Bài
Giảng Cuối Tuần
[Xin
khởi động như sau:] “Càng nhanh càng tốt, con phải thành
tựu sự Toàn Giác để giải thoát những bà mẹ chúng sinh
của con - là vô lượng chúng sinh bao la như bầu trời – ra
khỏi những đại dương đau khổ sinh tử mà họ đang trải
nghiệm, và đưa họ tới hạnh phúc vô song của sự Toàn Giác.
Như
vậy con sắp lắng nghe Thánh Pháp.”
Vì
thế xin chăm chú lắng nghe bằng cách gạn lọc động lực
thanh tịnh nhất trong tâm bạn và hãy nghe giáo lý một cách
đúng đắn, phù hợp với những thực hành truyền thống được
các Lạt Ma mô tả trong dòng truyền thừa của chúng ta.
MỤC
ĐÍCH CỦA ĐỜI NGƯỜI
Như
tôi đã nói trong một Pháp thoại trước đây, bạn nên hiểu
rõ ý nghĩa của đời bạn, lý do bạn sống, mục đích của
việc đã nhận được thân người quý báu vào lúc này, đặc
biệt là sự tái sinh làm người cao quý này với tám sự tự
do và mười điều thuận lợi – bạn nên hiểu rõ điều
này, không chỉ một cách trí thức mà còn hiểu thật sâu
xa khiến bạn chuyển hóa thái độ của bạn một cách thích
đáng và sống cuộc đời bạn trong sự hòa hợp với mục
đích đó. Mục đích đó là gì? Đó là sống cuộc đời bạn
để làm lợi lạc những người khác.
Như
thế, lòng bi mẫn là sự thiền định hay thực hành quan trọng
nhất mà bạn có thể làm. Mặc dù những giáo lý của Đức
Phật nói về hàng tỉ cách thiền định hay thực hành khác
nhau mà bạn có thể trải cả cuộc đời mình để thực hành,
nhưng đây chính là điều quan trọng nhất - làm lợi lạc
người khác, sống cuộc đời bạn với một thái độ bi mẫn
đối với người khác. Đây là mục đích thực sự của cuộc
đời, là ý nghĩa của cuộc đời.
Cho
dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống,
mục đích của cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc
của người khác, với một trái tim tốt lành, với lòng bi
mẫn đối với người khác. Cho dù bạn chỉ có một phút
để sống, chỉ còn lại một phút của thân người quý báu
này, điều quan trọng nhất mà bạn có thể thực hành là
lòng bi mẫn; ngoài ra không có gì khác.
Cũng
hoàn toàn giống như thế nếu bạn có một trăm năm để sống,
một ngàn năm, thậm chí một kiếp để sống. Để hoàn thành
mục đích của cuộc đời bạn, bạn vẫn phải sống với
lòng bi mẫn đối với những người khác, vì sự lợi lạc
của những người khác.
Nếu
bạn đang vui hưởng một cuộc đời hạnh phúc, đang kinh nghiệm
lạc thú, thì để cuộc đời bạn không trống rỗng, trở
nên lợi lạc, hữu ích cho những người khác, bạn nên thực
hành lòng bi mẫn, sống cuộc đời bạn để làm lợi
ích cho người khác. Nếu đời bạn không hạnh phúc, nếu
bạn đang kinh nghiệm những vấn đề trong mối quan hệ, nếu
bạn bị ung thư hay bệnh AIDS, nếu bạn tuyệt vọng, nếu
đời bạn không thoải mái, cho dù bạn đang gặp đến hàng
trăm hay hàng ngàn vấn đề – sức khỏe, mối quan hệ, những
vấn đề liên quan tới việc làm – như thể bạn đang chết
đuối trong vũng lầy của những vấn đề, bạn cũng nên thực
hành lòng bi mẫn đối với những người khác. Nếu bạn có
thể thực hành lòng bi mẫn vào những thời điểm như thế
thì bạn vẫn làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa, lợi lạc
cho người khác, hữu ích cho người khác, và nhờ đó – bằng
cách làm lợi lạc cho người khác – bạn sẽ thường xuyên
làm cuộc đời bạn mang lại lợi lạc cho bản thân bạn.
Yêu thương người khác là cách thức tốt đẹp nhất để
yêu thương bản thân bạn.
Yêu
thương người khác có nghĩa là bạn đừng làm hại người
khác, và không làm hại người khác là không làm hại bản
thân bạn. Ngay cả trong phạm vi của sự bảo vệ, đây là
cách tốt đẹp nhất để bảo vệ cuộc đời bạn. Cũng giống
như thế, khi bạn làm cho người khác hạnh phúc, bạn mang
lại hạnh phúc cho chính bạn. Nghiệp được tạo nên nhờ
làm cho người khác hạnh phúc cũng làm cho bạn kinh nghiệm
sự hạnh phúc; đó là loại nghiệp dẫn tới hạnh phúc.
Cho dù bạn không mong muốn hạnh phúc nhưng một khi bạn đã
tạo nên nguyên nhân của nó thì nó chính là kết quả.
Nếu
bạn trồng một hạt giống trên mặt đất và hội đủ mọi
điều kiện (duyên), chẳng hạn như đất, nước và nhiệt
độ toàn hảo – mọi sự đều hội tụ và không có những
trở ngại nào – thì cho dù bạn có cầu nguyện nhiều tới
đâu để cây đừng mọc lên, nhưng nó vẫn sẽ phát triển.
Chắc chắn là nó sẽ mọc lên bởi hạt giống được gieo
trồng trên mặt đất đã gặp được mọi điều kiện
cần thiết để phát triển; nhân và duyên đã gặp gỡ. Bởi
nó là một sự duyên sinh nên việc bông hoa hay trái cây đó
sẽ mọc lên là điều không thể tránh khỏi, cho dù bạn có
cầu nguyện nhiều tới đâu để nó không mọc.
Tương
tự như thế, nếu bạn sống cuộc đời hàng ngày của bạn
với lòng bi mẫn, mang lại thật nhiều hạnh phúc cho người
khác trong khả năng của bạn, thì kết quả tự nhiên là bản
thân bạn sẽ kinh nghiệm hạnh phúc, bây giờ và trong tương
lai – đó là kết quả tức thì là sự an bình trong tâm trong
đời này và kết quả dài hạn là hạnh phúc trong tất cả
những đời sau của bạn. Tất cả những điều này là kết
quả chắc chắn của việc mang lại hạnh phúc và lợi lạc
cho người khác.
Như
vậy, bạn sẽ thâu hoạch được rất nhiều khi thương yêu
người khác, quan tâm tới những chúng sinh khác như bạn làm
cho bản thân bạn. Dù họ là những côn trùng hay con người
thì họ cũng là những sinh loài giống như bạn – ước mong
hạnh phúc và không mong muốn đau khổ. Giống như bạn cần
tới sự giúp đỡ của người khác để giải trừ những
vấn đề thì họ cũng cần điều đó. Giống như hạnh phúc
của bạn tùy thuộc vào những người khác, hạnh phúc của
họ cũng thế. Không chỉ có con người, mà cả đến những
côn trùng cũng cần tới sự giúp đỡ của bạn. Việc họ
giải thoát khỏi những vấn đề thì tùy thuộc vào bạn;
hạnh phúc của họ tùy thuộc vào bạn.
Tại
sao việc thương yêu người khác, quan tâm tới người khác
như bạn làm cho bản thân bạn, không làm hại mà làm lợi
lạc cho họ, lại là phương cách tốt đẹp nhất để chăm
sóc bản thân bạn, quan tâm tới bản thân bạn? Đó là nhờ
có một trái tim tốt lành, sự thương yêu người khác, làm
lợi lạc người khác mà mọi ước muốn của riêng bạn đều
được hoàn tất.
Nói
chung, trong thế giới, khi những người khác nhìn thấy một
người thiện tâm, có bản tánh bi mẫn, từ ái, họ nhận
được những sự rung động tốt lành, một cảm xúc tích
cực từ người đó. Ngay cả những người không quen biết
gặp người đó trên đường, trong máy bay, trong các văn phòng
hay cửa hàng, thì chỉ cái nhìn của người đó cũng đủ
làm cho họ sung sướng, mỉm cười và muốn được trò chuyện.
Do bởi trái tim tốt lành, những rung động tốt lành, cảm
xúc tích cực của bạn, bạn làm cho người khác hạnh phúc.
Ngay cả những biểu lộ trên khuôn mặt họ cũng thay đổi
phản ánh tâm thức hạnh phúc của họ. Cho dù bạn không phải
trải nghiệm bất kỳ vấn đề gì thì những người khác
cũng vẫn giúp đỡ bạn.
