Chương
2:
THỨC THỨ SÁU
Tam
tánh, tam lượng, thông tam cảnh
(Thức
thứ sáu có đủ 3 tánh, 3 lượng và 3 cảnh)
Câu
tụng này nói về thức thứ sáu. Thức thứ sáu đủ
cả 3 tánh, 3 lượng và 3 cảnh. Ba tánh là:
thiện, bất thiện và vô ký. Thiện mang ý nghĩa
thuận ích: thuận theo lý lẽ chân chánh và lợi ích cho
mình người. Bất thiện mang ý nghĩa nghịch tổn:
nghịch với lý lẽ chân chánh và tổn hại cho mình người.
Vô ký là đối với điều thiện và điều ác không
thể ghi nhớ, phân biệt (là thiện hay ác).
Sau
đây lấy nghĩa thuận nghịch và tổn ích để
giải thích 3 tánh. Thuận ích 2 đời gọi là thiện
tánh. Nghịch tổn 2 đời gọi là bất thiện tánh.
Đối với quả (dị thục) có ái dục [40] và không có
ái dục mà chẳng thể ghi nhận và phân biệt, gọi là vô
ký tánh. Nói cách khác, tự thể (= sinh thể) và quả
(= dị thục của sinh thể đó), cả hai đều có sự lưu luyến
(ái) và thỏa thích (lạc), gọi là thiện tánh. Ngược
với thiện tánh là bất thiện tánh (= phi ái lạc). Không
có ái lạc (không có ưa thích) và không có phi ái lạc (không
có ghét bỏ), chẳng thể ghi nhận và phân biệt, gọi là vô
ký.
Ngoài
ra, có thể lấy 3 đời hữu lậu và vô lậu để giải thích
3 tánh. Ba lượng là hiện lượng, tỷ lượng và
phi lượng. Hiện lượng đã giải, xin xem chương
trước. Đây chỉ giải tỷ lượng và phi lượng.
Tỷ lượng là hình thái nhận thức có tính so sánh,
suy đoán một cách chính xác về cảnh (, do ý thức y cứ vào
cảnh đã biết). Phi lượng là hình thái nhận thức
mà về tình cảm thì có, về lý trí thì không, do đó khi so
sánh, suy đoán về cảnh có sự sai lầm.
Ý
thức được nhận diện dưới 5 hình thái:
1.
Định
trung độc đầu ý thức (định trung ý thức): là
ý thức duyên với cảnh trong định. Cảnh trong định
có lý (= định tự tại sở sanh sắc) và sự. Sự lại
có cực lược sắc [41] và cực huýnh sắc [42] .
Tóm lại, ở trong thiền định, ý thức tự tại sanh ra các
sắc pháp thuộc pháp xứ [43] (= pháp xứ sở nhiếp sắc).
2.
Tán
vị độc đầu ý thức [44] (độc tán ý thức): là
ý thức duyên với thọ sở dẫn sắc [45] (và biến kế
sở sắc [46] ), nghĩa là ý thức trong sự biểu hiện biến
kế khởi ra các sắc pháp thuộc pháp xứ. Như hoa đốm
giữa hư không, hình ảnh trong gương, màu sắc phác họa đều
xếp vào loại sắc pháp này, tức pháp xứ sở nhiếp sắc.
3.
Mộng
trung độc đầu ý thức (mộng trung ý thức): là ý
thức duyên với cảnh trong mộng.
4.
Minh
liễu ý thức (ngũ câu ý thức): là ý thức khởi
lên một lượt với 5 thức trước cùng duyên với 5 trần.
5.
Loạn trung ý thức: là ý thức tán loạn rồi khởi
ra sự cuồng loạn biểu hiện qua 5 căn. Như người mắc
bịnh hoạn nhiệt thấy màu xanh ra màu vàng, chẳng phải do
nhãn thức loạn mà là ý thức cuồng loạn.
Định
trung ý thức thuộc hiện lượng. Độc tán ý thức đi
với tỷ lượng và phi lượng. Mộng trung ý thức và
loạn trung ý thức đều là phi lượng. Minh liễu ý thức
gồm cả 3 lượng, nhưng phần nhiều là hiện lượng, phần
ít là tỷ lượng và phi lượng.
Ba
cảnh là tánh cảnh, đới chất cảnh và độc ảnh cảnh.
Tánh cảnh đã giải ở chương trước, nay giải thích thêm
cùng với đới chất cảnh và độc ảnh cảnh.
1.
