(Lời
Ban Biên Tập: Đối với quá khứ, chúng ta không cần phải
quên, mà nên ghi chép lại trong lịch sử của dân tộc một
cách trung thực, để lưu truyền cho thế hệ sau. Quá khứ
cho chúng ta những bài học của lịch sử, mà nhờ có những
bài học này, người đời sau có thể rút tỉa kinh nghiệm,
để từ đó, có những quyết định sáng suốt, tốt đẹp
hơn. Như vậy, kỷ niệm quá khứ sẽ đem lại những chuyển
hóa tích cực cho tương lai. Tuy nhiên, chúng ta nên phân
biệt giữa ghi nhớ và căm thù. Ghi nhớ để có kinh nghiệm
mà do đó, làm được những việc có ích cho đời thì tốt.
Nhưng ghi nhớ để dấy lên lòng căm thù thì không đúng với
lời Phật dạy. Lòng thù hận sẽ đem lại cho mình và cho
người những nỗi đau khổ không bao giờ chấm dứt được.
Trước nhất là lòng thù hận trói buộc mình trong những cảm
xúc tiêu cực, không an lạc. Để trong tâm sự thù hận, nhãn
quan sẽ bị thu hẹp.
)
Biến
cố Phật giáo là một biến cố lớn không những cho chế
độ Ngô Đình Diệm vào năm 1963 mà còn cho cả chính đạo
Phật tại Việt Nam. Biến cố này cũng đã đóng góp vào sự
vươn mình của dân tộc cũng như cho những chuyển động trí
thức nhân bản hơn của nhân loại trong thập niên 60. Rất
nhiều máu đỏ đã chảy trong biến cố này, cũng nhiều như
mực đen đã chảy sau biến cố đó để ghi chép và lưu trữ
lại những chứng tích và những suy nghiệm về các tội ác
của chế độ Ngô Đình Diệm trong lần trở mình hùng tráng
của Dân Tộc và Phật giáo tại Việt Nam.
Với
những biện pháp hành chánh quỷ quyệt, những thủ đoạn
chính trị tàn ác và các chủ trương văn hóa gian hiểm, trong
9 năm trời, chế độ Diệm đã tìm mọi phương cách để
tiêu diệt dần dần các lực lượng và ảnh hưởng Phật
giáo Việt Nam theo kế hoạch tằm ăn dâu. Đến những năm
1962, 1963, chế độ Diệm lại có thêm chương trình ấp Chiến
Lược mà họ thêm tin tưởng vừa có thể chiến thắng được
Cộng Sản, lại vừa có thể Công giáo hóa toàn dân nông thôn.
Chiếm được nông thôn là chiếm được địa bàn căn bản
và lâu đời nhất của Phật giáo Việt Nam, họ sẽ bao vây
Phật giáo, cô lập Phật giáo trong các chùa chiền ở đô
thị và Phật giáo sẽ như cá trong ao khô hồ cạn, không còn
nước nữa để sống còn và bơi lội vẫy vùng.
Nếu
anh em ông Ngô Đình Diệm kiên nhẫn dùng kế hoạch trên thì
có lẽ biến cố Phật giáo năm 1963 đã chưa xảy ra vì một
lý do rất dễ hiểu là mặc dù nỗi thống khổ của Phật
tử đã đến cùng cực, thế mà Phật tử vẫn chỉ cắn răng
chịu đựng. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên,
nhà Ngô đi ngược lòng dân và ngược ý trời nên mới lấy
quyết định cấm treo cờ Phật giáo nhân ngày lễ Phật Đản,
một quyết định ban đầu nhà Ngô tưởng là không mang lại
hệ quả đáng kể nhưng thật sự lại đưa chế độ Diệm
vào đường cùng. Với những người tin vào thuyết lý số
và thuyết âm đức thì năm 1963 đúng là năm chót trong cái
đại vận “Phát dã như lôi” thụ hưởng phú quý tột đỉnh
của anh em nhà Ngô để bước vào chu kỳ “Tán gia bại quốc”
mang lại nhục nhã cho dòng họ.
Thật
thế, nếu Tổng Giám mục Ngô Đình Thục còn ở Vĩnh Long
thì có lẽ vụ cấm treo cờ Phật giáo đã chưa xảy ra. Không
ngờ Tòa thánh La Mã dưới triều đại Giáo Hoàng Paul 6 lại
thuyên chuyển ông Ngô Đình Thục ra giáo phận Huế, nơi mà
đại đa số dân chúng đều theo đạo Phật, nên nhà Ngô mới
bị sa lầy sớm. Đổi ông Thục ra Huế, Tòa Thánh La Mã chỉ
muốn ông Thục, vốn đã làm cho Giáo Hội chịu nhiều tai
tiếng xấu trong cộng đồng thế giới, phải xa lánh Thủ
đô, xa tai mắt ngoại giao đoàn, xa ký giả quốc tế và xa
khối trí thức Việt Nam đông đảo tại Sài Gòn. Không ngờ
hảo ý của Tòa Thánh La Mã lại biến thành đại họa cho
nhà Ngô.
Tất
cả bắt đầu vào ngày 6 tháng 5 năm 1963, khi Tổng Giám mục
Ngô Đình Thục đi thăm nhà thờ La Vang. Dọc đường, đâu
đâu ông Thục cũng thấy cờ Phật giáo tung bay khắp thị
thành thôn xóm để chào mừng Phật đản trong hai ngày nữa.
Cờ Phật mà còn nhiều thì cái mộng Hồng Y của ông Thục
khó sớm thành sự thực vì đã nhiều lần ông lỡ phúc trình
với Tòa Thánh là dân Việt Nam ngày càng cải đạo, càng hướng
về Giáo hội La Mã. Nhưng thực tế hôm đó hiển hiện trước
mắt là cờ Phật giáo tràn ngập khắp nơi đã làm cho ông
Thục giận lắm, nên khi trở về Huế, ông cho gọi Đại biểu
chính phủ Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Tòa Giám mục
để khiển trách rồi gọi điện thoại viễn liên vào Sài
Gòn báo cho em là Tổng thống Diệm biết tình hình. Ngay sau
đó ông Diệm ra luật lệ treo cờ cho các Tôn giáo.
Theo
luật lệ treo cờ của Chính phủ Diệm, cờ Tôn giáo không
được treo ngoài khuôn viên chùa chiền, nhà thờ hoặc các
cơ sở tôn giáo... Vì bị Tổng Giám mục Ngô Đình Thục áp
lực, ông Diệm đã đặt vấn đề treo cờ Phật giáo mà ông
quên đi năm ngoái (1962), Phật giáo cũng treo cờ như năm nay
mà không thấy chính phủ khuyến cáo gì cả. Tôi còn nhớ
năm 1959, từ ngày 16 đến 18 tháng 2, tại Thủ đô Sài Gòn
và khắp cả nước, giáo hội Công giáo Việt Nam tổ chức
đại hội Thánh Mẫu và lễ nâng nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
lên hàng Vương Cung Thánh Đường vô cùng trọng thể dưới
quyền chủ tọa của Hồng Y Agagianan (Đại diện Tòa Thánh
La Mã). Cờ Tòa Thánh và ảnh tượng Đức Mẹ trưng bày khắp
Thủ đô, tràn ngập cả công viên trước dinh Độc Lập từ
đường Công Lý đến tận Sở Thú. Ngày 17 tháng 8 năm 1961
tại La Vang, nhân dịp kỷ niệm lễ Đức Mẹ hiện ra cách
đây 160 năm và khánh thành Vương Cung Thánh Đường La Vang,
những khải hoàn môn trưng bày ảnh tượng Đức Mẹ và cờ
Công giáo Vatican (vàng - trắng) kéo dài từ thành phố Huế
đến thành phố Quảng Trị dọc theo Quốc lộ Một. Rồi đến
lễ khánh thành ngôi nhà thờ Huế do ông Ngô Đình Thục xây
cất, và tiếp theo đó là lễ Ngân Khánh của ông Ngô Đình
Thục xẩy ra vài tuần lễ trước ngày Phật Đản, cờ Công
giáo Vatican lại tràn ngập cả thành phố Huế, nhất là về
phía hữu ngạn sông Hương. Dân cả nước ai lại không thấy
rằng hễ mỗi lần Công giáo có lễ lạc là cờ Công giáo
Vatican treo ra ngoài khuôn viên nhà thờ, trên đường phố công
cộng và nhiều khi trên cả các cơ sở quốc gia. Dưới chế
độ Diệm, hầu như trong mỗi doanh trại quân đội đều có
nhà thờ mà hễ đến ngày lễ Noel là cờ Công giáo Vatican
treo khắp doanh trại, trước cổng trại lại có cả khải
hoàn môn. Dân chúng làm sao quên được hình ảnh những vùng
như Hố Nai, Gia Kiệm, Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Ba Chú Ía, chung quanh
Lăng Cha Cả, và những vườn hoa những đại lộ trước Tòa
Đô Chính Sài Gòn tràn ngập ảnh tượng và cờ Công giáo
Vatican trong những ngày lễ Giáng Sinh. Chính vì Công giáo đã
đầu tiên và liên tục đạp lên trên luật lệ treo cờ của
Chính phủ đến nỗi sau vụ cờ Phật giáo tại Huế, ngày
15 tháng 5 năm 1963, Giám mục Nguyễn Văn Bình đã phải ra thông
báo nhắc nhở giáo dân: “Cờ của Tòa Thánh Vatican chỉ được
treo trong nhà thờ hoặc những cơ sở của Hội Thánh”.
Người
Công giáo trắng trợn vi phạm luật treo cờ thì anh em ông
Diệm chẳng những không bao giờ đả động đến mà còn lấy
làm sung sướng vì sự ưu thế có tính cách hình thức đó,
thế mà năm 1963, Phật tử treo cờ nhân ngày Phật Đản thì
Ngô Đình Thục tức giận đặt vấn đề thể lệ treo cờ.
Sau
khi nghe ông anh Tổng Giám mục phiền trách việc Phật kỳ
tung bay khắp nơi, ông Diệm nổi nóng gọi ngay Đổng lý Văn
phòng là ông Quách Tòng Đức (hiện ở Pháp), bảo đánh điện
cho Tòa Đại biểu Chính phủ tại Huế và khắp các tỉnh
ra lệnh phải hạ cờ Phật giáo. Một lần nữa, quyết định
này cho ta thấy anh em nhà Ngô rõ ràng thiếu ý thức chính
trị vì đã không đánh giá được bản chất và hệ quả
của một quyết định liên hệ đến một vấn đề nhân văn
rất tế nhị, nhất là tại một địa phương như Thừa Thiên.
Họ lại chẳng nắm vững được giá trị của quyết định
này trên cả hai mặt hành chánh pháp lý và thực trạng xã
hội.
Hai
mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó, ngày 7 tháng 5, trong lúc
dân chúng Huế và Thừa Thiên sửa soạn làm lễ Phật Đản
thì cảnh sát đến tận nhà buộc dân chúng phải hạ cờ
Phật giáo. Trước biện pháp bất công và bất minh đó của
chính quyền, vài ngàn Phật tử bèn tự động tổ chức kéo
tới Tòa Tỉnh trưởng Thừa Thiên và yêu cầu Tỉnh trưởng
Nguyễn Văn Đẳng can thiệp để Phật kỳ khỏi bị hạ. Tỉnh
trưởng giải thích “đã có sự hiểu lầm lệnh của cấp
trên”, rồi ra lệnh cho treo Phật kỳ trở lại nên dân chúng
tự động giải tán ra về. Sở dĩ có biện pháp đó là nhờ
Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đã gặp ông Ngô Đình Cẩn
và được ông Cẩn cho lệnh “Phật tử đã lỡ treo cờ rồi
thì cứ để cho họ treo”.
Vấn
đề đặt ra là tại sao một người đã làm đến Tổng Giám
mục như ông Ngô Đình Thục, tại sao một người đã làm
đến Thượng Thư Bộ Lại rồi làm đến Tổng thống như
ông Ngô Đình Diệm mà lại sai lầm một cách ấu trĩ nhưng
lại trầm trọng như thế? Câu trả lời dĩ nhiên nằm trong
cái liên hệ sống chết và cốt tủy quá chặt chẽ giữa
dòng họ Ngô Đình với Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp,
vì anh em nhà Ngô được đào tạo và nuôi dưỡng bởi một
giáo hội có quá nhiều cấp lãnh đạo chỉ thấy cái Ta là
đúng, ngoài Ta ra tất cả đều sai lầm. Sử liệu đã cho
thấy vô số sự kiện nói về bệnh chấp ngã của Tòa Thánh
La Mã. Ở đây, ta hãy nghe một lời dẫn chứng của học giả
Merle Sever trong bài The World of Luther:
Tòa
Thánh La Mã đòi hỏi một sự phục tùng bất khả tư nghị.
“Tôi sẽ phải tin rằng vật màu trắng mà tôi thấy là
màu đen, nếu giáo hội quyết định đó là màu đen”.
Ông Ignatius Loyola, sáng lập dòng Jesuite đã nói như thế. Giáo
Hoàng Paul IV cũng xác định rằng: “Ngay nếu cả cha ruột
tôi là người phản đạo, tôi cũng sẽ đi lượm củi để
đốt ông ta” [1].
Và
đặc biệt trong tương quan thế quyền và giáo quyền, để
chính xác áp dụng cho trường hợp của anh em ông Diệm, ta
hãy nghe giáo sư Malachi Martin, một vị tu xuất dòng Jésuite,
viết về niềm tin giáo điều sắt đá của Giáo Hoàng Léo
III:
Xác
định một cách công khai rằng tất cả các quyền lực chính
trị trên thế gian này đều do Chúa ban cho; và chỉ được
ban cho cá nhân nào hay chính phủ nào qua trung gian của vị
đại diện Đức Chúa Trời, vốn là vị Hồng Y La Mã, mà
cũng là kẻ kế vị Thánh Phêrô” [2].
Cho
nên mù quáng trước điều mà họ cho là chân lý bất di bất
dịch đó, rồi lại riêng cá nhân ông Thục mang tham vọng
trở thành Hồng Y, anh em ông Diệm chỉ thấy việc Phật giáo
treo cờ không đúng với thể lệ của nhà nước là một hành
động thách thức chân lý đó, mà không cần biết đến chính
tôn giáo của mình và chính Tổng Giám mục Ngô Đình Thục
đã vi phạm trắng trợn luật treo cờ từ chín năm nay rồi.