Khi
bạn có một trái tim tốt lành đối với những người khác,
tất cả những ước muốn hạnh phúc của riêng bạn đều
được đáp ứng một cách ngẫu nhiên. Giống như một Bồ
Tát, mặc dù động lực của bạn chỉ là hạnh phúc của
người khác và bạn không trông chờ gì hạnh phúc của bản
thân bạn, cho dù mọi sự bạn làm trong hai mươi bốn giờ
đồng hồ một ngày được đặc biệt hồi hướng cho hạnh
phúc của những người khác mà không có một niệm tưởng
nào về hạnh phúc của riêng bạn, thì bản thân bạn cũng
sẽ kinh nghiệm mọi điều hạnh phúc.
Nhờ
sự chứng ngộ Bồ Đề tâm, những thánh nhân - những vị
Bồ Tát – sẽ hoàn toàn từ bỏ bản thân mình vì người
khác. Các ngài không nghĩ tưởng gì về hạnh phúc của riêng
mình mà thay vào đó dùng mỗi giây phút để tìm kiếm hạnh
phúc cho những người khác. Như thế điều gì sẽ xảy ra?
Với Bồ Đề tâm, các ngài có thể phát triển trí tuệ tối
thượng nhận ra bản tánh đích thực của cái tôi – bản
ngã và những uẩn, sự kết hợp của thân và tâm là căn
bản của cái được quy gán cho là cái tôi – và mọi hiện
tượng khác.
Nhờ
phát triển Bồ Đề tâm và trí tuệ tối thượng, các ngài
có thể tiệt trừ mọi lỗi lầm của tâm thức, nguyên nhân
của mọi đau khổ – những ô nhiễm thô sơ, những lầm lạc
của tham, sân và si, và những ô nhiễm vi tế, là những gì
có tính chất của những dấu vết để lại trong dòng tương
tục của tâm thức do những mê lầm.
Như
vậy, đây là điểm đặc biệt của Bồ Đề tâm, bởi với
sự hỗ trợ của nó, bạn có thể phát triển không chỉ trí
tuệ chứng ngộ tánh Không mà còn có thể ngăn cản những
ô nhiễm vi tế và nhờ đó trở nên hoàn toàn giác ngộ, đạt
được trạng thái toàn trí, tâm toàn giác, thấu suốt trực
tiếp và không chút lỗi lầm, không chỉ nghiệp thô nặng
mà cả mỗi nghiệp vi tế duy nhất của từng người trong
vô số chúng sinh. Bạn sẽ nhận ra mọi đặc tính dị biệt,
những ước muốn và mức độ thông tuệ của họ; thấu hiểu
từng phương pháp độc nhất thích hợp với tâm thức của
tất cả những chúng sinh khác biệt này vào những lúc khác
nhau; và khám phá phương pháp thích ứng phù hợp với
tâm của mỗi cá nhân chúng sinh vào những thời điểm khác
nhau để dẫn dắt chúng sinh đó từ hạnh phúc này sang hạnh
phúc khác, bằng đủ mọi cách để đạt được giác ngộ.
Như
thế, Bồ Đề tâm khiến cho trí tuệ của bạn hoạt động
khiến nó có thể chiến thắng ngay cả những ô nhiễm vi tế,
làm cho tâm bạn hoàn toàn giác ngộ.
Theo
cách này, Bồ Đề tâm khiến bạn trở thành một người dẫn
đường hoàn toàn có phẩm tính, một bậc giác ngộ toàn hảo,
và nhờ đó giải thoát vô số chúng sinh khỏi luân hồi sinh
tử, đại dương của đau khổ, và mang họ tới hạnh phúc
vô song của sự Toàn Giác.
Như
thế sự thành tựu mọi phẩm tính giác ngộ vô biên này xuất
phát từ đâu? Ngay cả những Bồ Tát Thập Địa cũng có những
phẩm tính khó tin, không thể nghĩ bàn. Ngay một Bồ Tát Sơ
Địa cũng có thể thiền định trong hàng trăm cách tập trung
khác nhau, đi tới hàng trăm cõi tịnh độ khác nhau, khám phá
cho chúng sinh hàng trăm giáo lý khác nhau. Tôi không nhớ chính
xác, nhưng có khoảng mười một điều khác nhau trong đó các
ngài có thể làm hàng trăm việc. Một Bồ Tát Nhị Địa có
thể thực hiện một ngàn thiền định tập trung khác nhau,
đi tới một ngàn cõi tịnh độ, khám phá một ngàn giáo lý
khác nhau cho chúng sinh và v.v.. Cũng giống như thế, bởi các
ngài tiến bộ càng lúc càng cao hơn qua các cấp độ (địa),
các ngài thành tựu càng lúc càng nhiều hơn những phẩm tính
không thể nghĩ bàn mà với chúng các ngài có thể làm lợi
ích chúng sinh. Tôi không nhớ những thuật ngữ để chỉ địa
thứ chín và thứ mười nhưng chư vị Bồ Tát sở hữu vô
số phẩm tính không thể nghĩ bàn như thế.
Tất
cả những phẩm tính không thể nghĩ bàn này của con đường
Bồ Tát, tất cả những phẩm tính vô biên của thân linh thánh,
ngữ linh thánh và tâm linh thánh của Đức Phật xuất phát
từ cội gốc là sự từ bỏ bản ngã và tư tưởng tìm kiếm
hạnh phúc cho riêng mình, và sự phát triển trái tim tốt lành,
tư tưởng chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chúng sinh. Tất cả
mọi phẩm tính đó xuất phát từ cội gốc này. Mọi phẩm
tính tốt lành vô biên của Đức Phật, của Pháp, con đường
của Bồ Tát, và của Tăng, những bậc thánh và thậm chí
những Bồ Tát bình thường, đều xuất phát từ tư tưởng
quý báu phi thường, Bồ Đề tâm như ý – sự từ bỏ bản
ngã và tâm quy-ngã, và sự phát triển lòng yêu thương chỉ
dành cho người khác. Tất cả những phẩm tính đó đều xuất
phát từ tư tưởng này.
Những
bậc có thể làm được điều này chứng ngộ sự thành tựu
tuyệt hảo nhất. Các ngài từ bỏ bản ngã, từ bỏ cái tôi,
nhưng các ngài đạt được sự thành tựu tuyệt hảo, thành
công vĩ đại nhất. Các ngài không chỉ tìm ra sự giải thoát
vĩnh cửu khỏi chu kỳ của sự chết và tái sinh và mọi vấn
đề mà nó mang lại, chẳng hạn như sự tái sinh, sự già,
bệnh, những vấn đề thuộc cảm xúc và mọi khó khăn khác
của cuộc sống mà chúng ta kinh nghiệm, mà các ngài cũng đạt
được sự giải thoát vĩnh cửu, sự tự do vĩnh cửu, hạnh
phúc vĩnh cửu cho bản thân mình, và có thể mang lại hạnh
phúc bao la như bầu trời cho vô số chúng sinh. Tất cả những
điều này xuất phát từ cội gốc là Bồ Đề tâm, tâm linh
thánh cao quý nhất, sự từ bỏ cái tôi, sự thương yêu người
khác.
Chúng
ta có thể hiểu được điều này chân thật ra sao bằng cách
đọc những bản văn thuật lại những câu chuyện tiền thân
của Đức Phật và cuộc đời của những Bồ Tát khác, nhưng
ta cũng có thể thấu hiểu một trái tim tốt lành thì như
ý ra sao đối với hạnh phúc của bạn từ những gương mẫu
của những cuộc đời bình thường của những con người
bình thường trong thế giới – những người mà tâm họ bi
mẫn hơn trong bản chất ra sao, những người có thiện tâm,
có những đời sống thoải mái hơn.
Chẳng
hạn như, nếu bạn đang kinh nghiệm những vấn đề sức khỏe
nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư và v.v.., nhưng bạn có
một trái tim tốt lành, tâm bạn sẽ hạnh phúc và an bình
bởi mối quan tâm chính không phải là cho bản thân bạn mà
là cho người khác; mối quan tâm của bạn được dành cho
chúng sinh. Nhờ đó tâm bạn được an bình. Cho dù bạn đang
hấp hối nhưng tâm bạn không bị xáo trộn vì mối quan tâm
của bạn là dành cho người khác chứ không phải cho bạn.
Ngay cả vào lúc cuối đời bạn, giây phút chấm dứt đời
người của bạn, kinh nghiệm của bạn về sự chết là một
kinh nghiệm hạnh phúc bởi thái độ của bạn là thái độ
quan tâm tới người khác, chứ không phải cho cái ta, không
phải là tâm thức tự yêu thương mình, tâm quy-ngã.