Tánh
cảnh: là căn và trần thật sự do 8 pháp năng sở tạo
thành, (có khi) là định quả sắc [47] thật sự, đều
do chủng tử thật sự sanh khởi. Tánh cảnh chỉ có hiện
lượng: tướng phần của 5 thức trước và tướng phần
của thức thứ 8. Tánh cảnh là các cảnh thật sắc làm
đối tượng sở duyên của ngũ câu ý thức [48] .Tánh
cảnh là tự thân của thật tại không mang danh ngôn (khái
niệm), không bị biến hình vì tác dụng phân biệt tỷ giảo
của nhận thức. Trí căn bản khi duyên chân như cũng
là tánh cảnh, do cái dụng của trí vô phân biệt, nhậm vận
thể hội (chân như).
Tánh
cảnh chia thành 2 loại:
a.
Vô
chất tánh cảnh: đã nói ở trên.
b.
Hữu
chất tánh cảnh: hoàn toàn không có nghĩa của vô
chất tánh cảnh, chỉ là phần huyễn tướng (không có nghĩa
thật tại), đứng trên phương diện ý nghĩa của sắc chất
mà tạm nói là tánh cảnh. Do có tính giả thuyết nên
gọi là hữu chất tánh cảnh.
2.
Đới
chất cảnh: có 2 loại:
a.
Chân
đới chất cảnh: lấy tâm duyên tâm (như thức thứ
7 duyên với tướng kiến phần của thức thứ 8), ở giữa
hai tâm, tướng phần của tâm năng duyên và tướng phần của
tâm sở duyên cùng liên đới sanh khởi, gọi là chân đới
chất.
b.
Tợ
đới chất cảnh: lấy tâm duyên sắc (như ý thức
nhớ lại các cảnh đã qua, và cảnh đây chỉ là những bóng
dáng của trần cảnh [pháp trần], không phải tự tướng của
cảnh), ở giữa tâm và sắc, tướng phần (của cảnh sở
duyên) chỉ từ kiến phần (của tâm năng duyên) sanh khởi.
Tính chất vừa liên đới, vừa chuyển biến (biến đới)
nên gọi là tợ đới chất cảnh.
3.
Độc
ảnh cảnh: có 2 loại:
a.
Vô
chất độc ảnh cảnh: Ý thức tạo dựng thế giới
ảnh tượng (tướng phần) không thật như hoa đốm giữa hư
không, sừng thỏ, các ảnh tượng dĩ vãng, tương lai … Các
ảnh tượng đó và ý thức sanh ra từ cùng một chủng tử.
Nói tóm, các ảnh tượng hoa đốm giữa hư không v.v… đều
không phải thật chất, chỉ là sản phẩm tưởng tượng của
ý thức.
b.
Hữu
chất độc ảnh cảnh: Ý thức tái tạo những ảnh
tượng khi duyên cảnh qua 5 căn, bằng chủng tử và hiện hành
(của A lại da liên tục đắp đổi: năng huân và sở huân),
vì vậy những ảnh tượng sanh khởi đó có bản chất vay
mượn. Các ảnh tượng đó (tướng phần) và ý thức
(kiến phần) sanh ra từ cùng một chủng tử, nên gọi là độc
ảnh.
Cảnh
là sở duyên. Thức là năng duyên. Cảnh và thức
đều có thể tánh riêng. Thể của Tánh cảnh, xem giải
thích ở trên. Thức năng duyên: trừ thức Mạt na,
7 thức còn lại đều sử dụng bản thân tâm thức và những
tâm sở phụ thuộc làm thể tánh. Thể của độc ảnh
cảnh là lấy kiến phần của ý thức tự biến hiện giả
lập làm tướng phần; (rõ ràng) thể của thức năng duyên
chính là tự thân ý thức và những tâm sở phụ thuộc.
Thể của đới chất cảnh là (thức năng duyên) tự biến
khởi, ở khoảng giữa (thức và cảnh) giả lập ra tướng
phần (có bản chất sở y chứ không có tự tướng của cảnh);
(ở đây) thể của thức năng duyên là ý thức, thức Mạt
na và những tâm sở phụ thuộc. Vì vậy, câu tụng trên
nói thức thứ sáu có đối tượng nhận thức gồm cả 3 cảnh.
Ngũ
câu ý thức khi ở trong trường hợp tri giác thuần túy [49],
thì đạt tới cảnh tự tướng, chính là Tánh cảnh.