Ngày
8 tháng 5, các chùa tại Huế cử hành lễ Phật Đản và rước
Phật trọng thể từ chùa Từ Đàm qua chùa Diệu Đế. Sau
lễ Phật, trong bài thuyết pháp, Thượng tọa Trí Quang đề
cập đến chủ trương kỳ thị của chính quyền nhằm đàn
áp Phật giáo từ 9 năm qua, nay lại ra lệnh cấm treo cờ tôn
giáo, rõ ràng nhắm riêng vào Phật giáo. Thượng tọa Trí
Quang cũng có nhắc đến cờ Công giáo Vatican treo khắp đường
phố vào các dịp lễ sao không cấm, mà lại cấm đúng vào
ngày Phật Đản. Nhiều đoàn thể Phật tử yêu cầu chính
quyền cho phát thanh lại bài thuyết pháp của Thượng tọa
Trí Quang, nhưng Giám đốc Đài phát thanh Huế là ông Ngô Ganh,
một Công giáo Cần Lao, không chịu nên vài ngàn Phật tử
kéo đến đài để trực tiếp yêu cầu. Phó tỉnh trưởng
Nội An là Thiếu tá Đặng Sĩ, một Cần Lao Công giáo khác,
cũng huy động lính Bảo An và cả thiết giáp tới để thị
uy. Không ngờ trong lúc Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, ông
Ngô Ganh và Thượng tọa Trí Quang đang thảo luận để tìm
một giải pháp dung hòa thì nhiều tiếng súng và một quả
lựu đạn phát nổ làm cho 7 thường dân chết, 5 binh sĩ và
một thường dân bị thương. Máu đã đổ, cuộc tranh đấu
của Phật giáo Việt Nam bắt đầu, biến cố Phật giáo mùa
Hè năm 1963 phát động từ đó.
Tôi
cần phải nói rõ và nói lớn ở đây rằng cuộc đấu tranh
của Phật giáo tuy phát động từ sự kiện cấm treo cờ nhưng
nguyên ủy thật sự, động cơ sâu sắc của nó thật ra đã
xuất hiện từ lâu, từ khi anh em ông Diệm tiến hành chính
sách tiêu diệt các tôn giáo khác cho Công được ngôi vị
độc tôn trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người
Việt. Động cơ đấu tranh đó là một động cơ có tính sống
còn của Phật giáo, cho nên ở bước đường cùng, Phật tử
đã không thể có một chọn lựa nào khác nếu không muốn
bị tiêu diệt: Từ nhiều năm nay, Phật giáo đồ đã bị
đàn áp, khủng bố khắp nơi, chúng tôi vẫn nhịn nhục đương
nhiên không phải vì hèn yếu mà vì ý thức được những
nỗi khổ đau, tang tóc của dân tộc ta hiện tại. Nhưng đau
đớn thay, một số người đã lợi dụng quyền hành gây ra
không biết bao nhiêu tang tóc đối với Tăng và Tín đồ Phật
giáo khắp trong nước, đối xử một cách bất công với một
tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc [3]. Đó
mới là nguyên ủy thật sự của cuộc đấu tranh, chứ lá
cờ chỉ là giọt nước cuối cùng mà thôi. Chánh pháp như
chiếc bè qua sông, qua rồi còn bỏ bè huống gì chỉ một
lá cờ.
Sau
vụ đàn áp Phật tử tại đài Phát thanh Huế, Tăng Ni, Phật
tử họp tại Chùa Từ Đàm đưa ra năm nguyện vọng để xin
Chính phủ giải quyết: 1/ Xin chính thức rút lại lệnh cấm
treo cờ; 2/ Xin được tự do hành đạo như Công giáo; 3/ Xin
bãi bỏ dụ số 10 xem Phật giáo như một Hiệp hội; 4/ Xin
chấm dứt các vụ khủng bố, đàn áp Phật giáo; 5/ Xin bồi
thường cho các nạn nhân tại đài Phát thanh Huế và trừng
trị kẻ đã gây ra đổ máu.
Nguyện
vọng gởi đi đã 8 ngày mà Chính phủ vẫn không hồi âm,
đã thế còn ra thông báo bảo rằng thủ phạm ném lựu đạn
là một tên Việt Cộng dù không đưa ra được bằng chứng
cụ thể nào. Năm nguyện vọng đõ rõ ràng chỉ nhắm vào
một mục tiêu rất chính đáng và hợp pháp là công bằng
xã hội (điều 2,4 và 5) bằng cách chấm dứt chủ trương
đàn áp tôn giáo của thực dân Pháp để lại (điều 1 và
3). Vì chính đáng và hợp pháp nên Phật giáo đã công khai
tuyên bố và cảnh cáo luôn những xuyên tạc hay chụp mũ có
thể xảy ra: “Mục tiêu tranh đấu của Phật giáo đó
chỉ nhắm vào lý tưởng tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ
lý tưởng công bằng xã hội. Vì lẽ đó, chúng tôi từ chối
mọi sự lợi dụng không phù hợp với tôn chỉ của chúng
tôi, nhất là những người Cộng Sản và những kẻ mưu toan
chức vị chánh quyền” [4].
Rất
nhiều ký giả ngoại quốc đã điều tra về biến cố Phật
giáo, ở đây ta hãy nghe lời tường trình của ký giả David
Halberstam:
Đầu
tiên, lời tuyên bố của Chính phủ là một tên Việt Cộng
đã ném vào đám đông một quả lựu đạn. Nhưng dần dần,
luận điệu của Chính phủ bị mất giá trị vì càng ngày
càng có thêm nhiều chi tiết cho thấy sự thật. Một nhóm
giáo sư người Đức dạy tại Đại học Huế đã chụp được
hình ảnh chứng minh luận điệu của Chính phủ là sai. Đã
thế, Chính phủ lại vội vã cho chôn xác các nạn nhân mà
không để cho bác sĩ giảo nghiệm để, một lần nữa, đổ
lỗi cho Việt Cộng.
Nhiều
ký giả quốc tế khác như Bob Trumbell , Charle Mohr,... đều
công nhận là lỗi tại Chính phủ. Charle Mohr của tờ Times
viết rằng: “Cũng như mọi chuyện khác, ông Diệm có bao
giờ chịu nhận ông ta sai lầm đâu, Chính phủ của ông ta
cũng nghĩ rằng không bao giờ ông Diệm sai lầm, và tất cả
đều nói láo làm cho đa số dân chúng càng thêm nổi giận”.
Sau
vụ lựu đạn nổ ở Huế, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn
Lương được ông Diệm phái đi quan sát tình hình. Vì sự
thật đã được sáng tỏ cho nên một người Mỹ đi theo ông
Lương cho rằng cách giải quyết thật là giản dị: chỉ cần
bỏ ra năm trăm ngàn đồng bạc bồi thường cho các nạn nhân,
và chỉ cần một lời tuyên bố của Chính phủ nhận lỗi
do lực lượng an ninh gây ra. Ông Lương trả lời: “Tiền
thì dễ nhưng chúng tôi không thể đưa ra lời tuyên bố như
vậy được. Chúng tôi không thể công nhận lỗi của Chính
phủ” [5].
Nhìn
lại biến cố Phật giáo 1963, nếu lúc bấy giờ Chính phủ
Diệm tuyên bố nhận lỗi, phạt Đặng Sĩ 40 ngày trọng cấm
và sa thải khỏi quân đội, rồi an ủi và bồi thường các
nạn nhân, bãi bỏ ngay những quy chế bất công về điều
lệ tôn giáo trong đạo dụ số 10 thì chắc chắn biến cố
Phật giáo đã ngưng ở đó.
Biến
cố Phật giáo tại miền Nam làm tôi liên tưởng đến vụ
Cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1956. Vụ cải cách
ruộng đất làm cho dân chúng căm phẫn chống đối chính quyền
Hà Nội. Ông Hồ Chí Minh vội vã một mặt tuyên bố nhận
lỗi với đồng bào và xin sửa sai, mặt khác tạm ngưng xúc
tiến việc cải cách và hạ tầng công tác ngay lập tức ông
Trường Chinh, người chịu trách nhiệm chương trình, mặc
dù ông Trường Chinh là ủy viên cao cấp của Chính trị Bộ
Trung ương Đảng Cộng Sản.
Tuy
những quyết định đó chỉ là thủ đoạn chính trị, nhưng
thực tế chính trị sau đó cho thấy rằng, người dân miền
Bắc thấy “Cụ Hồ” hạ mình xin lỗi đồng bào và dám
cất chức đồng chí “Bí thư Đảng” thì ở một khía cạnh
nào đó, họ không còn lý do và đối tượng để đấu tranh
nữa. Riêng đối với quốc tế, công luận đã thấy ông Hồ
Chí Minh biết phục thiện thương dân, biết tiến, biết thoái,
có tài lãnh đạo. Thật trái ngược hẳn với họ Ngô ở
miền Nam trên mặt quyền biến vì rõ ràng từ chín năm qua,
họ Ngô đã tiến hành chính sách kỳ thị hà khắc, nay lại
gây thêm tội ác mới, thế mà còn vụng về phi tang để đổ
lỗi cho Việt Cộng.
Hai
biến cố đó tuy bản chất khác nhau nhưng về cường độ
thì cũng trầm trọng như nhau. Cả hai đều đụng chạm đến
quyền lợi thiết thân nhất của quần chúng: quyền tín ngưỡng
của Phật tử ở miền Nam và quyền sinh sống của nông
dân miền Bắc. Nhưng nhìn cung cách và phương thức để đối
phó thì quả thật trên mặt khả năng quyền biến, ông Ngô
Đình Diệm chỉ đáng là học trò của ông Hồ Chí Minh dù
cả hai đều độc tài, đều sắt máu, và đều muốn đàn
áp những cuộc đấu tranh chính đáng của nhân dân.
Nhận
thấy Tổng thống Diệm không có một chút thiện chí nào,
Tăng tín đồ Phật giáo ngày 10 tháng 5 năm 1963 công bố bản
Tuyên ngôn để minh định lập trường và xác định lại
những nguyện vọng của mình. Ngày 16 tháng 5, Phật giáo mở
một cuộc họp báo tại chùa Xá Lợi có Bộ trưởng Công
dân Vụ Ngô Trọng Hiếu tham dự, để trình bày năm nguyện
vọng và nói rõ thái độ của Tổng thống Diệm trong cuộc
hội kiến hôm qua tại dinh Gia Long. Trong cuộc họp báo này,
ông Ngô Trọng Hiểu chỉ lập đi lập lại một lối giải
thích: Tổng thống Diệm chỉ muốn cho “Quốc kỳ được
tôn trọng” mà không hề đề cập đến những nguyện vọng
của Phật giáo.
Ngày
23 tháng 5, trước những xuyên tạc độc hại của bộ máy
thông tin của chính quyền với luận điểu cho rằng cuộc
đấu tranh của Phật giáo đồ là do Cộng Sản điều động
và chỉ làm lợi cho Việt Cộng, Phật giáo cho phổ biến bản
Tuyên ngôn thứ nhì với một bản phụ đính xác định rất
rõ ràng vị thế nạn nhân của Phật giáo trong những thủ
đoạn tuyên truyền của Chính phủ:
Ngày
trước, những người Cộng Sản lợi dụng danh nghĩa chống
ngoại xâm để tiêu diệt các đảng phái quốc gia thì ngày
nay cũng có cái vẻ người Công giáo lợi dụng công việc
chống Cộng Sản để đàn áp các tôn giáo khác, nhất là
Phật giáo chúng tôi. Đó là nguy cơ cho quốc gia và làm chia
rẽ tôn giáo... Tình trạng lợi dụng danh nghĩa chống Cộng
sản để phát triển Công giáo và lấn áp Phật giáo tạo
ra tình trạng chia rẽ ngày càng trầm trọng thì ngay bây giờ
và mai hậu, chỉ người Cộng Sản có lợi mà thôi [6].
Ba
tuần lễ trôi qua, Chính phủ vẫn quyết liệt giữ lập trường
cũ và ra thông tư xác nhận quan điểm về vấn đề tôn giáo
là “không kỳ thị, tôn trọng tự do tín ngưỡng, chỉ quy
định việc treo cờ vì tôn trọng quốc kỳ”, thông tư cũng
không hề đá động đến năm nguyện vọng chính đáng và
khiêm tốn của Phật giáo. Trong lúc đó thì ngày 29 tháng 5,
lực lượng an ninh vẫn siết chặt vòng đai ở chùa Từ Đàm,
nơi mà sinh viên và Phật tử thường tụ họp đông đảo
để ủng hộ cho những đòi hỏi của Phật giáo, đồng thời
chính quyền cho cắt điện và nước ở ngôi chùa này.
Trước
thái độ ngoan cố của Chính phủ, ngày 30 tháng 5, Phật giáo
tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại chùa Xá Lợi
và chùa Ấn Quang, các Tăng Ni và Phật tử tuyệt thực 48 giờ,
đồng thời 300 tăng ni biểu tình trước Quốc hội với những
khẩu hiệu yêu cầu Chính phủ thỏa mãn năm nguyện vọng
của Phật giáo.
Thấy
tình hình bắt đầu căng thẳng, ngày 1 tháng 6, Chính phủ
Diệm thay Đại biểu Trung phần Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng
Thừa Thiên Nguyễn Văn Đẳng, là những người mà Chính phủ
cho là nhu nhược, bằng các ông Nguyễn Xuân Khương (nguyên
Tổng giám đốc Điền Địa) và Thiếu tá Nguyễn Mâu (Cần
Lao Công giáo) để hai nhân vật này hành động quyết liệt
hơn trong việc đàn áp Phật giáo. Chính phủ cũng triệu hồi
Thiếu tá Đặng Sĩ về Bộ Nội vụ “để chờ lệnh”.
