Tài
liệu này ghi lại phần luận của Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma trong
quyển sách Bồ-Đề Đạt-Ma Quán Tâm Pháp do thầy Minh Thiền
dịch và giảng giải tại chùa Hội Tông, Phú Định, vào năm
1973, xuất bản bởi Nhà xuất bản Quế Sơn, Võ Tánh.
Quán Tâm Pháp là tên chung cho ba thiên luận về Huyết Mạch,
Ngộ Tánh và Phá Tướng.
LUẬN HUYẾT
MẠCH
Ba
cõi lăng xăng đều từ một tâm. Phật trước Phật sau
đều chỉ dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.
Có
người hỏi: Nếu không lập văn tự, vậy lấy gì là
tâm?
Đáp:
Ông nói tôi tức là tâm của ông, tôi trả lời với ông tức
là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm thì lấy đâu
biết để trả lời với ông; ông nếu không có tâm thì làm
sao ông biết hỏi tôi. Cho nên biết: Hỏi tôi tức là
tâm của ông đó.
Từ
lũy kiếp đến giờ, nhẫn đến hành tung hoạt động bất
cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào đều là cái tâm vốn có của
ông, đều là Phật vốn có của ông. Cái nghĩa “chính
tâm là Phật” là như thế. Ngoài tâm này rốt ráo không
có Phật nào khác có thể được. Nếu lìa tâm này mà
tìm Bồ-đề, Niết-Bàn, thì thật là không tưởng. Tánh
chơn thật của mình không phải pháp nhân pháp quả, đó là
nghĩa của tâm. Tự tâm là Niết-Bàn. Nếu nói ngoài
tâm có Phật và Bồ-Đề có thể được thì thật là không
tưởng.
Phật
và Bồ-Đề ở chỗ nào? Ví như có người dang tay bắt
hư-không có được gì không? Vì sao thế? Vì hư-không
chỉ có tên chớ nào có hình tướng! Bắt đã chẳng
được, bỏ cũng chẳng được. Thế là hư-không không
thể bắt được. Trừ tâm này ra mà tìm Phật rốt rồi
không được cũng giống như vậy.
Phật
là tự tâm làm ra. Tại sao lìa tâm mà tìm Phật?
Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm. Tâm tức là Phật,
Phật tức là tâm; ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không
tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật vậy Phật ở đâu?
Ngoài tâm đã không Phật sao lại còn làm ra cái thấy có Phật
để mà dối gạt lẫn nhau, rồi không thể rõ được cái
tâm vốn có của mình, lại bị vật vô tình nó nhiếp mất
tự do; nếu không tin hiểu như thế, để tự dối gạt thật
là vô ích. Phật không lỗi lầm, chúng sanh điên đảo
chẳng biết giác ngộ tâm mình là Phật. Nếu biết
tự tâm là Phật chớ nên tìm cầu Phật ngoài tâm.
Phật
chẳng độ Phật, nếu đem tâm tìm Phật là chẳng biết Phật
là chỉ tự tâm
Những
người đi tìm Phật, hết thẩy đều chẳng biết tự tâm
là Phật. Cũng chớ nên đem Phật lễ Phật, đem tâm niệm
Phật. Phật chẳng tụng kinh, chẳng giữ giới, chẳng
phạm giới. Phật không có giữ và phạm, cũng chẳng
tạo thiện tạo ác. Nếu chẳng thấy tánh; niệm Phật,
tụng kinh, ăn chay, giữ giới cũng không ích lợi gì.
Niệm Phật chẳng qua được nhân quả, tụng kinh chẳng qua
được thông minh, giữ giới chẳng qua được sanh lên cõi
trời, bố thí chẳng qua được phước báo. Tìm Phật
quyết định không thể được.
Nếu
tự mình không thấu suốt, thì phải nên tìm tham học với
thiện tri thức nào đã dứt khoát nguồn cội sanh tử.
Nếu chẳng thấy tánh thì không được gọi là thiện tri thức.
Nếu không như thế dẫu cho có giảng được hết cả kinh
Phật cũng chẳng khỏi sanh tử luân hồi, vẫn ở trong ba cõi
chịu khổ mãi mãi.
Xưa
có Tỳ-kheo Thiện Tinh giảng được hết cả kinh Phật nhưng
vẫn chẳng chịu khỏi luân hồi, cũng chỉ vì chẳng thấy
tánh. Thiện Tinh đã như thế, người nay bất quá giảng
được năm ba bốn kinh luận rồi vội cho là mình thực hành
pháp Phật, đó là thuộc về hạng người mê. Nếu chẳng
biết tự tâm, chỉ tụng theo suông mặt chữ của kinh đều
là vô dụng. Nếu muốn tìm Phật phải nên thấy tánh.
Tánh tức là Phật, Phật tức là người tự tại rảnh rang
vô sự. Nếu chẳng thấy tánh, suốt ngày chật vật rong
ruổi ra ngoài mà tìm, tìm làm sao được? Tuy không một
vật có thể được, nhưng nếu muốn cầu tỏ ngộ cũng phải
nên tham học với thiện tri thức. Phải thiết tha cần
khổ mà cầu đến bao giờ được tỏ ngộ bổn tâm.
Sanh
tử việc lớn, không được phép để luống trôi qua, tự
dối gạt vô ích. Dẫu có của quí như non, quyến thuộc
như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó, khi nhắm mắt rồi
ra sao? Phải biết các pháp hữu vi đều như giấc mơ,
như huyễn hoá.
Nếu
chẳng gấp tìm thầy học đạo, luống uổng một kiếp trôi
qua.
Tuy
rằng tánh Phật ai cũng vốn tự có, nhưng nếu chẳng nhờ
Thầy chỉ giáo rốt không thể tỏ ngộ. Những bật chẳng
nhờ Thầy mà tỏ ngộ chỉ là hy hữu trong muôn một mà thôi.
Nếu tự mình được nhân duyên hợp ý Thánh thì không cần
phải tham học với thiện tri thức; trường hợp này gọi
là sanh ra đã biết còn hơn vậy.
Nếu
chưa được tỏ ngộ phải nên cần khổ tham học, nương nơi
giác mới được ngộ. Nếu đã ngộ rồi chẳng học
chẳng sao, không đồng với người mê.
Nếu
chưa minh bạch được đen trắng mà kỳ vọng nói tuyên bày
giáo pháp của Phật, chê Phật kỵ Pháp. Những bọn như
thế, thuyết pháp như thế, hết thảy đều là ma nói, không
phải Phật nói, tức là ma vương, đệ tử của họ là ma
dân. Người mê chịu cho chúng nó chỉ huy chẳng được
giác ngộ, đoạ vào biển sanh tử chỉ vì chẳng thấy tánh,
vọng xưng là Phật. Bọn chúng sanh như thế là đại
ma vương, gạt gẫm tất cả chúng sanh cho vào cõi ma.
Nếu
chẳng thấy tánh, dẫu cho giảng được hết cả kinh Phật
đi nữa cũng chẳng qua là ma nói, là quyến thuộc nhà ma, chẳng
phải đệ tử của Phật. Đã chẳng biện được đen
trắng thì căn cứ nơi đâu mà khỏi sanh tử.
Nếu
đã thấy tánh tức là Phật chẳng thấy tánh tức là chúng
sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh mà riêng có tánh Phật có
thể được, vậy Phật hiện ở chỗ nào? Như thế, tánh
chúng sanh là tánh Phật. Ngoài tánh không Phật, Phật
tức là tánh, ngoài tánh này không có Phật nào có thể được.
Ngoài Phật cũng không có tánh nào có thể được.
Hỏi:
Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật, tụng kinh, bố thí, giữ
giới, tinh tiến, mở rộng phúc duyên, có được thành Phật
không?
Đáp:
Không !
Hỏi:
Vì sao không được?
Đáp:
Nếu có chút pháp nào có thể được là pháp hữu vi, là pháp
nhân quả, là pháp thọ báo, là pháp luân hồi, không khỏi
sanh tử, biết chừng nào mà thành Phật!
Muốn
thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác ngộ bổn
tánh thì nói những nào nhân, nào quả đều là pháp ngoại
đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập theo pháp ngoại đạo.
Phật
là người không nghiệp, không nhân quả, nếu nói có chút
pháp có thể được đều là chê bai Phật đó! Căn cứ
nơi đâu mà được thành Phật? Dẫu cho chỉ trụ chấp
một tâm, một năng, một giải, một thấy cũng đều bị Phật
chẳng thừa nhận. Phật không giữ và phạm. Tâm
tánh vốn không, cũng không phải các pháp dơ sạch, không tu
không chứng, không nhân không quả. Phật chẳng giữ giới,
chẳng tu thiện, chẳng tạo ác, chẳng tinh tiến, chẳng giải
đãi. Phật là người vô tác, nếu có tâm đắm chấp
để thấy Phật là bị không thừa nhận rồi! Phật chẳng
phải Phật, đừng làm ra hiểu Phật, nếu chẳng thấy nghĩa
này thì luôn luôn ở đâu cũng đều là mê muội bổn tâm,
nếu chẳng thấy tánh mà luôn tưởng tượng ra làm cái rảnh
rang (vô tác), đó là tội nhân lớn, là người si, rơi vào
ngoan không vô ký, ngây ngây như người say, chẳng phân được
tốt xấu.
Nếu
muốn tu theo pháp vô tác trước phải thấy tánh, rồi sau dứt
các duyên lự nơi tâm. Nếu chẳng thấy tánh mà được
thành Phật, thì thật là chuyện tưởng tượng.
Có
người bác cho rằng không nhân quả, tha hồ mà tạo nghiệp
ác, vọng nói vốn không, làm ác không tội, con người như
thế sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián tối tăm mãi mãi.
