Thấy
thân giả dối có phải quan niệm chán đời không?
Ða số
người nghe trong kinh Phật nói "xem thân như huyễn hóa" cho
là tâm trạng bi quan, yếm thế. Trái lại, nhà Phật thấy
thân như huyễn hóa là sức mạnh để làm lợi ích chúng sanh.
Như nói "Bồ-tát lấy thân như huyễn độ chúng hữu tình
như huyễn", bởi Bồ-tát thấy thân hình không thật nên sẵn
sàng lăn xả vào làm việc lợi ích chúng sanh, dù gặp khó
khăn nguy hiểm cũng không ngán sợ, vì thân như huyễn có mất
cũng không gì quan trọng. Thấy chúng hữu tình như huyễn nên
độ chúng sanh mà không chấp nhân ngã. Thấy thân như huyễn,
khiến người ta mạnh mẽ lên, không còn hãi sợ, trước vạn
vật biến thiên mà tâm hồn mình vẫn an nhiên tự tại...
Ta hãy nghe bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh:
Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm
vận thạnh suy vô bố úy,
Thạnh
suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch:
Thân
như bóng chớp có rồi không
Cây
cỏ xuân tươi, thu đượm hồng
Mặc
cuộc thạnh suy không sợ hãi
Thạnh
suy như cỏ hạt sương đông.
Biết
bao lời Phật, ý tổ trong các kinh, luận thấy thân như huyễn
đạt tinh thần vô úy như thế.
THẤY
THÂN HUYỄN HÓA LÀ ÐÚNG LẼ THẬT
Phật
giáo nói thân này do tứ đại hòa hợp thành nên không chắc
thật bền lâu. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa, bốn
thứ này bủa khắp trời đất vạn vật nên nói là đại.
Chất cứng trong thân là đất, chất ướt là nước, chất
động là gió, chất ấm là lửa. Bốn chất này thiếu một
thì thân phải hoại. Song bốn chất này luôn luôn thù địch
chống đối nhau. Lửa không ưa nước, đất không ưa gió,
ngược lại cũng thế. Khi lửa thạnh hơn nước sanh nóng bức
đau đầu; gió thạnh hơn đất sanh nhọc nhằn đau nhức. Chúng
hằng chống đối nhau, nên lúc nào thân này cũng sẵn sàng
bệnh hoạn hay chực tan rã. Ta khéo điều hòa thì thân còn
an ổn, không khéo chúng sẽ băng hoại. Sự băng hoại của
thân thật bất định, một mạch máu bể, một cái sẩy chân,
một luồng gió độc, một viên đạn xuyên qua... là mất mạng.
Sự hòa hợp của tứ đại thật là khó khăn không bảo đảm
lâu dài, vì chúng mang bản chất thù địch nhau. Như bốn người
thù địch nhau chung làm một công tác, nếu thiếu một trong
bốn người thì công tác phải đổ vỡ. Thử hỏi, chúng ta
dám bảo đảm bốn người này hòa hợp lâu dài chăng? Và
công tác họ đang làm có thể thành tựu viên mãn không? Thật
không ai dám hứa điều đó hết, vì thấy rõ tính chất thù
địch của chúng. Sự hòa hợp của bốn kẻ thù, dù ai ngu
tối mấy cũng biết rất tạm bợ mỏng manh. Thế thì, nói
thân tạm bợ hư dối là nói đúng sự thật không còn nghi
ngờ gì nữa.
Chẳng
những sự hòa hợp của chúng rất tạm bợ mỏng manh, chính
khi đang hòa hợp, chúng cần phải vay mượn tứ đại bên
ngoài hỗ trợ mới được tồn tại. Sự vay mượn tứ đại
bên ngoài bị thiếu hay ngưng trệ, nguy cơ tan vỡ xuất hiện
ngay. Lỗ mũi chúng ta đang hít thở là mượn gió, miệng ta
uống nước, ăn cơm là mượn nước, mượn đất và lửa.
Sự vay mượn ấy được thuận chiều ổn thỏa thì thân an
vui khỏe mạnh. Sự vay mượn bị trở ngại khó khăn là thân
đau đớn nguy kịch. Quả thật cuộc sống an vui hạnh phúc
là do sự vay mượn và tống trả một cách an ổn điều hòa,
ngược lại là sự sống bất hạnh. Sự sống còn là nhờ
vay mượn, làm sao dám nói thân này là thật, là lâu dài?
