Bồ-tát
sợ nhân chúng sanh sợ quả
Là con
người ai cũng sợ khổ cầu vui, song người mê chỉ biết
sợ quả khổ cầu quả vui. Ngược lại người tỉnh chỉ
sợ nhân khổ, tạo nhân vui. Hai bên có cái nhìn khác nhau,
bên nào sẽ đạt được như sở nguyện? Dù ngây thơ thế
mấy, người ta vẫn biết, không tạo nhân lành mà cầu quả
tốt là chuyện không đâu; sợ quả khổ mà cứ tạo nhân
ác là việc khó tránh. Nhân ác không gây, dù chẳng sợ quả
khổ, nó vẫn không đến; nhân lành cứ tạo, dù chẳng cầu
quả vui, nó vẫn bò sang. Cho nên người trí nhìn từ cái nhân
mà chọn lựa, chọn nhân lành bỏ nhân ác. Cả đời mãi gây
tạo nhân lành, loại trừ nhân ác, người này bảo đảm gặt
hái những kết quả đẹp đẽ an vui. Ai say sưa tạo nhân ác,
chẳng bao giờ nghĩ tới nhân lành, chắc chắn sẽ thu lượm
được muôn vàn đau khổ, dù họ sợ sệt khẩn cầu quả
ấy đừng đến. Cho nên câu châm ngôn nhà Phật, ít Phật
tử nào không thuộc, là "Bồ-tát sợ nhân chúng sanh sợ
quả".
NGHĨA
BỒ-TÁT VÀ CHÚNG SANH
Bồ-tát
(Bodhisavattu) là người giác ngộ, thấy tận cái manh nha cái
đầu mối của sự khổ đau và an lạc. Muốn hết khổ được
vui, không gì hơn ngay cái mầm đau khổ chúng ta đừng gieo,
cái mầm an vui phải tung vãi. Không gieo nhân khổ thì quả
khổ làm gì có. Cứ tung vãi nhân vui thì quả vui không vời
cũng đến. Ðây là hành động của người giác ngộ. Chúng
sanh là những kẻ mê, chỉ nhìn trên cái quả mà sợ mà cầu.
Luôn luôn sợ khổ cầu vui, mà nhân đau khổ không tránh, nhân
an vui không tạo. Một khi quả đau khổ đến thì cầu khẩn
van xin, song làm sao qua khỏi, vì đã hình thành. Cầu mong mơ
ước quả an vui, nhưng nhân không gây thì quả từ đâu mà
đến. Ðây là hình ảnh trái ngược của kẻ mê người giác.
Tuy nhiên, cái mê này ai cũng có thể bỏ, cái giác này ai cũng
có thể làm. Chỉ là nhắm vào nhân là giác, ai không thể
làm được việc đó. Thế nên, Bồ-tát là chuyện tất cả
chúng ta có thể làm được và chúng sanh chúng ta cũng bỏ
được.
BỒ-TÁT
SỢ NHÂN
Bồ-tát
là con người giác ngộ và hay làm giác ngộ người khác. Bởi
giác ngộ nên thấy rõ cái gì là nhân đau khổ liền sợ hãi
tìm mọi cách để diệt trừ. Thấy tham lam và keo kiệt là
nhân đau khổ, Bồ-tát tu bố thí để tiêu diệt nên nói bố
thí độ san tham. Thấy buông lung ngạo mạn là nhân phá hoại
đức hạnh, Bồ-tát tu trì giới để khử dẹp, nên nói trì
giới độ phá giới. Thấy nóng giận là nhân gây nhiều tội
lỗi. Bồ-tát tu nhẫn nhục để dẹp, nên nói, nhẫn nhục
độ sân hận. Thấy lười biếng bê tha là nhân hư thân mất
công đức, Bồ-tát tu tinh tấn để đánh đuổi, nên nói tinh
tấn độ giải đãi. Thấy tâm tán loạn là nhân điên đảo
tối tăm, Bồ-tát tu thiền định để thu nhiếp, nên nói thiền
định độ tán loạn. Thấy ngu si là nhân trầm luân sanh tử,
Bồ-tát tu trí tuệ để chiếu phá, nên nói trí tuệ độ
ngu si.
Sở
dĩ Bồ-tát tu lục độ là để diệt trừ sáu cái nhân xấu
xa tội lỗi mù tối hiểm nguy, dẫn con người đi mãi trong
trầm luân đau khổ. Khi sáu cái nhân ấy bị tiêu diệt hoàn
toàn là giác ngộ giải thoát. Giai đoạn tu lục độ là đang
hành hạnh Bồ-tát, đến khi giác ngộ là Bồ-tát thật sự.
Phần này là tu hạnh Bồ-tát nặng về tự giác.