Trước
tình hình nghiêm trọng đó, Bác sĩ Trần Kim Tuyến, dù lúc
này đã bị thất sủng không còn quyền hành ảnh hưởng gì
nữa, nhưng phần vì ông quen biết nhiều trong giới Phật giáo
như Thượng tọa Tâm Châu, các cư sĩ Phật giáo người Bắc
di cư, cụ Mai Thọ Truyền (vốn là chuyên viên Phủ Tổng thống),
phần vì muốn hòa giải thật sự giữa Chính phủ và Phật
giáo, nên ông đưa ra sáng kiến thành lập một ủy ban cao
cấp của hai bên để thảo luận hầu giải quyết mọi vấn
đề. Do đó, bên Chính phủ thành lập ủy ban Liên Bộ, và
bên Phật giáo hình thành ủy ban Liên Phái, có tư cách đại
diện chính thức và thẩm quyền thương nghị. Ủy ban Liên
Bộ có Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và các ông Bộ trưởng
Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn
Đình Thuần. Còn ủy ban Liên Phái do Thượng tọa Tâm Châu
cầm đầu với các Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Minh, Huyền
Quang và Đại Đức Thích Đức Nghiệp. (Sáng kiến của Bác
sĩ Tuyến được Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần trình cho
hai ông Diệm-Nhu).
Trong
khi hai ủy ban đang tiến hành những buổi họp thì lực lượng
an ninh vẫn bao vây chùa chiền và gia tăng các biện pháp cắt
điện, cắt nước tại các chùa lớn ở Huế và Đà Nẵng.
Riêng tại chùa Tỉnh Hội Nhà Trang, cảnh sát và công an còn
chăng kẽm gai chận đường các Phật tử vào chùa và cản
trở việc đi lại của các Tăng Ni từ Sài Gòn về các tỉnh
và ngược lại. Cho đến ngày 7 tháng 6, Ủy ban Liên Bộ mới
công nhận sự kiện thiếu nghiêm chỉnh đó và gởi văn thư
trả lời cho Ủy ban Liên Phái là đã cho cấp lại điện nước
và quân đội không chận đường vào chùa nữa. Tất cả những
văn thư của hai ủy ban đều có đăng tải trên báo Việt
ngữ tại Sài Gòn. Nhưng dù có văn thư chính thức của Ủy
ban Liên Bộ, những hành động chống phá Phật giáo vẫn tiếp
tục xảy ra tại các địa phương và ngay giữa thủ đô Sài
Gòn. Độc hại hơn nữa, chính quyền đã cho một số công
an và cảnh sát cạo đầu, giả vờ mặc áo nâu hay áo lam
của tăng sĩ để ra chợ chọc gái, ăn thịt, uống rượu,
mua hàng không chịu trả tiền,... nhằm mục đích bôi lọ
các nhà sư và xuyên tạc cuộc đấu tranh của Phật giáo.
Để
đối phó với thái độ phá hoại đó của chính quyền, Phật
giáo đành phải lấy những hành động hy sinh quyết liệt
hơn mong cảnh tỉnh và khai thông đầu óc giáo điều của
cấp lãnh đạo Chính phủ. Trong một ngôi chùa vắng lặng
giữa Sài Gòn sôi động, một vị sư già đã lấy một quyết
định làm chuyển đổi cả một chế độ với lời nguyện
tâm huyết sau đây:
Tôi,
pháp danh Thích Quảng Đức, Trụ trì chùa Quan Âm Phú Nhuận,
Gia Định.
Nhận
thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một
tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi
điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi
vui lòng phát nguyên thiêu thân giả tạm này cúng dường chư
Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.
Mong
ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh
cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:
1.
Mong ơn Phật tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng
suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo
Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
2.
Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được
trường tồn bất diệt.
3.
Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng
Ni Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố bắt bớ giam
cầm của kẻ ác gian.
4.
Cầu nguyện cho đất nước thanh bình quốc dân an lạc.
Trước
khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời
cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi
đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn
giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.
Tôi
tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni Phật tử nên đoàn
kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp.
Thích
Quảng Đức |
(Trích
từ Tạp chí Chấn Hưng, số tháng 11 năm 1987 - Los Angeles)
Thế
rồi ngày 11 tháng 6 năm 1963, trước vài trăm tăng ni tụ họp
tại ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng, Sài Gòn, Hòa
thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu, hy sinh nhục thể
để hiến mình cho chánh pháp. Người ta thấy Hòa thượng
từ trong một chiếc xe bước ra và từ từ tiến tới đám
đất trống quỳ xuống, hai tay chắp trước ngực, miệng khoan
thai tụng niệm. Một nhà sư trẻ khác xách một thùng xăng
tưới vào thân thể Ngài. Hòa thượng châm lửa đốt. Lửa
đỏ bốc lên cao nhưng Hòa thượng vẫn ngồi trong tư thế
kiết già cho đến khi ngọn lửa bao trùm lấy thân thể, Ngài
mới té nghiêng mà hai tay vẫn chắp vào nhau trong sự biểu
hiện của Từ Bi, Trí Tuệ và Đại Hùng. Sự hy sinh cao cả
của Hòa thượng Thích Quảng Đức, sự hy sinh mà suốt chiều
dài lịch sử hai ngàn năm của Phật giáo lần đầu tiên mới
xảy ra đã làm chấn động tâm thức của dân tộc. (Click
vào hình xem hình lớn hơn)
Lửa!
Lửa cháy ngất tòa sen!
Tám
chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ quỳ cả xuống
Hai
vầng sáng rưng rưng
Đông
Tây nhòa lệ ngọc
Chắp
tay đón một Mặt Trời Mới Mọc
Ánh
đạo vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên.
...
Thương
chúng sinh trầm luân bể khổ
Người
về phăng đêm tối đất dày
Bước
ra ngồi nhập định hướng về Tây
Gọi
hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật
pháp chẳng rời tay...
(Trích
từ Lửa Từ Bi của Thi hào Vũ Hoàng Chương,
sáng
tác để tưởng niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức)
Cuộc
tự thiêu lịch sử của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã
được nhiều ký giả tên tuổi Hoa Kỳ chứng kiến tại chỗ
và đã tường thuật trung thực như David Halberstam, Neil Sheehan,
nhiếp ảnh gia Malcolm Brown... Ký giả Neil Sheehan, tác giả “The
Pentagon Papers”, đã phát hành cuốn “A Bright Shining Lie”
vào năm 1988, viết như sau: (tr. 334):
| “...
Tôi
trở lại Việt Nam đúng lúc để được thấy chế độ đang
khiêu khích sự chống đối trong các thành phố và tỉnh lỵ,
bằng cách cũng ngược đãi và ngạo mạn như đã gây phẫn
nộ ở thôn quê. Ngày 8 tháng 5 năm 1963, dòng họ Ngô Đình
đã phát động phong trào khủng bố Phật giáo. Một toán Bảo
An do một sĩ quan Công giáo điều động đã giết chết 9 người
trong số đó có vài trẻ em, gây thương tích cho 14 người
khác trong một đám đông ở Cố đô Huế. Đám đông đó đang
phản đối sắc lệnh cấm treo cờ ngày lễ Phật Đản năm
thứ 2587. Ông Diệm ban hành sắc lệnh theo sự xúi dục của
người anh cả là ông Thục, Tổng Giám mục ở Huế và là
người lãnh đạo hàng giáo phẩm Công giáo ở Nam Việt Nam
năm 1963. Khi ông Thục ăn mừng 25 năm được lên làm Giám
mục trước đó vài tuần, dân Công giáo treo cờ Vatican khắp
thành phố Huế, nơi dòng họ Ngô Đình cư ngụ. Sau vụ giết
người, ông Diệm và gia đình đã lộ rõ chân tướng. Họ
không muốn làm nguôi lòng các nhà lãnh đạo Phật giáo. Những
vị sư này đã bị đố kỵ trong 9 năm vì kỳ thị tôn giáo.
Thay vì thay đổi, họ lại ra tay tiêu diệt những nhà lãnh
đạo Phật giáo như họ đã từng tiêu diệt giáo phái Cao
Đài, Hòa Hảo và quân phiến loạn Bình Xuyên năm 1955.
Những
vị sư đã chống lại bằng phương thức của người Việt
Nam. Buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, một nhà sư già 73 tuổi
tên là Thích Quảng Đức đã ngồi gần một ngã tư đường
Sài Gòn, cách tư dinh của Đại sứ Mỹ Nolting có vài dãy
phố. Nhà sư Quảng Đức ngồi theo thế kiết già, trong khi
đó một vị sư khác, với cái bình 5 gallon bằng mủ, đổ
xăng xuống chiếc đầu cạo trọc, xăng ướt đãm cả áo
cà sa mầu vàng. Vị sư già cử động nhanh, tay đưa ra khỏi
vạt áo để quẹt diêm, đốt sáng cơ thể thành một biểu
tượng của phẫn nộ và hy sinh và đã nhóm mồi lửa uất
hận trong các trung tâm đô thị của miền Nam Việt Nam”. |
Những
biến cố lịch sử trên đây đã được hàng triệu người
dân Việt Nam chứng kiến cũng như rất đông người ngoại
quốc và ký giả quốc tế có mặt tại chỗ lúc bấy giờ
đã ghi nhận và tường thuật trên báo chí hay sách vở. Thế
mà vẫn có những trí thức Công giáo đã không cảm thông,
chia sẻ sự nhục nhằn và đau khổ của Phật giáo, lại đang
tâm bóp méo sự thật lịch sử để chạy tội cho chế độ
Ngô Đình Diệm. Ông Cao Thế Dung (trong cuốn “Làm thế nào
để giết một Tổng thống”), ông Nguyễn Trân (trong cuốn
“Công và Tội”) đã ngụy tạo vụ ném lựu đạn làm chết
người tại Huế là do hành động của một Đại úy nhân
viên CIA. Còn ông Nguyễn văn Chức trong cuốn “Việt Nam Chính
Sử hay là những sai lầm và gian trá trong Việt Nam Máu lửa
Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu” đặt nghi vấn: không cho rằng
Hòa thượng Quảng Đức đã tự thiêu mà Ngài đã bị một
người khác đốt, mặc dù Hòa thượng Quảng Đức đã có
lời di chúc trước khi tự thiêu, và mặc dù Hòa thượng Tâm
Châu đã có lời minh xác về hành động tự thiêu của Hòa
thượng Quảng Đức trên tạp chí Chấn Hưng số tháng 11 năm
1987.
Trong
lịch sử cận đại của con người, chưa thấy cái chết nào
oai linh và có ảnh hưởng sâu rộng như cái chết Quảng Đức.
Hòa thượng Quảng Đức chết đi để cho Bồ Tát Quảng Đức
xuất hiện hầu khai sinh một sức mạnh đại hùng, đại lực
mà lại đại từ, đại bi. Ý nghĩa Bồ Tát đích thực của
sự hy hiến cao quý là Cho Vui và Cứu Khổ mà trước hết
là cứu lấy chính những kẻ cầm quyền đang bị nghiệp chướng
nghiệt ngã kềm tỏa trong những vọng động u mê. Mục đích
Bồ Tát đích thực của cái chết lẫm liệt này là Giải
thoát và Khai ngộ, mà trước hết là giải thoát chính chế
độ Ngô Đình Diệm khỏi những mê lầm mộng ảo về quyền
lực và tính độc tôn.
Nhưng
anh em Ngô Đình Diệm và những kẻ chỉ biết dùng bạo lực
để đối phó với tình thương đã không biết đến hoặc
không thèm để ý đến ý nghĩa cao đẹp và mục tiêu vị
tha đó, nên sự hy sinh cao quý của Hòa thượng Thích Quảng
Đức đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm đánh giá như một
sự khiêu khích mà thôi.
Trên
mặt quần chúng, ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Quảng
Đức đã thúc đẩy thêm ngọn lửa chống đối chế độ
Cần Lao Công giáo. Tổng thống Diệm vội vã gởi thông điệp
kêu gọi dân chúng bình tĩnh, trong đó có câu: “Mọi sự
khó khăn sẽ được giải quyết trên căn bản lương tri và
ái quốc, trong tình đoàn kết huynh đệ... Không nên tin có
âm mưu trì hoãn giải quyết các vấn đề, sau lưng Phật giáo
trong nước hãy còn Hiến pháp, nghĩa là có tôi”.
Sau
khi thông điệp của Tổng thống được công bố vào ngày
14 tháng 6 năm 1963, hai Ủy ban Liên Bộ và Liên Phái lại tái
họp tại Hội trường Diên Hồng. Cùng ngày ấy, Hội đồng
Tướng lãnh ra thông cáo kêu gọi “đoàn kết, bình tĩnh,
tránh sự hiểu lầm, đặt quyền lợi quốc gia trên hết,
và mong các vấn đề được giải quyết trong tình huynh đệ”.
Ngày
16 tháng 6 năm 1963, để tìm hậu thuẫn của công luận khách
quan trên thế giới và để bảo đảm thêm sự an toàn của
cuộc đấu tranh, gần 200 tăng ni đã tập họp biểu tình trước
Tòa Đại sứ Hoa Kỳ để yêu cầu ủng hộ Phật giáo đạt
được năm nguyện vọng. Đồng thời, độ ba ngàn đồng bào
đến chùa Giác Minh để dự tang lễ Hòa thượng Quảng Đức,
nhưng đám tang đã phải dời lại vì bị cảnh sát dã chiến
dùng lựu đạn cay giải tán. Cuộc xô xát này gây cho cảnh
sát bị thương 12 người và dân chúng bị bắt 251 người.
Cũng cùng ngày, hai Ủy ban Liên Bộ và Liên Phái, sau ba ngày
đêm thảo luận, đã hình thành được một bản Thông Cáo
Chung xác định những điểm đã thỏa thuận về cách thức
treo Quốc kỳ và Phật kỳ, xét lại dụ số 10 về quy chế
tôn giáo, điều tra các vụ bắt bớ và khoan hồng với những
người tranh đấu cho Phật giáo, dành mọi dễ dàng cho các
hoạt động tôn giáo, trừng trị nhân viên có lỗi, bồi thường
cho các nạn nhân. Bản thông cáo này có mang chữ ký và triện
của Tổng thống Diệm.
Sau
bản thông cáo chung đó, để chứng tỏ thiện chí hòa hợp
với Chính phủ, Ủy ban Liên Phái bèn quyết định hạn chế
số người tham dự đám tang Hòa thượng Quảng Đức lại
chỉ còn 300 tăng ni và các nhà báo mà thôi để tránh sự
tụ họp quá đông đảo của dân chúng, là cơ hội cho những
phần tử phá hoại đặc công Việt Cộng lợi dụng xách động.