Thế
mà người đời bị si mê nhiều kiếp, cứ nghĩ thân này là
thật, là lâu bền, là của ta. Thậm chí đất nước gió lửa
bên ngoài là của thiên nhiên trời đất, mà một khi mượn
vào xài, liền chấp của mình. Như lỗ mũi vừa mượn không
khí đem vào chưa đến một phút, thở trả ra liền nói hơi
của tôi. Nước, đất cũng chấp như vậy. Một vật gì vừa
qua thân này đều nói là của tôi, không ngờ cái tôi này
cũng vay mượn nốt. Bao nhiêu đó đủ thấy, cái si mê chấp
ngã của chúng ta thật quá nặng nề. Vì chấp ngã nên mù
quáng, không thấy lẽ thật. Bởi vậy nên nghe nói thân này
như huyễn hóa liền hằn học chống đối ngay.
Nếu
thân này là thật, phải có bảo đảm tồn tại trong thời
gian bao lâu. Quả thật không dám bảo đảm, làm sao nói thân
này là thật được. Có người ra chợ mua hàng, thấy món
hàng vừa ý muốn mua, song còn ngại đồ giả. Chàng ta hỏi
cô bán hàng: Ðây là đồ thật hay đồ giả? Cô bán hàng
đáp: Ðồ thật! Tôi bảo đảm ông đồ tốt lâu bền... có
thật mới dám bảo đảm, nếu giả đâu dám bảo đảm, trừ
kẻ bướng. Thân này đã không, có ai dám bảo đảm, nói giả
dối là hợp lý còn gì nghi ngờ. Song nói giả dối hay huyễn
hóa để chỉ sự có mặt của nó rất tạm bợ không lâu
bền, không chủ tể, chớ chẳng phải không ngơ, không có
gì hết. Có người bảo đạo Phật nói thân như huyễn hóa,
tại sao các người tu theo Phật vẫn ăn, vẫn mặc v.v... và
v.v...? Biết thân huyễn hóa là thấy nó có một cách tạm
bợ ngắn ngủi, dễ tan hoại, chẳng phải là không, sự ăn
mặc đối với nó là lẽ thường có gì phải nghi. Thấy được
lẽ thật tạm bợ của thân này, chúng ta phá được cái chấp
ngã sai lầm vô lý, dừng tay, không tạo nghiệp ác, đem lại
sự cảm thông tương trợ lẫn nhau, để được chút an vui
trong cuộc đời tạm bợ.
THẤY
THÂN HUYỄN HÓA ÐỂ TRỪ TAM ÐỘC
Tham,
sân, si là ba con rắn độc sát hại người không thể kể
xiết. Chẳng những chúng giết hại người trong đời này,
mà còn gây họa ương không biết bao nhiêu kiếp nữa. Còn
tham sân si là con người còn đau khổ. Thấy thân như huyễn
hóa là lối nhìn đúng như thật bằng con mắt trí tuệ. Con
mắt trí tuệ mở sáng thì si mê tan biến là phá được si.
Si đã tan thì tham theo đó mà dừng. Tham hết thì sân không
còn lý do trỗi dậy. Bởi si mê nên thân duyên hợp hư dối
ta tưởng lầm là chân thật quí báu. Do tưởng thân thật
quí, nên sanh lòng tham muốn thu góp mọi nhu cầu mà thân yêu
thích. Sự thu góp bị ngăn trở liền nổi sân lên. Thế là,
từ si khởi tham, từ tham sanh sân, tạo nghiệp gây khổ cho
mình cho người. Hành giả biết rõ cội gốc của tam độc
là si mê dùng cây xẻng trí tuệ bứng tung gốc si mê lên.
Gốc si mê đã trôùc thì thân tham và cành lá sân cũng đổ
ngã theo, cây tam độc ngang đây sẽ khô khan rã mục. Quả
là chúng ta đã tháo được cây chốt cửa giải thoát. Bài
kinh Bát-nhã bổ khuyết cho tất cả thời khóa tu tập chủ
yếu là ở chỗ này. Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên
con đường giác ngộ, nếu không thắp sáng ngọn đuốc trí
tuệ thì mục đích giác ngộ ắt phải xa vời. Kinh Pháp Cú
Phật dạy "các ông tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với
chánh pháp". Trong mười hai nhân duyên, bắt đầu từ vô minh.