Ý thức duyên tâm và tâm sở là Đới chất cảnh. Ý
thức duyên các pháp không có thật thể [50] là Độc
ảnh cảnh. Ba trường hợp trên đây là đứng về lĩnh
vực phàm phu hữu lậu mà nói. Đứng về lĩnh vực Thánh
giả vô lậu thì 8 thức đều duyên 3 cảnh.
Nói
về 3 cảnh, ngài Huyền Trang, dựa theo thuyết của ngài Hộ
Pháp, có soạn ra bài tụng rằng:
Tánh cảnh bất tùy tâm
Độc ảnh duy tùng kiến
Đới chất thông tình bản
Tánh chủng đẳng tùy ứng.
(Tánh
cảnh là lĩnh vực tự thân của thực tại không chịu tác
dụng của tâm phân biệt [bất tùy tâm]. Độc ảnh cảnh
là thế giới ảnh tượng do ý thức tạo dựng khi nó hoạt
động độc lập, vì vậy Độc ảnh cảnh lấy kiến phần
của ý thức tự biến làm thể [duy tùng kiến]. Đới
chất cảnh liên hệ [liên đới] với tình thức [ý thức]
và căn bản thức [A lại da thức], là lĩnh vực của ý tượng
[đối tượng của ý thức] mà trong đó tướng phần sở duyên
được cấu tạo trên nền tảng kiến phần của tình thức
hay căn bản thức [thông tình bản]. Tánh chủng là A lại
da thức và các thức khác, tùy theo hoạt dụng của mỗi thức
mà tương ưng với Tánh cảnh, Độc ảnh cảnh hay Đới chất
cảnh [đẳng tùy ứng]).
Tam
giới luân thời dị khả tri
(Dễ
biết được hành tướng của thức thứ sáu khi nó luân chuyển
trong 3 cõi)
Tam
giới, đã giải thích ở chương trước. Luân, là
luân chuyển. Câu tụng muốn nói, thức thứ sáu qua lại
ba cõi rất dễ biết, do hành tướng của nó hiển bày một
cách rõ ràng và hơn hẳn các thức khác. Ý thức (đưa
con người đến các nẻo đường sanh tử hay giải thoát, bởi
lẽ nó) là động lực lớn nhất và chủ yếu làm phát sanh
hành động của thân thể và ngôn ngữâ: động thân
phát ngữ độc vi tối.
Tương
ưng tâm sở ngũ thập nhất
(Thức
thứ sáu thích ứng với 51 loại tâm sở)
Trong
8 thức tâm vương chỉ có thức thứ sáu là tương ưng cả
51 món tâm sở, cùng hỗ tương nhau, không chống trái nhau.
Năm tâm sở biến hành, 5 tâm sở biệt cảnh, 11 tâm sở thiện,
3 phiền não căn bản (tham, sân, si), 2 phiền não trung tùy,
8 phiền não đại tùy, tất cả đã giải ở chương trước.
Chương này chỉ giải 3 phiền não căn bản còn lại (mạn,
nghi, ác kiến), 10 phiền não tiểu tùy và 4 tâm sở bất định.
Ba
căn
bản phiền não là: mạn, nghi và ác kiến.
1.
Mạn
(kiêu ngạo): Đặc tánh của tâm sở này là cậy ỷ (tài
năng hay thế lực) mình mà tỏ thái độ cao ngạo, khinh khi.
Hoạt dụng của mạn là làm nhân sanh ra các tội khổ và làm
chướng ngại tâm không kiêu ngạo. Người có tâm kiêu
ngạo thì tâm lý cất cao, không có sự khiêm tốn đối với
tánh đức (vô lậu của bản tâm) và người có đạo đức;
do đây, dòng sanh tử luân chuyển không cùng, chịu các khổ
não.
2.
Nghi
(hoài nghi): Đặc tánh của tâm sở này là do dự (hoài
nghi, hoang mang) đối với các chân lý chắc thật (tứ đế).
Hoạt dụng của nghi là làm chướng ngại thiện pháp và trở
ngại tâm không hoài nghi. Chính tâm lý do dự (hoài nghi)
mà điều lành chẳng thể phát sanh.
3.
