem vấn đề chính trị như một mục đích
cứu cánh, thì khi đạt đến mục đích đó rồi, chúng ta
sẽ cảm thấy bị hụt hẫng, hết lý do để tồn tại, thậm
chí còn có thể xảy ra nạn giành giật, xâu xé và tiêu diệt
lẫn nhau là khác. Những bài học này chúng ta đã thường
gặp và cũng rất dễ thấy. Thế nên, sứ mệnh của tôn giáo
là phải đạt đến những giá trị cao cả hơn, giá trị ấy
vượt khỏi thời gian và không gian; có như vậy mới hóa giải
được mọi sự bất đồng, dẫn con người đến chỗ cảm
thông nhau để cùng nhau xây dựng một thế giới an lạc và
tốt đẹp thực sự. Nhưng điều đáng tiếc là có một số
tín đồ của một vài tôn giáo đã làm chúng ta cảm thấy
thất vọng.
7-
Phổ thông hóa giáo lý:
Phương
pháp truyền đạo của giáo phái này là sử dụng thể văn
vần song thất, lục bát, lời văn bình dị, nghĩa lý dễ hiểu,
có tính cách phổ cập đại chúng, hấp dẫn người nghe, nhằm
trình bày những vấn đề thực tiễn, những nghĩa vụ cụ
thể của mỗi tín đồ đối với gia đình, xã hội và đất
nước.
Tóm
lại, giáo phái này thừa nhận nguyên lý nhân quả luân hồi
tái sinh, xem các vị giáo chủ sau này là hậu thân của các
vị giáo chủ trước. Trường hợp chuyển kiếp này giống
như trường hợp các đức Đạt lai Lạt ma của Lạt Ma giáo
Tây Tạng.
Giáo
phái này đã nỗ lực hiện đại hóa Phật giáo, đem đạo
vào đời, cập nhật hóa những giáo lý của đức Phật Thích
Ca, phát huy những điểm giáo lý thích hợp với hoàn cảnh
và thời đại, đáp ứng được phần nào những nhu cầu bức
thiết của xã hội đương thời, có điều các vị giáo chủ
ấy vẫn tôn thờ đức Phật Thích Ca, vâng hành giáo lý của
Phật, chỉ cải cách một vài hình thức nhỏ mà tự xưng
là giáo chủ thì hình như chưa được ổn. Có lẽ danh xưng
Phật Thầy hay Giáo chủ là do các tín đồ quá sùng thượng
các vị ấy nên suy tôn như thế mà thôi.
Một
ưu điểm khác của giáo phái này là cố gắng dung hòa giữa
giáo lý của đạo Phật với luân lý của Nho giáo và dung
hòa các truyền thống khác của dân tộc. Chúng ta thấy rằng,
khi hoàn cảnh và thời thế thuận lợi, có những vị giáo
chủ, tu sĩ đủ tài đức giáo hóa và hướng dẫn tín đồ
đi đúng chánh đạo, thì đạo giáo này phát triển mạnh.
Trái lại, khi hoàn cảnh không thuận lợi, không có những
vị lãnh đạo đủ tài, đủ đức để cho tín đồ ngưỡng
mộ, quy phục, thì nó trở nên suy vi.
300
năm nghệ thuật tạo hình Phật tượng Gia Định-Sài Gòn
NGUYỄN
ĐẠI PHÚC - HUỲNH NGỌC TRẢNG
Nói
chung, nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở xứ Gia Định-Sài
Gòn từ buổi đầu đến thập kỷ 40, 50 của thế kỷ này
dường như là một tiến trình song hành của hai dòng phái:
dân gian và chuyên nghiệp.
I.
Ở các thôn làng Nam bộ, đây đó, có những ngôi chùa làng
được gọi là “chùa mục đồng” mà theo truyền thuyết
thì các Phật tượng thờ ở đó là do bọn trẻ chăn trâu/bò
lấy đất sét ở gò mối hay dưới ao tự nặn ra. Nặn ra
rồi bày trò cúng kiếng rồi bỏ đó. Lại theo lời tục truyền,
có đứa đem tượng xuống ao/sông tắm thì các tượng ấy
nổi... Dân chúng cho là linh hiển, thế là cất chùa để thờ
nên gọi là “chùa mục đồng”, tượng Phật ấy gọi là
tượng Phật “mục đồng”. Đằng sau các yếu tố thần
kỳ đó cho thấy một sự thật rằng vào buổi đầu khai hoang,
dân chúng đã tự tạo Phật tượng để thờ ở các ngôi
chùa làng. Đây là một tập thành biểu thị lòng sùng tín
và là một bộ phận tiên khởi của lịch sử mỹ thuật Phật
giáo Gia Định.