Nếu là người trí không nên hiểu như thế.
Hỏi:
Đã nói dầu cho làm lụng, hoạt động, lúc nào cũng đều
là bổn tâm. Vậy khi vô thường đến với sắc thân
sao lại chẳng thấy bổn tâm?
Đáp:
Bổn tâm lúc nào cũng hiện bày, chỉ tại ông chẳng thấy.
Hỏi:
Lúc nào cũng hiện bày, vì sao chẳng thấy?
Tổ
sư nói: “Ông có từng nằm mơ lần nào không?”
Đáp:
Có.
Hỏi:
Khi ông nằm mơ có phải là bổn thân của ông không?
Đáp:
Phải.
Lại
hỏi: Ông nói năng hoạt động với ông là một hay khác?
Đáp:
Không khác.
Nói:
Nếu đã chẳng khác thì thân của ông đây cũng chính là pháp
thân vốn có của ông đó. Chính ngay pháp thân này là
bổn tâm của ông đó. Tâm này từ lũy kiếp đến giờ
vẫn y nguyên như thế, chưa từng có sanh tử. Chẳng sanh
chẳng diệt; chẳng thêm chẳng bớt; chẳng dơ chẳng sạch;
chẳng tốt chẳng xấu; chẳng đến chẳng đi; chẳng phải
chẳng quấy; chẳng tướng nam tướng nữ; cũng không phải
tướng tục tướng tăng; không già không trẻ; không thánh
không phàm; không Phật không chúng sanh; không tu không chứng;
không nhân quả; không gân lực, không tướng mạo cũng như
hư không, bắt chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông gành
đá không chướng ngại được, hiện ẩn qua lại tự tại
thần thông, suốt năm uẩn, vượt sanh tử, tất cả nghiệp
chướng đối với pháp thân cũng đều không thể trói buộc
được. Tâm này rất vi diệu khó thấy, chẳng đồng
với cái tâm nghiệp chướng do trần cảnh tạo nên.
Cái
pháp thân, tâm tánh này ai ai cũng sẵn có. Trong tâm ấy
động tay máy chân nhất nhất đều không lìa, nhưng khi hỏi
đến đều không thể nói được, giống như người gỗ.
Hết thảy đều tự mình thọ dụng nhưng sao lại không biết?
Phật
nói: Tất cả chúng sanh đều là mê muội, vì thế nên tạo
nghiệp đọa vào sanh tử, muốn ra rồi lại vào, chỉ vì chẳng
thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê tại sao khi hỏi đến
việc trong tâm tánh thì lại không có một người biết được?
Tự mình động tay máy chân sao mình không biết? Cho nên
biết Thánh nhân nói không lầm, vì người tự mê muội.
Nên biết tánh này rất khó tỏ, chỉ có Phật mới được
tỏ ngộ thôi; hết thảy người, trời, chúng sanh đều
không tỏ suốt.
Nếu
có trí tuệ tỏ suốt được tâm này thì gọi là pháp tánh,
cũng gọi là giải thoát, sanh tử không trói buộc được,
tất cả pháp không chướng ngại được, thế gọi là Đại
Tự Đại Vương Như Lai. Cũng gọi là không thể nghĩ
bàn, cũng gọi là Thánh thể, cũng gọi là trường sanh bất
tử, cũng gọi là đại tiên. Danh tuy chẳng đồng, thể
vẫn là một, bực Thánh nhơn nói ra dẫu có muôn bàn phân
biệt cũng đều chẳng lìa tự tâm. Tâm lượng rộng
lớn ứng dụng vô cùng, ứng ra mắt thấy sắc, ra tai nghe
tiếng, ra mũi biết mùi, ra lưỡi biết vị, cho đến hết
thảy hành tung hoạt động cũng đều là tự tâm. Bất
cứ lúc nào, chỉ có bặt đường ngôn ngữ tức là tự tâm.
Nên
nói sắc Như Lai vô tận, trí huệ cũng vô tận. Sắc
vô tận là tự tâm, tâm khéo hay phân biệt tất cả pháp,
nhẫn đến tất cả hành tung hoạt động cũng đều là trí
huệ. Tâm không hình tướng nên trí huệ cũng vô tận.
Nên nói sắc Như Lai vô tận, trí huệ cũng như thế.
Còn cái thân tứ đại tức là cái thân phiền não thân sanh
diệt. Pháp thân thường trụ không chỗ trụ; Pháp
thân của Như Lai thường chẳng thay đổi nên kinh nói: Chúng
sanh nên biết tánh Phật vốn tự có; ngài Ca Diếp chỉ ngộ
được bổn tánh mà thành Phật. Bổn tánh tức là tâm;
tâm tức là tánh, tánh với tâm chư Phật không hai, Phật trước
Phật sau chỉ truyền tâm này, ngoài tâm này không có Phật
nào cả, chúng sanh điên đảo chẳng biết tự tâm là Phật,
dong ruỗi ra ngoài mà tìm, suốt ngày chật vật niệm Phật,
lễ Phật, vậy Phật ở đâu? Chớ nên hiểu như thế,
làm như thế. Chỉ biết bổn tâm, ngoài tâm không có
Phật nào khác. Kinh nói: Phàm cái gì có tướng điều
là hư vọng.
Lại
nói: Phật ở đâu? Chỗ nào không Phật? Tự
Tâm là Phật; Chẳng nên đem Phật lễ Phật, dẫu có
tướng Phật hoặc tướng Bồ-Tát hiện tiền cũng quyết định
chớ nên lễ kỉnh. Tâm ta vắng lặng vốn không có tướng
như thế. Nếu chấp tướng tức là ma, đều rơi vào
tà đạo, nếu là huyễn từ tâm khởi, lại càng không nên
lễ, lễ là không biết, biết thì chẳng lễ. Nếu
lễ là bị ma nhiếp.
Sợ
hậu học chẳng biết nên phải biện bạch như thế này.
Các Phật, Như Lai, trên bổn tánh đều không có tướng như
thế; phải nên chú ý. Khi thấy cảnh giới lạ, quyết
định không nên chấp, cũng đừng sanh sợ hãi, chẳng cần
nghi hoặc. Tâm ta bổn lai thanh tịnh, đâu có tướng như
thế! Nhẫn đến tướng Thiên Long, Dạ xoa, quỷ thần,
Đế Thích, Phạm Vương v.v… đi nữa, cũng chẳng nên sanh
tâm kỉnh trọng, cũng đừng sợ hãi. Tâm ta bổn lai vắng
lặng, tất cả tướng đều là tướng hư vọng, chỉ đừng
chấp tướng là hơn.
Nếu
khởi tâm thấy Phật thấy pháp và thấy các tướng Bồ-Tát
mà sanh kỉnh trọng, tức là tự đọa vào trong chúng sanh.
Nếu muốn liền được tỏ ngộ, chỉ đừng nhận một pháp
nào là được. Không cần nói gì thêm.
Nên
kinh nói: Phàm cái gì có tướng đều là hư vọng, đều
không có thật. Huyễn không có tướng nhất định, là
pháp vô thường. Chỉ đừng chấp tướng là hợp
với ý thánh. Nên kinh nói: Lìa tất cả tướng là danh
hiệu chư Phật.
Hỏi:
Tại sao không được lễ Phật, Bồ-Tát?
Đáp:
Thiên
ma Ba-Tuần. A-tu-la cũng hiện thần thông làm được tướng
Bồ Tát và nhiều cách biến hóa. Đó là ngoại đạo
chớ không phải Phật. Phật là tự tâm, đừng lầm lễ
lạy. Chữ Phật là tiếng Ấn Độ, theo xứ ta gọi là
tánh giác. Giác nghĩa là linh giác, ứng cơ tiếp vật,
nhướng mày, liếc mắt, động tay máy chân đều là tánh linh
giác của mình. Tánh tức là tâm. Tâm tức là Phật.
Phật tức là Đạo. Đạo tức là Thiền.
Nội
một chữ Thiền, phàm thánh cũng khó luờng được. Nếu
chẳng thấy tánh là không phải Thiền, dẫu cho giảng được
thiên kinh vạn luận, nếu chẳng thấy tánh cũng chỉ là phàm
phu. Đạo cả sâu mầu không thể dùng lời mà tỏ được
hết. Vậy kinh điển căn cứ nơi đâu mà có thể đến
được?
Chỉ
thấy bổn tánh, dầu cho không biết một chữ cũng là thấy
tánh, tức là thánh thể.
Vốn
nó là thanh tịnh, không tạp không nhơ. Có nói năng điều
gì đều là thánh nhơn từ tâm mà khởi dụng. Dụng và
thể bổn lai là không. Danh ngôn còn chẳng đến được,
vậy mười hai bộ kinh bằng cứ nơi đâu mà đến được?
Đạo
vốn viên thành, chẳng phải tu chứng. Đạo không phải
sắc thinh, vi diệu khó thấy. Chỉ như người uống nước,
lạnh ấm tự biết mà thôi, không thể nói cho người khác
nghe được. Chỉ có Như Lai biết được, ngoài ra người,
trời các loại đều không hay biết. Vì trí phàm phu không
đến được nên mới chấp tướng, chẳng rõ tự tâm vốn
vắng lặng rỗng rang, nên vọng chấp tướng và tất cả pháp
mới đọa ngoại đạo. Nếu biết đều từ tâm sanh thì
chẳng nên chấp, chấp là chẳng biết. Nếu thấy bổn
tánh thì mười hai bộ kinh chẳng qua chỉ là văn tự rỗng,
ngàn kinh muôn luận cốt để tỏ tâm; nếu nói ra liền khế
hợp thì kinh giáo dùng được vào đâu? Chí lý hết nói
năng, kinh giáo chỉ là từ ngữ, thiệt chẳng phải Đạo.