Ác kiến (thấy biết sai lầm): Đặc tánh của tâm
sở này là hiểu biết, suy luận điên đảo về các chân lý
chắc thật (tứ đế). Hoạt dụng của ác kiến là làm
chướng ngại sự thấy biết thiện pháp (chân chánh) và gây
tạo tội khổ. Chính sự thấy biết điên đảo (thác
loạn) mà khổ đau (phải chịu) càng thêm nhiều. Ác kiến
có 5 loại: một là, thân kiến (chấp có sự tồn tại của
ngã); hai là, biên kiến (chấp một bên: thường kiến,
chết rồi vẫn thường còn, [hay] đoạn kiến, chết rồi thì
mất hẳn); ba là, tà kiến (phủ định lý nhân quả);
bốn là, kiến thủ (chấp kiến giải sai lầm cho là chân lý);
năm là, giới cấm thủ (chấp giữ những tục lệ cổ hủ,
giới luật sai lầm).
Mười
phiền
não tiểu tùy: (do mỗi loại tự lực sanh khởi, phạm vi
tương ưng nhỏ hẹp, nên gọi là tiểu)
1.
Phẫn
(giận dỗi): Đặc tánh của tâm sở này là nổi giận
với cảnh trái nghịch trước mắt. Hoạt dụng của phẫn
là muốn chống trả và chướng ngại tâm không nổi giận.
Người nổi giận thì phần nhiều biểu lộ qua cử chỉ và
nét mặt hung dữ.
2.
Hận
(oán hờn): Đặc tánh của tâm sở này là kết oán, do
trước đó nổi giận, sau ôm lòng oán ghét không tha.
Hoạt dụng của hận là nóng nảy và chướng ngại tâm không
oán hờn. Người oán hờn thì không thể nuốt hận, chấp
nhận, thường thì hay nóng nảy. Phẫn và hận thuộc
về tâm sân.
3.
Phú
(che giấu): Đặc tánh của tâm sở này là che giấu tội
lỗi của mình làm vì sợ mất tiếng tăm và lợi lộc.
Hoạt dụng của phú là ăn năn, buồn phiền và chướng ngại
tâm không che giấu. Người che giấu tội lỗi thì sau
đó thường hối hận, phiền muộn, tâm không an ổn.
Phú thuộc về tâm tham và si.
4.
Não
(bực tức): Đặc tánh của tâm sở này là bực tức,
do trước phẫn hận (giận hờn), chạm nọc thành hung dữ.
Hoạt dụng của não là châm chích đối phương (qua cử chỉ
và lời nói) và chướng ngại tâm không bực tức. Não
thuộc về tâm sân.
5.
Tật
(ganh ghét): Đặc tánh của tâm sở này là ganh ghét, thà
mình bỏ mạng chạy theo danh lợi chứ chẳng chịu người
khác được thăng tiến. Hoạt dụng của tật là lo rầu
và chướng ngại tâm không ganh ghét. Người có lòng đố kỵ
thì khi thấy, nghe người khác được vinh hoa liền ôm lòng
sầu khổ, lo buồn, tâm không an ổn. Tật thuộc về tâm
sân.
6.
Xan
(keo bẩn): Đặc tánh của tâm sở này là bỏn xẻn, không
chịu xả bỏ tiền tài hay chia sẻ giáo pháp cho người.
Hoạt dụng của xan là keo kiệt, tích chứa và chướng ngại
tâm không bỏn xẻn. Người bỏn xẻn thường có tâm
lý hẹp hòi, keo rít, ưa tích chứa tài vật mà không muốn
cho người. Xan thuộc về tâm tham.
7.
Cuống
(dối trá): Đặc tánh của tâm sở này là giả dối,
qủi quyệt bằng cách giả bộ biểu hiện là người có đức
để được lợi dưỡng và tiếng khen. Hoạt dụng của
cuống là mưu sanh bất chánh (= tà mạng: cách sống không trong
sạch) và chướng ngại tâm không dối trá. Người dối
trá thì lòng ôm ấp toan tính, thường biểu lộ nhiều việc
không thật và cách sống không trong sạch. Cuống thuộc
về tâm tham và si.
8.
Siểm
(dua nịnh): Đặc tánh của tâm sở này là dua nịnh quanh
co chỉ để lừa dối người bằng cái vẻ bề ngoài khác
với nội tâm (= là miệng và ý tự mâu thuẩn nhau, và mâu
thuẩn với đạo pháp). Hoạt dụng của siểm khúc là
nói năng bợ đỡ, nịnh hót và chướng ngại tâm không dua
nịnh (= tâm chất trực). Dua nịnh quanh co chỉ để dối
trá người bằng cách dối lập những phương cách làm sao
lấy lòng người khác, biết khi nào thì a dua, khi nào thì quanh
co. Siểm khúc còn có nghĩa là khéo (quanh co) che giấu
lầm lỗi của mình, bất chấp lời khuyên răn chân thành của
thầy bạn. Siểm thuộc về tâm tham và si.