Đặc
trưng nghệ thuật của tập hợp Phật tượng mục đồng là
sự chân thực hồn nhiên làm sững sờ người xem như một
cảm nhận thảng thốt khi bất chợt nghe một câu hò trên
sông lúc hoàng hôn. Nói cách khác, chúng được tạo tác bằng
một thủ pháp riêng như ca dao - dân ca được ứng tác bằng
thi pháp dân gian khác với thi pháp của thi ca bác học. Tác
phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà
không là kỹ năng hay sử dụng công của thợ điêu khắc
chuyên nghiệp. Nó là sản phẩm của “họa pháp” đại tả
ý - nếu có thể gượng ép lấy thuật ngữ này để định
danh đó. cái đẹp của chúng là ở chính sự thô phác ấy.
II.
Chất liệu của tập hợp Phật tượng dân gian mà chúng tôi
định danh chung là “Phật tượng mục đồng” bao gồm tượng
gỗ, tượng đất sét, tượng đất nung.
1.
Pho tượng Phật lần chuỗi ở chùa Hội Sơn (Thủ Đức) và
các tượng khác không xác định được tên gọi ở chùa Long
Tân (Tân Vạn - Biên Hòa) là các tượng bằng đất nung đặc
ruột. Đây là những di tích của tiến trình từ tượng mục
đồng đất sét đến tượng gốm đất nung bán chuyên nghiệp.
Các
tượng gốm đất nung ở đình Phú Định (quận 6), đặc biệt
ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, P.7, Q.8) là những di tượng gốm
đất nung thuộc thế hệ đầu của xóm Lò Gốm Cây Mai / xứ
Sài Gòn xưa: niên đại đoán định là từ đầu đến giữa
thế kỷ XIX. Trong khi đó các bộ tượng gốm đất nung của
các chùa Thiên Phước (Thủ Đức), Trường Thọ (Gò Vấp),
Diệu Giác (Bình Thạnh) có thể được tạo tác hồi đầu
thế kỷ XX vì chúng có kỹ pháp tạo hình và phong cách nghệ
thuật khá đồng nhất với loại tượng này ở vùng Dĩ An
- Biên Hòa.
Gọi
các tượng này là tượng gốm bán chuyên nghiệp vì chúng
được tạo tác bằng kỹ pháp học được do thợ gốm chuyên
nghiệp (hay do các thợ chuyên nghiệp trực tiếp thực hiện)
được hầm bằng trấu, có ôn độ thấp, gốm nung chín còn
non và đặc biệt là trình độ tạo tượng là còn non kém,
không đạt được trình độ già dặn như Phật tượng sành
Cây Mai.
2.
Xóm lò gốm ở vùng Phú Lâm - Phú Định được ghi trong bản
đồ Gia Định-Sài Gòn (Sài Gòn lúc đó hiểu là Chợ Lớn
ngày nay) vào năm 1815, tức nó đã thành lập trước đó -
có thể là cuối thế kỷ XVIII. Các lò gốm ở đây sản xuất
gạch, ngói, đồ gia dụng và có lẽ các lò Nam Hưng Xương,
Bửu Nguyên, Đồng Hòa là các lò chuyên làm tượng thờ và
các nhóm tượng trang trí của chùa miếu - gọi chung là sản
phẩm “công nghệ miếu vũ” - tập trung quanh cầu Phú Lâm
đến gò chùa Cây Mai nên thường được gọi là “gốm Cây
Mai”.
Pho
tượng gốm Cây Mai có niên đại chính xác và sớm nhất là
tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên: 1880 và các niên đại muộn
nhất là loại tiểu tượng gốm Cây Mai là 1921. Điều đó
cho phép xác định các tượng thuộc tập hợp Phật tượng
sành là khoảng cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ này.
Phật
tượng gốm Cây Mai không nhiều nhưng đó là những bảo tượng
vì vẻ đẹp của men màu “lưu ly” - nói như thế nhân thường
gọi, mà là trình độ nghệ thuật, của tài năng tạo hình
- đặc biệt là việc xử lý thần thái của nét mặt và qui
pháp tạo hình đã thật sự có tuân thủ nghiêm túc nhất
định về nghi qui và đồ tượng học Phật giáo có tính mẫu
mực (1).
3.