Từ vô minh tiếp nối đến sanh tử là lưu chuyển. Vô minh
diệt cho đến sanh tử diệt là hoàn diệt. Do vô minh dẫn
mãi đi trong luân hồi sanh tử. Vô minh là tên khác của si
mê. Chúng ta đã thấy đích thực bộ mặt ác độc của hắn
rồi, không ra tay tiêu diệt hắn, biết bao giờ chúng ta mới
hết khổ. Vì thế, hành giả thẳng tay trừng trị đích đáng
kẻ ác độc này, với cây kiếm trí tuệ cầm sẵn trong tay.
Bất cứ nơi chốn nào, thời gian nào, hành giả hằng lia kiếm
trí tuệ, bọn quân si mê ngã rạp không còn một đứa dám
xáp lại gần là thắng trận, trên đường tiến đến thành
giác ngộ. Ngược lại, là kẻ bại trận không thể cứu.
THẤY
THÂN HUYỄN HÓA ÐẠT ÐẾN KHÔNG HUYỄN HÓA
Lý
do không bi quan của đạo Phật là thấy thân huyễn hóa để
đạt đến không huyễn hóa. Không phải như những kẻ phàm
phu tục tử, có lúc nhàn hạ ngồi yên suy gẫm cuộc đời,
thấy nó ngắn ngủi tạm bợ đâm ra chán chường kinh hoảng.
Thấy cuộc sống đi vào ngõ cụt, họ ê chề chán ngán có
khi liều mình tự tử. Hành giả dùng trí tuệ quán sát thấy
thân đúng lẽ thật, nó hư dối tạm bợ không có gì đáng
quí. Song lại có cái chân thật tàng ẩn trong ấy, chỉ có
người đạt đạo mới thấy được. Ta hãy nghe ba câu trong
bài ca Chứng Ðạo của Thiền sư Huyền Giác:
Huyễn
hóa không thân tức pháp thân
Pháp
thân giác liễu vô nhất vật
Bản
nguyên tự tánh Thiên Chân Phật.
Ngay trong
thân không thật huyễn hóa này tức là pháp thân. Giác ngộ
pháp thân thấy không có một hình tướng sự vật gì. Pháp
thân này cũng gọi là bản nguyên, tự tánh, Thiên Chân Phật.
Pháp
thân là tên khác của tâm thể lặng lẽ, tràn đầy trong sáng
của mọi chúng ta. Nó không có hình tướng nên không bị vô
thường, không dấy động nên không sanh diệt, hằng trong sáng
nên chẳng phải không ngơ. Vì chúng ta quen nhìn cái gì cũng
theo hình tướng, theo dấy động mới cho là có, ngược lại
bảo là không.
Ðể
sáng tỏ ý này, chúng ta nghe lời đối đáp của Thiền sư
Hoài Nhượng với Lục Tổ. Sư đến Tào Khê, Lục Tổ hỏi:
Ở đâu đến? Sư thưa: Ở Tung Sơn đến. Tổ hỏi: Vật gì
đến? Sư thưa: Nói in tuồng một vật tức không trúng. Tổ
hỏi: Lại có tu chứng chăng? Sư thưa: Tu chứng tức chẳng
không, nhiễm ô tức chẳng được. Tổ bảo: Chính cái không
nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như
thế, ta cũng như thế.
Tâm
thể lặng lẽ tràn đầy trong sáng có sẵn trong mọi người,
nên nói là bản nguyên, là tự tánh. Tại vì vọng tưởng
dấy khởi liên miên, khiến chúng ta chỉ thấy vọng tưởng,
không thấy được tâm thể này. Bởi chỉ thấy vọng tưởng
nên chấp nhận vọng tưởng làm tâm mình, hài lòng ngang đây,
cam chịu nó lôi chạy trong lục đạo luân hồi. Mỗi vọng
tưởng dấy lên, hay mỗi niệm khởi, đã cắt xén tâm thể
tràn đầy thành những mảnh vụn. Những mảnh vụn này tung
tóe lên che khuất tâm thể lặng lẽ tràn đầy trong sáng.
Như mặt biển lặng lẽ tràn đầy trong sáng, một cơn gió
mạnh thổi qua, những lượn sóng trỗi dậy nối tiếp, đã
cắt xén mặt biển phẳng lì thành vô lượng mảnh vụn, đang
săn đuổi nhau. Khi này, người ta nhìn không còn thấy mặt
biển phẳng, chỉ thấy bao nhiêu lượn sóng gầm thét rượt
bắt nhau.