9.
Hại
(tổn hại): Đặc tánh của tâm sở này là làm thương
tổn và rối loạn về mặt tâm lý của người khác, do thiếu
lòng bi mẫn. Hoạt dụng của hại là lấn hiếp khiến
cho người sanh bực tức, và chướng ngại tâm không tổn hại.
Người có tâm tổn hại thì ưa thích thấy người khác sầu
khổ. Hại thuộc về tâm sân.
10.
Kiêu
(kiêu ngạo): Đặc tánh của tâm sở này là kiêu hãnh
và cao ngạo, vì tự nhận là thành công trong sự nghiệp (như
được giàu sang, quyền thế, có tài năng), rồi tự mình đắm
sâu, mê say vào sự tôn thắng ấy. Hoạt dụng của kiêu
là chỗ dựa cho pháp tạp nhiễm (= phiền não và tùy phiền
não), và chướng ngại tâm không kiêu ngạo. Người có
tâm kiêu ngạo thì lần lần sanh trưởng tất cả (phiền não
và nghiệp) tạp nhiễm. Kiêu thuộc về tâm tham.
Trong
20 món tùy phiền não, thì 10 món tiểu tùy (ở trên) và 3 tâm
sở: phóng dật, thất niệm, bất chánh tri (của đại tùy)
thuộc về phần sai biệt của phiền não căn bản (, do không
có biệt thể nên có một phần đặc tánh của phiền não
căn bản). Bảy tâm sở còn lại (vô tàm, vô qúi thuộc
trung tùy, và bất tín, giải đãi, hôn trầm, trạo cử, tán
loạn của đại tùy) thuộc về tánh đẳng lưu (, do có biệt
thể nhưng có cùng đặc tánh với phiền não căn bản).
Bốn
tâm sở bất định:
Nói
về 4 món tâm sở bất định, Duy thức tam thập tụng có ghi:
Bất
định vị hối, miên
Tầm,
tứ, nhị các nhị.
(Tâm
sở bất định là: hối, miên, tầm và tứ; mỗi món đều
đủ 2 tánh thiện và ác (tịnh và nhiễm)).
Bốn
món tâm sở bất định này không giống với 5 loại tâm sở
trước (biến hành, biệt cảnh, thiện, phiền não và tùy phiền
não). Chữ định (nhất định), có nghĩa là biến khắp
8 thức, 3 tánh, tất cả thời và 9 địa. Bốn tâm sở
này mang nghĩa bất định. (nghĩa là không nhất định là thiện
hay ác). Luận Du già dùng 4 nhất thiết (: thức, tánh,
địa và thời) để giải thích 5 loại tâm sở khác nhau:
1. tâm sở biến hành có đủ 4 nhất thiết; 2. tâm sở
biệt cảnh có nhất thiết thức (8 thức tâm vương) và nhất
thiết tánh (thiện, ác và vô ký); 3. tâm sở thiện có
nhất thiết địa (3 cõi, 9 địa); 4. căn bản và tùy
phiền não không có 4 nhất thiết; 5. tâm sở bất định
chỉ có nhất thiết tánh.
1.
Hối
(ăn năn): Hối có nghĩa là ố tác [51] (ghét việc
đã làm). Ố tác là nhân, hối là thể của ố tác.
Vì thể tức là nhân, nên luận nói rằng, hối có nghĩa là
ố tác, chính là dựa vào nghĩa nhân quả. Đặc tánh
của tâm sở này là hối hận nghiệp ác đã làm. Hoạt
dụng của hối là chướng ngại sự tu chỉ. Chỉ, xa
ma tha, là ngừng lại mọi nghĩ tưởng và đứng yên nơi chánh
niệm.
2.
Miên
(thụy miên): Đặc tánh của tâm sở này là lơ đãng,
mê ngủ, làm cho thân không tự tại, tâm rất mê muội.
Hoạt dụng của miên là chướng ngại tu quán. Quán, tỳ
bát xá na, là nhiếp cảnh theo tâm, lấy quán trí (do văn, tư,
tu) làm thể. Vấn đề đặt ra là, nếu khi mê ngủ là
không có tâm thức thì làm sao có tác dụng “làm cho thân
không tự tại, tâm rất mê muội” ? Đã có tác
dụng thì phải có tâm thức, vì tâm sở thụy miên là một
thật thể có tác dụng của nó.
3.
Tầm
(tìm cầu): Đặc tánh của tâm sở này là chuyển động
vụng về (thô chuyển), làm cho tâm thức (ý thức) chuyển
đổi vội vàng trong ý ngôn cảnh.
