Chữ
TỨC trong đạo Phật
Người
đời và những người mới học đạo đều nhìn sự vật
với tính cách cố định. Nói ác hẳn là ác, nói thiện hẳn
là thiện, phải hẳn là phải, quấy hẳn là quấy, có hẳn
là có, không hẳn là không... họ không hiểu nổi lối nói
"cái này tức là cái kia", trong kinh điển Ðại
thừa. Họ cho lối nói này ỡm ờ mờ ám không chấp nhận
được. Song với tinh thần Ðại thừa Phật giáo, nhìn sự
vật thấy rõ không có bản chất cố định, không ngoài nhau.
Vì thế, trong kinh nói "Sắc tức là Không, Không tức là Sắc",
hay "Phiền não tức Bồ-đề", hoặc "Sanh tử tức Niết-bàn".
Chỉ một chữ "Tức" làm sáng tỏ nghĩa không cố định, không
ngoài nhau của các Pháp.
SẮC
TỨC LÀ KHÔNG, KHÔNG TỨC LÀ SẮC
Câu
này xuất phát từ kinh Bát-nhã. Chữ Sắc ở đây là chỉ
cho Sắc uẩn. Dưới con mắt đức Phật, thân này do năm uẩn
kết hợp thành. Sắc uẩn là phần vật chất; thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn, thức uẩn là phần tinh thần. Chẳng riêng
gì sắc uẩn tức là không, mà thọ, tưởng, hành, thức cũng
như thế. Bởi vì bản chất mọi uẩn không tự có, do duyên
hòa hợp thành. Ðã do nhân duyên hòa hợp thì làm sao cố định
được. Trước khi nhân duyên hòa hợp nó không có, sau khi
nhân duyên ly tán, nó cũng không, chính khi duyên đang hợp phân
tích ra cũng không có thực thể của nó. Ví như nắm tay, trước
khi co năm ngón lại, không có nắm tay, sau khi buông năm ngón
ra không có nắm tay, đang khi co năm ngón lại nếu phân tích
từng ngón cũng không có nắm tay. Thế thì, nắm tay chỉ là
cái tên tạm gọi khi co năm ngón lại, chớ không có thực
thể cố định của nắm tay. Sắc uẩn không cố định nên
nói "sắc tức là không"; không, khi đủ duyên hợp thành sắc
nên nói "không tức là sắc", sắc chẳng ngoài tính chất không
cố định, không cố định chẳng ngoài sắc, nên nói "sắc
tức là không, không tức là sắc"! Thấu triệt lý các pháp
tùy duyên biến chuyển, không đứng yên, không tự thành, là
thông suốt câu "sắc tức là không, không tức là sắc".
PHIỀN
NÃO TỨC BỒ-ÐỀ
Câu
này bàng bạc trong các kinh Ðại thừa. Phiền não là si mê
bực bội đau khổ. Bồ-đề là giác ngộ yên tĩnh an vui. Hai
thứ bản chất trái ngược nhau, tại sao lại nói cái này
tức cái kia? Bởi phiền não bản chất không cố định, khi
biết chuyển hoặc biết xả liền thành Bồ-đề. Cái động
không ngoài cái tịnh, dừng động tức là tịnh. Cái sáng
không ngoài cái tối, hết tối tức là sáng. Chúng ta cứ quen
chạy tìm cái giác ở ngoài cái mê, tìm an vui ngoài đau khổ.
Sự thật không phải thế, hết mê tức là giác, dứt khổ
tức là vui. Thiền sư Tư Nghiệp người Trung Hoa, khi chưa xuất
gia làm nghề hàng thịt. Một hôm mổ heo, bỗng dưng ông thức
tỉnh, bỏ nghề đi xuất gia. Khi xuất gia, ông làm bài kệ:
Tạc
nhật dạ-xoa tâm
Kim
triêu Bồ-tát diện
Bồ-tát
dữ Dạ-xoa
Bất
cách nhất điều tuyến.
Dịch:
Hôm
qua tâm dạ-xoa,
Ngày
nay mặt Bồ-tát
Bồ-tát
cùng Dạ-xoa
Không
cách một sợi chỉ.
Biết
dừng phiền não tức Bồ-đề, không phải nhọc nhằn tìm
kiếm đâu xa. Bồ-đề đã sẵn có nơi mình, do phiền não
dấy khởi phủ che nên Bồ-đề bị ẩn khuất. Một khi phiền
não lắng xuống thì Bồ-đề hiện tiền. Chúng ta ôm đầy
một bụng phiền não chạy tìm Bồ-đề, dù chạy cùng ngàn
sông muôn núi tìm vẫn không thấy Bồ-đề. Chỉ khéo ngồi
yên lại cho phiền não lắng xuống thì Bồ-đề hiện tiền.