Đạo vốn không nói năng, nói năng là vọng.
Người
tu đêm đến có nằm mơ thấy lâu đài, cung điện, voi ngựa
hoặc cây cối, rừng ao v.v… chớ nên mống lòng tham đắm,
vì hết thảy chảnh ấy đều là chỗ để thác sanh, điều
này phải hết sức chú ý. Lại nữa, khi lâm chung chẳng
nên chấp tướng thì chướng liền trừ. Nếu tâm nghi
phát khởi là bị ma nhiếp.
Pháp
thân bổn lai thanh tịnh không thọ lãnh một điều gì, chỉ
vì mê muội không hay biết nên vọng thọ báo, vì có tham đắm
nên mất tự do, nếu ngộ được bổn tâm thì chẳng đắm
nhiễm.
Nếu
là từ thánh vào phàm thị hiện bao nhiêu tạp loại tự làm
chúng sanh đó là một việc khác. Nên thánh nhơn làm nghịch
làm thuận đều được tự tại, tất cả nghiệp chướng
không trói buộc được, đối với bực ấy có đại oai đức
đã lâu cho nên tất cả nghiệp chướng đều bị chuyển hết,
thiên đường, điạ ngục hết thành vấn đề.
Còn
phàm phu thần thức mê muội, chớ không phải trong ngoài sáng
suốt như Thánh nhơn. Nếu có chỗ nghi thì chớ nên làm,
làm là bị trôi lăn theo sanh tử, khi ăn năn đã muộn,. Nghèo
cùng khốn khó đều từ vọng tưởng sanh, nếu ai tỏ được
tâm nầy thì nên lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ làm
mà không trụ không chấp, là vào được tri kiến Như Lai.
Người
mới phát tâm thần thức chưa định, nếu khi nằm mơ thấy
cảnh lạ hiện đều là tự tâm khởi, quyết định chớ nghi,
không phải ngoài tâm có cảnh. Nếu mơ thấy ánh sáng
như mặt trời, tức là tập nghiệp còn thừa sắp hết, tánh
pháp giới hiện. Đó là điềm sẽ thành Đạo, chỉ tự
mình biết chẳng nên nói cho ai nghe. Hoặc khi rong chơi
trong vườn vắng lặng, đi đứng nằm ngồi mắt thấy ánh
sáng; hoặc trong đêm tối cũng thấy ánh sáng như ban ngày,
đừng có lấy làm lạ, đều là tự tâm muốn hiển hiện.
Hoặc nằm mơ thấy trăng sao tỏ sáng, đó cũng là điềm các
duyên muốn dứt, cũng chớ nên nói cho ai nghe. Còn như
nằm mơ thấy đi trong tối tăm u ám, đó cũng là tự tâm phiền
não chướng nặng cũng chỉ nên tự biết.
Nếu
đã thấy tánh, chẳng cần phải đọc kinh niệm Phật, học
rộng hiểu nhiều vô ích, còn làm cho thần thức lại tối
thêm. Kính giáo chỉ để nêu tâm, nếu rõ được tâm
đâu cần phải xem kinh giáo! Nếu là từ phàm vào thánh
phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần, tùy phận qua ngày.
Nếu là người nhiều sân nhuế làm cho tánh sanh chướng đạo,
tự gạt gẫm vô ích.
Thánh
nhơn ở trong sanh tử tự tại hiện ẩn ra vào chẳng định,
tất cả nghiệp chướng hết thành vấn đề. Hết thảy
chúng sanh chỉ cần thấy bổn tánh là tập nghiệp liền dứt,
thần thức không bị mê; nhưng phải là “tức thì liền nhận”.
Nếu
muốn thật ngộ đạo thì đừng chấp tất cả pháp, ngừng
nghiệp dưỡng thần thì dư tập cũng hết, tự nhiên minh bạch
không cần dụng công. Ngoại đạo chẳng rõ ý Phật,
dụng công rất nhiều mà vẫn trái với ý thánh. Suốt
ngày bo bo niệm Phật tụng kinh mà vẫn mê muội bốn tánh,
chẳng khỏi luân hồi.
Phật
là người rảnh rang, đâu cần chật vật rộng cầu danh lợi.
chỉ có người chẳng thấy tánh mới đọc kinh niệm Phật,
siêng học, sau thời hành đạo; ngồi hòa chẳng nằm, học
rộng nghe nhiều và cho đó là pháp Phật. Chúng sanh như
thế đều là người khinh pháp. Phật trước Phật sau
chỉ nói thấy tánh, các hành động đều là vô thường.
Nếu
chẳng thấy tánh mà vội cho rằng mình đã được đạo Vô
thượng Bồ-Đề, đó là hạng tội nhơn lớn. Mười
vị đệ tử lớn của Phật, ngài A-nan là người học rộng
bực nhất mà với Phật còn không biết, chí học rộng nghe
nhiều. Hết thảy Nhị thừa ngoại đạo đều không biết
Phật, chỉ biết dếm theo pháp tu chứng, bị đọa vào trong
nhân quả, đó là chúng sanh nghiệp báo chẳng khỏi sanh tử
trái với ý Phật rất xa, là kẻ khinh Phật đó! Trong
kinh có nói: Hạng chúng sanh ấy thuộc Nhứt-xiển-đề chẳng
có lòng tin; nếu có lòng tin thì người ấy là một vị Phật.
Nếu
chẳng thấy tánh, chớ nên bắt chước chê bai những người
lương thiện, tự dối gạt vô ích. Thiện ác rõ ràng,
nhân quả phân minh, thiên đường địa ngục chỉ ở trước
mắt, người ngu chẳng biết hiện đọa vào địa ngục tối
tăm cũng không hay.
Chỉ
vì nghiệp nặng nên không thể tin, ví như người mù chẳng
tin người ta nói có ánh sáng, dầu có cắt nghĩa thế nào
cũng không tin được, vì đã mù lấy đâu mà phân biệt được
sáng tối! Người ngu cũng thế. Hiện tiền đã bị
đọa vào súc sanh tạp loại, chỗ ở trong nghèo cùng hạ tiện,
cầu sống chẳng được, cầu chết cũng chẳng được.
Tuy thọ khổ như thế nhưng dẫu có ai hỏi họ cũng tự gọi
mình được yên vui. Nên biết tất cả chúng sanh dẫu
sanh vào chỗ vui thật cũng không hay biết. Hạng người
ác như thế, chỉ vì nghiệp chướng quá nặng nên không thể
phát lòng tin, không tự do được. Nếu thấy được tự
tâm là Phật chớ không phải ở tướng bên ngoài, thì dẫu
bạch y cư sĩ cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng thấy tánh
dù có đầu tròn vai vuông cũng là ngoai đạo.
Hỏi:
Cư sĩ còn vợ con, dâm dục làm sao thành Phật được?
Đáp:
Chỉ nói thấy tánh; chẳng bàn đến dâm dục. Chỉ vì
chẳng thấy tánh. Miễn được thấy tánh thì dâm dục
vốn tự rỗng lặng, tự nhiên dứt trừ, không còn tham đắm
nữa. Dẫu cho dư tập hãy còn cũng chẳng làm hại được.
Vì sao thế? Vì tự tánh vốn nó tự thanh tịnh.
Tuy ở trong sắc thân năm uẩn, tánh nó cũng vốn thanh tịnh
không ô nhiễm. Pháp thân bổn lai không thọ, không đói,
không khát, không lạnh nóng, không bịnh hoạn, không ân ái,
không quyến thuộc, không khổ vui tốt xấu, không vắn dài
mạnh yếu, vốn không một vật có thể được. chỉ
vì cố chấp cái thân này nên mới có các tướng đói khát,
lạnh nóng, bịnh chướng v.v… Nếu chẳng chấp là được
tự tại. Nếu trong sanh tử mà được tự tại, chuyển
trở lại các pháp, đừng để các pháp chuyển, cũng như Thánh
nhơn, thì ở đâu lại không yên? Nếu tâm có chỗ nghi,
quyết định không thể tự tại, không khỏi sanh tử luân
hồi. Nếu thấy tánh thì dẫu bần cùng hạ tiện, đồ
tể sát sanh cũng vẫn thành Phật.
Hỏi:
Đồ tể làm nghiệp sát sanh làm sao thành Phật được?
Đáp:
Chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Dẫu sao có
tạp nghiệp thế nào, nghiệp cũng không thể trói buộc được.
Từ lũy kiếp đến giờ, chỉ vì chẳng thấy tánh nên mới
có trôi lăn sau đọa vào địa ngục, sanh tử; khi ngộ được
bổn tánh sẽ không tạo nghiệp nữa. Nếu chẳng thấy
tánh, niệm Phật để khỏi nhân quả cũng không thể được,
không luận là sát sanh.
Nếu
được thấy tánh, tâm sát liền trừ, nghiệp sau cũng không
thể trói buộc được. Cho nên 27 vị tổ ở Tây Trúc
chỉ truyền nhau tâm ấn. Nay ta đến cõi nầy cũng chỉ
truyền Đốn giáo Đại Thừa chính tâm mình là Phật, chớ
chẳng nói đến giữ giới, tinh tiến, khổ hạnh. Nhẫn
đến vào nước vào lửa, leo lên gươm đao, ăn một ngày một
bữa, ngồi hoài chẳng nằm, hết thảy những cái ấy đều
là pháp hữu vi ngoại đạo.
Nếu
rõ được cái tánh linh giác chính là tánh Phật, Phật trước
Phật sau chỉ nói truyền tâm chớ không có pháp nào khác.
Nếu rõ được tâm này dầu phàm phu không biết một chữ
cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng rõ tự tánh linh giác của
mình, dẫu cho đem thân này tán ra tro bụi để tìm Phật rốt
cũng chẳng được gì.