Gốm cây Mai đầu thế kỷ XX bắt đầu tàn rụi vì nhiều
nguyên nhân. Thợ gốm ở đây lần lượt dời về Lái Thiêu,
Biên Hòa. Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của thợ gốm
cây Mai đã góp phần tạo nên các bộ tượng gốm đất nung
nói trên. Các sản phẩm bán chuyên nghiệp này được các
chùa đặt mua khá nhiều. Địa bàn phổ biến của chúng từ
trung tâm Biên Hòa đến Vũng Tàu - Bà Rịa, xuống Dĩ An, Gia
Định, xuống tại chùa Phước Hậu (Trà Ôn - Vĩnh Long).
Ngoài
ảnh hưởng của thợ gốm Cây Mai đối với phong trào tự
tạo tượng gốm đất nung hầm non bằng trấu nói trên, họ
còn là những thợ cả, thầy dạy cho đội ngũ nghệ nhân
gốm của trường Mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa (lập năm 1903)
mà kết quả là đã tạo nên loại sản phẩm nổi tiếng một
thời ở thị trường trong nước và thế giới - gọi là gốm
Mỹ nghệ Biên Hòa. Số lượng tượng Phật của gốm mỹ
nghệ Biên Hòa là một sưu tập đa dạng và phong phú được
tạo tác bằng phương pháp thủ công hoàn toàn, hoặc in khuôn,
hoặc rót khuôn và tận dụng nhiều kỹ thuật trang trí khác
nhau: chạm khắc, tô men, vẽ men. Bảng màu men của gốm mỹ
nghệ Biên Hòa rất phong phú nhưng được sử dụng có liều
lượng, có nghiên cứu nên đã tạo nên nhiều Phật tượng
trang nghiêm hoàn mỹ. Điều đó, quí vị có thể nhìn thấy
ở sưu tập ảnh mà chúng tôi trưng bày ở đợt triển lãm
“Bảo tượng pháp khí” này.
III.
Bộ phận Phật tượng gỗ là tập thành phong phú nhất về
số lượng, về đề tài cũng như phong cách và kỹ pháp tạo
hình.
Các
Phật tượng của chùa Kim Chương (khai sơn 1755) mà ngày nay
còn bảo quản được ở chùa Hội Thọ (Cái Bè - Tiền Giang)
là những pho tượng có niên đại 1813 - năm tái thiết lớn
và ngôi chùa sắc tứ này được thế nhân xưng tụng là “đại
bửu sát” của cả xứ Nam Trung (xem Gia Định thành thông
chí) đây là những Phật tượng mà tác giả tạo tác hẳn
là nghệ nhân Huế. Chúng ta không có tài liệu Hán Nôm nào
để khẳng định là chúng được Cao Hoàng hậu cho chở từ
kinh đô Phú Xuân vào, nhưng căn cứ vào đặc điểm đồ tượng
học, vào phong cách tạo hình chúng ta có thể kết luận về
điều đó. Tương tự A Di Đà của chùa Khải Tường là pho
tượng của vua Minh Mạng dâng cúng vào khoảng sau năm 1832,
khi ông vua này “lấy của kho 300 lạng bạc, giao cho quan địa
phương theo cách thức đã định của Bộ Công, gọi thợ xây
dựng” ngôi chùa ở nơi mình sinh ra, gọi là chùa Khải Tường
“để ghi sự tốt lành to tác, chứng tỏ nơi phát phúc lâu
dài”(Đại Nam thực lục chính biên. Bản dịch của Viện
sử học, H.1962, tập 9, trang 173 - 174).
Nói
chung, đây là những Phật tượng gỗ có tính chất chuẩn
mực của nghệ thuật tạo tượng đầu thế kỷ XIX. Trong
khi đó các Phật tượng trước sau niên đại này ở các chùa
cổ: Trường Thọ, Long Huê, Tập Phước, Phước Tường, Huê
Nghiêm, Long Nhiễu, Giác Lâm, Giác Viên... lại còn hoặc thô
phác hay quá chân phương, thiếu sinh động... và phải đến
những năm 60, 70 của thế kỷ này mới thấy xuất hiện các
Phật tượng đạt được chuẩn mực nghệ thuật trang nghiêm
thực sự đáng được gọi là có “tướng hảo quang minh”.
Các Phật tượng ở các chùa Phước Hòa, Pháp Hội của nghệ
nhân điêu khắc gỗ Nguyễn Đức Thống là những ví dụ.