Như
khi trời đổ mưa to, nước mưa từ hư không mưa xuống là
trong sạch, song rơi đến mặt đất lôi cuốn bụi bặm bùn
đất chảy xuống ao hồ, thấy toàn nước đục. Có người
c?n nước trong xài, ra ao hồ nhìn thấy toàn nước đục không
biết làm sao. Gặp người thông minh bảo: nước đục tức
là nước trong, anh ta ngẩn ngơ không hiểu, ông này bảo: Anh
cứ gánh về đổ vào lu, lấy ít phèn quậy nhiều vòng cho
nước cuồn lộn lên, rồi để yên vài tiếng đồng hồ,
cặn bụi lắng xuống nước sẽ trong. Anh chàng kia làm đúng
như người thông minh dạy, kết quả anh được nước trong.
Bởi
vì nước mưa nguyên là trong, do bụi đất cuốn theo và hòa
tan trong nước nên trở thành đục. Kẻ khờ thấy nước đục
khác với nước trong, tưởng chừng như nước trong ngoài nước
đục mà có, nên khi cần nước trong thấy nước đục là
thất vọng, không biết phải tìm nước trong ở đâu. Người
trí biết nước mưa vẫn trong, do bụi đất hòa lẫn nên đục,
chỉ cần lóng bụi đất trở thành nước trong. Vì thế, khi
thấy nước đục, họ vẫn quả quyết nói "nước đục tức
là nước trong". Chữ tức ở đây để chỉ nước trong không
cố định trong, do duyên hợp thành đục; nước đục không
cố định đục, do duyên lóng thành trong. Nước đục không
ngoài nước trong mà có; nước trong không thể bỏ nước đục
mà tìm. Bồ-đề và phiền não cũng thế, phiền não không
cố định phiền não, do duyên hợp thành phiền não, Bồ-đề
không cố định Bồ-đề, do duyên lóng sạch thành Bồ-đề.
Bồ-đề không ngoài phiền não mà có, phiền não không ngoài
Bồ-đề mà sanh. Bỏ phiền não chạy tìm Bồ-đề như người
lưới cá trên không, bẫy chim đáy biển, rốt cuộc chỉ phí
công vô ích.
Nước
đục lóng thành nước trong, trẻ con thấy mới được nước
trong, người lớn biết nước trước nguyên trong, nay lóng
trở lại trạng thái cũ, có gì là "được". Nếu trước nước
vốn đục, nay lóng mấy cũng không trở thành trong. Cũng vậy,
nếu tất cả chúng sanh không có sẵn tánh giác, dù có tu hành
đến đâu cũng không thể giác được. Chư Phật, Bồ-tát
trước cũng là chúng sanh, các Ngài tu hành đã giác ngộ được,
tất cả chúng ta nếu biết tu hành chắc chắn sẽ giác ngộ
như các Ngài. Vì thế, chư Phật thấy rõ tất cả chúng sanh
đều có tánh giác, vì vô minh phiền não che đậy trở thành
mê, một khi khéo tu lóng sạch vô minh phiền não liền trở
lại giác. Từ mê sang giác, chúng sanh tưởng là mới được,
nên thấy có chứng có đắc. Chư Phật biết rõ chỉ trở
lại tánh giác sẵn có, nên nói vô chứng vô đắc. Vô chứng
vô đắc không có nghĩa là không ngơ, mà không còn mê, hằng
sống lại tánh giác của mình. Cái đã sẵn có, trở lại
với nó có gì thêm bớt mà nói chứng đắc. Tuy không chứng
đắc mà hằng giác chẳng mê, làm sao nói không ngơ được?
Biết
trong nước đục vốn là nước trong, nước đục khéo lóng
sẽ thành nước trong, đó là cái thấy của người thông minh.
Ðức Phật cũng thế, Ngài thấy tất cả chúng sanh đều sẵn
có tánh giác, dù đang mê tánh giác cũng không mất, nên nói
"ta thấy tất cả chúng sanh đã thành Phật". Lại có khi Ngài
nói "Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành". Bởi
chúng ta đã sẵn tánh giác, một khi thức tỉnh huân tu tánh
giác sẽ hiển hiện, việc này không có gì là lạ. Câu Phật
nói trước có vẻ khó hiểu, đã thành Phật tại sao chúng
sanh vẫn mê muội loạn cuồng. Bởi vì Phật cũng là một
chúng sanh như chúng ta, Ngài khéo lóng vô minh phiền não chìm
lặng trở thành giác ngộ. Nếu không có tánh giác sẵn, dù
Ngài tu đến muôn a-tăng-kỳ cũng không ngộ, nói gì ba a-tăng-kỳ.