Phật
cũng gọi là pháp thân, cũng gọi là bổn tâm. Tâm nầy
không hình tướng, không nhân quả, không gân cốt. Vốn
như hư không, bắt chẳng được; chớ không phải như vật
chất, không phải như ngoại đạo nói. Tâm này chỉ trừ
Như Lai ra, hết thảy chúng sanh đều mê muội, đều chẳng
tỏ ngộ. Nhưng tâm này không phải lìa cái thân vật
chất nầy. Nếu thân tứ đại nầy mà lìa tâm là không
có sự sống, làm sao có biết! Nhẫn đến nói năng vận
động, thấy nghe hay biết đều là cái động dụng của tâm.
Động
là tâm động, dụng là tâm dụng. Ngoài động dụng không
tâm, ngoài tâm không động dụng. Động chẳng lìa tâm,
tâm chẳng lìa động. Lìa động không tâm, lìa tâm không
động. Động là tâm dụng, dụng là tâm động.
Động tức tâm dụng, dụng tức tâm động. Chẳng động
chẳng dụng, dụng và thể vốn không, không vốn không động.
Động dụng do tâm tâm vốn không động.
Nên
kinh nói: “Động nhưng không chỗ động. Suốt ngày đi
đến nhưng chưa từng đi đến, suốt ngày thấy nhưng chưa
từng thấy, suốt ngày cười nhưng chưa từng cười, suốt
ngày nghe nhưng chưa từng nghe, suốt ngày biết nhưng chưa từng
biết, suốt ngày mừng nhưng chưa từng mừng, suốt ngày đi
nhưng chưa từng đi, suốt ngày đứng nhưng chưa từng đứng.”
Nên kinh nói: “bặt đường nói năng dứt hết nơi chỗ, thấy
nghe hay biết vốn tự tròn vắng, nhẫn đến giận mừng, đau
ngứa nào khác người gỗ, chỉ vì suy tìm cái đau ngứa
không thể được”.
Nên
kinh nói “nghiệp ác thì được báo khổ, nghiệp thiện thì
được báo vui”; chớ không phải chỉ sân bị đọa địa
ngục, mừng được sanh thiên. Nếu rõ được cái tánh
mừng giận vốn không, chỉ đừng chấp nghiệp là giải thoát.
Nếu chẳng thấy tánh, giảng kinh quyết không bằng cứ.
Nói
không sao cho hết, chỉ đại lược tà chánh đôi điều mà
thôi.
[Tụng
rằng:]
Tâm
tâm tâm không thể tìm
Rộng
cùng khắp pháp giới,
Hẹp
chẳng chứa đầu kim
Ta
vốn cầu tâm chẳng cầu Phật,
Biết
rõ ba cõi rỗng không vật.
Nếu
muốn cầu Phật chỉ cầu tâm
Chỉ
tâm nầy, tâm nầy mới là Phật.
***
Ta
vốn cầu tâm, tâm tự trì.
Cầu
tâm chẳng được, tự tâm hay.
Tánh
Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm
sanh là lúc tội sanh rồi.
[Kệ
rằng:]
Ta
vốn đến cõi nầy,
Truyền
pháp cứu mê tình,
Một
hoa nở năm cánh
Kết
quả tự nhiên thành.
[Luận
Huyết Mạch của Tổ Đạt-Ma đến đây là hết]
LUẬN NGỘ TÁNH
Vả
chăng, Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lấy lìa
tướng làm tông. Nên kinh nói: Vắng lặng là Bồ-Đề,
vì dứt hết các tướng. Phật có nghĩa là giác.
Người có tâm giác được Đạo Bồ-Đề nên gọi là Phật.
Kinh
nói: Lìa tất cả các tướng là danh hiệu chư Phật.
Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng.
Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí biết.
Ai
nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải biết người
đó đã phát tâm đại thừa, siêu ba cõi. Ba cõi tức
là tham, sân, si. Đổi tham sân si ra thành giới, định,
huệ tức gọi là siêu ba cõi.
Nhưng
tánh của tham, sân, si cũng không thật, chỉ tùy thuận chúng
sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có thể soi trở vào trong
thì thấy rõ tánh của tham, sân, si tức là tánh Phật.
Ngoài tham, sân, si không có tánh Phật nào khác. Kinh nói:
Chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong ba độc để nuôi
lớn pháp giải thoát mà thành Thế Tôn. Ba độc là tham,
sân, si đó.
Nói
đại thừa, Tối thượng thừa đều là nói chỗ sở hành
của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng thừa.
Suốt ngày thừa, mà chưa từng thừa, đó là Phật thừa.
Kinh nói: "Không thừa là Phật thừa đó".
Nếu
ai biết được sáu căn không thật, năm uẩn giả danh, khắp
thân tìm cầu hết thảy đều không có chỗ nhất định.
Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói. Kinh
nói: Hang ổ của năm uẩn là Thiền viện. Soi trở vào
trong được tỏ ngộ là môn đại Thừa, há chẳng rõ lắm
sao! Chẳng chứa tất cả pháp gọi là Thiền định.
Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là Thiền
định.
Biết
tâm là không, gọi là thấy Phật. Vì sao thế? Vì
mười phương chư Phật đều là vô tâm.
Chẳng
thấy tâm gọi là thấy Phật.
Lìa
chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
Lìa
các động tịnh gọi là đại toạ thiền.
Vì
sao thế? Vì phàm phu một niềm chấp động, Tiểu thừa
một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái tọa thiền
của Tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa thiền.
Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng chẳng
tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị cũng tự khỏi.
Đó là nhờ sức đại thiền định.
Phàm
ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng đem tâm cầu pháp
là ngộ. Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát.
Chẳng nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh
tử gọi là xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là
đắc Đạo. Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn.
Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí huệ. Ðến
chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn. Đến chỗ
không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi
mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên đây
cũng không có. Vì sao thế? Vì phàm phu một niềm
chấp bên đây, nếu tỏ ngộ được pháp Tối thượng thừa
thì tâm chẳng trụ bên đây cũng chẳng trụ bên kia, nên lìa
được cả đây kia vậy. Nếu thấy bờ bên kia chẳng
khác hơn bờ bên đây, cái tâm của người ấy đã được
cái định vô thiền.
Phiền
não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ Ðề, cũng chẳng
một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê ngộ.
Khi
mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có thế gian để
ra.
Trong
pháp bình đẳng chẳng thấy phàm phu khác với thánh nhơn.
Kinh
nói: Pháp bình đẳng nghĩa là phàm phu không thể nhập, Nhị
thừa không thể hành. Chỉ có bực đại Bồ-Tát và chư
Phật Như Lai có thể hành mà thôi. Nếu thấy sanh khác
với tử, động khác với tĩnh, đều gọi là chẳng bình đẳng.
Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới gọi
là bình đẳng. Vì sao thế? Vì phiền não và Niết
Bàn cùng một tánh không. Cho nên người Nhị thừa vọng
dứt trừ phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết
Bàn để trói buộc. Còn Bồ-Tát biết được tánh phiền
não vốn không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết
Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà chẳng chết, vượt
khỏi sanh tử là Bát Niết Bàn. Tâm không có đi và đến
là nhập Niết Bàn. Thế mới biết Niết Bàn tức là
tâm không.
Chư
Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng tưởng, Bồ-Tát
vào đạo tràng là không tham sân si vậy. Tham là cõi Dục,
sân là cõi Sắc, si là cõi Vô sắc.
Nếu
một niệm tâm sanh liền vào ba cõi, một niệm tâm diệt là
ra ba cõi. Thế mới biết: Ba cõi sanh diệt, vạn pháp
có không đều do một tâm. Phàm nói một pháp là
cũng giống như đập ngói gạch, chẻ tre vô tình.
Nếu
biết được tâm chỉ là giả danh, tạm gọi chớ không có
tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình cũng không phải
có, không phải không. Vì sao thế? Vì phàm phu một
niềm sanh tâm gọi là có, Tiểu thừa một niềm diệt tâm
gọi là không. Còn Bồ-Tát và Phật chưa từng sanh tâm
cũng chưa từng diệt tâm, cho nên gọi là không phải có không
phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung Đạo.
Thế
mới biết: Chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn pháp đều
mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả tâm và pháp
đều ngộ. Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là
ngộ ở trong mê.
Con
người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng không liền
siêu mê ngộ. Như thế mới gọi là thấy biết đúng.
Sắc
chẳng tự sắc, do tâm nên có sắc.
Tâm
chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
Thế
mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau sanh diệt.
Có
là có ở trong không.
Không
là không ở trong có.
Thế
gọi là thấy đúng.
Vả
chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy, cũng không
chỗ thấy.
Tuy
thấy khắp mười phương, nhưng chưa từng có thấy.
Vì
sao thế? Vì không chỗ thấy, vì thấy được cái không
thấy, vì thấy không phải thấy. Cái mà phàm phu gọi
là thấy ấy đều là vọng tưởng cả.
Nếu
vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy thật.
Tâm
và cảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát sanh.
Nếu
trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh cảnh, cảnh và tâm
đều vắng lặng, như thế ấy mới gọi là thấy thật.
Chẳng
thấy tất cả các pháp mới gọi là được Đạo. Chẳng
biết tất cả các pháp mới gọi là tỏ pháp.
Vì
sao thế ? Vì thấy cùng chẳng thấy đều là chẳng thấy.
Hiểu
cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy không
phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu không hiểu
mới gọi là hiểu rộng lớn.
Vả
chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy có thấy,
mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu nghĩa là
không phải cái hiểu trong có tướng, mà là cái hiểu trong
không có tướng. Phàm hễ có cái bị biết đều là gọi
là chẳng biết. Không có cái bị biết mới gọi là thật
biết. Kinh nói: Chẳng bỏ trí huệ gọi là ngu si.