Mặc
dù các sự việc không tiến triển với bạn, bạn gặp nhiều
trở ngại, cuộc đời bạn gặp rắc rối, nhưng tất cả
những điều này không làm bạn lo lắng, tâm bạn không bị
quấy nhiễu, luôn luôn vui vẻ và an bình, bởi ưu tiên hàng
đầu trong đời bạn là hạnh phúc của những người khác.
Điều bạn quan tâm nhất là người khác, chứ không phải
bản thân bạn. Đó là mục đích của bạn. Thái độ này
mang lại rất nhiều an bình và hạnh phúc cho đời sống hàng
ngày của bạn, đem lại cho bạn rất nhiều sự hài lòng.
Mặc dù những người khác gây nên cho bạn những vấn đề,
làm phiền bạn, nhưng nó không gây rắc rối cho bạn; tâm
bạn vẫn an bình và hạnh phúc.
Đặc
biệt là với một trái tim tốt lành, lòng bi mẫn đối với
người khác, bất kỳ khi nào một vấn đề xuất hiện bạn
cũng kinh nghiệm nó vì người khác, nhân danh chúng sinh khác.
Nếu bạn kinh nghiệm hạnh phúc, bạn kinh nghiệm nó cho người
khác. Nếu bạn vui hưởng một đời sống xa hoa, bạn hồi
hướng nó cho người khác. Và nếu bạn trải nghiệm một
vấn đề, bạn trải nghiệm nó cho người khác – để người
khác thoát khỏi những vấn đề và có mọi hạnh phúc cho
tới sự Giác ngộ, sự an bình và hỉ lạc hoàn toàn viên
mãn. Khi ước muốn những người khác có mọi hạnh phúc,
bạn kinh nghiệm những vấn đề nhân danh họ.
Điều
đó đem lại cho bạn sự hài lòng và hoàn thành thật phi thường,
nhưng không chỉ có thế. Nếu bạn có thái độ đó, cho dù
bạn trải nghiệm bao nhiêu vấn đề chăng nữa, khi bạn gặp
mỗi vấn đề bạn có cảm tưởng như bạn đã khám phá một
kho tàng quý báu. Bạn coi nó như một cơ hội phi thường để
hồi hướng bản thân bạn cho người khác; một dịp may to
lớn để trải nghiệm những đau khổ của người khác, giống
như chư vị Bồ Tát thực hiện, giống như Đức Phật đã
làm, giống như Đức Jesus Christ đã làm để nhận vào mình
những đau khổ của người khác.
Mặc
dù những người khác có thể thấy vấn đề đó không thể
chịu đựng nổi, nhưng đối với bạn, là người có thái
độ này, thì nó không là một điều thật phiền nhiễu, bạn
không thấy nó đặc biệt khó khăn, hầu như bạn rất thoải
mái về điều đó – do bởi trái tim tốt lành và thái độ
thuần tịnh của bạn đối với cuộc đời. Điều này làm
cho toàn bộ cuộc đời của bạn trở nên thật thoải mái,
thật hạnh phúc.
Trái
tim bạn không trống rỗng, không rỗng tuếch, nhưng tràn ngập
sự hài lòng, đầy ắp niềm vui. Theo cách này, cho dù bạn
gặp nhiều khó khăn nhưng bạn sống cuộc đời bạn với
niềm vui. Bạn vui hưởng những vấn đề; thậm chí bạn vui
hưởng cái chết của bạn. Cho dù điều gì xảy ra thì bạn
cũng vui hưởng nó với Bồ Đề tâm, tư tưởng thương yêu
người khác. Những gì mà người bình thường có thể thấy
là không đáng ao ước thì người có trái tim tốt lành, có
thái độ yêu thương người khác lại thấy là đáng ao ước
bởi người ấy có thể làm cho những vấn đề trở nên lợi
lạc cho người khác. Người có trái tim tốt lành, có tâm
bi mẫn, tư tưởng thương yêu người khác, thái độ Bồ Đề
tâm, sẽ làm cho vấn đề trở nên hữu ích, lợi lạc cho
người khác. Theo cách này, kinh nghiệm về những vấn đề
của người này trở thành một nguyên nhân của hạnh phúc
của tất cả chúng sinh – không chỉ hạnh phúc nhất thời
mà là hạnh phúc của sự Giác ngộ viên mãn, tối thượng.
Bồ Đề tâm làm cho kinh nghiệm về những vấn đề của người
ấy trở thành một nguyên nhân cho hạnh phúc của mọi sinh
loài. Làm cách nào? Bằng cách chuyển hóa những vấn đề
thành con đường dẫn tới Giác ngộ.
NÓI
THÊM VỀ GEN JAMPA WANGDU
Xin
nhớ lại câu chuyện tôi đã kể một buổi tối trước đây
về Gen Jampa Wangdu, một trong những Thiền giả Tây Tạng cao
cấp ở Ấn Độ, người đã thiền định quanh Dharamsala và
Dalhousie và được Lạt Ma khổ hạnh Dewo Gyupe Rinpoche dẫn
dắt. Sau khi hoàn tất mọi việc nghiên cứu Kinh điển triết
học và sau đó hoàn tất việc nghiên cứu tantra, trải qua
mọi kỳ thi và trở thành một geshe lharampa, một geshe thuộc
đẳng cấp cao nhất, Gen Jampa Wangdu đi vào sự cô tịch trong
những rặng núi để thể nhập con đường mà ngài đã nghiên
cứu trong tu viện từ khi còn trẻ trong rất nhiều năm. Ngài
là một yogi chứng ngộ và một Bồ Tát đã thành tựu con
đường tantra cao cấp nhất, là con đường có năm giai đoạn
– sự cô lập của thân, sự cô lập của ngữ, sự cô lập
của ý, tịnh quang và huyễn thân, và sự hợp nhất. Vì thế
ngài đã đạt được những cấp bậc cao nhất của tantra
và thành tựu huyễn thân.
Sau
Lễ Kỷ niệm Giáo Pháp lần thứ nhất [ Lễ Kỷ niệm Kinh
nghiệm Giác ngộ], nhiều thành viên trong Tăng Đoàn của chúng
tôi nhận từ ngài giáo lý về cách thực hiện nhập thất
“viên thuốc” – “Nhận lãnh Tinh túy” [chu-len], một phương
pháp để có thể nhập thất ở những nơi hết sức biệt
lập, cách xa mọi sự, nơi khó tìm được thực phẩm và nước
uống. Thay vì sống bằng thực phẩm bình thường, bạn sống
bằng những viên thuốc được đặc biệt ban phước, chúng
giúp cho bạn có thêm thời gian để thực hành thiền định
và làm tâm bạn trong trẻo và là một phương pháp dễ dàng
để thành tựu sự tập trung toàn hảo của shamatha (thiền
chỉ, thiền định tĩnh lặng). Gen Jampa Wangdu là một trong
những guru của tôi và tôi đã nhận dòng truyền giáo lý chu-len
từ ngài.
Có
lần tôi đang ở Dharamsala, trú ngụ tại nhà của Geshe Rabten
Rinpoche, nó ở phía dưới căn nhà của His Holiness Ling Rinpoche,
Thầy Phụ giáo chính của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Geshe Rabten
Rinpoche là vị Thầy đầu tiên của tôi dạy về những bản
văn triết học, những bản văn tranh luận, du-ra, ngài là người
đã khiến cho tôi nói về những đề tài này. Nhà của những
Lạt Ma này ở gần trung tâm Tushita của chúng tôi. Một đêm
Gen Jampa Wangdu về muộn sau những khoá giảng và nhận ra rằng
căn nhà của ngài đã bị mất trộm. Dĩ nhiện là khó có
gì đáng giá để lấy, nhưng ngài nhận ra rằng kẻ trộm
đã lấy mất chiếc đồng hồ của ngài. Mất đúng cái đó!
Nhưng ngài rất sung sướng vì kẻ trộm đã kiếm được một
chiếc đồng hồ; ngài rất sung sướng!
SERKONG
DORJE CHANG
Có
một câu chuyện tương tự về Serkong Dorje Chang sống ở Nepal
– Hóa Thân của Serkong Dorje Chang đã sống ở Tây Tạng và
cũng là một geshe lharampa. Một geshe lharampa thì giống như
một giáo sư có phẩm tính cao cấp nhất, một đại học giả,
nhưng trong trường hợp này không chỉ là một học giả chữ
nghĩa mà cũng có kinh nghiệm về con đường. Sau này ngài trở
thành một trong số ít Lạt Ma được Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ Mười Ba chính thức công nhận là đã đạt mức độ
cao cấp của con đường Kim Cương thừa để được phép thực
hành với một phối ngẫu trí tuệ. Vị Hóa Thân sống ở
Nepal đã thị tịch vài năm trước và đã tái sinh, hiện đang
tu học tại Tu viện Ganden miền nam Ấn Độ.