Thấy chúng sanh sẵn có tánh giác, nói "đã thành Phật" thì
có lỗi gì? Có sẵn tánh giác mà cứ quên, mải tạo nghiệp
đi trong sanh tử luân hồi, càng luân hồi càng tạo nghiệp,
nghiệp mê chồng chất nên thành mê muội loạn cuồng. Một
phen thức tỉnh, dừng bước luân hồi, nghiệp mê băng hoại,
mới tin "ta là Phật sẽ thành".
SANH
TỬ TỨC NIẾT-BÀN
Chúng
sanh mải trôi lăn, lặn hụp trong biển luân hồi sanh tử,
dừng sanh tử được an lành là Niết-bàn. Sanh tử là khổ
đau. Niết-bàn là an lạc. Sự khổ đau an lạc dường như
hai mà không phải hai. Như người đi trên vai gánh một gánh
nặng đi xa, họ cảm nghe nhọc nhằn vô kể, để gánh nặng
xuống nghỉ, họ cảm thấy nhẹ bổng an vui. Cái nhọc nhằn
và an vui người này cảm giác được, dường như hai mà không
phải hai. Chẳng qua, khi gánh nặng còn đè trĩu trên vai là
đau khổ, để gánh nặng xuống thì an vui. Do hết khổ gọi
là vui, chớ không có cái vui từ đâu đem đến. Niết-bàn
và sanh tử cũng thế, do hết sanh tử gọi là Niết-bàn, không
có Niết-bàn ngoài sanh tử.
Chúng
sanh tạo nghiệp, lại do nghiệp dẫn chúng sanh loanh quanh lẩn
quẩn, không có ngày cùng. Chúng ta vì sự sống tạo nghiệp,
nghiệp lại dẫn chúng ta qua lại trong tam giới, lên xuống
trong sáu đường, không biết bao giờ ra khỏi. Nếu khéo tu
dừng nghiệp thì bánh xe luân hồi sẽ theo đó mà dừng. Theo
nghiệp trôi lăn là sanh tử, dừng nghiệp lặng yên là Niết-bàn.
Vì thế, cần được Niết-bàn, chúng ta phải dừng nghiệp.
Có nhiều người tưởng Niết-bàn là một cảnh giới xa xôi
đẹp đẽ như cảnh Cực Lạc chẳng hạn. Họ cố cầu xin
Phật, Bồ-tát cho họ được Niết-bàn hoặc tìm minh sư đạt
đạo nhờ truyền pháp hay điểm đạo cho họ được Niết-bàn.
Họ không ngờ sạch nghiệp tức là Niết-bàn. Nghiệp lại
do mình tạo, chỉ cần tìm ra động cơ chủ yếu tạo nghiệp,
bắt nó dừng lại thì Niết-bàn hiện tiền. Tâm thức lăng
xăng của chúng ta là chủ động tạo nghiệp, khéo tu dừng
lặng nó thì Niết-bàn xuất hiện. Dừng ngắn thì được
Niết-bàn ngắn, dừng lâu thì được Niết-bàn lâu, dừng
hẳn thì được Niết-bàn viên mãn.
Sở
dĩ có Niết-bàn là do đối với sanh tử mà lập, một khi
sanh tử dứt sạch thì Niết-bàn cũng không còn chỗ đứng.
Kinh có câu "Niết-bàn sanh tử đồng như hoa đốm trong không".
Ðã là hai danh từ đối đãi mà lập thì đều không thật.
Không có sanh tử thì không có Niết-bàn; không có Niết-bàn
thì nói gì là sanh tử. Như không có khổ thì không có vui,
không có vui thì làm sao biết khổ. Niết-bàn và sanh tử không
riêng lập và không ngoài nhau, nên nói "Sanh tử tức Niết-bàn".