Sóng
đã dậy làm sao dừng? Chỉ khi nào gió lặng. Sóng tâm muốn
dừng chỉ khi nào gió nghiệp lặng. Vọng tưởng dấy lên
đều có đối tượng. Ngã và pháp là đối tượng chủ yếu
của vọng tưởng. Nghĩ cái gì? Nghĩ về ta, về người hay
vạn vật. Thấy thân duyên hợp như huyễn, cảnh duyên hợp
như huyễn là vô hiệu hóa gió nghiệp. Ðã biết thân cảnh
hư dối còn gì phải bận lòng, đối tượng đã phá vỡ thì
vọng niệm không còn chỗ tựa để phát sanh. Thế là gió
nghiệp lặng, sóng vọng niệm từ từ im bặt, chỉ còn mặt
biển tâm lặng lẽ tràn đầy trong sáng như xưa. Công tác
quan trọng của người tu là trí tuệ Bát-nhã, nhờ nó chúng
ta mới phá được mê lầm muôn kiếp. Nó góp công lớn lao
trong việc đem lại an bình cho tâm thể.
Vọng
niệm dấy khởi là loạn động, sanh diệt, là cắt xén vụn
vặt, là che phủ ngàu đục. Có vọng niệm thì không thể
thấy được tâm thể lặng lẽ tràn đầy trong sáng. Vì thế,
mọi người đều có tâm thể lặng lẽ tràn đầy trong sáng
mà ít người nhận ra. Ðã không nhận ra, dù tu hành cũng không
tin mình thành Phật. Ðây là nguyên nhân lui sụt của đa số
người tu. Nghe trong kinh nói có chân tâm, Phật tánh, tri kiến
Phật..., thực tế không bao giờ họ nhận thấy mặt mày của
nó. Tu lâu rồi, họ xoay ra lo cất chùa to, tổ chức lễ lớn...
lấy đó làm Phật sự, việc giác ngộ giải thoát xem như
vô phần. Muốn thấy chân tâm, Phật tánh, trước tiên chúng
ta phải dừng vọng niệm. Vọng niệm đã dừng thì tâm thể
lặng lẽ tràn đầy trong sáng hiện tiền, chẳng cần cầu
mong trông đợi cũng tự thấy. Song vọng niệm không phải
dễ dừng, nó đã thành một dòng sanh diệt liên tục trong
chúng ta. Ðể chận đứng nó, trước tiên chúng ta phải đập
nát đối tượng chủ yếu làm cơ sở phát sanh của nó là
ngã và pháp. Dùng trí Bát-nhã thấy ngã pháp như huyễn hóa,
là chiếc búa thần đập tan đối tượng chủ yếu của vọng
niệm. Ðối tượng đã đổ vỡ thì vọng niệm còn nương
đâu phát sanh. Thế là, nhờ trí tuệ Bát-nhã thấy ngã pháp
như huyễn hóa, hành giả đạt đến tâm thể chân thật không
huyễn hóa.
BI
TRÍ TRÒN ÐỦ
Trí
tuệ khai phát, hành giả tháo gỡ lần những mối rối bòng
bong trong tâm tư. Ðến khi mọi việc suôn sẻ, trí giác tròn
sáng là xong phần tự giác. Phần giác tha do tâm từ bi thúc
đẩy, đến lúc viên mãn thì công phu hành giả mới được
tròn đủ. Khi thực hiện giác tha, hành giả phải chuẩn bị
thế nào? Tâm từ bi là ban vui cứu khổ. Chúng sanh có nhiều
loại khổ, không ngoài hai thứ, khổ về vật chất, khổ về
tinh thần. Khổ về vật chất tuy cấp bách song không trầm
kha miên viễn bằng khổ về tinh thần. Thể hiện lòng từ
bi bằng hành động bố thí, trong ba thứ bố thí, tài thí
là đứng đầu. Vì thích ứng với nhu cầu cấp bách vật
chất, nên phải thực hiện tài thí trước. Người đang đói
rét mà mời đi nghe pháp là việc làm của kẻ dại khờ. Trước
nhất, chúng ta phải cho họ có cơm ăn, cả áo mặc, sau mới
hướng dẫn về đạo lý thâm sâu. Do đó, pháp thí Phật đặt
sau tài thí. Phật tử muốn cứu người thoát khỏi cái khổ
trầm kha, miên viễn của tinh thần, trước phải lo giúp đỡ
người giảm bớt cái khổ về vật chất. Vì thế, tuy thấy
thân như huyễn hóa, các pháp như huyễn hóa, chúng ta vẫn
phải cần cù lao động làm ra nhiều tài sản của cải để
giúp những người cần giúp, nhiên hậu mới đem chánh pháp
hướng dẫn giáo hóa họ. Thấy thân như huyễn, các pháp như
huyễn, để rồi nhìn cảnh ngắm trăng nhịp đùi ngâm thơ,
là người không có lòng từ bi, không hiểu thấu ý nghĩa Phật
dạy. Hoặc gặp ai cũng cố gắng khai mở trí Bát-nhã cho họ,
mà không đếm xỉa gì bản thân người đang no hay đói, là
kẻ thuyết pháp chẳng hợp thời cơ. Vì muốn cứu cái khổ
trầm kha miên viễn tinh thần của mọi người, chúng ta phải
cố gắng nỗ lực cứu cái khổ cấp bách vật chất cho họ
trước đã. Ðược vậy, sự tự giác giác tha, chúng ta mới
tròn đủ. Tự giác là trí, giác tha là bi, đạo Phật chủ
yếu đưa người đến giác ngộ, nên bi trí đều cùng một
chữ giác.