Nếu tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả.
Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
Nếu
tỏ ngộ thì pháp theo người.
Nếu
chẳng tỏ ngộ thì người theo pháp.
Nếu
pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp, hết thảy pháp
đều chơn.
Nếu
người theo pháp thì pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp
đều trở thành vọng.
Cho
nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp, cũng chẳng đem
pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem tâm mà cầu tâm, đem pháp
cầu pháp. Cho nên tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh
tâm. Tâm pháp thường vắng lặng nên thường ở trong
định.
Tâm
chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm chúng sanh diệt
thành pháp Phật sanh.
Nếu
đã biết tất cả pháp đều chẳng có tự tánh riêng, thế
gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng thuộc về của
riêng của các pháp. Đó là người thường ở Đạo tràng.
Khi
mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ? Vì
thể tánh tội vốn không?
Kinh
nói: Các pháp không có tự tánh riêng, thật dụng chớ nghi,
nghi liền thành tội.
Vì
sao thế? Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
Nếu
rõ được như vậy thì tội nghiệp đời trước liền tiêu
diệt.
Khi
mê thì sáu thức năm ấm đều là pháp phiền não sanh tử.
Khi ngộ thì sáu thức năm ấm đều là pháp Niết Bàn không
sanh tử.
Người
học đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao thế?
Vì biết tâm là Đạo.
Nếu
khi được tâm, không có tâm có thể được.
Nếu
khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
Nếu
nói đem tâm cầu đạo mà được, thì gọi là tà kiến.
Khi
mê có Phật có pháp.
Khi
ngộ không Phật không pháp.
Vì
sao thế? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả chăng
tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo thành.
Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
Cái
thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường; là pháp không
nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng không nên chán sanh
tử hay thích sanh tử. Chỉ làm sao trong tâm đừng vọng
tưởng, thì khi sống nhập được Hữu-Dư Niết Bàn, khi chết
vào được Vô Sanh Pháp nhẫn.
Khi
mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng chẳng nhiễm
tiếng thì đều là giải thoát. Mắt chẳng đắm sắc
thì mắt là cửa lễ, tai cũng vậy.
Nói
tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh của sắc
thì không nhiễm, thường giải thoát. Nếu mắc kẹt ở
tướng của sắc là thường bị trói buộc. Nếu chẳng
bị phiền não bị trói buộc thì gọi là giải thoát, chớ
không có giải thoát nào khác hơn.
Người
khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm chẳng sanh sắc, thì
sắc và tâm đều thanh tịnh.
Khi
không vọng tưởng thì một tâm là một cõi Phật. Khi
vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi địa ngục.
Chúng
sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm nên thường ở địa
ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng chẳng lấy tâm sanh
tâm, nên thường ở cõi Phật.
Nếu
chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm đều nhập vào không, niệm
niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật đến một cõi
Phật.
Nếu
lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm chẳng tịnh, niệm niệm đều
qui về động, từ một địa ngục qua một địa ngục.
Khi
một niệm tâm khởi thì liền có hai nghiệp thiện ác, có
thiên đàng địa ngục. Nếu một niệm tâm chẳng khởi
thì hai nghiệp liền dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
Vì
"thể" vốn không phải có, không phải không. Ở phàm
là có, ở thánh là không.
Thánh
nhơn nhờ tâm "không" nên trong lòng rỗng rang, cung trời đất
đồng lượng.
Đây
đều là chứng trong Đại Đạo, không phải cảnh giới của
Tiểu thừa và phàm phu. Khi tâm được Niết bàn cũng
không có Niết bàn có thể được. Vì sao thế? Vì
tâm là Niết bàn. Nếu ngoài tâm còn thấy có Niết bàn,
thế gọi là đã nhiễm tà kiến.
Phải
biết tất cả phiền não đều là hột giống tâm của Như
Lai; vì nhờ có phiền não mà được trí huệ.
Chỉ
có thể nói phiền não sanh Như Lai, nhưng không thể nói phiền
não là Như Lai. Nên tự tâm là ruộng nương, phiền não
là hột giống, trí huệ là nảy mầm; còn Như Lai để dụ
như kết quả lúa thóc.
Phật
ở trong tâm như hương trong cây, giác mục hết rồi thì lõi
hương tự hiện, phiền não hết rồi thì Phật tâm tự hiện
cũng như vậy. Cho nên biết ngoài cây không hương, ngoài
tâm không Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương
chỗ khác, ngoài tâm có Phật tức là Phật từ ngoài; là không
phải Phật [của mình].
Trong
lòng chứa ba độc là cõi uế, trong lòng không ba độc là
cõi tịnh. Kinh nói: Nếu cõi nước dơ bẩn ác độc đầy
dẫy mà muốn chư Phật xuất hiện thì không thể có bao giờ;
mà dơ bẩn ác độc là tham sân si mê muội đó.
Chư
Phật Thế Tôn chính là cái tâm giác ngộ. Nếu giác ngộ
thì tất cả nói năng đều là Pháp Phật.
Nếu
không nói mà nói thì suốt ngày nói đều là Đạo.
Nếu
chấp nói năng thì dầu suốt ngày nín thinh cũng là phi Đạo.
Cho
nên Như Lai nói mà không trái với nín, nín chẳng trái với
nói; nói nín không lìa. Nếu ngộ được nghĩa nói và
nín đây là vào được chánh định. Nếu nói đúng lúc,
nói cũng là giải thoát. Nếu chẳng phải lúc, dẫu nín
cũng là trói buộc. Cho nên: nói cũng lìa tướng, nói
cũng gọi là giải thoát. Nếu chấp tướng, dẫu nín
cũng là trói buộc. Vả chăng, bổn tánh vốn giải thoát,
văn tự không thể đến trói buộc được. Pháp không
cao thấp, nếu thấy có cao thấp là không phải pháp rồi.
Phi
pháp là đò, pháp là người. Người nương đò để qua
sông thì phi pháp tức là pháp. Nói theo thế tục thì
có nam nữ sang hèn, theo đạo thì không có nam nữ sang hèn.
Cho nên Thiên Nữ ngộ đạo chẳng đổi thân nữ, Xa Nặc thức
tỉnh chẳng đổi danh xưng.
Như
thế không phải sanh hèn nam nữ đều từ một tướng đó
sao? Thiên nữ suốt mười hai năm tìm tướng nữ cứu
cánh không thể được, thì biết suốt mười hai năm tìm tướng
nam cũng không thể được. Cái nghĩa mười hai năm là
sáu căn sáu trần đó. Lìa tâm không Phật, lìa Phật
không tâm. Cũng như lìa nước không giá, lìa giá không
nước.
Phàm
nói lìa tâm là không phải chạy trốn cái tâm. Chỉ đừng
chấp ở phần tướng của tâm mà thôi. Kinh nói: Chẳng
thấy tướng gọi là thấy Phật, tức là lìa tướng tâm đó.
Nói lìa Phật không tâm nghĩa là nói Phật từ tâm hiện, tâm
có thể sanh Phật. Phật tuy từ tâm sanh, nhưng tâm chưa
từng sanh ra Phật. Cũng như cá sanh ra từ nước chớ
không phải nước đẻ ra cá. Muốn xem cá, chưa thấy
cá đã thấy nước. Muốn quán Phật, chưa thấy Phật
đã thấy tâm. Thế mới biết khi thấy cá là quên nước,
khi thấy Phật là quên tâm. Nếu chẳng quên tâm là còn
bị tâm mê hoặc.
Chúng
sanh với Bồ-Đề cũng như giá băng với nước. Bị ba
độc làm rối loạn thì gọi là chúng sanh, được ba giải
thoát thanh tịnh thì gọi là Bồ-đề. Cũng như nước
bị mùa Đông làm đặc lại thì gọi là giá băng, bị mùa
Hạ làm lỏng ra thì gọi là nước. Nếu bỏ giá băng
đi thì không có nước nào khác, nếu bỏ chúng sanh đi cũng
không có Bồ-Đề nào khác.
Nên
biết tánh giá băng là tánh nước; tánh nước là tánh giá
băng. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-đề, chúng sanh và Bồ-Đề
đồng một thể tánh cũng như Ô Đầu và Phụ Tử cùng một
gốc, chỉ vì thời tiết chẳng đồng. Mê ngộ khác cảnh
nên có hai tên chúng sanh và Bồ-đề.
Cho
nên rắn hoá thành rồng mà chẳng đổi vảy, phàm biến thành
thánh mà chẳng đổi mặt, chỉ người biết tâm thì trí soi
trở vào trong, biết thân thì giới giữ bên ngoài.
Chúng
sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, thế gọi là bình đẳng.
Chúng sanh độ Phật nghĩa là nhờ phiền não sanh tỏ ngộ;
Phật độ chúng sanh nghĩa là tỏ ngộ rồi diệt phiền não.
Thế mới biết không phiền não không lấy đâu sanh tỏ ngộ,
không phải thức tỉnh không lấy đâu diệt phiền não.
Khi
mê là chúng sanh độ Phật, khi ngộ là Phật độ chúng sanh.
Vì
sao thế? Vì Phật chẳng tự thành, đều do chúng sanh
độ cả.
Chư
Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh và
tham ái đều là biệt danh của chúng sanh. Chúng sanh và
vô minh cũng như tay trái và tay phải chớ không phải hai người.
Khi
mê là mắc kẹt bờ bên đây, khi ngộ là qua được bờ bên
kia. Nếu biết tâm không chẳng chấp tướng thì lìa mê
ngộ, đã là mê ngộ thì không có bên đây bên kia nữa.