Sẽ
có người bảo, sanh tử là do nghiệp dẫn là pháp sanh diệt,
hư dối là phải, Niết-bàn là dứt sạch nghiệp là chân thật,
tại sao lại nói hư dối? Quả thật Niết-bàn không hư dối,
song danh từ Niết-bàn là hư dối. Thực thể Niết-bàn không
có hình dáng để diễn tả, không có ngôn ngữ để nói bàn,
nó vượt ngoài pháp đối đãi thế gian. Ngôn ngữ chúng ta
sử dụng để diễn đạt tâm tư đều nằm trong đối đãi
không thật. Dù là ngôn ngữ Niết-bàn, cũng chỉ là lớp mây
phủ núi, chớ không phải là núi, đứng về núi mà nhìn thì
nó là cái hư dối bên ngoài không đáng kể. Thế nên nói
"như hoa đốm trong hư không" mà thực thể chẳng phải không.
THIỆN
TỨC ÁC, ÁC TỨC THIỆN, PHẢI TỨC QUẤY, QUẤY TỨC PHẢI
Ta
có thể nói rộng ra "thiện tức ác, ác tức thiện" hay "phải
tức quấy, quấy tức phải"... chẳng hạn. Bởi vì, dù là
việc thiện mà chúng ta cố chấp liền trở thành ác. Ví như
người theo tôn giáo A tự thấy là hay là lợi ích, liền khuyên
bà con thân quyến cùng theo với mình. Nếu những người thân
không bằng lòng theo, tức thì sanh tâm giận ghét. Thế không
phải chấp thiện thành ác là gì? Tuy là việc ác, chúng ta
ý thức được liền bỏ là trở thành thiện. Như anh A nghe
theo bạn bè làm việc trộm cắp, gặp người tốt nhắc nhở
giải thích cho A biết việc làm ấy là xấu xa, tội lỗi,
A liền bỏ nghề trộm cắp. Quả thật ác biết bỏ liền
trở thành thiện.
Phải
quấy cũng không có tiêu chuẩn cố định, nếu ta chấp vào
cái phải của mình liền trở thành quấy. Bao nhiêu việc cãi
vã chửi lộn đánh lộn đâu không phải do chấp phải mà
ra. Có người nào sau khi đánh lộn, bị người hỏi, dám nhận
là tôi quấy đâu. Mọi người đều thấy mình phải nên có
ẩu đả. Ngược lại, người ý thức việc làm của mình
là quấy tự bỏ, liền trở thành phải. Những người lầm
đường lạc lối, khi họ thức tỉnh xoay trở lại đường
lành liền trở thành người tốt. Mọi sự việc trong đối
đãi đều như thế cả, không có một sự việc gì là cố
định. Cái phải của A không phải là cái phải của B. Cái
phải của nhóm C không phải là cái phải của nhóm D. Cái
phải của xứ này không phải là cái phải của xứ khác.
Cái phải của thời gian trước không phải là cái phải của
thời gian sau. Thế thì, lấy đâu làm tiêu chuẩn mà chấp
phải quấy! Chấp chặt phải quấy là ngu xuẩn là khổ đau.
Biết buông xả linh động tùy thời là người khôn ngoan an
ổn.
CHỮ
TỨC ÐỐI TRONG VẠN VẬT
Ta
đi xa hơn ra ngoại giới, với mọi sự vật dùng chữ TỨC
vẫn đúng lẽ thật. Như nói "thể lỏng tức là thể hơi"
hoặc nói "thể hơi tức là thể lỏng". Nước là thể lỏng
đun nóng bốc lên thành hơi, hơi nước lên cao gặp khí lạnh
đọng lại rơi xuống thành nước thể lỏng. Cũng có thể
nói "thể lỏng tức là thể cứng, thể cứng tức là thể
lỏng". Nước là thể lỏng khi để vào tủ lạnh cô đọng
thành nước đá thể cứng; nước đá đem để ngoài nắng
tan thành nước thể lỏng. Ngoài nước ra, các loại chì, đồng,
sắt..., từ thể cứng để vào lò nấu sức nóng lên đến
1.000 độ C trở lên sẽ chảy thành thể lỏng, thể lỏng
đó đem ra để nguội trở thành cứng... Vì thế, thấu hiểu
chữ TỨC là thấy đúng lẽ thật, cũng là thấy tột cùng
lý tùy duyên chuyển biến của các pháp. Môn hóa học hiện
tại chứng minh sự vật không tự tồn tại, không có cá thể
độc lập, không giữ nguyên một vị trí. Một vật thể này
bị thay đổi chất liệu liền biến thành vật thể khác.