Thông
thường thì tâm tôi đầy sự hoài nghi và mê tín, nhưng cứ
mỗi lần tôi đi thăm ngài thì tôi không nghi ngờ gì rằng
khi ở trước mặt ngài, tôi đang ở trước sự hiện diện
của Yamantaka. Không có một do dự nào rằng Serkong Dorje Rinpoche
là Yamantaka, một hiện thể giác ngộ, phương diện phẫn nộ
nhất của Đức Manjushri (Văn Thù), vị Phật của trí tuệ.
Tôi luôn luôn tin chắc một trăm phần trăm rằng ngài là Yamantaka.
Serkong
Dorje Chang hoàn toàn giống như những yogi Ấn Độ cổ xưa
như Tilopa và Naropa, các bậc tiền bối của dòng truyền thừa
được tiếp nối bởi Marpa và Milarepa, nhưng sống trong thời
hiện đại. Thực sự thì có một hôm chính ngài đã nói với
một vị sư rằng ngài là hiện thân của Marpa. Đôi khi ngẫu
nhiên xảy ra những điều như thế. Vào một ngày tốt lành
– tôi không muốn nói về thời tiết – khi đúng thời, Rinpoche
sẽ nói một vài điều thú vị. Vào cuối khoá nhập hạ hàng
năm của các tu sĩ – yar-ne - là một phần của thực hành
vinaya (Luật) truyền thống - các tu sĩ trong tu viện của ngài
ưa thích gag-ye, sự xả thất. Vào dịp đó thường có một
cuộc dã ngoại, ở đó Rinpoche sẽ kể cho các tu sĩ nhiều
câu chuyện thú vị.
Thỉnh
thoảng Rinpoche và một vài tu sĩ đi dự các lễ puja (1) tại
nhà của những thí chủ ở Kathmandu. Khi buổi lễ chấm dứt
họ trở về tu viện trên núi Swayambhunath mà những du khách
gọi là “chùa khỉ” vì có rất nhiều khỉ ở đó. Một
trong những tu sĩ của ngài xuất thân từ học viện Sera-je
của chúng tôi. Ông là một phụ tá umdze, vị phụ tá lãnh
đạo các lễ cầu nguyện – thường có một ít tu sĩ khác
trợ giúp cho vị lãnh đạo việc hát tụng, ông là một trong
những người đó. Vì thế một hôm khi tất cả đang trở
về tu viện, Serkong Dorje Chang nói với tu sĩ này: “Thực ra,
tôi thực sự là Marpa.”
Serkong
Tsenshab Rinpoche, người sống ở Dharamsala và là một trong những
guru của Đức Đạt Lai Lạt Ma – ngài đã ban cho Đạt Lai
Lạt Ma một luận giảng về tác phẩm Ngọn Đèn trên Con Đường
Đi tới Giác ngộ của Atisha cũng như một vài giáo lý khác
– cũng là một trong những guru của tôi và tốt lành một
cách khác thường đối với tôi. Mặc dù về phần tôi, tôi
rất lười và thiếu năng lực, còn Rinpoche thì luôn luôn giảng
dạy cho tôi bất kỳ điều gì tôi thỉnh cầu. Ngài luôn luôn
chăm sóc tôi, dẫn dắt tôi và thực sự rất tử tế.
Thân
phụ của Serkong Tsenshab Rinpoche là Serkong Dorje Chang, người
đã sống ở Tây Tạng – là người sau khi trở thành một
geshe lharampa đã đạt được những cấp độ tantra cao cấp
nhất và đã thực hành với một phối ngẫu trí tuệ. Serkong
Tsenshab Rinpoche là con trai ông, và sau này khi Serkong Dorje Chang
tái sinh, Serkong Tsenshab Rinpoche trở thành Thầy của Hóa Thân
này, Thầy của Hoá Thân của thân phụ ngài. Serkong Dorje Chang
cũng nói với vị tu sĩ ở Sera-je rằng Serkong Tsenshab Rinpoche
là Tarma Dode, con trai của Marpa, và Lạt ma Hoá Thân khác, Tsechog
Ling Rinpoche, là Milarepa. Vì thế, Serkong Dorje Chang nói: “Thực
ra, chúng ta giống những vị này.”
Ngài
Serkong Tsenshab Rinpoche thường nói: “Ồ, Serkong Dorje Chang –
những yogi ngày xưa đó đại loại là như thế.”
Ngài
không nhiều lời, không kể lại bất kỳ câu chuyện nào,
mà hầu như chỉ mô tả như thế. Có một lần Serkong Dorje
Chang đang du hành tới Bodh Gaya – có lẽ đi hành hương hay
đi nhận Giáo pháp của Đức Đạt Lai Lạt ma – và những
chiếc y tu sĩ của ngài, những chiếc y vàng cần phải có,
đã bị bỏ quên trên một chiếc tắc xi tại Patna. Sau đó,
khi vị thị giả nói với Rinpoche rằng chúng đã thất lạc,
đã bị lấy mất, thì ngài nói: “Ồ, thật là tốt,” có
nghĩa là ngài sung sướng vì những kẻ cắp có thể nhận
được một vài ích lợi từ những chiếc y đó, và chúng
bị đánh cắp thì cũng đáng.
Mặc
dù tôi chưa bao giờ nhận được từ Serkong Dorje Chang những
sự nhập môn hay truyền khẩu các bản văn từ đầu tới
cuối, nhưng tôi coi ngài như một trong những guru của tôi.
Về cơ bản thì ngài là như thế. Khi Lạt ma Yeshe và tôi tới
Nepal, chúng tôi ở bên ngoài Kathmandu tại tu viện của phái
Gelug ở Boudhanath, gần đại tháp quý báu. Nó là tu viện Gelug
duy nhất tại Boudha, và vào lúc đó có lẽ là tu viện Tây
Tạng duy nhất có các tu sĩ. Chúng tôi ở trên lầu tu viện
khoảng một năm. Mỗi năm vào tháng tư Tây Tạng, tại Saka
Dawa, các tu sĩ thực hành nyung-na (2). Vào năm chúng tôi ở
đó thực hành này được bảo trợ bởi một tín chủ có
mối liên hệ với một Lạt Ma khác ở Swayambhunath là Drubtob
Rinpoche, chứ không phải Serkong Dorje Chang. Phù hợp với lòng
sùng mộ của mình, vị tín chủ muốn Drubtob Rinpoche ban lễ
truyền tám giới luật Đại thừa. Nhưng các tu sĩ Gelug không
quan tâm nhiều tới vị này. Họ muốn Serkong Dorje Chang bởi
Drubtob Rinpoche đã thực hành Bổn Tôn Hayagriva Bí Mật Nhất
mà Học viện Sera-je của chúng tôi thực hành và các tu sĩ
thì không – họ nghĩ rằng đó là một Bổn Tôn Nyingma hay
một vị nào như thế. Hầu như bởi lý do này mà có một
vài sự bất đồng.
Các
tu sĩ thắng thế và Serkong Dorje Chang được mời tới để
ban lễ truyền tám giới luật Đại thừa vào sáng sớm. Rinpoche
tới đó mang theo bản văn giới luật. Ngài mở sách ra và
nói: “Nếu guru của các bạn bảo các bạn liếm phân còn
nóng hổi, hãy cúi xuống đất lập tức và liếm nó!” Rồi
với cái lưỡi thè ra và tạo nên âm thanh nhóp nhép, ngài
bắt chước một con chó liếm phân. “Đó là cách thực hành
Pháp,” ngài nói. Rồi ngài bước ra. Đó là động lực của
ngài để nhận những giới luật. Nhưng ngài không thực sự
ban chúng – ngài chỉ ban lời khuyên đó rồi ra đi. Nó giống
như một trận nổ nguyên tử – một giáo lý hết sức mãnh
liệt.
Nó
thực sự làm rung động tâm thức. Ngay trên căn bản của
giáo huấn đó mà tôi coi ngài như một guru. Đó là tất cả
những gì ngài giảng vào buổi sáng hôm đó. Nhưng ngài là
người thấu hiểu mọi sự; một yogi vĩ đại, như Serkong
Tsenshab Rinpoche đã nói.
Serkong
Dorje Chang thường đi nhiễu quanh đại tháp tôn quý tại Swayambhunath,
thánh tích chính yếu, nguyên thủy ở Kathmandu.