Do đó, tang lễ của Hòa Thượng Quảng Đức đã được cử
hành một cách trang trọng trong trật tự, không có một đụng
độ nào giữa nhân viên công lực và dân chúng. Sau khi nhục
thể của Hòa Thượng được hỏa thiêu tại lò An Dưỡng
Địa Phú Lâm, xá lợi của Ngài được đựng trong bình mang
về thờ ở Chùa Xá Lợi.
Rõ
ràng là với sự hình thành của bản Thông Cáo Chung và hình
thức trang nghiêm giản dị của tang lễ Hòa thượng Quảng
Đức, Phật giáo đồ đã xác định một thái độ chính trị,
nếu gọi đó là chính trị, rất minh bạch và hợp lý là:
| ...
dù đấu tranh với một chế độ độc tài, một chánh sách
tiêu diệt Phật giáo như thế, Phật giáo, ngay từ đầu cho
đến khi chấm dứt cuộc vận động, từ bản Tuyên Ngôn về
năm nguyện vọng của Tăng tín đồ cho đến tất cả mọi
tuyên bố và văn thư gởi cho chính quyền về sau, dù công
khai hay bí mật, đều hoàn toàn không đặt vấn đề thay đổi
chế độ, lật đổ chính quyền mà chỉ đặt vấn đề cải
thiện chính sách. Không nhằm mục đích tranh thủ quyền hành
mà chỉ nhắm đến mục tiêu tự do tín ngưỡng và công bằng
xã hội, không muốn tìm kiếm những đặc quyền đặc lợi
mà chỉ muốn được đối xử một cách bình đẳng theo một
quy chế chung cho mọi tôn giáo chứ không riêng cho một tôn
giáo nào. Nói cách khác, Phật giáo không chống lại những
lý tưởng về Tự Do, Dân Chủ của một nền Cộng Hòa chân
chính mà ngược lại, chính vì cái lý tưởng Tự Do, Dân Chủ
đó mà chống lại cái thực tế bất công độc tài của một
nền Cộng Hòa giả mạo để cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ
trở thành sự thật, và từ đó để cho công cuộc chống
Cộng có ý nghĩa và có được cái sức mạnh cần thiết
[7].
Với
thiện chí của Uỷ Ban Liên Phái, nếu Chính phủ quả thật
muốn giải quyết vấn đề Phật giáo theo tinh thần “huynh
đệ” thì chỉ cần Chính phủ thi hành ngay những điều khoản
trong Thông Cáo Chung, những điều khoản đơn giản, hợp pháp,
chính đáng, mà với tư cách một Tổng thống đã được Quốc
hội ủy cho toàn quyền hành động, có thể giải quyết ngay
vụ Phật giáo trong một ngày là xong. Khốn nỗi Thông Cáo
Chung ra đời ngày 16 tháng 6 năm 1963 mà mãi đến ngày 28 tháng
6 năm 1963, nghĩa là 12 ngày sau, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc
Thơ mới thông báo cho Ủy ban Liên Phái biết rằng: “Bộ
Nội vụ sẽ ra Nghị định về việc treo cờ, Dụ số 10 sẽ
được áp dụng “linh động”, một số sinh viên và Phật
tử đã bị bắt sẽ được thả nhưng có một số sinh viên
phải ra Tòa, chỉ Bộ Nội vụ mới được quyền kiểm tra
các chùa chiền, hồ sơ tạo mãi sẽ được xét mau lẹ, việc
bồi thường các nạn nhân phải đợi điều tra”. |
Nội
dung bức thư đã nói lên một cách dứt khoát thái độ Chính
phủ không muốn thi hành bản thông cáo chung: tại sao dụ số
10 lại được áp dụng một cách “linh động”?, tại sao
chưa chịu bồi thường cho các nạn nhân mà còn phải đợi
điều tra?, tại sao không nói đến trường hợp của Thiếu
tá Đặng Sĩ, người đã gây ra vụ đổ máu ở đài phát
thanh Huế?, tại sao chính phủ chỉ lo thể lệ treo cờ, lo
kiểm tra chùa chiền còn những nguyện vọng căn bản về hành
đạo của Phật giáo lại không được thỏa mãn? Trong lúc
đó bà Ngô Đình Nhu lập đi lập lại nhiều lần lời tuyên
bố “vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu” mà bà ta gọi
là những vụ “nướng thịt” (barbecue) và “nếu ai còn
muốn tự thiêu mà thiếu dầu xăng thì tôi sẽ cho”.
Sau
văn thư của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ lộ rõ âm mưu
trì hoãn việc thi hành Thông Cáo Chung lại đến những thủ
đoạn của chính quyền muốn tiêu diệt lực lượng Phật
giáo Việt Nam mà lúc bấy giờ Uỷ Ban Liên Phái đang là đại
diện. Một trong những thủ đoạn đó là xuyên tạc tính chất
đại diện chính thức và chính đáng của Uỷ Ban Liên Phái.
Ngày 20 tháng 6 năm 1963, nghĩa là mười ngày sau khi thông cáo
chung ra đời, Chính phủ tập họp các tăng sĩ thuộc phái
Cổ Sơn Môn tại Phú Thọ Hòa, dưới quyền chủ tọa của
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương, để lập kiến nghị
ủng hộ Chính phủ và đặc biệt đánh điện qua Tích Lan
yêu cầu Giáo Hội Phật Giáo Thế giới “can thiệp và ngăn
cản” cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam. Đồng thời
cũng được phối hợp trong ngày hôm đó, Ngô Đình Nhu và
Cao Xuân Vỹ huy động Thanh niên Cộng Hòa tổ chức một cuộc
biểu tình có cảnh sát hộ tống, yêu cầu Tổng thống Diệm
duyệt lại bản Thông Cáo Chung. Ngày 26-6, Thượng tọa Thiện
Minh gởi văn thư lên Chính phủ phản đối sự kiện “Bản
Thông Cáo Chung không được thi hành và chính quyền đã có
những hành động, những âm mưu không muốn thỏa hiệp. Tại
miền Trung, các chính quyền địa phương vẫn tổ chức mít
tinh lên án Phật giáo, vẫn cản trở việc đi lại của các
Tăng Ni, vẫn phong tỏa chùa chiền”...
Trong
lúc cuộc tranh chấp đang đi vào giai đoạn căng thẳng vì
thái độ ngoan cố của chánh quyền và nhất là vì các thành
phần khác của dân tộc ý thức được tính cách liên đới
ruột thịt với Phật giáo đồ đang chống bạo quyền nên
đã công khai và đông đảo ủng hộ, thì ngày 5 tháng 7, Chính
phủ Diệm lại phạm thêm một lỗi lầm chính trị khác bằng
quyết định đem 19 quân nhân và 34 nhân sĩ của vụ “phản
loạn Nhảy Dù 11-11-1960” ra xét xử tại Tòa án Quân sự
Đặc biệt Sài Gòn. Quyết định của anh em ông Diệm nhằm
vào thời điểm đặc biệt đó phát xuất từ tính chủ quan
mù quáng, tưởng có thể dùng vụ án như một hình thức cảnh
cáo để hăm dọa trí thức, sinh viên và đảng phái đang mỗi
ngày một đông đảo ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo.
Từ đó, vấn đề đang được giới hạn trong một tôn giáo
và những quy chế đặc thù có tính xã hội, bỗng trở thành
một cuộc khủng hoảng có tính chính trị và liên hệ đến
mọi thành phần khác của đại khối dân tộc.
Ngày
7 tháng 7, trong lúc dinh Gia Long đang hân hoan yến tiệc kỷ
niệm lễ “Song Thất” thì trong một căn phòng cô đơn của
Thủ đô Sài Gòn, văn hào Nhất Linh, nhà cách mạng Nguyễn
Tường Tam, con người suốt đời hiến thân cho quê hương
đất nước đó, uống độc dược để kết liễu đời mình
với lời di chúc sang sảng hào hùng như bản án kết tội
phản quốc của chế độ Ngô Đình Diệm:
Đời
tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Sự
việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là
một trọng tội đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước
rơi vào tay Cộng Sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như
Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh
cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.
Ký
tên: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, ngày 7 tháng 7 năm 1963.
|
Cái
chết bất khuất của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
quả thật đã như một ngọn lửa oai hùng nung nấu tâm can
nhân dân cả nước, đặc biệt là giới sinh viên trí thức
trẻ, từ lâu đã xem ông như một khuôn mẫu của kẻ sĩ thời
đại. Cái chết đó không khác gì hiệu lệnh cuối cùng trước
lệnh xuất quân của quốc dân Việt, thế mà những con người
mất hết lương tri của dòng họ Ngô Đình vẫn tiếp tục
chính sách tiêu diệt Phật giáo không một phút hồi tâm. Những
bước sa lầy, tội lỗi của chế độ lại tiếp tục.
Ngày
12 tháng 7, Đại tá Đỗ Cao Trí, em ruột của Dân biểu gia
nô Đỗ Cao Minh, được thăng Thiếu tướng và được đặc
cử giữ chức Tư lệnh quân đoàn I thay thế cho tướng Lê
Văn Nghiêm bị nghi ngờ thân Phật giáo, để Trí thẳng tay
đàn áp cuộc tranh đấu ở Huế và miền Trung.
Ngày
23 tháng 7, Trung tá Trần Thanh Chiêu, một Cần Lao Công giáo
giám đốc Nha Dân Vệ, điều động 100 dân vệ và thương
phế binh đến biểu tình trước chùa Xá Lợi chăng biểu ngữ
đòi hỏi “đoàn kết để tránh mọi sự lợi dụng của
Việt Cộng”.
Ngày
3 tháng 8, trong lời hiệu triệu Phụ nữ Bán Quân Sự, bà
Ngô Đình Nhu lên án những vụ tranh đấu tôn giáo và qua ngày
8-8, để gián tiếp trả lời câu khiển trách “thiếu lễ
độ đối với Phật giáo” của thân phụ là Đại sứ Trần
Văn Chương trên đài VOA ngày 6-8, bà Nhu nhận là có thiếu
lễ độ nhưng cho đó là một thái độ cần thiết. Bà cũng
cám ơn ông Đại sứ đã cho bà một dịp để bà bày tỏ
ý kiến (!). Ngày hôm sau, 9-8, bà Nhu lại trả lời cuộc phỏng
vấn của tờ New York Times bằng lập trường: “Quyết liệt
đối phó với cuộc tranh đấu hiện nay của Phật giáo”.
Theo
David Halberstam, sau khi thông cáo chung ra đời, trong một buổi
ăn sáng tại dinh Gia Long, bà Nhu đã nặng lời trách móc ông
Diệm: “Anh đã đánh tan Bình Xuyên, đánh bại Hòa Hảo, dẹp
yên Nhảy Dù mà bây giờ anh lại chịu thua mấy tên nhà sư
khốn nạn không có một tấc sắt trong tay. Anh là đồ hèn,
anh là sứa”. Bị bà Nhu nặng lời chỉ trích, ông Diệm chỉ
còn biết phân trần với em dâu: “Thím không hiểu rõ vấn
đề, vụ Phật giáo còn liên hệ rắc rối với quốc tế,
chúng ta sẽ giải quyết” [8].
Không
riêng ở Sài Gòn ông Nhu đòi “duyệt lại bản thông cáo
chung”, bà Nhu đòi “đối phó quyết liệt với vụ tranh
đấu của Phật giáo” mà tại Huế, ông Ngô Đình Thục cũng
khinh thường cuộc đấu tranh của Phật giáo, coi quyết tâm
vùng lên sau bao năm bị áp bức đó chỉ như “một ngọn
lửa rơm, bừng lên rồi tắt, có chi mà sợ” (Theo Bên Dòng
Lịch Sử của Linh mục Cao Văn Luận).
Trước
dã tâm của anh em nhà Ngô, và mặc dù lực lượng an ninh được
tăng cường khắp nơi (riêng tại Sài Gòn, Chính phủ đưa
về hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và hai tiểu đoàn
Nhảy Dù), phong trào đấu tranh càng trở nên kiên cường,
toàn diện và mãnh liệt hơn. Tại nhiều tỉnh, các Đại đức,
Ni cô tiếp tục tự thiêu, các Phật tử tiếp tục biểu tình,
tuyệt thực, các sinh viên y khoa, luật khoa, văn khoa, học sinh
các trường Chu Văn An, Trương Vĩnh Ký, Gia Long, Trưng Vương,...
bãi khóa, xuống đường, hội thảo. Sư Bà Diệu Huệ, thân
mẫu của Đại sứ Bửu Hội, cũng đòi tự thiêu và nữ sinh
Mai Tuyết An, 18 tuổi ở Thị Nghè, sau khi đi Chùa về đã
cầm dao chặt tay để phản đối lời tuyên bố của bà Nhu.
Nhiều đảng viên của các đảng Đại Việt, Việt Quốc,
Duy Dân ở Sài Gòn và các tỉnh đã tích cực hoạt động
yểm trợ cho Phật giáo. Đặc biệt giới trí thức và nhân
sĩ, dù âm thầm hay công khai, đều chống lại nhà Ngô mà
điển hình là giáo sư Phạm Biểu Tâm, Khoa trưởng Đại học
Y khoa, một nhân vật có uy tín lớn lao được giới tri thức
và sinh viên rất trọng vọng (đã hai lần được ông Diệm
mời làm Bộ trưởng mà vẫn từ chối) và một số giáo sư
bị bắt. Linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại
học Huế, vì ủng hộ phong trào sinh viên tranh đấu nên cũng
bị cất chức ngày 16 tháng 8 năm 1963.
Đến
đây thì cuộc tranh đấu đã thật sự có tầm vóc quốc gia.
Những phẫn uất câm nín, những đày đoạ nhọc nhằn, những
áp bức tàn bạo bị dồn nén từ chín năm nay trên mọi miền
đất nước, trong mọi tấm lòng của nhân dân, đã nổ bừng
lên, kết hợp với phòng trào đấu tranh của Phật tử để
trực diện đối phó với một chính quyền lạnh lùng và hiểm
độc. Những danh từ mỹ miều của ông Diệm như “lương
tri”, “ái quốc”, như “giải quyết trong tình huynh đệ”
đã bị chính ông và tập đoàn Cần Lao Công giáo do anh em
ông lãnh đạo chà đạp xuống đất. Dân chúng vốn đã không
tin vào sự “thành tín” của ông, vốn đã kinh qua trăm đắng
ngàn cay do chế độ ông tác hại, thì giờ đây sự công phẫn
tích tụ từ lâu chỉ có thể biểu hiện bằng một thái độ
mà thôi: Những kẻ bị đàn áp cùng đứng chung một chiến
tuyến để chống lại tập đoàn thống trị.