Như Lai chẳng ở bên đây cũng chẳng ở bên kia, chẳng ở
giữa dòng. Vì sao thế? Vì ở giữa dòng là Tiểu
thừa, ở bên đây là phàm phu, bên kia nghĩa là Bồ-đề.
Phật
có ba thân là Hoá thân, Báo thân và Pháp thân. Hoá thân
cũng gọi là Ứng thân. Nếu chúng sanh thường làm điều thiện
tức là Hoá thân. Khi hiện tu trí huệ là Báo thân.
Hiện giác vô vi là Pháp thân. Thường hiện 10 phương
tùy nghi cứu tế, đó là Hoá thân phật. Nếu dứt mê
hoặc tức là Tuyết Sơn thành đạo là Báo thân Phật.
Không nói năng, không làm không được, rỗng rang thường trụ
là Pháp thân Phật.
Nếu
luận chí lý một Phật còn không có thay làm gì có ba!
Nói ba là y cứ theo người đời mà nói, người có ba bực:
Người bực hạ vọng cầu phước lực, vọng thấy Hoá thân
Phật. Người bực trung trí vọng dứt phiền não, vọng
thấy Báo thân Phật. Người bực thượng trí vọng chứng
Bồ-Đề vọng thấy Pháp thân Phật. Người bực thượng
thượng trí soi trở vào trong tròn lặng tỏ tánh Phật, chẳng
đợi trừ tâm mà được trí Phật. Biết ba thân và vạn
pháp đều không thể chấp, không thể nói. Ðó là tâm
giải thoát viên thành đạo cả. Kinh nói: Phật chẳng
thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh, chẳng chứng Bồ-Đề là
nghĩa thế.
Chúng
sanh tạo nghiệp. Nghiệp chẳng tạo chúng sanh. Đời
này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, quyết định không sai.
Chỉ có bực chí nhơn nơi thân này chẳng tạo các nghiệp
nên chẳng thọ báo. Kinh nói: Chẳng tạo các nghiệp tự
nhiên được Đạo, há chẳng đúng sao? Người hay tạo
nghiệp, nghiệp chẳng hay tạo người. Người nếu tạo
nghiệp, nghiệp và người cùng sanh. Người nếu chẳng
tạo nghiệp, nghiệp và người đều dứt. Thế mới biết,
nghiệp do người tạo, người theo nghiệp sanh. Nếu người
chẳng tạo nghiệp, thì nghiệp không theo mà sanh người.
Cũng như người hay hoằng đạo, mà đạo chẳng hay hoằng
người. Phàm phu đời nay thường tạo nghiệp, vọng nói
không báo, há phải không khổ đâu! Nếu luận chí lý
thì tâm trước tạo, tâm sau thọ báo thì sao thoát được!
Nếu
tâm trước chẳng tạo thì tâm sau chẳng thọ báo, thì lấy
đâu vọng thấy nghiệp báo? Kinh nói: Ai tin có Phật mà
nói Phật có khổ hạnh, đó là tà kiến; nói Phật bị quả
báo cây thương vàng và ăn lúa ngưạ, đó gọi là đức tin
chẳng đủ, gọi là Nhất-xiển-đề. Ai tỏ được pháp
thánh thì gọi là thánh nhơn, tỏ pháp phàm thì gọi là phàm
phu. Chỉ có thể bỏ pháp phàm theo pháp thánh, là phàm
phu thành thánh vậy.
Thế
gian ngu mê, chỉ muốn cầu làm thánh nhơn, mà chẳng tin cái
tâm tỏ ngộ là thánh nhơn. Kinh nói: Những kẻ không
trí đừng cho nghe kinh này. Kinh nói: Tâm là pháp.
Người không trí chẳng tin tâm tỏ ngộ pháp trở thành thánh
nhơn; nên chỉ muốn tìm cầu bên ngoài, ngưỡng mộ hình tượng
màu sắc v.v... đều bị đọa vào tà kiến, tâm sanh cuồng
loạn.
Kinh
nói: "Nếu thấy các tướng không phải tướng là thấy Như
Lai".
Tám
muôn bốn ngàn pháp môn đều do tâm khởi. Nếu tướng
tâm thanh tịnh như hư không liền thoát ly thân tâm vậy.
Tám muôn bốn ngàn phiền não là căn bịnh. Phàm phu khi
sống lại lo chết, khi no lại lo đói, đều gọi là đại
mê hoặc.
Cho
nên thánh nhơn chẳng lo trước, chẳng nghĩ sau, không đắm
hiện tại, niệm niệm đều qui Đạo.
Nếu
ai chưa ngộ được lý này, thì nên sớm tìm đường lành
trời người, đừng để mất hết cả hai.
[ Ðêm
ngồi kệ rằng: ]
Canh
một ngồi ngay bắt kiết già,
Tinh
thần lặng chiếu rỗng đồng hư.
Lũy
kiếp đến nay không sanh điệt,
Ðâu
cần sanh diệt diệt Vô Dư.
Vạn
pháp chung qui đều như huyễn,
Bổn
tâm tự rỗng đâu dụng trừ..
Nếu
biết tâm tánh phi hình tượng,
Lặng
yên chẳng động tự chơn như.
Canh
hai thần lắng chuyển suốt trong,
Chẳng
khởi ước mơ, chỉ một lòng.
Sum
la vạn tượng, đều qui Đạo,
Há
chấp có không để bịnh chung!
Các
pháp bổn lai không Không có,
Phàm
phu vọng tưởng luận cuồng ngông.
Nếu
tâm chẳng khởi sanh hai pháp,
Còn
nói làm chi thánh khác phàm.
Canh
ba lòng lặng tợ hư không,
Trùm
khắp mười phương đều suốt thông.
Núi
sông gành đá không sao chướng,
Hằng
sa thế giới sẵn ở trong.
Thế
giới chơn như cung bổn tánh,
Cũng
không không tánh tức dung thông.
Phải
đâu chư Phật là như thế,
Hữu
tình muôn loại thảy đều đồng.
Canh
tư không diệt cũng không sanh,
Hư
không pháp giới đẳng bình như nhau.
Ðến
khi khởi diệt được nào,
Có
không sáng tối làm sao tỏ tường!
Không
thấy là cái thấy Thế Tôn,
Không
tên không được là tên Phật mình.
Ai
có tỏ ngộ biết liền,
Chúng
sanh mê muội còn nguyên đui mù.
Canh
năm Bát Nhã chiếu vô biên,
Một
niệm chẳng khởi ba ngàn suốt qua.
Chơn
như bình đẳng muốn thấy là.
Tịnh
tâm không loạn trước mắt ta hiện liền.
Ðạo
mầu tâm khó suy lường,
Chớ
nên tìm kiếm cho thêm mệt thần.
Nếu
hay vô niệm là chơn,
Tìm
cầu càng cách hết đường thấy nghe.
[Luận
Ngộ Tánh đến đây là Hết.]
LUẬN PHÁ TƯỚNG
Luận
rằng: Ví có người hỏi: Nếu muốn cầu đạo phải
tu cách nào cho chóng tắt nhất?
Đáp:
Chỉ có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt nhất.
Hỏi:
Vì sao một pháp nhiếp được hết các pháp?
Đáp:
Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy pháp đều
từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp đều
đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa quả sum suê đều từ
gốc cây. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở gốc thì
cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ đốn ở
gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà tu
thì dụng lực ít mà thành công dễ; chẳng tỏ tâm mà tu phí
công vô ích. Nên biết tất cả thiện ác đều từ tâm,
lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
Hỏi:
Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh?
Đáp:
Bực Đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại trí huệ, biết
được tứ đại vốn rỗng không vô ngã. Thấy được
tự tâm khởi dụng hai mặt khác nhau: một là tâm nhiễm, hai
là tâm tịnh. Hai mặt tâm pháp này tự nhiên vốn đầy
đủ. Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm nhân
đối đãi cho nhau. Tâm tịnh thích làm nhân lành, tâm
nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng thọ nhiễm thì
gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng cái thật yên vui.
Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nhiệp chịu trói buộc,
gọi là phàm; trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn điều thống
khổ. Vì sao thế? Vì tâm nhiễm trái chướng với
thể Chơn Như. Nên kinh Thập Ðịa nói: Trong thân chúng
sanh có tánh Phật Kim Cang tròn sáng như mặt trời, rộng lớn
không bờ mé. Vì bị mây năm ấm che khuất như đèn bị
chậu úp, sáng không hiện được.
Lại
trong kinh Niết Bàn có nói: Hết thảy chúng sanh đều có tánh
Phật, vì bị vô minh che khuất nên chẳng được giải thoát,
tánh Phật tức là tánh giác đó! Chỉ tự giác và làm
cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ rõ suốt thì gọi
là giải thoát.
Nên
biết tất cả việc thiện đều lấy "giác" làm gốc.
Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, đức
quả Niết Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm
như thế gọi là "liễu".
Hỏi:
Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất cả công đức
đều nương nơi giác làm gốc, chẳng hay cái tâm vô minh lấy
đâu làm gốc?
Đáp:
Cái tâm vô minh tuy có 84.000 phiền não tình dục và hà sa các
điều ác đều nhân ba độc làm gốc, ba độc là tham sân
si đó. Cái tâm ba độc này tự nó đủ tất cả khả
năng làm ác; cũng như cội cây to chỉ có một, nhưng có biết
bao cành lá. Căn cội của ba độc, trong mỗi một cái
rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng vô biên không thể tỷ
dụ. Tâm ba độc như thế từ trong bản thể ứng hiện
ra sáu căn, cũng gọi là sáu kẻ giặc, tức là sáu thức đó!
Do sáu thức nầy ra vào các căn tham đắm trần cảnh, tạo
thành nghiệp ác trái chướng với nhơn thế, nên gọi là sáu
kẻ giặc.