Đối
với những người không biết ngài là ai hay không hiểu những
phẩm tính mà ngài hiện thân, ngài xuất hiện như một tu
sĩ rất đơn giản. Họ cho rằng ngài không biết gì hết –
một tu sĩ đơn sơ, xâu chuỗi trong tay, đi nhiễu quanh tháp.
Đó là cách ngài xuất hiện đối với những người bình
thường. Ngài có thể xuất hiện giống như ngài không biết
gì hết, nhưng thực ra ngài hiểu mọi sự.
Đôi
khi ngài đi nhiễu cùng với mọi người và nếu đúng thời,
nếu đó là ngày may mắn của họ thì ngài thình lình biến
thành một người lạ và nói: “Anh không còn sống lâu nữa
đâu,” hay “Anh sắp chết trong vòng một tháng”; “Cách
tốt nhất là lễ lạy Ba Mươi Lăm Vị Phật.” Đại loại
như thế. Rinpoche sẽ tiên tri và khuyên người ta phải làm
những gì. Nhưng nếu không đúng lúc, nếu không phải là ngày
may mắn của bạn thì cho dù bạn có hỏi thẳng ngài điều
gì đó, ngài sẽ nói: “Ồ, tôi không biết gì hết. Tôi hoàn
toàn ngu dốt.”
Lần
đầu tiên tôi nghe nói tới Serkong Dorje Chang là khi tôi ở
Buxa – những câu chuyện về việc ngài thình lình biến mất
và lại xuất hiện ở nơi khác và những thị giả của ngài
phải đi tìm ngài; nhiều câu chuyện như thế. Vì thế, ngay
khi tới Nepal chúng tôi rất nóng lòng đi tới Swayambhunath để
gặp ngài. Ngài đang ở nhà của một tín chủ bởi ngài không
có tu viện riêng vào lúc đó và bởi một vài vấn đề chính
trị ngài đã bị đuổi khỏi tu viện đang ở. Đó là nhà
của một người Nepal và ngài đang ở trên lầu. Khi chúng
tôi tới, vị tu sĩ rất đơn sơ này bước xuống những bậc
thang và chúng tôi hỏi ông: “Serkong Dorje Chang ở đâu?”
Ông bảo chúng tôi chờ và trở vào nhà bằng cửa khác, không
phải cửa mà ông vừa đi ra. Sau đó chúng tôi lên lầu tới
phòng của Rinpoche, và vị tu sĩ đơn giản mà chúng tôi đã
nhìn thấy xuống thang ban nãy đang ngồi trên giường. Đó
là Serkong Dorje Chang.
Đệ
tử Tây phương đầu tiên của chúng tôi, người đã được
thọ giới làm ni cô, Công chúa Zina Rachevsky – xuất thân từ
giai cấp quý tộc Nga – cùng sống với chúng tôi vào lúc
đó. Serkong Dorje Chang có một chồng lớn các bản văn bên
cạnh giường, vì thế cô buột miệng: “Xin đọc cho chúng
con điều nào đó trong này.” Thông thường thì bạn không
yêu cầu như thế! Thật ra, thường thì khi chúng tôi đưa
cô tới gặp những Lạt ma cao cấp, chúng tôi giúp cô chuẩn
bị những vấn đề về Pháp mà cô sẽ hỏi. Dù thế nào
đi nữa thì đó là điều cô ta đã nói và Serkong Dorje Chang
trả lời: “Không, không, không, tôi không biết gì hết, tôi
không biết gì hết.” Nhưng sau đó Rinpoche ban một vài giáo
lý sâu xa không thể tin nổi. Tôi không thể nhớ chúng là
gì! Tôi không thể nhớ được! Nhưng chúng sâu xa thật khó
tin; thực sự sâu xa.
Tất
cả những gì tôi có thể nhớ là tinh túy của nó: “Nếu
guru của bạn ngồi đó trên sàn nhà, bạn phải nghĩ rằng
đó là Đức Phật Guru Thích Ca Mâu Ni đang an tọa ở đó.”
Tôi không thể nhớ chính xác những ngôn từ, chúng nhiều
hơn thế, nhưng đó là tinh túy của lời khuyên của Rinpoche
dành cho cô.
Một
trong những người hộ trì cho Rinpoche là một người Tây Tạng
xứ Amdo. Ông là tín chủ lớn nhất của tu viện. Mỗi năm
ông mời Rinpoche và các tu sĩ của ngài tới nhà ông để tụng
100.000 ngàn lần những Lời Tán thán Hai mươi mốt Tara và
dù thế nào chăng nữa thì họ cũng ở đó nhiều tuần để
thực hiện công việc đó. Serkong Dorje Chang ở đó trong suốt
thời gian này.
Vị
thí chủ quan trọng này đã xây tất cả những gian phòng của
các tu sĩ tại tu viện; một điều thật ý nghĩa. Một hôm
ông tới tu viện thăm Rinpoche và Rinpoche nói: “Và ông là
ai?” khi giả vờ không biết ông ta. Khi ấy thị giả của
Rinpoche giải thích ông ta là ai, nhưng Rinpoche vẫn không lộ
bất kỳ dấu hiệu nào là nhận ra được ông ta. Người đàn
ông này là một đại thương gia và thường buôn bán các tượng
Phật để nuôi gia đình.
Hẳn
là ông ta đã làm điều gì đó thực sự tiêu cực ngay trước
khi tới thăm Rinpoche, vì thế có lẽ là một biểu hiện của
sự che chướng đó, Rinpoche đã lộ ra vẻ không biết ông
là ai. Không có cách nào khiến ngài có thể quên ông ta.
Tu
viện thường có một cái bình rất lớn để pha chế trà
và thực phẩm cho tất cả các tu sĩ. Một hôm nó bị đánh
cắp, nhưng khi các tu sĩ nói với Rinpoche về điều đó thì
ngài nói: “Hãy mời những kẻ cắp tới đây và tặng cho
họ một khatag (khăn choàng) để cảm ơn việc họ đã lấy
cái bình đó.” Nhưng tôi không chắc là tu viện có hoàn thành
điều đó hay không!
Có
lần Bồ Tát Togme Zangpo, tác giả của Ba Mươi Bảy Thực Hành
của các Bồ Tát được mời tới một tu viện để ban những
giáo lý và dự một lễ puja, và nhận nhiều vật cúng dường.
Không lâu sau khi rời tu viện ngài và đoàn người của ngài
bị những tên cướp chặn đường, chúng trói họ lại và
lấy đi tất cả những vật cúng dường. Tôi không rõ chúng
có đánh họ hay không, nhưng chắc chắn là chúng cướp đi
mọi thứ. Trước khi bọn cướp bỏ đi, Bồ Tát Togme Zangpo
yêu cầu chúng đợi một lát để ngài có thể hồi hướng
cho chúng mọi thứ chúng đã lấy. Dĩ nhiên là chúng đã lấy
mọi vật chất, nhưng ngài nhất định yêu cầu được cầu
nguyện cho sự an lành của chúng. Sau đó ngài khuyên chúng
tránh tới gần tu viện khi chúng ra đi, nếu không các tu sĩ
nhận ra là chúng đã cướp những vật cúng dường và sẽ
đánh đập chúng!
NĂNG
LỰC CHỮA LÀNH CỦA LÒNG BI MẪN
Sự
kết luận của tất cả những điều này thì như tôi đã
đề cập ở trên. Lòng bi mẫn đối với chúng sinh là phương
pháp tối hảo, cách đối trị tuyệt vời nhất để tẩy
trừ những chướng ngại của cuộc đời; lễ puja tuyệt hảo
để tiệt trừ những chướng ngại cho sự thành công của
cả việc thực hành Pháp, sự chứng ngộ lẫn những công
việc thế gian, chẳng hạn như những công việc kinh doanh của
bạn.
Có
lần ở Tây Tạng có một gia đình rất giàu có, cô con gái
của họ bị những tinh linh ám nhập. Cô ta hoàn toàn trở
nên điên loạn. Gia đình cô đã thỉnh mời nhiều Lạt Ma
địa phương là những vị thường cử hành những lễ puja
và cầu nguyện cho dân chúng trong vùng đó, nhưng không giúp
được gì. Một hôm có một nhà sư bình thường đi khất
thực ngang qua đó, vì thế gia đình cô mời nhà sư lên lầu
để xem ông có thể giúp được gì cho cô con gái của họ
không. Có lẽ nhà sư là một geshe, tôi không biết rõ nhưng
dù sao thì ông đã cố gắng cử hành nghi lễ Mật thừa geg-tor
– ban torma (3) cho nhưng người ám nhập, giống như khi chúng
ta dâng cúng ba torma vào lúc bắt đầu các lễ nhập môn. Nhưng
trong khi ông tụng thần chú NAMO SARVA TATHAGATA BEU MEGA… SOHA,
nâng torma cúng cho những tinh linh ám nhập thì cô gái bắt
chước những hành động của ông và cũng lập lại thần
chú đó. Vì thế nhà sư biết rằng việc này không ích lợi.