Ngay
cả nhà tôi, dù suốt đời vẫn quen sống trong gia đình, thủ
phận nuôi chồng nuôi con, một năm chỉ lên chùa vào ngày
Tết và Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, và dù biết chồng là một
cán bộ rường cột của Tổng thống Diệm, nhưng trước hành
động hung hãn của nhóm Công giáo Cần Lao khi đối với các
nhà tu hành cô thế, cũng đã bí mật gia nhập vào các hoạt
động quần chúng để giúp các chùa trong cơn Pháp nạn tại
Nha Trang, nơi nhà tôi và các con nhỏ đang cư ngụ lúc bấy
giờ. Tại thành phố nhỏ này, từ ba tháng nay nhiều chùa
đã bị canh phòng theo dõi, riêng chùa Tỉnh Hội, ngôi chùa
lớn nhất Khánh Hòa bị cô lập, cúp điện, cúp nước và
bị cắt đứt mọi nguồn tiếp tế của Phật tử. Nhiều
Tăng Ni bị đánh đập, trói lại và giam tại quân lao, còn
Thầy Trụ trì và Thầy hội trưởng Thích Đức Minh thì bị
tra khảo mang thương tích nặng nề. Do đó, một mặt nhà tôi
bí mật liên lạc với các nhân sĩ có uy tín tại Nha Trang
như gia đình cụ Thượng thư Trí sĩ Tôn Thất Toại,
cụ Phủ Tâm, Huyện Tủng (thân sinh của lãnh tụ sinh viên
trường Luật Nguyễn Hữu Doãn), cụ Bùi Liên (thân phụ giáo
sư Bùi Ái hiện ở Pháp), gia đình cụ Võ Đình Dung, Võ Đình
Thụy, gia đình bác sĩ Trần Kiêm Phán (hiện ở Los Angeles)
gia đình ông Phó Tỉnh trưởng Lê Bá Chẩn (hiện ở Pháp),
gia đình giáo sư Ưng Trung... bí mật lập ủy ban cứu đói
cho gần 300 Tăng Ni và Phật tử đang bị bao vây trong ngôi
chùa Tỉnh Hội. Nhà tôi còn tác động tinh thần Đại úy
Lê An có nhà ở cạnh chùa để dùng làm trạm liên lạc với
chùa và để chứa thực phẩm hầu chuyển vào chùa trong đêm
khuya. Mặt khác, cùng với một số đông đảo quân nhân Phật
tử, nhà tôi tổ chức một cuộc “vượt ngục” cho các
nhà sư đang bị giam ở quân lao, đưa Thầy Hội trưởng về
nhà riêng ẩn trốn để Thầy tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu
tranh cho đến ngày cách mạng 1 tháng 11 năm 1963 bùng nổ.
Tôi
không trách nhà tôi đã bày tỏ lập trường ủng hộ cuộc
đấu tranh của Phật giáo, vì người đàn bà Việt Nam, nhất
là con nhà gia giáo bảo thủ ai lại không động lòng trắc
ẩn từ tâm, huống chi động cơ của việc làm đó lại là
vì đạo nghĩa. Cái gì đã làm cho một người đàn bà từ
30 năm nay chỉ biết lo cho chồng con hạnh phúc, nhà cửa êm
ấm, chưa hề tham dự một sinh hoạt tập thể công khai nào,
bỗng vùng lên vào chốn nguy hiểm đấu tranh mà trong thâm
tâm dù biết có thể gây lo buồn cho chồng con, có thể làm
đổ vỡ sự nghiệp vững vàng của chồng trong chế độ Diệm
(thay vì khuyên chồng theo đạo Công giáo để được thăng
quan tiến chức như một số bà vợ sĩ quan khác) ? Cái gì
đã làm cho một người đàn bà sợ mưu kế, ghét thủ đoạn,
dám dấn thân vào công tác bí mật tổ chức cho tội nhân
của Chính phủ vượt ngục? Cái gì đó chắc chắn phát sinh
từ sự mộc mạc và chân thành của một người đàn bà lấy
đạo đức và chân chính làm khuôn thước đo lường nhân
thế: Một người dân trong mười mấy triệu người dân của
miền Nam sống dưới chế độ bạo quản của anh em ông Ngô
Đình Diệm lúc bấy giờ.
Trong
lúc đó thì bề ngoài tôi vẫn hành xử như một Giám đốc
Nha An Ninh Quân đội của chế độ, nhưng bề trong thì con
người cán bộ tiền phong xa xưa của tổ chức Ngô Đình Diệm
bắt đầu chỗi dậy để tìm phương thế cứu lấy thầy
mình trong cơn hoạn nạn. Nếu con người của chế độ đã
chán chường bất mãn thì con người cán bộ lại thao thức
băn khoăn, vì phương thế duy nhất mà tôi suy nghĩ phải đủ
cứng rắn để tỉnh thức ông Diệm dù trong cái liên hệ
thắm thiết giữa ông và tôi từ 20 năm qua có một điểm
không tương đồng lớn nhất, đó là niềm tin tôn giáo.
Thật
vậy, từ lâu, theo lời Trung tá Nguyễn Văn Châu ở cạnh nhà
cho tôi biết thì ông Diệm thường dò hỏi nếp sống trong
gia đình tôi, đặc biệt là việc thờ tự. Châu cho ông biết
trong nhà tôi có bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà rất tôn nghiêm,
nhất là vào các dịp Tết nhất cúng kỵ rất trang trọng.
Trong thư phòng của tôi lại có tượng Đức Khổng Tử tỏ
ra tôi là con người nặng lòng với nền Tam Giáo. Ông Diệm
đã biết thế mà nhiều đêm thầy trò đàm đạo, có lẽ
vì muốn thuyết phục tôi nên ông không ngại ngùng mỉa mai
chỉ trích đạo Phật là thứ đạo mê tín dị đoan, còn các
nhà sư thì quê mùa dốt nát, chẳng qua vì nghèo đói, không
có nghề nghiệp sinh nhai nên mới phải nương thân nơi của
chùa lo việc gánh nước quét lá để kiếm nắm xôi miếng
oản, rồi lâu ngày thành ra sư nọ sư kia. Ông lại ca ngợi
đạo Công Giáo là thứ đạo văn minh khoa học, thứ đạo
quốc tế với bảy trăm triệu tín đồ trên khắp thế giới
năm châu. Rồi ông khuyến dụ tôi nên theo đạo Công giáo.
Nghe ông phê phán như vậy tôi chỉ cười thầm trong bụng,
tôi biết ông cũng có đọc Nho, Lão, Phật nhưng ông không
thể hiểu cái tinh túy của Đạo Phật, cái triết lý cao thâm
của Phật Giáo. Trái lại, trong cái hiểu biết của tôi thì
Kinh Thánh và tôn giáo của ông có nhiều điều vô lý, phản
khoa học, phản con người, và lịch sử Giáo hội cũng như
chính bản thân một số Giáo Hoàng đã gây nhiều tội ác
đối với nhân loại. Đặc biệt nhất là tôi chưa cảm nhận
được tình tự dân tộc, bản chất Việt Nam trong Thiên Chúa
giáo như trong đạo Phật, tuy nhiên, vì nặng nghĩa thầy trò
nên tôi không muốn tranh cãi với ông. Vì vậy, mỗi lần ông
đưa lời khuyến dụ tôi cải đạo, tôi chỉ dùng lời khôn
khéo để chối từ: “Thưa Cụ, tôi còn có người anh quyền
huynh thế phụ đã trên 60 tuổi, anh tôi hết sức bảo thủ,
lại đang là khuôn trưởng khuôn A-Dục Phật giáo tại Nha
Trang và là hội viên ban quản trị Hội Khổng học Khánh Hòa,
vậy xin Cụ đợi khi nào anh tôi qua đời tôi sẽ xét lại
vấn đề niềm tin rất quan trọng này”. Tôi chỉ nói đãi
đưa cho qua câu chuyện, cho ông Diệm khỏi buồn lòng, chứ
con người của tôi vốn từ bùn lầy nước đọng của quê
hương nghèo nàn khốn khổ mà xuất thân sau khi đã nổi trôi
bao cuộc bể dâu thì dù sao cũng có thể gọi là đã trải
mùi nhân thế, làm sao tôi lại có thể dễ dàng bỏ đạo
của dân tộc, của cha ông như một số Bộ trưởng, tướng
tá khác. Huống chi thứ nhất là tôi không tìm thấy ở một
đạo nào khác nhân bản và dân tộc bằng đạo Phật, thứ
hai là tôi không vì lợi danh mà dẹp bỏ “hồn nước với
lễ gia tiên” dù tôi là kẻ ít học nhưng cha chú tôi đều
là những người theo đòi nghiên bút, học đạo Thánh hiền,
nhạc gia tôi đã từng cởi áo từ quan, tiền nhân nhà tôi
đã có nhiều người tham gia phong trào Cần Vương, phong trào
“Bình Tây Sát Tả”. Huống gì tôi vì đi lính Khố Xanh cho
Pháp mà cảm nhận được cái nhục chung của dân tộc nên
đã công phẫn chống Pháp, làm tiểu đoàn trưởng cho Việt
Minh rồi lại phản tỉnh chống Việt Minh, làm sĩ quan dưới
quyền tướng Hinh mà dám công khai chống lại tướng Hinh,
làm cán bộ dưới chế độ mà dám coi thường Cố vấn Ngô
Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, nghĩa là luôn luôn ở vào cái thế
bị đấu tranh để giữ lấy hương sen trong bùn hôi, nay há
lại bôi đen lòng mình, bỏ nền phong hóa đạo lý của cha
ông để theo một tôn giáo mà mình không thể chấp nhận được
cả về khía cạnh tín ngưỡng lẫn khía cạnh lịch sử đối
với dân tộc.
Vì
ông Diệm đã biết rõ cuộc đời của tôi, chí hướng tôi,
gia cảnh tôi, nhất là lập trường tôn giáo của tôi nên
tôi càng phân vân khó xử trước hoàn cảnh đất nước lúc
bất giờ, lúc mà anh em ông ta đang vận dụng toàn bộ sức
mạnh của chế độ để đàn áp Phật giáo. Tôi đoán ông
đang thắc mắc về tôi, đang ngờ vực lòng dạ của tôi,
vì từ ngày xảy ra biến cố Phật giáo, ông ít gọi tôi vào
Dinh như chỉ cách đó mấy tháng. Những lúc có công việc
khẩn cấp cần phải gặp, tôi thấy ông không còn có thái
độ mặn mà tình nghĩa như trước. Trong lúc đó thì những
người bạn chí thân của tôi mà cũng là cán bộ của ông
Diệm như ông Nguyễn Đôn Duyến (làm ở Bộ Ngoại Giao), như
ông Võ Như Nguyện (Giáo sư Hán Học ở Huế), đều đã bày
tỏ quyết liệt lập trường thân Phật giáo chống lại chế
độ. Ông Võ Như Nguyện sau khi mất chức Tỉnh trưởng tỉnh
Bình Định, thấy ông Ngô Đình Cẩn và nhóm Công giáo Cần
Lao mỗi ngày mỗi lộng hành tàn bạo, bèn đem cả nhà lên
chùa qui y (xem thư ông Nguyện gởi cho ông Hoàng Đồng Tiếu
trong phần Phụ lục). Trong cuộc đấu tranh của Phật giáo,
ông Nguyện cùng với các giáo sư đại học Huế ký tuyên
ngôn kết tội nhà Ngô nên đã bị bắt giam.
Trước
hoàn cảnh khó xử đó, và trong khi tìm phương cách giải quyết
được cuộc khủng hoảng, tôi giữ thái độ trung lập, không
theo chế độ để phản lại niềm tin nhân bản của mình,
mà cũng không theo Phật giáo để phản lại vị thầy cũ.
Hơn nưa, dù ông Diệm có nghi ngờ tôi nhưng ông vẫn chưa
đối xử với tôi một cách cạn tàu ráo máng như đã đối
với tướng Lê Văn Nghiêm, một người bạn thân của tôi.
Trái với thái độ đó của ông Diệm, ông Nhu cứ muốn đẩy
tôi vào chân tường, dùng độc kế ly gián để cho Phật giáo
và đồng bào hiểu lầm tôi.
Lần
thứ nhất, ông Nhu điện thoại ra lệnh cho tôi bảo dùng máy
viễn liên gọi thẳng tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân
Đoàn I, về Sài Gòn trình diện ngay Tổng thống. Về Sài Gòn,
Tổng thống ra lệnh cho ông Nghiêm phải tức khắc giao chức
Tư lệnh Quân đoàn cho tướng Đỗ Cao Trí. Tướng Nghiêm bất
mãn bèn đến gặp tôi và tức giận hỏi tôi đã báo cáo
những gì làm cho ông ta bị mất chức một cách vô lý, nhục
nhã như vậy. Lúc đó tôi mới hiểu vì sao ông Nhu không gọi
thẳng tướng Nghiêm mà lại ra lệnh cho tôi gọi. Tôi đã
hết sức phân trần nhưng có lẽ đã không giải tỏa được
thắc mắc của Tướng Nghiêm, cái thắc mắc vì sao Phủ Tổng
thống không gọi thẳng cho ông ta, một Thiếu tướng hai sao,
vào trình diện mà lại phải qua Giám đốc An Ninh Quân Đội,
một Đại tá.
Lần
thứ nhì, cũng bằng điện thoại, ông Nhu ra lệnh thẳng cho
tôi phải bắt giam giáo sư Trần Quang Thuận (hiện ở Los Angeles),
một trí thức Phật giáo nổi tiếng chống đối chế độ.