KẺ
SI MÊ, NGƯỜI TRÍ TUỆ CAN ÐẢM HY SINH
Kẻ
si mê can đảm hy sinh không ngoài ba yếu tố chính là tham lam,
sân hận, si mê. Vì tham danh, tham lợi, tham sắc..., họ can
đảm hy sinh, vì đam mê không mãn ý, họ can đảm hy sinh, vì
nóng giận hận thù, họ can đảm hy sinh. Sự can đảm hy sinh
của họ do động lực bên ngoài thúc đẩy. Họ can đảm trong
cái sợ sệt, hy sinh trong cái liều lĩnh. Người đời muốn
lợi dụng lòng can đảm, hy sinh của họ, bèn cám dỗ bằng
danh lợi, kích động bằng hận thù, xây dựng bằng lý tưởng.
Bởi không tự chủ được, họ phải làm theo cái gì mà người
khác muốn họ làm. Cuộc sống của họ xem ra rất ngang dọc
anh hùng, song là cái anh hùng của người khác tạo nên. Họ
hy sinh trong cái tự cao, ngã mạn, hoặc trong nhắm mắt đánh
liều.
Người
trí tuệ can đảm hy sinh do nhận chân lẽ thật, vì lòng từ
bi cứu khổ chúng sanh. Khi thấy rõ thân này duyên hợp như
huyễn, chúng sanh không biết chấp là thật, gặp cảnh khổ
liền kinh hoàng, hoảng sợ. Người trí tuệ thấy thế dám
hy sinh thân mình để đem sự an vui cho người. Ðôi mắt trí
tuệ với lòng từ bi, người trí tuệ can đảm hy sinh giúp
người, cứu vật, không do động lực nào khác thúc đẩy.
Nói can đảm hy sinh, mà thật không có gì đáng hy sinh. Bởi
thấy thân như huyễn hóa, sự còn mất có đáng gì, gọi là
hy sinh. Cho nên, hy sinh cho mọi người, vẫn không thấy có
mình hy sinh, đây là tâm hồn Bồ-tát. Bồ-tát thấy chúng
sanh khổ coi như mình khổ, xả thân mình giải khổ cho người
là việc làm dễ dàng thường nhật của Bồ-tát.
KẾT
THÚC
Qua
những lý do trên, chúng ta được quyền khẳng định rằng
thấy thân giả dối là đúng lẽ thật, là diệt trừ tam độc,
là giải thoát sanh tử, là tích cực vì người, là can đảm
hy sinh, không phải là quan niệm bi quan yếm thế. Mọi khổ
đau, mọi hèn nhát, phát nguồn từ bản ngã khổng lồ. Phá
tan được bản ngã này, có sự lợi ích nào chẳng dám làm,
sự đau khổ nào mà chẳng dám cứu, sự hiểm nguy nào mà
chẳng xông vào. Bồ-tát Ðịa Tạng đâu không nói "ta không
vào địa ngục, ai vào địa ngục". Có phải chăng là một
sức mạnh vô biên, khi thấy thân không thật. Chỉ trừ bọn
phàm phu, sau khi trà dư tửu hậu, ngồi suy gẫm cuộc đời,
thấy kiếp sống mỏng manh cuộc đời tạm bợ, nảy sanh ra
quan niệm chán đời. Với cái nhìn của bọn người này, không
dính dáng gì với trí tuệ Bát-nhã. Trí tuệ Bát-nhã không
rời từ bi. Bi trí viên mãn mới tròn Phật quả.