Ông ngưng cử hành nghi lễ và thay vào đó trùm lên đầu chiếc
zen (khăn của tu sĩ) và thiền định về lòng bi mẫn đối
với nỗi khổ của tinh linh và của cô gái. Khi đó tinh linh
nói với nhà sư qua thân cô gái: “Xin để cho tôi đi. Tôi
sẽ ra khỏi cô ta,” và cô gái hết bị ám. Cô gái hoàn toàn
điên dại bởi sự ám nhập của tinh linh cuối cùng đã được
cứu thoát nhờ lòng bi mẫn. Đó là điều duy nhất có thể
chữa lành cho cô gái. Đây chỉ là một ví dụ của việc
làm thế nào lòng bi mẫn trở thành một trong những phương
pháp tối hảo, mạnh mẽ nhất trong việc giải trừ những
chướng ngại.
Phương
thuốc bi mẫn cũng là liều thuốc tốt nhất để chữa lành
bệnh, cách đối trị tốt nhất đối với các bệnh tật.
Có nhiều câu chuyện về những người đã khỏi bệnh bằng
thực hành bi mẫn của pháp tonglen, là phương pháp chữa bệnh
cho bản thân mình bằng cách nhận lấy nỗi khổ của người
khác. Có một đệ tử ở Singapore bị bệnh AIDS. Vị guru đầu
tiên của anh là Rato Rinpoche, một Lạt Ma rất cao cấp sống
ở Dharamsala mà bản thân ngài đã mắc một dạng bệnh Parkinson.
Qua người phụ nữ làm công tác phiên dịch tại Thư viện
Tây Tạng cho Geshe Sonam Rinchen [Ruth Sonam], Rinpoche đọc thực
hành tonglen cho người đệ tử này – nhận vào mình nỗi
khổ của chúng sinh và hiến tặng họ hạnh phúc, công đức,
thân thể và v.v.. của riêng mình – và bảo người phiên
dịch gởi bài này cho anh ở Singapore.
Anh
ta đã thực hành trong bốn ngày và khi tới bệnh viện để
kiểm tra, các bác sĩ đã không tìm thấy dấu vết của bệnh
AIDS. Khi nghe nói về điều này tôi nghĩ rằng chắc hẳn anh
đã phải thiền định nhiều giờ trong bốn ngày đó, vì thế
tôi đã hỏi anh đã thực hành bao nhiêu lâu. Anh nói: “Năm
phút mỗi ngày.”
Năm
phút một ngày! Có thể xảy ra một chuyện như thế? Trong
khi anh ta thiền định, anh cảm thấy một lòng bi mẫn không
thể chịu đựng nổi đối với tất cả những người đang
đau khổ vì bệnh tật, đặc biệt là bệnh AIDS, và cảm thấy
không còn quan tâm gì tới những vấn đề của riêng mình
nữa. Anh ta cảm thấy một lòng bi mẫn không thể tin nổi,
anh không thể chịu đựng nổi nỗi khổ của bệnh AIDS mà
những người khác đang phải trải nghiệm. Trong năm phút đó
những giọt nước mắt bi mẫn lăn trên má anh. Vì thế mặc
dù mỗi ngày anh chỉ thực hành năm phút, nhưng anh đã thực
hành rất, rất mãnh liệt. Lòng bi mẫn mà anh phát triển thì
hết sức mạnh mẽ, và lòng bi mẫn mạnh mẽ đó chỉ trong
bốn ngày, mỗi ngày năm phút, thực hành Bồ Đề tâm đặc
biệt nhận vào mình nỗi khổ của chúng sinh và hiến tặng
họ hạnh phúc và công đức của riêng mình và v.v.. đã đủ
để chiến thắng bệnh AIDS của anh.
Lòng
bi mẫn chữa lành bệnh tật ra sao? Nó hoạt động thế nào?
Những bệnh tật xuất phát từ nghiệp tiêu cực – những
hành vi bất thiện, những hành động được thực hiện với
sự tham luyến, với một tâm thức bất tịnh – và lòng bi
mẫn, Bồ Đề tâm, tâm vị tha thương yêu người khác và
tìm kiếm sự Giác ngộ, là phương tiện tịnh hóa hữu hiệu
nhất đối với nghiệp tiêu cực, chẳng hạn như những nghiệp
gây nên các bệnh tật.
Như
Shantideva đã nói trong chương giảng về những lợi ích của
Bồ Đề tâm trong quyển Bodhicharyavatara (Hướng dẫn vào Bồ
Tát Hạnh) – và tôi sẽ dịch nó hơi thoáng một chút để
ý nghĩa của bài kệ trở nên rõ ràng – “Nhờ nương tựa
vào một vị anh hùng bạn tự giải thoát mình khỏi mối nguy
hiểm lớn lao.” [Chương 1, câu kệ 13.] Nó có nghĩa là, chẳng
hạn như nếu bạn sắp bị hành hình hay có một sự nguy hiểm
nào đó cho cuộc đời bạn, thì đôi khi cách duy nhất mà
bạn có thể tự giải thoát mình là nương tựa vào một người
hết sức mạnh mẽ. Mối hiểm nguy mà chúng ta đối mặt là
nghiệp tiêu cực mạnh mẽ, hầu như vô tận, nặng nề như
một trái núi, mà chúng ta từng tạo ra trong đời này và đã
tích tập suốt hàng trăm ngàn - thực ra là từ vô thủy -
những đời trước. Vị anh hùng có thể cứu thoát ta là Bồ
Đề tâm mà sự thực hành nó có thể tịnh hóa những ngọn
núi nghiệp nặng nề, mạnh mẽ này chỉ trong chốc lát.
Nhờ
nương tựa tâm anh hùng của Bồ Đề tâm, thái độ từ bỏ
cái tôi và yêu mến người khác, chúng ta có thể tịnh hóa
nghiệp tiêu cực nặng nề này trong thời gian của một cái
búng ngón tay.
Shatideva
nói tiếp: “Vì thế, tại sao những người tận tâm không
nương tựa vào điều này?” Nói cách khác, ngài nói rằng
nếu bạn là một người cẩn trọng, vì sao bạn không thực
hành Bồ Đề tâm? Bồ Đề tâm có năng lực tịnh hóa phi
thường như thế; nếu bạn là người thông tuệ, cẩn trọng,
tận tâm, tỉnh giác thì tại sao bạn không thực hành Bồ
Đề tâm? Lòng bi mẫn là tâm tích cực, mãnh liệt tới nỗi
khi người đàn ông ở Singapore phát khởi nó thật mạnh mẽ,
anh ta đã tịnh hóa nhiều nghiệp tiêu cực tới nỗi anh đã
tịnh hóa được nghiệp đã khiến cho anh mắc bệnh AIDS. Nhờ
lòng bi mẫn tịnh hóa nghiệp tiêu cực nên sau bốn ngày anh
đã thoát khỏi bệnh AIDS. Đó chỉ là một ví dụ.
Vì
thế, lòng bi mẫn không chỉ là puja tuyệt hảo, giống như
câu chuyện của cô gái bị tinh linh ám nhập, không chỉ là
phương pháp tốt nhất để giải trừ những chướng ngại
của cuộc đời, mà nó còn là phương thuốc tuyệt vời, siêu
việt để chữa lành bệnh tật. Với tâm của riêng bạn,
đâu là cách tốt nhất để chiến thắng bệnh ung thư hay
mọi bệnh tật nhờ việc thiền định? Đó là nhờ phát triển
lòng bi mẫn, nhờ phát sinh lòng bi mẫn vì nỗi đau khổ của
những người khác.
Bất
kỳ khi nào bạn kinh nghiệm sự đau đớn trong mắt bạn hay
một nơi nào khác trong thân thể, ngay khi nó bắt đầu, phương
thức chữa trị tức thời là sự thực hành thiền định
Bồ Đề tâm đặc biệt, nhận vào bản thân bạn nỗi khổ
của chúng sinh và hiến tặng họ mọi hạnh phúc, công đức,
thân thể và của cải của bạn. Với lòng bi mẫn hãy nhận
vào bạn nỗi khổ của họ và với lòng từ ái hãy hiến
tặng những người khác hạnh phúc, công đức, thân thể,
của cải và v.v.. Ngay khi nỗi khổ bắt đầu, dù đau đớn
tới đâu, cách chữa trị tức thời, cách đối trị lập
tức, phương pháp tuyệt hảo, mạnh mẽ nhất để xử sự
với nó là tonglen, sự nhận và cho, thực hành đặc biệt
của Bồ Đề tâm. Mặc dù thường thì tôi rất lười thực
hành Pháp, nhưng nhờ thiện tâm của nỗi đau đớn tôi đã
nhớ tới việc thực hành.