CHÚNG
SANH SỢ QUẢ
Chúng
sanh là những con người mê muội, một bề sợ khổ mà không
biết nguyên nhân. Thấy cái gì khổ đau đến là kinh hoàng
khiếp sợ van xin cầu cứu, mà không biết cái khổ ấy xuất
phát từ nguyên nhân nào. Khi cái khổ qua rồi, thì bình thản
như thường không biết gì tu sửa. Những cái quả chúng sanh
sợ nhất là:
Sợ
người khác giết hại mình, mà tâm giết hại người không
bỏ. Còn ôm mưu đồ giết hại người thì quả người giết
hại mình làm sao tránh khỏi. Sợ người khác lén lấy, cướp
giựt tiền bạc của cải của mình mà tâm tham lam của người
không chừa. Ðã tham của người thì người tham của mình
là sự đương nhiên. Sợ người ta xâm phạm tiết hạnh vợ
con mình, mà mình vẫn dòm ngó thèm thuồng vợ con người.
Ôm lòng phá hoại sự trinh bạch của gia đình người thì
người phá hoại hạnh phúc gia đình mình khó tránh khỏi.
Sợ người ta dùng lời lường gạt vu cáo mình, mà mình vẫn
thích lường gạt vu cáo người. Ðã có cái nhân lường gạt
vu cáo người thì quả người lường gạt vu cáo mình làm
sao trốn được. Sợ say sưa như điên như dại bị người
cười chê, mà rượu không từ không kiêng. Sẵn sàng uống
rượu thì phải chấp nhận say sưa. Ðây là những cái quả
mà chúng sanh sợ hãi. Song sợ quả mà không tránh nhân, thật
là khờ khạo ngây thơ. Ðó là nói lên tính mê muội của
con người, được gọi là chúng sanh.
BỒ-TÁT
TẠO NHÂN
Ðến
phần giác tha, Bồ-tát thấy bổn phận mình phải đem sự
giác ngộ lại cho mọi người. Ðể đạt mục đích ấy, Bồ-tát
phải tạo dựng cho mình đầy đủ những điều thiết yếu
này: Một là Bồ-tát phải thông suốt Phật pháp (nội minh).
Vì mục đích dạy người tu theo đường lối giác ngộ mà
không thông suốt giáo lý Phật thì không thể thực hiện được.
Hai là Bồ-tát phải thông hết các môn tâm lý học, xã hội
học, khoa học. (ngoại minh). Có suốt thông các môn này thì
sự giáo hóa không bị chướng ngại. Ba là Bồ-tát phải biết
các môn y dược (y phương minh). Trị cho người được lành
bệnh, chỉ dạy đạo lý cho họ rất dễ dàng, vì họ có
cảm tình sẵn sàng nghe mình dạy. Bốn là Bồ-tát phải học
các nghề nghiệp thật hay thật khéo (công xảo minh). Cần
giúp đỡ mọi người, chúng ta phải có tài giỏi nghề khéo,
vừa chỉ dạy dân chúng, vừa gầy được nền kinh tế tốt
đẹp cho đồng bào. Nhờ tài nghệ đặc biệt của mình, người
ta mới đến cầu học, là cơ hội tốt để giáo hóa họ.
Năm là Bồ-tát phải giỏi ngoại ngữ (thanh minh). Muốn tiếp
xúc với nhiều hạng, nhiều giống người, cần phải biết
nhiều thứ tiếng. Biết tiếng họ, chúng ta mới dễ thông
cảm và giáo hóa họ. Tạo dựng cho mình đầy đủ năm điều
kiện này, Bồ-tát mới làm tròn sự nghiệp giác tha. Chúng
ta không thể ôm ấp lý tưởng suông rằng "thệ nguyện giác
tha", khi đó nơi mình không có một chút khả năng, một ít
phương tiện thì sự giác tha trở thành vô nghĩa. Trước tiên
chúng ta phải tạo dựng cho mình đầy đủ điều kiện thiết
yếu (ngũ minh), sau đó mang hành lý lên vai tiến trên đường
giác tha, chúng ta mới làm tròn nhiệm vụ.