Thế nên, con người có thể dùng các thứ nguyên liệu khoa
học đã tìm được, biến chế thành những sản phẩm hữu
ích cung ứng cho nhân loại cần dùng. Mọi vật thể kết hợp
không phải đơn thuần, mà sự cấu tạo rất phức tạp. Biết
được sự cấu tạo của vật thể, người ta sẽ tạo điều
kiện biến nó thành những vật theo nhu cầu của mình. Sự
biến hóa đổi thay trong mỗi vật thể đã là bằng chứng
hùng hồn về lý không cố định của sự vật. Thấy được
lý không cố định là thấy tột bản tánh của sự vật.
Những nguyên tố hợp thành sự vật tuy nhiều song chẳng lắm,
do sự kết hợp tăng giảm biến thành muôn vàn sự vật có
đủ thiên hình vạn trạng trên thế gian này. Quả là trong
vật này có những nguyên tố của vật khác, trong vật khác
có những nguyên tố của vật này. Thế nên, nói "A tức B,
B tức A" là đúng lẽ thật đâu có sai ngoa.
HIỆU
DỤNG CHỮ "TỨC" TRONG SỰ TU HÀNH
Hiểu
rõ chữ TỨC có công hiệu rất lớn trong việc tu hành. A tức
là B, thì A không thật A, B tức là A thì B không thật B. Muôn
vật tùy duyên thay hình đổi dạng, có cái gì cố định mà
chấp. Bệnh lớn của con người là cố chấp, chấp càng nặng
thì khổ càng nhiều. Mỗi người chấp theo cái thấy, cái
nghe, cái sở học, cái suy nghĩ, cái tưởng tượng của mình
hoặc của nhóm người thân mình, nếu người khác thấy đồng
cái thấy của mình, nhóm mình thì thân; thấy khác cái thấy
cái chấp của mình, nhóm mình thì thù. Ðây là gốc đấu
tranh gây ra đau khổ cho nhân loại. Sự vật là một dòng biến
thiên, mà mình nhìn theo cái chấp cố định thì làm sao thấy
được lẽ thật, làm sao đem lại sự an bình. Con người khủng
khiếp hãi hùng khi nghe tin mình sắp chết. Sợ chết vì chấp
thân là chắc thật lâu dài, bỗng dưng nó sắp tan hoại nên
hoảng sợ. Sự nghiệp tài sản cũng chấp cố định bền
lâu, xảy ra tai nạn hỏa hoạn, binh đao, trộm cướp... khiến
phải tan hoại, người ta sẽ đau khổ vô hạn. Tình cảm bạn
bè, thân hữu..., chấp mãi mãi không đổi thay; một khi gặp
cảnh đổi thay, người ta sẽ thảm sầu vô kể.
Người
nắm vững nguyên tắc "các pháp không cố định", mọi cố
chấp trên từ từ tan rã, khổ đau, sầu thảm, hoảng sợ,
hãi hùng dần dần tan biến theo mây khói. Thân sắp chết,
sự nghiệp tan vỡ, bạn bè chia lìa... cũng là lẽ đương
nhiên trong dòng biến thiên của vạn vật. Chúng ta chưa can
đảm cười trước cảnh ấy, song cũng can đảm nhìn chúng
trôi qua với tâm niệm an bình. Bởi người tu hành là huân
tập phát minh những lẽ thật ấy. Sở dĩ hiện nay có lắm
người tu khi gặp hoàn cảnh tang thương biến cố liền hoảng
sợ bất an, do họ không phát minh những lẽ thật này. Họ
nghĩ rằng tụng kinh nhiều, niệm Phật lắm, cúng kính hậu
là đầy đủ công phu tu hành. Tu bằng cách nhắm ra ngoài,
chạy theo hình thức làm sao đạt được lẽ thật, mà làm
suy giảm khổ đau. Họ càng tu thì chấp càng nặng, chấp nặng
thì đau khổ càng nhiều. Thế là, tu chỉ tăng khổ, chớ không
hết khổ.
A tức
là B, thì A không thật là A, B tức là A, thì B không thật
là B, hai bên đều không cố định. Ðã không cố định thì
làm sao dám bảo là thật. Hai bên đều không thật thì không
thể thành hai. Bởi không thể thành hai là tiến thẳng vào
"Pháp môn bất nhị". Thấy vạn vật đối đãi không thật,
còn gì để lý giải luận bàn. Vừa phát ra ngôn ngữ là nằm
trong đối đãi, đối đãi thuộc hai bên. Muốn chỉ chỗ cứu
kính của "Pháp môn bất nhị", ngài Duy-ma-cật chỉ còn cách
lên tòa ngồi lặng thinh. Chính thế mà Bồ-tát Văn-thù tán
thán không tiếc lời.