Thiền
định này hữu hiệu tới nỗi ngay cả trước khi bạn bắt
đầu thực hành thực sự, giây phút bạn bắt đầu chuẩn
bị tâm bạn để nhận nỗi khổ của người khác thì sự
đau đớn đã ngừng lại. Điều này cho thấy rằng ngay cả
niệm tưởng yếu ớt nhất của việc hoán đổi bản thân
bạn với người khác, chỉ nghĩ tới việc nhận nỗi khổ
của người khác, chỉ chuẩn bị tâm bạn để làm điều
đó thì cũng đã đủ làm ngừng lại nỗi đau đớn. Vì thế,
nếu một hôm bạn đi bác sĩ và thình lình ông ta nói: “Ồ,
bạn bị ung thư,” hay đại loại như thế, hoặc bạn bắt
đầu bị một sự đau đớn, thì điều tôi khuyên bạn làm
là hãy lập tức bắt đầu thiền định về Bồ Đề tâm.
Đó là phương thuốc tức thì mà bạn nên dùng.
Một
lần kia, đại yogi Ngagpa Chopawa đang ở trên đường đi Odi
để thực hành những giai đoạn cuối cùng của tantra. Trên
con đường cạnh con sông ngài nhìn thấy một người đàn
bà cùi bẩn thỉu trông thật gớm ghiếc, toàn thân đầy những
vết thương tươm mủ. Bà ta yêu cầu ngài đưa bà sang bờ
sông bên kia, nhưng ngài phớt lờ và tiếp tục đi. Một lát
sau, đệ tử của ngài là nhà sư Getsun Tsimbulwa đi tới và
người đàn bà yêu cầu ông đưa bà qua sông. Ngay khi ông nhìn
thấy người đàn bà cùi, ông cảm thấy một lòng bi mẫn
không thể chịu đựng nổi và không chút do dự ông để bà
ta trên lưng rồi bắt đầu qua sông. Ngay giữa dòng, hình tướng
của người đàn bà bệnh tật hoàn toàn biến thành bậc giác
ngộ, nữ Bổn Tôn Dorje Pagmo, Vajrayogini, ngài đưa nhà sư tới
cõi tịnh độ của ngài, ở đó nhà sư chắc chắn được
giác ngộ.
Điều
gì đã xảy ra khi lúc đầu bà ta xuất hiện là một người
đàn bà tầm thường, đầy bệnh tật, không thể chạm tới
và sau đó xuất hiện trong dáng vẻ thanh tịnh của Bổn Tôn?
Lúc đầu, tâm nhà sư bị nghiệp tiêu cực ngăn che, bởi tâm
bất tịnh đó ông thấy bà ta chỉ là một người đàn bà
bình thường đang đau khổ và không phải là một bậc giác
ngộ. Nhưng bởi ông cảm thấy một lòng bi mẫn không thể
chịu đựng nổi nỗi đau khổ của bà và hoàn toàn từ bỏ
bản thân để phụng sự bà ta nên toàn bộ nghiệp tiêu cực
nặng nề của ông được tịnh hóa ngay khi ở giữa dòng sông.
Khi ấy cái nhìn của ông về người đàn bà hoàn toàn thay
đổi và ông thấy bà là một bậc giác ngộ. Cái thấy của
ông trở nên hoàn toàn thuần tịnh, và bà đưa ông tới cõi
tịnh độ, ở đó bản thân ông đạt được giác ngộ. Như
thế, bạn có thể thấy lòng bi mẫn để tịnh hóa nghiệp
tiêu cực, tịnh hóa tâm thức thì mãnh liệt ra sao.
Tôi
nghĩ rằng tôi sẽ ngừng lại ở đây. Bây giờ thì không
có lý do gì để tiếp tục nữa. Có lẽ chúng ta có thể tiếp
tục vào ngày mai, nếu có ngày mai. Dù thế nào đi nữa, tôi
sẽ tiếp tục chủ đề trên vào ngày mai, nhưng bây giờ,
để kết luận, tôi muốn nói về mục đích của việc nhập
thất này.
TẠI
SAO CHÚNG TA THỰC HIỆN CUỘC NHẬP THẤT NÀY?
Chúng
ta đang nhập thất để phát triển lòng bi mẫn. Mục đích
của việc thực hiện khóa nhập thất này là làm cho cuộc
đời chúng ta thêm ích lợi, thêm hữu ích cho người khác.
Bằng cách nào? Bằng cách phát triển trái tim tốt lành. Lý
do chính của việc thực hiện khoá nhập thất Vajrasattva là
để phát triển lòng bi mẫn, để chứng ngộ Bồ Đề tâm,
cội gốc của con đường dẫn tới Giác ngộ, cánh cửa của
con đường Đại thừa dẫn tới Giác ngộ.
Cho
dù chúng ta đang tụng một chuỗi OM MANI PADME HUM, thì điều
đó là vì Bồ Đề tâm, để chứng ngộ Bồ Đề tâm, để
phát triển lòng bi mẫn. Đó là lý do khiến chúng ta trì tụng.
Bất kỳ loại thực hành nào khác mà ta làm – lễ lạy, cúng
dường Phật, Pháp và Tăng hay cúng dường các pho tượng,
stupa (tháp) và Kinh điển hay tạo lập những công trình linh
thánh – chúng ta đang làm điều ấy để phát triển lòng
bi mẫn, để chứng ngộ Bồ Đề tâm, để có thể làm lợi
lạc chúng sinh.
Mọi
thực hành chúng ta làm – quy y, tụng bài nguyện quy y – trọng
tâm của mọi thực hành của chúng ta đều nhằm tới điều
đó. Cho dù chúng ta thực hành tối thiểu là tụng một chuỗi
OM MANI PADME HUM hay nhập thất ba năm hoặc nghiên cứu triết
học Phật Pháp trong nhiều năm, tất cả là để phát triển
lòng bi mẫn, để đạt được sự chứng nộ, đặc biệt
là chứng ngộ Bồ Đề tâm. Vì thế, mỗi điều duy nhất
chúng ta làm là để chúng ta ngừng làm hại người khác và
làm lợi lạc cho họ. Mục đích chính của sự thực hành
của chúng ta là như thế. Nếu ta không ngừng làm hại người
khác thì ta không thể làm lợi lạc cho họ.
Nếu
bạn thực hiện rất nhiều cuộc nhập thất, rất nhiều sadhana,
tụng nhiều thần chú, nhưng nếu trong đời sống hàng ngày
có người phê bình hay làm phiền bạn theo cách nào đó và
bạn lập tức trả đũa, cố làm hại lại họ, thì điều
đó cho thấy sự thực hành chân thực không xảy ra. Có thể
có rất nhiều sự trì tụng, rất nhiều lời cầu nguyện,
nhưng khi có việc phải xử sự với những người khác, thì
thực hành đích thực, thực hành thực sự – mà mục đích
của nó là sự phát triển tánh nhẫn nhục, lòng khoan dung,
bi mẫn và từ ái – đã bị quên lãng. Điều đó có nghĩa
là bạn không hoàn thành mục đích của mọi lời cầu nguyện
và sadhana, hay thậm chí mục đích của một chuỗi OM MANI PADME
HUM mà bạn đã làm. Toàn bộ mục đích của những thực hành
đó là để giúp bạn trong đời sống hàng ngày khi bạn sống
với người khác – không làm hại mà làm lợi ích cho họ.
Bằng cách nào? Bằng cách phát triển trong tâm bạn lòng từ
ái, bi mẫn và Bồ Đề tâm; để phát triển tánh nhẫn nại,
lòng khoan dung và v.v..
Do
đó, đặc biệt là khi bạn đang lái xe hơi và có người chặn
bạn lại, quẹo cua trước mặt bạn hay không tuân theo luật
lệ, khi có người lái xe khác bóp còi hay giận dữ với bạn,
thì thật tốt khi nghĩ: “Nếu tôi nổi giận hay khó chịu,
thì đâu là hiệu quả của tất cả thực hành mà tôi từng
thực hiện? Nếu tôi không thể thực hành sự nhẫn nhục,
thì tại sao tôi trì tụng tất cả những thần chú này? Mục
đích của việc tôi gặp Phật Pháp là gì? Tất cả những
cuộc nhập thất và trì tụng của tôi để làm gì?” Rất
ích lợi khi nghĩ tưởng như thế. Nếu bạn không chuyển hóa
được tâm bạn, thực hành của bạn không có ý nghĩa gì
hết. Nếu bạn suy nghĩ sâu xa về nó, thì đây là cách bạn
sẽ cảm nhận.