Tạo
dựng cho mình đủ năm điều kiện trên rồi, Bồ-tát còn
phải ứng dụng bốn việc thì sự giáo hóa mới dễ thành
tựu: Một là Bồ-tát phải sẵn sàng giúp đỡ tiền bạc
của cải hoặc sức lực của mình khi người cần. Nhờ sự
giúp đỡ người ta dễ có cảm tình, nhiếp hóa họ mới được
(bố thí nhiếp). Hai là Bồ-tát phải nói lời hòa nhã dịu
dàng dễ mến. dù chúng ta có giúp ai bao nhiêu, mà thốt ra
những lời thô bạo họ đều bực bội chán ghét. Khéo dùng
lời hiền hòa nhu nhuyến nhiếp hóa người (ái ngữ nhiếp)
là dễ thành công. Ba là Bồ-tát phải xông pha làm những điều
gì để đem lợi ích thiết thực cho người. Chúng ta không
phải chỉ nói suông, mà phải làm thật sự. Ai cần điều
gì có thể làm được, chúng ta phải nỗ lực làm giúp, để
đem đến kết quả lợi ích cho họ. Nhờ bàn tay của mình
giúp họ thành công một việc, sau đó mình đem chánh pháp
giáo hóa họ, họ dễ dàng thu nhận (lợi hành nhiếp). Bốn
là Bồ-tát phải lăn xả vào trong mọi ngành mọi nghề để
cùng làm cùng sống với họ. Dễ thông cảm nhau nhất là bạn
đồng nghiệp. Ðồng trong một cảnh ngộ, có bàn luận điều
gì thật là dễ cảm thông. Chính chỗ chung nghề nghiệp, chúng
ta đem chánh pháp giáo hóa họ được sự chấp nhận không
khó khăn gì (đồng sự nhiếp). Bốn điều này là phương
tiện không thể thiếu của Bồ-tát trên con đường giác tha.
CHÚNG
SANH CẦU QUẢ
Chúng
sanh không ưa tạo nhân tốt mà mong cầu quả tốt. Quả tốt
làm gì đến được, bởi không có nhân. Tuy thế mà họ vẫn
ước mơ trông đợi quả tốt. Như người ta cứ mong cho mình
được sống lâu mạnh khỏe, mà không chịu cứu người giúp
vật. Sanh mạng của người không được tôn trọng mà muốn
mọi người tôn trọng sanh mạng mình là điều không thể
được. Hoặc cầu mong mình được giàu có ai nấy đều ủng
hộ mình, mà không chịu làm việc bố thí, giúp đỡ người
lúc cùng khốn. Lại có người cầu cho gia đình mình hòa vui
hạnh phúc vợ con đều trinh bạch, mà không chịu sống hạnh
trinh bạch với mọi người. Cũng có người cầu xin đừng
ai lừa gạt mình, mà không chịu nói lời chân thật. Quả
là muốn đi bên tây mà hướng mặt về đông. Có người cầu
nguyện gia đình mình sum họp thuận hòa, mà không dùng lời
khuyên can cho mọi người cùng hòa hợp. Có người cầu mong
đừng ai dùng lời hung ác nói với mình, mà mình không chịu
dùng lời hiền hòa nói với người. Có những người muốn
ai cũng trình bày lẽ thật với mình, mà mình không trình bày
với người. Có những người cầu mong đừng ai tham lam với
những cái có của mình, mà mình không chịu bỏ lòng tham với
những cái có của người. Có những người cầu xin đừng
ai giận hờn mình, mà mình chưa chịu hỉ xả cho người. Có
những người cầu cho mình có trí tuệ sáng suốt, mà những
cố chấp tà kiến không chịu bỏ. Bao nhiêu thứ cầu mong
này không bao giờ người ta toại nguyện, chỉ vì mong quả
mà không chịu tạo nhân. Ðây là sự cầu mong suông của những
con người mê muội.
SỰ
SAI BIỆT GIỮA BỒ-TÁT VÀ CHÚNG SANH
Nhìn
trên cái "SỢ" giữa Bồ-tát và chúng sanh đã quá khác biệt
nhau. Bồ-tát biết là nhân đau khổ liền hoảng sợ tìm mọi
cách để tiêu diệt chúng. Còn một chút mầm đau khổ, Bồ-tát
vẫn không an. Bởi vậy Bồ-tát luôn luôn ứng dụng Lục độ
để khử dẹp mọi mầm nhân đau khổ. Nhân đau khổ đã diệt
sạch, quả đau khổ do đâu đến được, nên Bồ-tát không
bao giờ quan tâm đến quả. Không sợ quả mà quả cũng không
đến. Ngược lại, chúng sanh nom nớp sợ quả khổ, mà nhân
đau khổ không ngăn ngừa, cho nên càng sợ chúng lại càng
đến. Người ta khóc lóc than van khi gặp quả khổ, mà không
chịu nhìn xem quả khổ ấy do ai gây nên. Kêu trời trách đất
hận người, chỉ là việc vô ích, có khi quả khổ lại tăng
thêm. Không trời Phật nào cố làm chúng ta khổ, do sự dại
khờ ngu muội của chúng ta tạo thành những nhân đau khổ,
nhân đã có thì quả cố nhiên phải đến. Khóc than oán trách
chỉ làm thêm đậm nét khổ đau mà thôi.