4.
Tứ
(quán sát): Đặc tánh của tâm sở này là chuyển động
điêu luyện (tế chuyển), làm cho tâm thức (ý thức) chuyển
đổi chậm rãi trong ý ngôn cảnh.
Hoạt
dụng của 2 tâm sở này được căn cứ và phân định trên
tác dụng làm cho thân tâm an hay thân tâm bất an. Thế
nào là ý ngôn cảnh? Cảnh là đối tượng của ý thức,
và ý thức nắm giữ đối tượng phần nhiều bằng danh ngôn
(= khái niệm), cho nên gọi là ý ngôn cảnh (cảnh danh ngôn
của ý thức). Tầm và tứ đều sử dụng một phần
của tâm sở tư và tâm sở tuệ để làm thể tánh. Nếu
khiến tâm an là do ý thức nhận thức cảnh qua một phần
của tâm sở tư. Nếu khiến tâm bất an là do ý thức
nhận thức cảnh qua một phần của tâm sở tuệ. Tâm
sở tư mang tánh chậm rãi (trong việc lo nghĩ, tạo tác) nên
có sự tinh tế. Tâm sở tuệ mang tánh mau lẹ (trong việc
sáng suốt lựa chọn) nên có sự thô động. Như vậy,
tâm an thì có cái dụng của tâm sở tư, không có tâm sở
tuệ; còn tâm bất an thì có cái dụng của tâm sở tuệ, không
có tâm sở tư. Ở trên nói, “tầm và tứ đều sử
dụng một phần của tâm sở tư và tâm sở tuệ làm thể
tánh”, là thế nào? Ngài Hộ Pháp giải thích rằng,
có sự hổ tương trong tánh cách phối hợp giữa phần phụ
với phần chánh. Nếu dùng tâm sở tư làm chánh, thì
tâm sở tuệ tùy theo tâm sở tư mà có tác dụng khiến tâm
an. Nếu dùng tâm sở tuệ làm chánh, thì tâm sở tư tùy
theo tâm sở tuệ mà có tác dụng khiến tâm bất an. Nói
cách khác, tầm và tứ đều sử dụng tư và tuệ mà không
có sự chống trái nhau. Nghĩa tương ưng (= hòa hợp với
nhau) này có 5 yếu tố là: thời, sở y, hành tướng, sở duyên
và sự. Thí dụ, tâm vương và tâm sở: đồng thời sanh
khởi, đồng một sở y là căn bản thức, đồng có chung hành
tướng là kiến phần, đồng một sở duyên, đồng một thể
sự, cho nên nói có sự tương ưng.
Thiện
ác lâm thời biệt phối chi
(Thức
thứ sáu riêng biệt phối hợp: khi thì với tâm sở thiện,
lúc thì với tâm sở ác)
Ý
thức khi gặp cảnh thiện thì cùng với tâm sở thiện tương
ưng. Ý thức khi gặp cảnh bất thiện hay vô ký thì cùng
tâm sở bất thiện hay vô ký tương ưng. Cho nên nói là
tùy thời riêng phối hợp. Theo lý luận bàn, lấy tình
suy xét cũng có thể biết được điều này.
Tánh,
giới, thọ tam hằng chuyển dịch
(Thức
thứ sáu thường xuyên chuyển đổi giữa 3 tánh, giữa 3 cõi,
và giữa 5 thọ)
Câu
tụng này nói, thức thứ sáu lúc nào cũng tự chuyển động
liên tục theo 3 tánh (thiện, ác, vô ký), 3 giới (Dục, Sắc,
Vô sắc) và 5 thọ (khổ, lạc, ưu, hỷ, xả), do hành tướng
của nó dễ tự thay đổi, dễ tự vượt thoát. Riêng
về 5 thọ, luận thuyết có chỗ không giống nhau. Thức
thứ bảy và thức thứ tám chỉ có xả thọ. Năm thức
trước chuyển biến có khổ thọ và lạc thọ. Về thức
thứ sáu, có 2 luận sư nói khác nhau. Luận sư thứ nhất
nói, nếu ý địa [52] vốn có khổ (= tạp nhiễm) thì
thức thứ sáu gồm đủ 5 thọ. Luận sư thứ hai nói,
nếu ý địa không có khổ thì thức thứ sáu chỉ có 3 thọ
là ưu, hỷ và xả. Nói đến 2 hình thái cảm thọ: khổ
quá và vui quá, vấn đề đặt ra là, khi ý thức xúc đối
cảnh khổ quá hay cảnh vui quá, thì cái khổ ấy hay cái vui
ấy có tác động vào tâm thức không? Câu trả lời là,
cái khổ ở địa ngục Vô gián hay cái vui ở cõi trời tam
thiền, ở trong đó, ý thức làm sao có thể quên mất được
cảnh thuận nghịch. (Nói cách khác, ý thức có mặt trong
3 giới). Thân bức bách hay ưa thích, gọi là khổ thọ
hay lạc thọ. Tâm bức bách hay ưa thích, gọi là ưu thọ
hay hỷ thọ. Tâm không bức bách, cũng không ưa thích,
gọi là xả thọ. Lấy lý mà suy, vị luận sư nói, ý
địa vốn có khổ, cho thấy nghĩa rốt ráo của ý thức là
vậy.