Gia
Định-Sài Gòn là thành phố ngã ba đường, nơi hội tụ của
nhiều dòng chảy văn hóa. Đặc điểm này cũng biểu hiện
khá rõ trong nghệ thuật tạo hình Phật tượng. Các chi phái
thợ chạm khắc gỗ từ Thuận-Quảng, từ miền Bắc, từ
Thủ Dầu Một, từ Sa Đéc, Long Xuyên, trong đó có các nghệ
nhân người Hoa, đã đổ về đây. Họ đã tạo tác nên một
tập đại thành Phật tượngå theo qui pháp tạo hình và phong
cách nghệ thuật khác nhau; và rồi trong những thập niên đầu
thế kỷ này, đội ngũ những nhà điêu khắc Phật tượng
lại được bổ sung những người tốt nghiệp từ các trường
mỹ thuật chính qui. Họ đã tạo tác Phật tượng bằng nhiều
chất liệu khác nhau: gỗ, gốm đất nung, sành sứ, thạch
cao, xi-măng...
Gỗ
là chất liệu truyền thống của nghệ thuật tạo tượng;
đặc biệt gỗ mít/mít nài do tên gọi chữ Hán của nó là
cây ba la mật nên được coi là thứ gỗ thiêng đặc dụng.
Ngày nay, việc tạc tượng Phật gỗ vẫn còn duy trì, song
đa phần ngả qua hướng tạo tượng mỹ nghệ hơn là tượng
thờ. Phật tượng thờ làm bằng thạch cao, xi măng giờ đây
được đắc dụng hơn nhưng do sản xuất hàng loạt nên ít
thấy những Phật tượng có giá trị nghệ thuật độc đáo.
Tượng
đáá ở Nam bộ, trước đây là sự “tiếp nhận” các di
tượng đá đa phần là thần của Bà la môn giáo để thờ
- gọi chung là Phật đá. Gần đây Phật tượng bằng đá
của nghệ nhân điêu khắc đá Bửu Long (Biên Hòa) bắt đầu
được quan tâm. Một trong những tượng Phật đá hiện đại
đáng chú ý là tượng Phật Quan Âm của chùa Quan Thế Âm
(Phú Nhuận).
Nói
chung, trong 300 năm lịch sử của Gia Định-Sài Gòn-thành phố
Hồ Chí Minh, các chi phái thợ, các nhà điêu khắc đã tạo
tác nên một tập thành Phật tượng khá phong phú. Qua biết
bao biến cố dữ dội suốt ba thế kỷ qua, những Phật tượng
còn lại đến nay là một bộ phận quan yếu của lịch sử
mỹ thuật vùng đất này. Điều này đã chỉ ra nhiệm vụ
của thế hệ ngày nay đối với những giá trị cổ xưa còn
sót lại. Những pho tượng cổ, dù không được coi là có
“tướng hảo quang minh” theo cái nhìn của con người thời
nay; nhưng đó là những giá trị lịch sử một đi không tái
lại. Do vậy, việc phế bỏ hay sơn sửa mới đều làm hại
đến giá trị vốn có của chúng, dù việc làm đó xuất phát
từ những thiện ý.
(1)
Tạm kể các tượng đáng lưu ý sau đây: Giám Trai (Giác Viên),
Bồ Đề Đạt ma, Tiêu Diện Đại sĩ (Phụng Sơn - chùa Gò),
Chuẩn Đề (Giác Sanh), Tiêu Diện Đại Sứ (tượng đứng
- Vạn Đức), Tiêu Diện Đại sĩ (tượng ngồi - Bửu An),
Thiện Hữu (đình Phú Định), Di Đà Tam Tôn (cực lớn), Giám
Trai, Bồ Đề Đạt Ma (Phước Lưu - Trảng Bàng), nhiều tượng
Phật ở Phật điện chùa Vạn Linh (Bình Thủy - Cần Thơ)...
Phật
giáo trong cái nhìn của nho sĩ Nam Bộ
cao
tự thanh
Là
một bộ phận cấu thành của thiết chế văn hóa-xã hội
truyền thống Việt Nam, Phật giáo (PG) cũng là một yếu tố
góp phần thể hiện, đồng thời thực hiện tiến trình lịch
sử Việt Nam ở Nam Bộ các thế kỷ trước. Tuy nhiên, phát
triển trong những điều kiện xã hội và chính trị khác hẳn
thời Lý-Trần. Phật giáo ở Nam Bộ cũng mang một giá trị
thay đổi qua các thời kỳ lịch sử và ở những không gian
xã hội khác nhau, nhưng cho dù không phải đều là thiện duyên,
đó cũng là những cơ duyên giúp nó liên tục tự hoàn thiện
bằng sức mạnh dân tộc và không ngừng tự đổi mới qua
thực tiễn xã hội. Từ cách hiểu này, việc tìm hiểu PG
qua cái nhìn của nho sĩ ở Nam Bộ thế kỷ XVIII-XIX là một
vấn đề có thể và cần thiết được đặt ra.