Tất
cả chúng sanh đều bị ba độc và sáu kẻ giặc nầy làm
mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi trong
sáu nẻo chịu các đều đau khổ. Cũng như sông rộng
mênh mông, bắt nguồn từ khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng,
lần ra đến sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu
có người lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt.
Người cầu giải thoát nếu có thể chuyển ba độc làm ba
tụ tịnh giới, chuyển sáu kẻ giặc làm sáu Ba-la-mật, tự
nhiên lìa dứt tất cả nghiệp khổ.
Hỏi:
Sáu nẻo ba cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ quán tâm làm
sao thoát khỏi biển khổ vô cùng?
Đáp:
Ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được vô tâm, tuy
ở trong ba cõi nhưng liền thoát ly ba cõi. Ba cõi tức
là ba độc đó. Tham là cõi Dục, sân là cõi Sắc, si
là cõi Vô Sắc, nên gọi là ba cõi. Từ ba độc này tạo
nghiệp nhẹ nặng, thọ báo chẳng đồng, chia ra sáu nẻo nên
gọi là sáu thú.
Hỏi:
Sau gọi là nhẹ nặng chia làm sáu nẻo?
Đáp:
Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm, tu nghiệp thiện vẫn
chưa khỏi ba cõi, sanh về ba nẻo nhẹ.
Hỏi:
Sao gọi là ba nẻo nhẹ?
Đáp:
Vì là mê lầm tu mười điều thiện, vọng cầu khoái lạc
chưa khỏi cõi tham, sanh về đường Trời. Mê giữ năm
giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi sân nên sanh
về đường người. Mê chấp theo hữu vi, tin tà cầu
phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo A-tu-la. Ba
loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi:
Sao gọi là ba đường nặng?
Đáp:
Nghĩa là từ tâm ba độc, chỉ tạo nghiệp ác bị đọa vào
ba đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì đọa vào đường
ngạ quỷ, nghiệp sân nặng thì đọa vào đường địa ngục,
nghiệp si nặng thì đọa vào đường súc sanh. Ba đường
nặng này thông đồng với ba đường nhẹ, cộng thành sáu
đường. Nên biết tất cả nghiệp khổ đều từ tâm
sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa tất cả ác thì cái
khổ trong ba cõi sáu đường tự nhiên tiêu diệt, lìa khổ
là được giải thoát.
Hỏi:
Như chỗ Phật nói: Ta ở trong ba vô lượng kiếp tu vô lượng
khó nhọc nay mới thành Phật; đây Ngài chỉ nói quán tâm,
chế ngự ba độc thì gọi là giải thoát là tại làm sao?
Đáp:
Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng kiếp tức
là ba độc đó. Trong cái tâm ba độc này có vô số niệm
ác, trong mỗi niệm ác đều là một kiếp cho nên nói ba vô
số kiếp. Tánh chơn như đã bị ba độc che khuất, nếu
chẳng siêu cái tâm có ba vô lượng ác độc ấy thì sao gọi
là giải thoát! Nay nếu có thể chuyển cái tâm ba độc
này làm ba giải thoát, thế gọi là đã vượt qua được ba
vô lượng vô số kiếp.
Chúng
sanh đời sau ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của
Như Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin được.
Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi lầm thối chuyển
đạo Bồ-Đề đó sao!
Hỏi:
Bực đại Bồ-Tát do giữ ba tụ tịnh giới, sáu Ba-la-mật
mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu chỉ quán
tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành Phật?
Đáp:
Ba tụ tịnh giới tức là chế ngự cái tâm ba độc đó.
Chế ngự ba độc thành vô lượng pháp thiện tụ. Chữ
tụ gom lại; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi tâm nên gọi
là ba tụ tịnh giới. Còn nói sáu Ba-la-mật nghĩa là
tịnh sáu căn; vì sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm sáu trần
tức là qua được sông phiền não đến bến Bồ Ðề, nên
gọi là sáu Ba-la-mật.
Hỏi:
Như kinh nói: Ba tụ tịnh giới là: Nguyện dứt tất cả nghiệp
ác; nguyện tu tất cả việc thiện; nguyện độ tất cả chúng
sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm ba độc há chẳng
không hợp đó sao?
Đáp:
Phật nói điều gì đều là chân thật, bực Đại Bồ-Tát
trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc phát ba thệ
nguyện giữ tất cả tịnh giới.
Đối
với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường tu các điều
thiện. Ðối với sân thì nguyện độ tất cả chúng
sanh, nên thường tu huệ. Ðối với si nhờ hành trì ba
pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu ba độc mà
thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì
hay giữ được ba tu tịnh giới thì các thiện đều đủ,
gọi đó là tu. Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh
thành tựu, mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên
gọi là giải thoát. Thế mới biết giới hạnh để tu
ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu
tự tâm thanh tịnh thì tất cả cõi Phật đều thanh tịnh.
Nên kinh nói: Hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ bẩn, hễ tâm
trong sạch thì chúng sanh trong sạch. Muốn được cõi
Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm tịnh thì cõi Phật
tịnh, ba tụ tịnh giới tự nhiên thành tựu.
Hỏi:
Như kinh nói: Sáu Ba-la-mật cũng gọi là sáu độ. Nay
nói sáu căn thanh tịnh gọi là Ba-la-mật, vậy chỗ dung thông
phải như thế nào?
Đáp:
Muốn tu sáu độ phải tịnh sáu căn, trước hàng phục sáu
kẻ giặc. Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm theo
sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng
đắm theo âm thinh thì gọi là Giữ giới. Phục được
giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là Nhẫn nhục.
Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không đắm theo
giọng, không buông lung theo nói năng tạp loạn thì gọi là
Tinh tiến. Hàng được giặc thân, chẳng đắm theo xúc
dục, rỗng rang chẳng động gọi là Thiền định.
Điều phục được giặc ý, chẳng thuận với vô thường,
thường tu trí huệ, gọi là Trí Huệ. Độ nghĩa là chuyên
chở. Sáu độ ví dụ cũng như đò, có thể đưa chúng
sanh qua bờ sông bên kia nên gọi là sáu độ.
Hỏi:
Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát đã từng uống ba
đấu sáu thăng sữa mới thành Phật (ba đấu sáu thăng: hơn
ba lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi sau mới chứng
quả, há chỉ quán tâm mà được giải thoát ư?
Đáp:
Đúng thế! Đúng thế! Phải trước uống sữa rồi
sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ.
Thứ sữa Phật uống đây không phải sữa trâu, sữa bò, sữa
dê của thế gian đâu, mà là "thanh tịnh pháp nhũ" đó!
Ba đấu tức là ba tụ tịnh giới, sáu thăng là sáu độ.
Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh tịnh như thế
mới chứng được quả. Nhưng phải biết đây là cách
nói kín. Nếu hiểu Như Lai uống các thứ sữa vật chất
thế gian thì lầm lắm! Chân Như vốn tự là pháp thân
vô lậu bất hoại, lìa hẳn tất cả các cái khổ thế gian,
há lại phải nhờ vật chất bất tịnh thế gian để khỏi
đói khát! Trong kinh có nói: Thứ bò nầy chẳng ở cao
nguyên, chẳng ở đất thấp, chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng
loại bò bô nhập bầy, màu lông vàng ánh tía. Chữ bò
ở đây để ám chỉ cho Phật Tỳ Lô Giá Na, vì lòng từ bi
rộng lớn thương xót tất cả chúng sanh, nên từ trong pháp
thể thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp ba tụ tịnh giới
và sáu độ vi diệu như thế để nuôi dưỡng cho tất cả
những ai cầu giải thoát. Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh
như thế không những Như Lai uống vào là được thành đạo,
mà dẫu cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng
Bồ-Đề cả.
Hỏi:
Trong kinh nói: Phật dạy chúng sanh cất chùa, đúc vẽ hình
tượng, thắp hương đèn, rải hoa, ngày đêm sáu thời quanh
tháp hành đạo, ăn chay lễ bái; làm hết thảy công đức
ấy đều được thành đạo. Nếu chỉ quán tâm nhiếp
hết các hạnh, như thế té ra bao nhiêu chuyện kinh nói đều
thành hư luống sao?
Đáp:
Phật
có nói điều gì đều là vô lượng phương tiện vì tất
cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém chẳng tỏ nghĩa lý
sâu mầu, nên mới mượn việc thế gian hữu vi để mà
thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở trong, chỉ chạy ra
ngoài mà cầu hy vọng được phước thì thật vô lý.
Nói
chùa cũng như nói nơi thanh tịnh. Nếu dứt trừ ba độc,
thường tịnh sáu căn, thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh
tịnh, đó là nghĩa cất chùa.
Còn
nói đúc vẽ hình tượng là nói tất cả chúng sanh mong cầu
đạo quả; các hạnh giác để tu là phỏng theo chân dung diệu
tướng của Như Lai, chớ đâu nói chuyện hữu vi vật chất!
Cho nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dung
pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, ba tụ tịnh giới
sáu độ là khuôn. Ung đúc chơn như tánh Phật trong thân
cho vào khuông giới luật.
Còn
nghĩa thắp hương cũng vậy; là thứ hương Chánh pháp vô vi,
xông lên để tẩy sạch các uế nghiệp ác vô minh, hết thảy
đều tiêu diệt. Hương chánh pháp có mấy thứ: Một
là hương Giới, nghĩa là ý nói hay dứt các ác, hay tu các
điều thiện. Hai là hương Định, nghĩa là tin sâu Đại
thừa, tâm không thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường
quán sát trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải
thoát, là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương
Giải thoát tri kiến, là xét xoi thường tỏ, thông suốt không
ngại. Năm thứ hương như thế là hương Tối thượng,
thế gian không sánh được. Phật ở thế gian bảo các
đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá này để
cúng dường mười phương chư Phật. Chúng sanh ngày nay
chẳng hiểu nghĩa chơn thật của Như Lai, chỉ dùng lửa ngoài
mà thắp các hương vật chất thế gian để mong cầu
phước báo làm kết quả.