Căn,
tùy, tín đẳng tổng tương liên
(Căn
bản phiền não, tùy phiền não, biến hành, biệt cảnh và
bất định, tức 51 tâm sở nối tiếp nhau chuyển đổi theo
ý thức)
Chữ
đẳng
chỉ cho các loại tâm sở còn lại như: biến hành, biệt cảnh
và bất định. Các pháp nhiễm tịnh, tức 51 món tâm
sở cũng nối tiếp nhau chuyển đổi theo ý thức, giống như
3 tánh, 3 giới, 5 thọ đã nói ở trên.
Động
thân, phát ngữ độc vi tối
(Thức
thứ sáu vượt trội hơn các thức khác trong việc phát động
thân nghiệp và khẩu nghiệp)
Trong
8 thức tâm vương, hành tướng của ý thức vượt trội hơn
cả, vì tánh chất chủ đạo trong việc làm cho thân thể hành
động và ngôn ngữ phát sanh. Đại thừa Thành nghiệp
luận (do bồ tát Thế Thân soạn) nói về ý thức như sau:
Bên ngoài thân thể hành động, ngôn ngữ phát sanh, chứng
tỏ bên trong có cái tâm tư duy; giống như cá ẩn núp dưới
đáy nước, thấy mặt nước khua động, chứng tỏ có cá.
Hoạt
dụng của ý thức là sự tư duy. Tư duy có 3 loại:
một là, tư duy xem xét, toan tính (thẩm lự tư); hai là, tư
duy quả quyết, khẳng định (quyết định tư); ba là, tư duy
khởi động, phát sanh [qua thân thể và ngôn ngữ] (động phát
tư). Các thức khác không có hoạt dụng rộng rãi như
vậy, cho nên nói ý thức tối thắng hơn các thức khác.
Dẫn
mãn năng chiêu nghiệp lực khiên
(Ý
thức có năng lực tạo nhiệp: dẫn nghiệp và mãn nghiệp,
và chiêu quả: tổng quả và biệt quả)
Ý
thức có thể một mình tạo ra 2 nghiệp là dẫn nghiệp và
mãn nghiệp. Hai nghiệp này có năng lực chiêu cảm 2 quả
là tổng quả và biệt quả (tổng báo và biệt báo), và đó
là sức mạnh thù thắng của nghiệp. Dẫn nghiệp, là
nghiệp có công năng dẫn kéo. Mãn nghiệp, là nghiệp
làm tròn đầy tổng quả. Thí dụ như người họa sĩ,
trước phác họa tổng thể (= dẫn nghiệp), sau mới vẽ kỹ
chi tiết (= mãn nghiệp). Nghĩa này nên biết. Trong
luận có nói 4 trường hợp nghiệp dẫn: một là, 1 nghiệp
dẫn ra 1 quả; hai là, 1 nghiệp dẫn ra nhiều quả;
ba là, nhiều nghiệp dẫn ra 1 quả; bốn là, nhiều nghiệp
dẫn ra nhiều quả. Qua đây cho thấy ý thức có năng
lực tạo nghiệp, chiêu quả. Một phần thiện ác của
5 thức trước cũng có thể tạo nghiệp. Thức thứ bảy
và thức thứ tám, cả hai không thể tạo nghiệp, vì là tánh
chất vô ký. Nếu bàn chung về 8 thức thì: chiêu
nghiệp thành quả, là thức thứ 8 và 1 phần của 6 thức trước;
không có tạo nghiệp chiêu quả, chỉ có thức thứ bảy.