Nhìn
lại lịch sử Nam Bộ qua bốn giai đoạn trước 1802, 1802-1867,
1867-1945 và từ 1945 đến nay, trong đó giai đoạn đầu gồm
thời kỳ Đàng Trong (từ đầu đến 1777) và thời kỳ nội
chiến Tây Sơn-Nguyễn Ánh (1778-1802), có thể thấy thời kỳ
Đàng Trong là xuất phát điểm lịch sử rất thuận lợi cho
sự phát triển của PG ở Nam Bộ. Tất cả các chúa Nguyễn
ở Đàng Trong đều là những người sùng thượng đạo Phật.
Thậm chí khóc một người ái thiếp qua đời, Hiển Tông Phước
Châu còn làm bốn bài thơ, trong đó có câu cuối cùng là “Kim
bằng diệu pháp không vương lực, Tiến bạt u hồn đạt thượng
phương” (Nay nhờ diệu pháp Như Lai giúp, Nâng đỡ hồn thơm
tới cõi Tây) (1). Nhiều văn thần võ tướng Đàng Trong cũng
là những Phật tử tiêu biểu, trong đó có những người như
Trần Đình Ân, Nguyễn Hữu Hào còn là các trí thức Phật
học điển hình (2). Hơn thế nữa, nếu tập quán văn hóa-tín
ngưỡng đã khiến những kẻ đứng đầu tập đoàn thống
trị họ Nguyễn hướng tới đạo Phật để tìm kiếm một
sự thỏa mãn về tri thức và tinh thần, thì ý thức chính
trị-giai cấp cũng giúp họ nhìn thấy nơi đây một lực lượng
có thể góp phần củng cố và mở rộng thế lực phần đời
của mình trong hoàn cảnh lịch sử-xã hội ở Đàng Trong buổi
ấy (3). Theo với sự phát triển của Nho giáo ở Đàng Trong,
thiết chế văn hóa-tư tưởng kiểu “Nho-Thích song hành”
này sẽ từng bước mất đi ở Thuận-Quảng vào nửa đầu
thế kỷ XVIII. Nhưng ở Nam Bộ thì tuy các chuẩn mực lối
sống của Phật giáo đã dần dần không còn đáp ứng được
các nhu cầu quản lý xã hội nữa, song tính hội tụ trong
văn hóa của vùng này lại tạo điều kiện thuận lợi cho
sự duy trì truyền thống Tam giáo hòa đồng. Cho nên mặc dù
trước 1777, Nguyễn Cư Trinh ở Quảng Ngãi từng phê phán kiểu
tu hành của PG là vô dụng : “Có đâu đi bắt chước thầy
sãi mà tu trì. Đương ban ngày dù có phép lên trời. Luận
đạo trị chẳng ích chi cho nước” (4) trong Sãi vãi hay Nguyễn
Dưỡng Hạo ở Thuận Hóa đã coi việc Ngô Thế Lân phối
hợp triết lý Tam giáo để nhìn nhận Thái cực đồ là “bị
mê hoặc vì thuyết chung nguồn khác dòng” (hoặc ư nhất
ngôn dị lưu chi thuyết) (5), nho sĩ Nam Bộ thế kỷ XVIII vẫn
nhìn nhận PG theo một cách khác hơn. Trước khi Tây Sơn vào
Nam Bộ lần đầu năm 1776, Trịnh Hoài Đức từng có một
tình bạn khá đặc biệt với nhà sư Viên Quang :
Ức
tích thái bình thì
Lộc
Động phương thịnh mỹ
Thích
Ca giáo hưng sùng
Lâm
ngoại tổ phú quý
Ngã
vi thiêu hương đồng
Sư
tác trì giới sĩ
Tuy
ngoại phân thanh hoàng
Nhược
mặåc khế tâm chí
(Nhớ
thuở thái bình xưa
Đồng
Nai vừa thịnh mỹ
Đạo
Thích được tôn sùng
Nhà
ngoại còn phú quý
Ta
làm trẻ dâng hương
Sư
là người giữ giới
Áo
tuy chia xanh vàng
Lòng
vẫn chung ý khí...) (6)
và
mặc dù từ 1751-1752 từng xuất phát từ ý hướng giúp vua
trị nước của một nhà nho mà phê phán đạo Phật, khoảng
1755-1765, viên Tham mưu Ngũ dinh Gia Định Nguyễn Cư Trinh vẫn
coi chùa Phật là một biểu trưng của văn hóa Việt qua những
lời thơ hùng tráng đẹp đẽ trong bài Tiêu Tự thần chung
họa thơ Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên:
<