Còn
nghĩa rãi hoa cũng vậy, là nói công đức đem Chánh pháp mà
giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm nhuần khắp tánh Chơn
Như, bố thí trang nghiêm. Thứ hoa công đức nầy Phật thường
khen ngợi, cứu cánh hằng còn không bao giờ héo tàn.
Nếu ai rải hoa như thế sẽ được phước báo vô lượng.
Nếu nói Phật dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương
thảo mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý.
Vì sao thế? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất
cả sum la vạn tượng trong trời đất cũng không xúc phạm.
Khi lầm phạm còn có ăn năn huống chi là dạy cố phá tịnh
giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo; muốn lợi
lại thành hại, há có như thế sao?
Lại
nữa, nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm
Chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai
muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm là tim,
các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa.
Thường thắp đèn Chơn chánh giác, chiếu phá tất cả vô
minh ngu tối, hay dùng pháp nầy lần lượt khai thị lẫn nhau
tức là một ngọn đèn mồi ra trăm ngàn ngọn; cứ như thế
mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô Tận Đăng.
Xưa
có Phật tên là Nhiên Ðăng, ý nghĩa Nhiên Ðăng là thế.
Chúng
sanh ngu si chẳng rõ lối nói phương tiện của Như Lai, luống
làm theo sự, đắm chấp việc hữu vi; bèn dùng các thứ đèn
dầu thế gian đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo làm
đúng theo kinh, há chẳng lầm lắm sao?
Vì
sao thế? Vì Phật phóng một đạo hào quang trắng
ở giữa hai chơn mày, có thể chiếu suốt mười tám ngàn
cõi nước phương Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo
nheo như thế để làm lợi ích! Gẫm xét cái lý phải
chẳng thế sao!
Lại
nữa sáu thời hành đạo nghĩa là nói nơi sáu căn luôn luôn
thực hành Phật đạo, tu các hạnh giác. Điều phục
sáu căn, mãi mãi không hở, gọi là sáu thời. Còn quanh
tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây làm ám chỉ cho thân tâm
đó! Nghĩa là thường sanh giác huệ tuần sát thân tâm
luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh tháp. Các bực Thánh
đã qua đều nhờ thực hành cách ấy mà được Niết Bàn.
Người đời nay chẳng rõ lý nầy, chẳng thực hành nơi tâm,
chỉ chấp trở ra mà tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh
tháp thế gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công,
đối với Chơn tánh không chút lợi ích.
Còn
nói ăn chay phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý nầy
thì càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ
Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ Tề
cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân tâm,
chẳng để tán loạn. Chữ ăn nơi đây cũng như nghĩa
chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng pháp tu
hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa sáu tình, ở trong phải
chế ngự ba độc, siêng giác sát, tịnh thân tâm, biết rõ
nghĩa nầy mới gọi là ăn chay.
Lại
nữa, chữ ăn ở đây có năm nghĩa:
1.
Một, ăn là vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh pháp hoan hỷ
vâng làm.
2.
Hai, ăn là vui với Thiền định, nghĩa là trong ngoài lặng
suốt, thân tâm vui đẹp.
3.
Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư Phật lòng
miệng như nhau.
4.
Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi thường
cầu nguyện lành.
5.
Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường thanh tịnh,
chẳng nhiễm tục trần.
Năm
nghĩa ăn nầy gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng nhận năm
nghĩa chay tịnh nầy mà tự hào là ăn chay đều là làm việc
vô lý. Cần nhất phải dứt cho được cái ăn mê muội.
Nếu phải va chạm gọi là phá trai. Nếu đã phá trai
sao gọi là được phước? Đời có người mê chẳng
rõ lý này, thân tâm phóng túng theo các nghiệp ác, tham dục
buông tình, chẳng biết xấu hổ. Chỉ ăn được ba thứ
rau cải rồi tự hào là ăn chay thì thật là phi lý.
Còn
nói lễ lạy theo phép thì ở trong phải tỏ thông lý thể,
ở ngoài thì tùy sự quyền thông. Lý có khi phải hiện,
có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như thế mới gọi
là y theo pháp. Vả chăng, lễ nghĩa là kỉnh, lạy nghĩa
là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn tánh, hàng phục vô
minh; đó là lễ bái. Nếu có thể dứt trừ lòng ác,
thiện niệm hằng giữ; tuy chẳng hiện tướng, nhưng đó mới
thật là lễ lạy.
Tướng
là pháp tướng, Thế Tôn muốn làm cho người đời tỏ lòng
khiêm tốn cũng dạy lễ lạy. Nên ở trong khuất phục,
ngoài hiện khiêm cung; nêu cái bên ngoài để rõ bên trong,
tánh tướng như nhau. Nếu không căn cứ trên lý pháp,
chỉ chấp tướng bề ngoài mà cầu, trong thì mở cửa ba độc,
thường làm nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện
oai nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức?
Hỏi:
Như kinh Ôn Thất nói: Tắm gội chúng tăng phước đức vô
lượng. Đó rõ ràng dựa vào sự pháp mới thành công
đức; nếu là quán tâm có thể tương ưng được sao?
Đáp:
Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ ẩn ngữ, chớ
phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian! Đức Thế
Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh Ôn Thất để cho
thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc thế gian để ví
dụ. Mật nói công đức của cúng dường sau đây: 1 là
nước trong, 2 là nhúm lửa, 3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là
bàn chải, 5 là phấn bột, 6 là dầu ướp, 7 là áo lót.
Dùng 7 việc này để ví dụ cho 7 pháp. Tất cả chúng
sanh theo 7 pháp tắm gội trang nghiêm này, thì có thể trừ
được tâm độc vô minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là:
1.
Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm, cũng như dùng nước trong
gội rửa bụi bặm.
2.
Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt cũng như nhúm
lửa nấu nước trong.
3.
Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng rửa sạch dơ bẩn.
4.
Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng như bàn chải hay làm
sạch miệng hôi.
5.
Chánh tín quyết định không nghi cũng như phấn bột dùng để
xoa trong ngoài thân có thể ngăn ngừa các chứng phong ngoại
cảm.
6.
Nhu hoà nhẫn nhục, cũng như dầu ướp là thông nhuậm mặt
da.
7.
Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác, cũng như áo lót mình
để che khuất bớt các chỗ bất tiện trong cơ thể.
Hạng
tỳ kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ ý nhanh, theo
chỗ nói mà tu hành, công đức thành tựu, đều chứng quả
thánh. Chúng sanh đời nay không rõ tự sự, đem nước
thế gian để tắm rửa cái thân tứ đại mà tự cho làm theo
kinh, như thế há chẳng lầm lắm sao! Vả lại, tánh Phật
chơn như đâu phải thứ có hình; phiền não bợn nhơ bổn
lai không tướng. Há có thể đem nước vật chất để
gội rửa cái thân vô vi được sao? Trên sự chẳng tương
ưng làm sao ngộ được đạo!
Hỏi:
Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng sanh về
cõi Cực Lạc, chỉ một môn nầy là được thành Phật, đâu
cần phải quán tâm để cầu giải thoát?
Đáp:
Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa rốt ráo
mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu niệm
chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến được!
Phật
nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân đừng để khởi ác.
Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ giới hạnh, đừng vọng
tinh tiến. Cần rõ nghĩa như thế mới gọi là niệm.
Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ chẳng phải ở miệng, mượn
ngôn ngữ để cầu ý, được ý phải quên lời.
Đã
nói niệm danh hiệu Phật cũng phải biết cái đạo niệm Phật.
Nếu
tâm không thật, miệng niệm danh hiệu suông, ba độc lẫy
lừng, chấp mình chấp người cả bụng; dùng cái tâm vô minh
vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công.
Ðến
như tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là
tụng, ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi,
gọi là môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng
âm thanh, chấp tướng cầu lý thì thật là không phải.
Phải
biết các Thánh xưa tu hành đều không phải nói bên ngoài,
mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là nguồn cội
vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng lặng thường
vui đều bởi ngừng vọng.
Ba
cõi luân hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc
đời, tâm là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi
lo gì khó thành! Người nay thấy biết nông nổi, chỉ
biết sự tướng làm công, hao phí của cải, tốn thương vạn
loại. Luống công xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời
rằn ri đem hết tâm lực, tốn mình mê người, chưa biết
tỉnh ngộ có đâu sợ khó! Hễ thấy việc hữu vi thì
nôn nao mê đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như
mê. Chỉ tham kết quả nhỏ nhen hiện tại, chớ
biết đâu cái khổ biển cả sau này. Tu học như
thế luống công nhọc sức, trái chánh theo tà, vọng nói được
phước. Nếu chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong,
giác sát ở ngoài cho tỏ, dứt trừ ba độc, đóng hết sáu
cửa giặc đừng cho nhiễu loạn; tự nhiên vô lượng công
đức, bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được thành
tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một bên, ngộ trong
giây lát, đâu đến nỗi khó khăn!
Môn
chơn thiệt nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi
đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy thôi.
[Kệ
rằng:]
Ta
vốn cầu tâm tâm tự gìn,
Cầu
tâm chẳng được để tâm minh.
Tánh
Phật chẳng từ ngoài tâm được,
Tâm
sanh chính là lúc tội sanh
Ta
vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ
biết ba cõi rỗng không suốt.
Nếu
muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ
tâm này, tâm này là Phật
[Luận
Phá Tướng đến đây là hết.]
12-01-2001
04:34:23