Một phần của 6 thức trước, là nói đến tánh chất thiện
và bất thiện (của 6 thức đó). Tổng báo, là quả báo
tổng thể của dị thục như đường lành, đường dữ (,
tức những nẻo đường sanh tử, do dẫn nghiệp của thức
thứ 8 làm nghiệp chủ yếu chiêu cảm). Biệt báo, là
quả báo sai biệt (trong tổng báo) như sống lâu hay chết yểu,
giàu sang hay nghèo hèn, đẹp hay xấu v.v… (, muôn ngàn sai
biệt, do mãn nghiệp của 6 thức trước làm tăng thượng duyên).
Phát
khởi sơ tâm Hoan hỷ địa
(Ở
sơ tâm Hoan hỷ địa, ý thức phát khởi được cái năng lực
thù thắng vô lậu có thể tác thành mọi nghĩa lợi cho mình
và người)
Ở
Hoan hỷ địa, sơ tâm của ý thức đã chuyển thành vô lậu,
bởi vì 2 chướng phân biệt ngã chấp và pháp chấp (cùng
những sự tạp nhiễm trong ác đạo [53] ) đều đã đoạn
trừ.
Hỏi:
Ba đời đoạn hết (lậu) hoặc hay sao? Nếu hiện tại
đoạn hết hoặc, thì hoặc và trí chẳng cùng sanh. Quá
khứ đã diệt, vị lai chưa sanh, như vậy ở giai đoạn nào?
Đáp:
Chỉ bàn luận khi trí khởi thì hoặc trừ, cho nên ở thời
vị lai, thể của hoặc không thể tiếp tục sanh khởi, và
gọi đó là đoạn.
Câu
sanh du tự hiện triền miên
(Tuy
nhiên, ở Hoan hỷ địa, vẫn còn có câu sanh ngã chấp và
pháp chấp cho nên vẫn còn có những hiện hành và chủng tử
sanh khởi)
Triền
là hiện hành (ngu tối). Miên là chủng tử (nặng
nề). Khi ở sơ tâm Hoan hỷ địa, ý thức vẫn còn có
hiện hành và chủng tử của câu sanh phiền não chướng và
sở tri chướng, do vì ý thức chưa thuần vô lậu. Ý
thức lại không thường an trú trong sự chỉ quán về ngã
không và pháp không.
Viễn
hành địa hậu thuần vô lậu
(Sau
Viễn hành địa thì ý thức mới thuần vô lậu)
Viễn
hành địa tức là đệ thất địa. Ý thức từ đệ
thất địa trở về trước, chủng tử hữu lậu và vô lậu
chen nhau sanh khởi, do ý thức chưa thường an trụ trong chỉ
quán. Từ đệ thất địa trở về sau thì ý thức mới
thuần vô lậu, do chủng tử câu sanh phiền não chướng và
sở tri chướng không còn hiện hành nữa, mà thường an trụ
nơi chỉ quán. Tuy nhiên, chỉ quán về ngã không (sanh
không) thì viên mãn. Chỉ quán về pháp không còn gián
đoạn (và thiếu sót).
Lại
nữa, trong 10 địa, 5 địa đầu phần nhiều là chỉ quán
hữu tướng, phần ít là chỉ quán vô tướng. Địa thứ
sáu, phần ít là chỉ quán hữu tướng, phần nhiều là chỉ
quán vô tướng. Từ địa thứ bảy trở lên là thuần
chỉ quán vô tướng.
Quán
sát viên minh chiếu đại thiên
(Bấy
giờ, ý thức thật sự chuyển thành Diệu quan sát trí, có
hoạt dụng tròn sáng chiếu soi khắp đại thiên thế giới)
Thức
thứ sáu ở sơ tâm Hoan hỷ địa tuy không còn 2 chướng phân
biệt ngã chấp và pháp chấp, chuyển thành vô lậu, nhưng
vẫn còn chủng tử câu sanh phiền não chướng và sở tri chướng
hiện hành ở trong các địa: Ly cấu địa, Phát quang
địa, Diệm tuệ địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa.
Đến địa thứ bảy, Viễn hành địa, thì chủng tử câu
sanh của 2 chướng vĩnh viễn bị hàng phục, không còn sanh
khởi nữa. Bấy giờ, vô lậu tịnh thức thường hằng
sanh khởi, ý thức vốn tương ưng các tâm sở nay chuyển thành
Diệu quán sát trí, luôn tròn sáng (viên minh), chiếu khắp
đại thiên thế giới. Không nói chiếu soi một thế giới
là vì Diệu quán sát trí có công năng chiếu soi khắp cả
vậy.