Làm như vậy, ngoài việc ông Nhu muốn ly gián tôi với hàng
ngũ Phật tử và thành phần trí thức, ông còn muốn ném đá
dấu tay vì Trần Quang Thuận thuộc con nhà dòng dõi cụ Thân
Thần, vốn là bạn thân của cụ Ngô Đình Khả, Thuận lại
là cháu rể của ông Tôn Thất Thiết đang giữ chức Giám
đốc Sở Nội Dịch Phủ Tổng thống. Lần này, biết được
thủ đoạn của Ngô Đình Nhu và vì muốn giữ thái độ trung
lập, tôi cho mời Trần Quang Thuận đến văn phòng và cho biết
tôi được lệnh của ông Cố vấn bắt giam ông ta. Tuy nhiên,
tôi chỉ khuyên ông nên hoạt động kín đáo hơn, nhất là
bớt những luận điệu chống đối nhà Ngô đi, rồi để
cho ông về ngay mà không giam giữ một giờ phút nào.
Lần
thứ ba, qua tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu trưởng Bộ
Tổng tham mưu, ông Nhu trao cho tôi một danh sách gồm độ vài
mươi nhân vật trí thức tại Sài Gòn, ra lệnh phải bắt
giữ và điều tra vì họ có tội hoạt động chống Chính
phủ. Một lần nữa, tôi biết ông Ngô Đình Nhu muốn tôi
nhúng tay vào tội ác qua việc bắt giữ những nhân vật dân
sự không thuộc thẩm quyền của tôi. Dù vậy, vì hệ thống
chính quyền của ông Nhu còn chặt chẽ nên tôi vẫn phải
thi hành lệnh của ông Cố Vấn Tổng thống quyền uy tột
đỉnh đang điều khiển mặt trận tiêu diệt Phật giáo.
Vì
số người định bắt giữ quá đông, tôi chia ra làm nhiều
đợt và bắt giữ nhiều nơi. Đối với số nam nữ giáo sư
của trường Chu Văn An, Petrus Ký, Trưng Vương, Gia Long, Võ
Trường Toản... và một số luật sư, bác sĩ, đích thân tôi
mời họ lần lượt đến văn phòng và cho họ biết do lệnh
của ông Cố Vấn tôi phải bắt giữ họ. Nhưng tôi tha họ
về ngay sau khi nói cho họ biết nếu hoạt động không kín
đáo thì công an của Dương Văn Hiếu hay Lực lượng Đặc
biệt của Lê Quang Tung sẽ bắt lại và trong trường hợp
đó, hậu quả sẽ tàn khốc vô cùng.
Nhưng
với luật sư Đinh Thạch Bích (hiện nay là chủ biên báo Việt
Nam Hải Ngoại ở San Diego) thì tôi tỏ ra khắt khe hơn vì
nhân viên của tôi đã tìm được tại nhà anh một số vũ
khí bất hợp pháp. Tôi dọa Đinh Thạch Bích sẽ đưa anh ra
Tòa vì số vũ khí đó là tang chứng cho một âm mưu nổi loạn
có võ trang. Nhưng người trí thức trẻ tuổi đã dành cho
tôi một sự kinh ngạc mà suốt mấy năm làm trong cơ quan an
ninh của chế độ Ngô Đình Diệm lần đầu tiên mới gặp.
Bích đã không tỏ vẻ sợ sệt, lại còn nặng lời đả kích
chế độ Diệm. Bằng một chuỗi dài những từ ngữ đanh
thép như “gia đình trị, độc tài, phong kiến, bất lực,
kỳ thị, tham nhũng,...”, Bích buộc tội nhà Ngô để biện
minh cho hành động cất giữ số vũ khí bất hợp pháp. Nhìn
bộ mặt cứng rắn cương quyết, có vẻ quân nhân hơn là
văn nhân, tôi khen thầm Bích gan dạ, chẳng trách từ nhỏ
đã theo anh hùng Trình Minh Thế làm cách mạng chống cả thực
dân Pháp lẫn Cộng Sản Việt. Tôi đang miên man suy nghĩ thì
Bích lại tìm cách tuyên truyền tôi để kết luận: “Số
võ khí đó là để dùng vào việc lật đổ nhà Ngô, tôi xin
mời Đại tá tham dự vào cuộc đảo chánh của anh em chúng
tôi”. Đến đây thì từ kinh ngạc tôi trở thành có cảm
tình với người thanh niên trí thức dám “vuốt râu hùm”.
Cảm tình đó đã làm tôi khó xử: tha anh về lỡ ông Nhu biết
được thì nguy, mà giam giữ rồi nếu anh bị hãm hại hay
bị truy tố ra Tòa thì tôi sẽ làm hại một người chiến
sĩ dân tộc. Nghĩ vậy nên tôi tìm kế hoãn binh để tìm một
giải đáp thỏa đáng cho trường hợp của Đinh Thạch Bích.
Tôi cho giải Bích trở về phòng giam và ra lệnh cho nhân viên
thuộc quyền đối đãi thật tử tế và cung cấp thực phẩm
thật đàng hoàng. Trong khi đó, tôi cho niêm phong số vũ khí
lại, không cho công an tìm biết rồi tùy biến chuyển của
thời cuộc mà quyết định trường hợp của anh sau. Nhưng
tình thế biến chuyển quá dồn dập và tôi không còn nhớ
Bích được trả tự do vào lúc nào, rồi bị công an bắt
lại vào khi nào.
Ngoài
ra, còn một nhóm các nhân vật đã bị bắt giữ tại cơ quan
trung ương của Nha mà tôi chỉ còn nhớ tên các ông Trần
Thanh Bổng (em ruột luật sư Trần Thanh Hiệp), luật sư Nguyễn
Duy Quang, giáo sư Âu Trường Thanh, luật sư Bùi Tường Chiểu
(hiện ở Pháp),... Những vị giáo sư đại học, những nhân
vật tên tuổi thường bị ông Nhu để ý nhiều hơn nên tôi
phải giữ họ lâu hơn. Tôi nghĩ rằng những nhà trí thức
này có tội gì với quốc gia đâu ngoài thái độ bất mãn
chế độ Diệm. Hôm nay, họ biểu hiện thái độ chống đối
đó một cách tích cực hơn vì chế độ đã độc tài quá
trắng trợn và hiểm độc, và nhất là vì lương tri của
họ không còn cho phép họ im lặng trước cuộc đấu tranh
gian khổ của những con người bình dị như các thầy tu, anh
em xích lô, học sinh, sinh viên, hoặc những kẻ nghèo khó nhất
trong xã hội. Họ không thể giữ thái độ bàng quan trước
những hiện trạng đàn áp, khủng bố do một thiểu số gây
ra cho cái đại đa số dân tộc, vì thế tôi càng phải đối
đãi tử tế những kẻ có lòng. Mỗi buổi sáng, khoảng bảy
giờ, tôi cho xe của Nha đến tận nhà mời những nhà trí
thức kia đến Nha An Ninh Quân Đội nghỉ ngơi, đọc báo, uống
trà, đánh cờ tướng. Chiều bảy giờ, tôi cho xe chở họ
về với gia đình. Cứ như thế độ hai tuần lễ tôi mới
gởi tờ trình cho ông Nhu bảo rằng họ không có tội gì hết,
rồi tôi trả tự do cho họ ra về luôn. Trước khi ra về,
các ông Nguyễn Duy Quang, Bùi Tường Chiểu, Âu Trường Thanh
lần lượt đến văn phòng tôi ngỏ lời cảm tạ. Tôi không
nhớ một vị nào đó đã nói: “Quả thật chúng tôi không
thể tưởng tượng một cơ quan an ninh mà lại có cách xử
sự bao dung lịch sự đối với kẻ có tội như cơ quan của
Đại tá”.
Nhìn
lại từ đầu biến cố cho đến những ngày đầu tháng 8
năm 1963, lập trường của Phật giáo đồ và chính sách của
Chính phủ vẫn không có gì thay đổi nếu không muốn nói
càng lúc càng quyết liệt hơn. Nghĩa là một bên tranh đấu
cho công bằng xã hội mà cụ thể là quyền tự do tín ngưỡng,
và một bên là duy trình nguyên trạng đàn áp mà cụ thể
là kỳ thị tôn giáo. Yếu tố mới trong cuộc khủng hoảng
là sự xuất hiện của các lực lượng khác của dân tộc,
các thành phần khác của xã hội. Từ học đường đến đảng
phái, từ văn nghệ sĩ đến công nhân, từ thương gia đến
chuyên viên. Hai lực lượng khác rất đáng kể vì vai trò
và sức mạnh của nó là giáo hội Công giáo Việt Nam và quân
lực Việt Nam Cộng Hòa, cho đến giờ phút đó và ít nhất
trên mặt chính thức như một tổng thể, vẫn chưa có những
xáo động sâu sắc hoặc lập trường công khai nào cả, nghĩa
là vẫn đứng về phía chính quyền, mặc đầu trong quân đội
không thiếu những sĩ quan hoặc binh sĩ đã âm thầm ủng hộ
cuộc đấu tranh của Phật giáo, hay một vài Linh mục cũng
đã bí mật liên lạc với các Thượng tọa tại Sài Gòn.
Chiến
thuật vừa đánh vừa đàm của chính quyền đó là để kéo
dài thời gian cho lực lượng siêu chính quyền của Cần Lao
Công giáo chuẩn bị một trận xung kích cuối cùng, một trận
phải có máu đổ xương rơi để chấm dứt vĩnh viễn sự
hiện diện của Phật giáo không phải chỉ trong biến cố
này mà còn cho cả mai sau nữa.
Đêm
20 tháng 8, anh em ông Diệm điều động cảnh sát dã chiến
và lực lượng đặc biệt tấn công các chùa ở Sài Gòn như
Xá Lợi, Ấn Quang, Theravada, Giác Minh, Từ Quang... các chùa
ở Huế như Bảo Quốc, Từ Đàm, Linh Quang... và nhiều chùa
lớn ở các tỉnh khác. Tại chùa Xá Lợi, đội quân xung phong
của chính quyền đập phá bàn thờ, tượng Phật và lấy
mất thùng công quả... gây thương tích cho hàng trăm Tăng Ni.
Riêng Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết thì bị xô té
và bị thương nặng ở mắt. Tại Sài Gòn, chúng bắt tất
cả hơn 1.400 Tăng Ni, Phật tử, kể cả Thượng tọa Tâm Châu,
cụ Mai Thọ Truyền, Sư bà Diệu Huệ, Thượng Tọa Trí Quang...
Cuộc tấn công kinh hoàng đó của chế độ Diệm được một
người bạn Mỹ của ông Diệm là nhà viết sử Buttinger ví
von như một cuộc tấn công của đội xung kích Nazi:
The
so-called special forces and the manner in which Nhu employed them in 1963
were reminiscent of the Nazi storm troopers [9].
Gần
5 giờ sáng ngày 21 tháng 8, Tổng thống Diệm triệu tập khẩn
cấp Hội đồng Chính phủ rồi ra tuyên cáo: “Phải hành
động quyết liệt và lãnh trách nhiệm trước lịch sử vì
có tin Việt Cộng sắp tràn ngập Thủ Đô (sic), ban hành lệnh
giới nghiêm trên toàn lãnh thổ, ra lệnh cho quân đội bảo
vệ an ninh trật tự” (Sắc lệnh số 84/TTP). Tướng Tôn
Thất Đính, Tư lệnh Quân Đoàn III được cử kiêm Tổng trấn
Sài Gòn-Gia Định, có nhiệm vụ thi hành lệnh thiết quân
luật. Lệnh giới nghiêm cấm dân chúng đi lại từ 9 giờ
đêm đến 5 giờ sáng. Cuộc tấn công chùa chiền bằng võ
lực và lời tuyên bố xuyên tạc của Tổng thống Diệm nói
rằng Việt Cộng sắp tràn ngập thủ đô để biện minh và
hợp pháp hóa hành động bất hợp pháp, bất hợp hiến của
mình, đã nói lên sự thất bại về chính trị và nhân tâm
của chế độ. Ngoài ra, phương cách đối phó liều lĩnh của
anh em ông Diệm càng tạo thêm những phản ứng vô cùng bất
lợi của nhân dân và quốc tế mà phản ứng đầu tiên lại
là hành động xuống tóc và từ chức của Bộ trưởng Ngoại
giao Vũ Văn Mẫu.
Ông
Vũ Văn Mẫu là một thạc sĩ luật khoa có “chair” tại đại
học danh tiếng Sorbonne ở Paris, lúc bất giờ ông được giới
trí thức Việt Nam coi như một luật gia uyên thâm, được
sinh viên coi như một vị thầy uyên bác, được Tổng thống
Diệm trọng vọng nhất trong hàng các Bộ trưởng. Dưới chế
độ Diệm có hai vị Bộ trưởng thâm niên kỳ cựu nhất,
một vị đại khoa bảng và một vị chỉ có bằng tiểu học,
và cả hai đều duy trì chức vụ không hề bị gián đoạn
từ ngày 10-5-1955, nghĩa là từ khi chế độ Cộng Hòa chưa
ra đời cho đến khi chế độ Diệm bị sụp đổ: đó là
ông Vũ Văn Mẫu và ông Huỳnh Hữu Nghĩa. Suốt 8 năm trời
ông Mẫu giữ chức Bộ trưởng Ngoại Giao, trong lúc ông Nghĩa
cầm đầu Bộ Lao động. Ông Mẫu thì nhờ học rộng bằng
cấp cao mà được mời làm Bộ trưởng, còn ông Nghĩa thì
nhờ lòng trung thành tuyệt đối mà được làm Bộ trưởng.
Sau bao nhiêu nước chảy qua cầu, bao nhiêu người lên voi xuống
chó, cuối cùng một ông vì phản đối chế độ mà ra đi,
còn một ông vì bênh vực chế độ mà bị bắt vào nhà lao
Chí Hòa (sau cách mạng 1-11-1963).