Ðến
phần giác tha, Bồ-tát cố tạo cho mình đầy đủ khả năng,
nào ngũ minh, nào tứ nhiếp pháp, làm thuyền bè cứu vớt
chúng sanh. Bồ-tát không mong ước viển vông, mà phải cụ
thể thực tế nhìn thẳng vào lẽ thật. Cho nên phải rèn
luyện mình có thật tài, thật đức, mới nói đến sự giáo
hóa mọi người. Bồ-tát không có thái độ ngây thơ như những
người nói từ bi, nói thương chúng sanh, mà chỉ có ở đầu
môi. Bồ-tát là con người hành động, mang trí tuệ và tài
năng của mình đi vào cuộc đời, sống bên cạnh quần chúng,
như pháp "Lợi hành" và "Ðồng sự" của Tứ-nhiếp-pháp ,
Bồ-tát không phải những hình ảnh thờ ở chùa ngồi trên
tòa sen hay cỡi sư tử, mà là những người có kỹ năng khéo
léo, mình mẩy lem luốc, đang loay hoay trong xí nghiệp, trong
hãng xưởng chế tạo, tự mình làm và chỉ dạy người làm,
đây là "Công xảo minh" trong Ngũ minh. Ngược lại, chúng sanh
một bề mong cầu quả đẹp, mà không tạo những nhân tốt.
Quả đẹp làm sao có, khi nhân tốt chúng ta chẳng gieo. Muốn
gặt quả mà không gieo nhân; nếu được, quả ấy chỉ là
quả gian lận, quả cướp giựt, bất chánh. Ví như có người
thấy hàng xóm trồng cam trái chín oằn cây, mê quá lại hái
ngang, nếu chủ vườn thấy đánh gãy tay, nếu không thấy
hái được đem về, cũng là cái quả ăn cắp, cái quả xấu
xa nhục nhã. Cầu quả mà không chịu gây nhân, là kẻ mơ
ước hão huyền, xa rời thực tế, là kẻ lười biếng muốn
ăn mà không chịu làm. Không gây nhân cầu quả, là kẻ mê
muội nên gọi là chúng sanh.
Bồ-tát
và chúng sanh, nào có cách biệt bao nhiêu, chỉ chịu đổi
cái nhìn. Nhìn thẳng vào nhân để thấy rõ nhân khổ thì
tránh, nhân vui thì hành là Bồ-tát. Chỉ một bề sợ quả
khổ, cầu quả vui, mà không cần biết nguyên nhân, là chúng
sanh. Bồ-tát, chúng sanh trên con người không khác, chỉ khác
cái nhìn nhân và nhìn quả thôi. Như hai người cùng đứng
một địa điểm, một người xây mặt về đông, một người
xây mặt về tây; nếu nguời xây mặt về tây chịu quay lại
nhìn về đông, thì đâu có khác nhau. Như thế thì tất cả
chúng sanh đều có khả năng làm Bồ-tát, không phải việc
Bồ-tát chỉ dành riêng cho Bồ-tát, còn chúng ta không có phần.
Xuyên
suốt bài này, chúng ta thấy rõ Bồ-tát và chúng sanh cách
nhau chừng kẽ tơ sợi tóc. Chúng sanh đổi cái "sợ quả"
thành "sợ nhân" là chuyển thành Bồ-tát. Thật là mê giác
chỉ khác nhau một cái nhìn. Bồ-tát ở đây rất gần gũi
thân thiết với chúng sanh. Có khi là ông thầy giảng kinh cho
mọi người nghe, đâu không phải là Bồ-tát, vì ngài thông
suốt "Nội minh". Có lúc là ông thầy xem mạch bốc thuốc
cho mọi người, âu cũng là Bồ-tát, vì ngài thực hành "Y
phương minh". Một người thợ giỏi đang hướng dẫn chỉ
dạy đàn em với nhiệt tình không vụ lợi, biết đâu chừng
cũng là Bồ-tát, vì ngài thực hiện "Công xảo minh". Cho đến
người bạn cùng cuốc rẫy trồng khoai mà nói đạo lý chân
thật chúng ta nghe, ai ngờ là Bồ-tát, vì Ngài thực hành "Ðồng
sự nhiếp". Bồ-tát là những con người thiết thân với chúng
ta, chỉ khác với chúng ta ở chỗ thấy rõ nhân ác để tránh,
nhân thiện để tạo. Còn chúng ta chỉ một bề sợ quả khổ
cầu quả vui, mà không chịu thấy tường tận nguyên nhân
của nó. Gần đây bên ngành y học cũng có câu "ngừa bệnh
hơn chữa bệnh", cũng na ná sợ nhân hơn là sợ quả. Ðạo
Phật là đạo giác ngộ, thấy nguyên nhân rõ ràng là giác,
giác là Bồ-tát. Chúng ta tu theo Phật là đi trên con đường
giác, xét rõ nguyên nhân của mọi việc xảy ra để ngừa
tránh là theo hạnh Bồ-tát. Mọi người chúng ta đều có khả
năng thực hiện việc "sợ nhân", thì chúng ta ai cũng làm Bồ-tát
được.