Trong
mặt trận ngoại giao dưới chế độ Diệm, việc khó khăn
nhất không phải là đối phó với kẻ thù cũ là Pháp, lại
càng không phải là siết chặt quan hệ với đồng minh Hoa
Kỳ vì mọi liên hệ đã phân định rõ bạn thù, mà là đối
phó với nước láng giềng Cao Miên, một quốc gia mà Việt
Nam đã từng đánh phá và đô hộ. Hai khó khăn chính là vì
tranh chấp biên giới và mâu thuẫn chính trị do chính sách
chủ quan của anh em ông Diệm, luôn luôn tìm cách lật đổ
Sihanouk. Một lý do khác nữa khiến chế độ Diệm muốn lật
đổ Sihanouk là vì Quốc trưởng Cam Bốt lập đảng “Sang-Kum”,
tức là đảng “Xã Hội Phật Giáo” nghĩa là gián tiếp
chống với chủ trương của đảng “Nhân Vị Công giáo”
của ông Ngô Đình Nhu như Chu Bằng Lĩnh đã trình bày trong
tác phẩm “Cần Lao Cách mạng đảng”. Suốt thời gian 9
năm của chế độ Diệm, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu luôn luôn
giữ được thắng lợi trong cuộc tranh chấp biên giới với
Cao Miên. Sau này, vào năm 1964, Sihanouk lại đưa vấn đề biên
giới ra tranh chấp tại Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
Nhận thấy chỉ có ông Vũ Văn Mẫu (lúc bấy giờ đang là
Đại sứ Việt Nam tại Luân Đôn) mới đủ sức đương đầu
với phe Cao Miên có Nga Xô yểm trợ, tôi bèn đề nghị với
Thủ tướng Khánh nhờ ông Mẫu đi phó hội. Quả thật nhà
ngoại giao tài ba của chúng ta đã đem thắng lợi và vinh dự
về cho Việt Nam tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Khi đại
diện Chính phủ Cao Miên gọi Chính phủ Việt Nam là “chính
quyền Sài Gòn”, ông phản công ngay và gọi Cao Miên là “chính
quyền Phnom Penh”. Lúc đại diện Nga Xô gọi Việt Nam Cộng
Hòa là “tay sai đế quốc Mỹ”, ông Mẫu liền xin chủ tịch
hội nghị để trả lời đại diện Nga Xô, chỉ trích Đại
sứ Nga Xô đã dùng ngôn từ của một dân tộc kém văn minh.
Nhờ tài tranh luận và lập trường cứng rắn của ông, Hội
đồng Liên Hiệp Quốc đành phải xếp vụ kiện của Sihanouk
lại, nhờ thế mà vấn đề tranh chấp biên giới không còn
nữa và miền Nam duy trì được vùng lãnh thổ ven biển miền
Tây chiến lược của mình [10].
Nhắc
lại trong buổi sáng họp Hội đồng Nội các ngày 21 tháng
8 tại dinh Gia Long, sau khi được Tổng thống Diệm báo tin
lệnh tấn công các chùa thì Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc
Thơ nhẹ nhàng phản đối ông Diệm: “Tại sao Cụ lấy một
quyết định quan trọng như thế mà không cho chúng tôi biết
trước”. Còn ông Vũ Văn Mẫu về nhà cạo đầu và vào văn
phòng Bộ Ngoại giao tập họp toàn thể nhân viên của Bộ
rồi tuyên bố từ chức để phản đối chính sách của Chính
phủ Ngô Đình Diệm. Thái độ minh bạch và can đảm cũng
như những lời tâm huyết của ông đã làm cho hầu hết nhân
viên Bộ Ngoại giao, kể cả những người đã từng là cán
bộ trung kiên của ông Diệm, phải xúc động. Một người
bạn thân của tôi là ông Nguyễn Đôn Duyến, Giám đốc Đông
Nam Á sự vụ, vốn là một cộng sự viên tiền phong của
ông Diệm từ năm 1947-1948 cũng đã vô cùng cảm xúc.
Cảm
phục khí phách và phong độ kẻ sĩ Vũ Văn Mẫu, ông Hoàng
Đại Sâm (tức thi sĩ Hoàng Hoa Trang), một nhân viên cao cấp
của Bộ, bèn nhờ bạn là ông Võ Khắc Văn viết cho mấy
chữ Hán để khắc vào bức hoành phi tặng cho vị chỉ huy
khả kính của mình. Ông Văn bèn viết bốn chữ: “Ngoại
Vật Hoàn Giao”, vừa có chữ của nhà Phật, vừa có chữ
“ngoại giao”, vừa nói lên được ý nghĩa thâm thúy của
một hành động đầy triết lý sâu sắc.
Sau
khi viết cho bạn bốn chữ để tặng vị Bộ trưởng vì chính
nghĩa mà “cạo đầu từ quan”, Võ Khắc Văn cảm xúc trước
một biến cố vừa đau thương vừa chua chát bèn làm một
bài thơ, ghi lại một sự kiện lịch sử có tính cách “Giai
thoại Làng Nho” hầu lên án Ngô triều để làm gương cho
hậu thế. Bài thơ này may mắn được một bạn thân của
ông Võ Khắc Văn hiện ở Hải ngoại còn nhớ, viết lại
rồi gởi cho tôi để hiện diện trọng tập hồi ký này:
TRANH
THỜI SỰ 1963
Chín
năm bốn bận tráo quân bài,
Lừa
lọc toàn tay dễ khiến sai,
Hót
Cụ: Thuần Lương mồm bép xép,
Ôm
Bà: Hiếu Nghĩa miệng lai rai,
Vỹ
đem hiến Cố màu xanh trẻ,
Khương
ước dâng Cha áo đỏ dài,
Riêng
Mẫu cạo đầu, Tâm bị bắt,
Hỏi
hàng khanh tướng đến phiên ai?
Bài
thơ nhằm mô tả và đánh giá bản chất của chế độ qua
những nhân sự tay sai mà trong chín năm cầm quyền, nào là
cụ Diệm, nào là bà Nhu, nào là Cố vấn Nhu, nào là cha Thục,
dù có muốn tráo trở quân bài thì cũng chỉ dùng toàn những
tay “dễ khiến sai” như Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần,
Bùi Văn Lương, Ngô Trọng Hiếu, Huỳnh Hữu Nghĩa. Cũng bị
liệt vào “hạng lừa lọc” là Cao Xuân Vỹ, Tổng Giám đốc
Thanh niên Cộng hòa xanh, và Nguyễn Xuân Khương, Đại biểu
Chính phủ Trung Việt đã quyết liệt đàn áp Phật giáo để
Cha Thục được mặc Hồng Y. Trong hàng khanh tướng sạch dơ
lẫn lộn đó chỉ còn ông Mẫu là khí tiết từ chức và
Bác sĩ Phạm Biểu Tâm, Khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn,
công phẫn chống đối nên bị Mật vụ nhà Ngô bắt.
Sở
dĩ phải nói đến hai ông Hoàng Đại Sâm và Võ Khắc Văn
là vì thái độ chống đối chế độ Diệm của hai ông có
ảnh hưởng rất lớn trong giới người Quảng Bình, nhất
là những người không theo đạo Công giáo, những người đồng
hương với ông Diệm di cư vào Nam, từng là hậu thuẫn cho
ông trong 9 năm trời và từng được ông coi là đại diện
cho thân thuộc nơi chôn nhau cắt rốn.
Hoàng
Đại Sâm và Võ Khắc Văn là hai nhà thơ tên tuổi (bạn văn
thơ với các ông Thái Văn Kiểm, Đái Đức Tuấn, Lưu Kỳ
Linh,...) thuộc dòng dõi khoa giáp nổi tiếng đất Quảng Bình.
Thân phụ của hai ông từng làm quan to đồng liêu với cụ
Ngô Đình Khả, thân sinh của ông Diệm, và khi về hưu mang
hàm thượng thư Trí sự. Ông Võ Khắc Văn lại từng làm tri
huyện
thuộc cấp của ông Tuần vũ Ngô Đình Diệm, được ông Diệm
rất quý mến cho nên khi mới làm Tổng thống, ông Diệm liền
cử ông Văn làm Tỉnh trưởng Darlak. Nhưng sau vài năm ở chức
vụ đó, Võ Khắc Văn chán nản chế độ Công giáo Cần Lao,
ông ta xin từ chức để về làm một cấp thừa hành tại
các Bộ, Viện ở trung ương như một hình thức ẩn thân để
chờ ngày hưu trí.
Lúc
mới cầm quyền, ông Diệm cho lập ngay Hội Quảng Bình Tương
Tế để xây dựng một hậu thuẫn chính trị trung kiên qua
tình đồng hương đầy địa phương tính, và đồng thời
cũng để dương danh “áo gấm về làng” với những gia tộc
khác trong tỉnh. Trong hội tương tế này, ông Sâm và ông Văn
được dân Quảng Bình kính mến và trọng vọng như những
bậc trưởng thượng gương mẫu. Thái độ từ âm thầm bất
mãn đến công khai chống đối của hai ông không những đã
gây một sức chấn động phản tỉnh nơi những người dân
Quảng Bình mà còn là một sự khẳng định chắc nịch về
ý muốn loại trừ gia đình ông Diệm ra khỏi tư cách đồng
hương mà ông Diệm vốn rất tự hào. Từ đó, những buổi
họp, ăn uống thân mật của Hội Quảng Bình Tương Tế nơi
ngôi nhà tổ phụ của anh em ông Diệm không còn nữa, và câu
chuyện “áo gấm về làng” của họ Ngô bị chôn vùi vào
dĩ vãng. Riêng hai việc tiêu diệt Phật giáo và xuyên tạc
Thượng tọa Trí Quang là Cộng Sản, đã bị dân Quảng Bình
coi như hành động phản bội người đồng hương, khước
từ nơi chôn nhau cắt rốn.
Về
phần ông Vũ Văn Mẫu, sau khi từ chức ông định trốn ngay
ra ngoại quốc để tố cáo với dư luận quốc tế nhưng bị
bắt lại tại phi trường Tân Sơn Nhất lúc sắp sửa lên
phi cơ. Anh em ông Diệm đã định tống giam ông Mẫu không
xét xử nhưng sợ phản ứng ngoại giao không thuận lợi nên
đã dàn xếp với ông Mẫu theo điều kiện: ông Mẫu không
công khai tuyên bố xin từ chức, trái lại Chính phủ phải
để ông ra đi với lý do hành hương ba tháng tại Ấn Độ.
Cuộc dàn xếp kéo dài mãi đến ngày 28 tháng 8 năm 1963, ông
Mẫu mới lên đường ra đi.
Theo
ông Nguyễn Đôn Duyến, Giám đốc Đông Nam Á Sự Vụ, một
bạn thân của tôi cho biết sau khi ông Mẫu đi rồi, nhà trí
thức Công giáo Trương Công Cừu, nguyên Chủ tịch Ủy ban
chống Đảo chánh và chống Phiến Loạn, nguyên Phó Chủ tịch
Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa, được
cử giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao. Vừa đến nhậm chức
ông Cừu cũng tập họp nhân viên để ban huấn từ với mục
đích tác động tinh thần những cộng sự viên vốn đã bị
giao động bởi thời cuộc. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên
đó, ông Cừu đã lên án nặng nề cuộc tranh đấu của Phật
giáo, ông cũng ám chỉ Phật giáo là Cộng Sản và mạt sát
thậm tệ ông Vũ Văn Mẫu mà ông cho là đã phản bội Tổng
thống Diệm. Ông kêu gọi nhân viên phải hết lòng trung thành
với chế độ và với Tổng thống. Theo lời kể lại của
ông Duyến, thì ông Cừu đã lấy ông ra làm gương mẫu cho
lòng trung thành tuyệt đối đó: “Anh em hãy noi gương tôi,
nếu bây giờ Tổng thống hay ông Cố vấn bảo tôi lấy cái
mặt này (ông vừa nói vừa chỉ vào mặt ông) mà chà vào
cầu tiêu là tôi tuân lệnh ngay”.
Sau
cuộc tấn công tàn ác vào các chùa chiền, bắt bớ Tăng Ni
Phật tử và giam giữ một số sinh viên, đồng thời đóng
cửa các trường học và phi trường Tân Sơn Nhất, anh em ông
Diệm bèn lợi dụng sự giao động của quần chúng để phóng
tay phát động những thủ đoạn tàn nhẫn hơn của họ.
Sáng
ngày 22 tháng 8, ông Nhu kêu gọi Thanh Niên Cộng Hòa phải làm
“rạng tỏ chính sách”. Đồng thời Chính phủ ra thông cáo
cho biết đã khám xét và tịch thu được một số khí giới
và dụng cụ bất hợp pháp tại các chùa Xá Lợi, Ấn Quang,
Theravada.
Ngày
24 tháng 8, anh em ông Diệm lại tạo ra một bức thư giả mạo
của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết nói rằng Hòa thượng giới
thiệu một số Thượng tọa trong Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc
để trông nom Phật sự, trong lúc thật sự Hòa thượng Tịnh
Khiết còn đang bị thương và đang bị giam lỏng tại quân
y viện Cộng Hòa. Họ đã tái diễn một cách trơ trẽn trò
viết thư giả mạo như họ đã làm đối với bác sĩ Phan
Quang Đán sau vụ Nhảy Dù đảo chánh năm 1960.
Ngày
26, họ ép buộc Thượng tọa Thích Thiện Hành thành lập một
ủy ban Liên Hiệp Bảo Vệ Phật giáo Thuần Túy gồm toàn
các thầy chùa Cổ Sơn Môn để hành xử như các hội “Phật
giáo yêu nước” hoặc “Công giáo yên nước” của Cọng
sản sau 1975.
Ngày
27, các đoàn thể tay sai của họ và các Tỉnh trưởng gởi
kiến nghị bày tỏ lòng trung thành và ủng hộ lên Phủ Tổng
thống.
Ngày
31 tháng 8, Tổng thống Diệm viếng thăm ngôi chùa Sư Nữ ở
Gia Định, nhưng cũng đúng giờ đó, họ tổ chức Thanh Niên
Cộng Hòa biểu tình ở công trường Lê Lợi để ủng hộ
Chính phủ.
Ngày
1 tháng 9, có tin đồn ảnh của Tổng thống Diệm bị tháo
gỡ ở vài công sở và được thay thế bằng ảnh của Cố
vấn Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng Hòa. Có tin đồn Cố vấn
Nhu sẽ đảo chánh để thi hành một chính sách đanh thép,
độc tài hơn.
Ngày
10 tháng 9, bà Ngô Đình Nhu dẫn một phái đoàn Dân biểu đi
dự Hội Nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư để giải độc
dư luận quốc tế về vấn đề Phật giáo. Theo Đại sứ
Cabot Lodge và nhiều ký giả quốc tế thì bà Nhu đã nghi ngờ
sự khôn ngoan của Đức Giáo Hoàng Paul VI sau khi Ngài bày tỏ
sự bàng hoàng trước chính sách khủng bố tôn giáo của anh
em ông Diệm. Bà Nhu tuyên bố:
Đức
Giáo Hoàng thật cũng lo âu một cách quá dễ dàng. Là một
người Công giáo, tôi chỉ buộc phải tin vào tín điều của
tôn giáo tôi và tin vào Đức Giáo Hoàng mà thôi. Đức Giáo
Hoàng sẽ không sai lầm khi Ngài tuyên bố về những điều
đặc thù về tôn giáo. Tôi không tin rằng Ngài sẽ đứng
ở tư thế của mình mà chối bỏ tôi, vì làm như thế quả
là Ngài đã làm hại lớn cho đạo Công giáo (Pope Paul VI is
too easily worried. As a Catholic, I am only required to believe in the
dogma of my religion and the Pope. The Pope is only infaillible when he
decrees something ex-cathedra. I do not believe that he will put himself
in a chair to disavow me, because that will be a bad blow for Catholicism)
[11].
Lời
tuyên bố ngạo mạn này phản ảnh hai sự kiện rất đặc
thù về bà Nhu mà người anh chồng đang là một vị giáo phẩm
số một của Hội Thánh Công giáo Việt Nam. Thứ nhất là
quan điểm về tính xa cách giữa đạo và đời, xác định
sự bất lực của giáo lý Thiên Chúa giáo khi đi vào hiện
thực xã hội, nhất là một xã hội tràn đầy khổ đau và
áp bức. Thứ hai là dùng một thứ “politique de chantage”
với vị Giáo chủ của Hội Thánh khi bắt Giáo Hoàng phải
chọn lựa giữa sự chấp nhận hành động của mình nếu
không thì sẽ “làm hại lớn cho Công giáo”.
Điểm
đau đớn cho Giáo hội Công giáo Việt Nam là sau lời tuyên
bố đó của bà Nhu cho toàn thế giới biết, Giáo hội đã
không có một lời giải thích nào. Đừng nói đến một lời
phản đối!
Với
tất cả những hành động tàn ác, những thủ đoạn gian dối,
những tuyên bố hăm dọa, anh em ông Diệm tưởng đã đập
tan được cuộc đấu tranh của Phật giáo và đồng bào cả
nước. Anh em họ Ngô huênh hoang tưởng đã đắc thắng nhưng
họ quên đi một điều căn bản là đã hai ngàn năm rồi,
trải bao thăng trầm của đất nước, trải bao cơn mạt pháp
có khi kéo dài cả trăm năm mà Đạo Phật Việt Nam vẫn chưa
bao giờ biết cúi đầu khuất phục bạo lực...
...Dân
tộc ta không thể nào thua
Đạo
Phật ta đời đời sáng lạn
Dầu
trải mấy qua phân ly tán
Nhưng
vẫn còn núi còn sông
Còn
chót vót mãi ngôi chùa.
(Thơ,
Vũ Hoàng Chương)
Lời
thơ của họ Vũ chỉ nói lên một sự thật bình thường nhưng
hùng tráng vì ngay cả sau 1975, khi chính sách chiếm trọn miền
Nam và tìm mọi thủ đoạn để tiêu diệt Phật giáo thì những
người con Phật vẫn kiên cường vùng lên chống lại chế
độ bạo quản bạo trị đó. Thích Thiện Minh với lực lượng
Cứu Nguy Dân Tộc bị tàn sát thì Huyền Quang, Quảng Độ...
lại nổi lên. Triệt hạ được nhóm này thì nhóm Tuệ Sĩ,
Mạnh Thát,.. lại đứng dậy. Hàng hàng lớp lớp, cứ lớp
này chết hay vào tù thì lớp kia vùng lên bất khuất. Trong
lúc đó thì tại hải ngoại, người Phật tử Việt Nam ra
đi lưu vong khắp bốn phương trời, nơi những vùng căn cứ
địa của Công giáo mà vẫn canh cánh bên lòng niềm tin vào
sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của đạo pháp. Từ
vài ngôi chùa nghèo nàn ở Pháp trước khi mất nước (1975)
những ngôi chùa Việt Nam ấm cúng tình tự quê hương lại
mọc lên khắp nơi từ Á sang Âu, từ Phi sang Mỹ. Bởi vì:
...
Suốt trường kỳ lịch sử hai ngàn năm hiện diện trên quê
hương Việt Nam, đạo Phật Việt đã không một phút một
giây tách lìa khỏi dân tộc Việt. Trong suốt đoạn dài của
lịch sử Việt Nam và Phật giáo, dân tộc và đạo pháp đã
hợp nhất thành một tổng thể bất khả phân ly và thành
một sức mạnh không thể nào đánh bại. Đối với dân Việt,
trong những cơn nguy biến, đạo Phật đã đứng lên cứu nguy,
trong những thời nô lệ, đạo Phật đã đứng lên giải phóng,
trong đau khổ, đạo Phật đem lại an vui, trong chiến tranh
và thù hận, đạo Phật đem lại tình thương và hòa bình,
trong tuyệt vọng và chết chóc, đạo Phật đã mạng lại
niềm tin và lẽ sống. Luôn luôn đứng về phía dân tộc đau
khổ để đem hết máu xương và cả thân mạng mình bảo vệ
và phụng sự dân tộc, đó là nguyên tắc không thể nào lay
chuyển và là một chân lý đã được chứng nghiệm suốt
hai ngàn năm chưa một lần nào đạo Phật đứng về một
thế lực phi nhân bản, phản dân chủ để thống trị và
đàn áp con người Việt Nam. Đạo Phật đã hòa tan vào dân
tộc để trở thành xương thịt, máu huyết của dân tộc,
đã cúng dường hy hiến cho dân tộc tất cả thần trí, hùng
tâm, đại lực và tinh hoa của mình để trở thành hùng tâm,
đại lực, thần trí và tinh hoa của dân tộc...[12].
Nếu
sáng 21 tháng 8, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu từ chức để phản
đối chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình
Diệm đã là một lời tố cáo đanh thép về bản chất hung
hăng của chế độ thì cũng ngày hôm đó, cách trọn nửa
trái cầu, tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn của quốc gia khai
sinh và nuôi dưỡng chế độ, Đại sứ Trần Văn Chương lên
tiếng phản đối chính quyền lại là một bản án nặng nề
đẩy chế độ vào vị thế tội đồ trước công luận trong
nước và trên toàn thế giới. Bản án đó lại càng có giá
trị đích thực hơn vì ông Trần Văn Chương là thân phụ
của bà Nhu, một trong những nhân vật chủ yếu và quyết
tâm nhất trong chính sách đàn áp Phật giáo. Chính vì tính
cách trầm trọng của bản án đó nên ngay ngày hôm sau, ông
Trần Văn Chương bị chính quyền “chấm dứt nhiệm vụ”.
Ngày
25 tháng 8, hàng vạn sinh viên học sinh của thủ đô Sài Gòn
ào ạt xuống đường biểu tình trước chợ Bến Thành. Cảnh
sát dã chiến can thiệp và gây ra xô sát làm cho một số bị
thương, riêng nữ sinh Quách Thị Trang cầm biểu ngữ đi đầu
bị cảnh sát bắn chết và 1.300 sinh viên bị bắt đưa đến
giam tại trại Quang Trung. Đồng thời sinh viên học sinh tại
Huế, Đà Nẵng, Nha Trang cũng biểu tình, mít tinh lên án chế
độ Diệm.
Ngày
7 tháng 9, để xoa dịu học sinh, nhà Ngô cho mở cửa lại
các trường trung học, nhưng học sinh, nhất là của các trường
Chu Văn An, Trưng Vương, Võ Trường Toản,... quyết định phản
đối không chịu vào lớp.
Nhiều
tăng ni trẻ tuổi tiếp tục tự thiêu như Đại Đức Thích
Quảng Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành ngày 5 tháng
10, Đại Đức Thích Thiện Mỹ, vị sư thứ bảy tự thiêu
trước nhà thờ Đức Bà. Và ngày 31 tháng 10, cảnh sát kịp
thời ngăn chặn ba vụ tự thiêu trước Quốc Hội.
Trong
khi đó, phái đoàn giải độc dư luận quốc tế cũng gặp
những phản ứng bất lợi. Bà Ngô Đình Nhu và Dân biểu Hà
Như Chi đến La Mã ngày 25 tháng 9 bị một số người Việt
đón đường phản đối; đến Paris bị đông đảo Việt kiều
và sinh viên Việt Nam biểu tình đả đảo, ném trứng thối
và cà chua; đến Hoa Thịnh Đốn không được thân phụ là
đại sứ Trần Văn Chương cho gặp và không được Tổng thống
Kennedy tiếp kiến. Bà đã họp báo phản đối người Mỹ
và phân trần chế độ gia đình trị của bà không hề đàn
áp Phật giáo mà không nhớ rằng đã nhiều lần, bà tuyên
bố với phóng viên đài VOA và New York Times là “phải quyết
liệt đập tan phong trào Phật giáo”, khiến buổi họp báo
trở thành một buổi đối chất căng thẳng.
Giám
mục Ngô Đình Thục bị Tòa Thánh bắt rời khỏi Việt Nam,
có tin đồn khi tới La Mã ông không được phép bệ kiến
Giáo Hoàng và theo William Miller thì ông bị Tòa Thánh cấm không
được tuyên bố những lời khiêu khích và mâu thuẫn chống
đối Phật giáo [13].
Ngày
17 tháng 10, một số ký giả ngoại quốc bị công an hành hung
vì chụp ảnh các vụ cảnh sát đàn áp sinh viên và các vụ
xô sát với Tăng Ni trên đường phố Sài Gòn. Cùng ngày này,
cựu Đại sứ Trần Văn Chương lên tiếng tại Hoa Thịnh Đốn
công kích kịch liệt chính sách của Tổng thống Diệm.
Tôi
vừa tổng kết theo thứ tự thời gian những sự kiện lịch
sử từ ngày xảy ra vụ Phật giáo cho đến cuối tháng 10
năm 1963 để thấy những biến chuyển trầm trọng của thời
cuộc Việt Nam do chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ
Diệm gây ra.
-o0o-
Chính
sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo không những đã đưa chế
độ Diệm vào thế cô lập trước đại khối dân tộc mà
còn làm cho dư luận thế giới hết sức bất bình.
Ngoài
một số báo lớn Hoa Kỳ chỉ trích anh em ông Diệm vì vấn
đề kỳ thị Phật giáo làm cho công cuộc chống Cộng bị
sa sút, hoặc là so sánh phong trào đấu tranh của Phật giáo
tại Việt Nam cũng như phong trào sinh viên chống đối Tổng
thống Lý Thừa Văn tại Nam Hàn, dư luận của nhiều quốc
gia khác kể cả nước đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa cũng
lên án chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Diệm [14].
Tờ
La Croix, một nhật báo nhiều ảnh hưởng trong giới Công giáo
Pháp, đăng một bài quan điểm dài phản đối chủ trương
độc tôn của anh em ông Diệm và kêu gọi tín đồ Công giáo
hãy cầu nguyện cho những Phật tử Việt Nam.
Tờ
Malaysian Times của Mã Lai, một quốc gia Hồi giáo đang là đồng
minh chống Cộng của Việt Nam Cộng Hòa, đưa lời khuyến
cáo chính phủ Diệm nên hòa dịu với Phật giáo mới có thể
chận đứng được cuộc xâm lăng của Cọng sản, trong lúc
đó thì Cao Miên tố cáo chính sách đàn áp, khủng bố Phật
giáo của chế độ Sài Gòn và tuyên bố đoạn giao với Việt
Nam Cộng hòa.
Phật
giáo Trung Hoa Dân Quốc, với tư cách là một bộ phận lớn
của quốc gia đồng minh được ông Diệm kính nể, lên tiếng
kêu gọi Phật giáo đồ khắp thế giới hãy giúp đỡ Phật
giáo Việt Nam với lời lẽ vô cùng thống thiết: “Hỡi Giáo
hữu Tăng tín đồ thế giới! Chúng tôi rất đau lòng trình
bày cùng quý vị về tình trạng Phật giáo Việt Nam gần đây
gặp phải đại nạn “Kỳ thị tôn giáo”. Đồng thời chúng
tôi cũng trông mong quý vị thiết tha lưu ý tinh thần “Đông
chu Cộng Tế”. Đây cũng là chính nghĩa đáng nên trợ giúp”.
Tờ
La Gazette de Lausanne tại Thụy Sĩ, một quốc gia trung lập vốn
không có truyền thống can thiệp vào nội tình của nước
khác, cũng không thể dửng dưng trước chính sách “kỳ thị
tôn giáo” của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngay từ khi Hòa
thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, tờ báo đã có những
lời lẽ vô cùng cảm động: “Sự hi sinh rất khích động
của vị tăng sĩ thiêu sống ngay tại Sài Gòn buộc người
ta phải kính trọng. Sự hy sinh vì Chính pháp của ông khiến
chúng ta liên tưởng tới những người Gia Tô đầu tiên và
sự liên tưởng này càng làm cho chúng ta thấy oái oăm”.
Nhân
vụ đàn áp Phật giáo tại Việt Nam, tờ báo có ảnh hưởng
quốc tế lớn nhất của Thụy Sĩ là tờ Journal de Genève và
nhiều tờ báo địa phương đã đăng lại toàn bản phúc trình
của ông Pierre và bà Renée Gomet nghiêm khắc lên án chế độ
Diệm:
“Cái
thói biệt đãi đã đi đến mức quá lố đến độ người
ta thấy cả những “mode” mới như quyền chỉ huy các trung
đoàn dành cho các sĩ quan nào được Tòa Giám mục phê duyệt
điểm tốt, lại có những đám dân quân tự vệ của vị
Tổng giám mục ở Huế cũng được cung cấp những dụng cụ
của Hoa Kỳ mà dám chắc Ngũ Giác Đài đã không dành những
thứ đó cho bọn Lễ Sinh. Người ta có thể tuyên truyền rằng
đó chỉ là cuộc nổi loạn của phe đa số khắc khổ kiếm
chuyện vì Chính phủ chỉ là một thiểu số bó kết chặt
chẽ với nhau mà bộ tịch lại vênh váo và cứng rắn. Nhưng
việ