Nếu
bạn nghĩ: “Nếu tôi không thực hành sự nhẫn nhục thì
tại sao tôi đang thực hành tất cả những điều này? Nhằm
mục đích gì? Tôi từng thực hành cái gì trong những năm
qua? Mục đích của việc trì tụng ngay cả một chuỗi OM MANI
PADME HUM là gì?” thì nó sẽ giúp bạn làm an định tâm bạn,
đặc biệt là trong những trường hợp như thế. Như vậy,
khi bạn có thể nhớ lại rằng tất cả những thực hành
của bạn chủ yếu là để bảo vệ tâm bạn trong đời sống
hàng ngày, để điều phục tâm bạn khiến bạn không làm
hại mà chỉ làm lợi ích người khác – khi bạn có thể
quán chiếu theo cách này và thực hành lòng khoan dung trong một
tình huống mà thường thì bạn nổi giận - khi thay vì giận
dữ thì bạn có thể khơi dậy lòng bi mẫn mãnh liệt đối
với những người khác, thì đó quả là một ngày trọng đại.
Ngày
mà bạn có thể cảm nhận lòng bi mẫn thay vì giận dữ thực
sự là sinh nhật của bạn – sinh nhật vĩ đại của bạn
đối với sự giải thoát, Giác ngộ, đối với việc làm
lợi lạc và không làm hại chúng sinh khác; một ngày đáng
được kỷ niệm thật long trọng.
Chừng
nào mà sự Giác ngộ của bạn còn được quan tâm thì những
giây phút như thế là những cơ hội rất quan trọng; những
cơ hội vô cùng quý giá để đối diện với sự thách thức
của việc thực hành Pháp. Những cơ hội rất quý báu.
Tương
tự như thế, nếu có người sỉ nhục bạn hay làm điều
gì mà bình thường thì bạn thấy khó xử, không thể chịu
đựng nổi, làm cho bạn nổi giận và khó chịu, và bạn có
thể khắc phục sự mê lầm sân hận của bạn, bạn đã chiến
thắng, bạn đã đánh bại kẻ thù. Đứng ở quan điểm của
những người bình thường trong đời sống thế tục thì bạn
nên giận dữ, bạn có quyền được giận dữ. Giận dữ được
coi là tích cực. Cùng cách thế đó, những người ấy nhìn
sự ích kỷ như cách thế đúng đắn để sống, là điều
bạn phải làm.
Tuy
nhiên, sự ích kỷ duy nhất mà bạn nên tự cho phép mình là
sự ích kỷ của việc quan tâm tới người khác, sự ích kỷ
của việc làm lợi ích cho người khác.
Đó
là cách thế đúng đắn để theo; đó là sự ích kỷ tốt
lành. Sự ích kỷ cho bản thân bạn mở ra cánh cửa dẫn tới
mọi vấn đề; sự ích kỷ cho người khác, sự quan tâm tới
người khác, mở ra cánh cửa dẫn tới mọi hạnh phúc.
Cũng
thế, nếu bạn có lòng bi mẫn, một trái tim tốt lành, thì
cho dù bạn không có của cải ở bên ngoài, cuộc đời bạn
vẫn giàu có; bạn thực sự là một người giàu có. Cho dù
bạn có bao nhiêu của cải bên ngoài chăng nữa, nhưng nếu
trái tim bạn không chút thiện tâm, nếu bạn không có một
trái tim nồng ấm, nếu không có lòng bi mẫn đối với người
khác, thì bạn thật nghèo nàn; sự nghèo nàn nội tâm khiến
bạn trở thành một hành khất đích thực.
Vì
thế, dù bạn là tu sĩ hay cư sĩ, đã thực hiện nhiều cuộc
nhập thất hay không, tìm được nhiều thì giờ để nghiên
cứu Pháp hay không, thì cách thức tối quan trọng để sống
cuộc đời bạn là sống với lòng bi mẫn. Sống với lòng
bi mẫn là cốt tủy đích thực của cuộc đời, cuộc đời
tuyệt hảo để sống, điều quan trọng nhất bạn có thể
làm. Cho dù bạn có thể nghiên cứu Pháp suốt cuộc đời
bạn – mọi Kinh điển, tantra, mọi sự – nếu trái tim bạn
rỗng tuếch giống như một thùng hàng trống không, không có
những phẩm tính tốt lành, thì toàn bộ cuộc đời bạn trống
rỗng. Mặc dù bạn có thể có một sự hiểu biết bao la về
Phật Pháp và có thể thuyết giảng hay trì tụng toàn bộ
Kinh điển và tantra của Đức Phật, nhưng nếu trái tim bạn
không có lòng bi mẫn thì cuộc đời bạn không có ý nghĩa
gì hết.
Cho
dù bạn nhập thất khóa này qua khóa khác, sống trong hang động
không bước ra ngoài hay không gặp người khác trong năm mươi,
sáu mươi, bảy mươi năm, cho dù bạn trải cả đời
trong ẩn thất, nhưng nếu trái tim bạn không có sự hài lòng
xuất phát từ việc cắt đứt niệm tưởng về tám pháp thế
gian, không có lòng bi mẫn đối với người khác, thì cuộc
đời bạn thật vô nghĩa. Cho dù bạn tự nhốt mình trong một
hang động không có cửa sổ hay cửa ra vào và tụng thần
chú trong năm mươi hay một trăm năm, nhưng nếu trái tim bạn
không có lòng bi mẫn đối với người khác thì cuộc đời
bạn không có ý nghĩa.
Chẳng
hạn như nếu bạn thực hành lễ lạy, thái độ của bạn
là lễ lạy vì người khác, nếu trong trái tim bạn cảm nhận
rằng bạn đang lễ lạy vì chúng sinh trong các địa ngục,
vì các ngạ quỷ, súc sinh, vì những người khác, vì chư thiên
và a tu la, nếu bạn cảm nhận trong trái tim bạn rằng bạn
đang lễ lạy cho những người khác, thì cho dù chỉ có ba
lễ lạy, bạn cũng cảm thấy sung sướng, hài lòng đến nỗi
hành động ấy thật đáng giá. Mặc dù bạn chỉ thực hiện
được ba lễ lạy nhưng ít ra chúng cũng được làm cho người
khác. Tâm bạn không có sự căng thẳng; bạn cảm thấy tự
do. Trong tim bạn, bạn vui hưởng những điều đó; thái độ
của bạn thanh thản, an bình và hạnh phúc. Nhưng nếu thái
độ của bạn là bạn đang thực hành những lễ lạy này
cho bạn – để bạn không bị tái sinh trong địa ngục, thì
thái độ đó thật không đáng hoan hỉ. Nếu bạn so sánh nó
với thái độ khác – ngay cả ba lễ lạy vì người khác
– thì bạn không thực sự hạnh phúc. Có một khác biệt
to lớn trong bản tánh của thái độ tinh thần của bạn; bạn
không hạnh phúc và thanh thản như khi bạn lễ lạy vì người
khác.
Cũng
có một khác biệt to lớn trong khía cạnh động cơ. Khi bạn
hồi hướng mỗi lễ lạy cho người khác, với mỗi lễ lạy
bạn tích tập công đức, thiện nghiệp, giống như bầu trời
bao la vô hạn. Khi thái độ trong trái tim bạn là: “Tôi đang
thực hành điều này để không bị sinh ra trong địa ngục,
để tôi không bị đau khổ trong những cõi thấp,” thì mục
đích của bạn hết sức giới hạn, tầm thường. Mục đích
của bạn – để bản thân bạn không bị sinh trong những
cõi thấp – thì quá nhỏ bé, quá giới hạn, và vì thế những
lợi lạc của những lễ lạy bạn làm cũng nhỏ bé, giới
hạn một cách tương ứng.
Vì
thế, có một khác biệt to lớn giữa hai thái độ đó. Cho
dù động lực của bạn vẫn là Pháp – bởi bạn đang làm
việc cho hạnh phúc của đời sau của bạn – sự khác biệt
thật khổng lồ. Nói cách khác, khi bạn tụng một thần chú
Vajrasattva hay một chuỗi OM MANI PADME HUM, bạn nên cảm nhận
trong trái tim bạn rằng tất cả chúng là để mang lại lợi
lạc cho chúng sinh. Mục đích đứng sau nó là như thế. Theo
cách đó, với Bồ Đề tâm trong trái tim bạn, bạn cảm nhận
rằng mỗi thần chú Vajrasattva là vì những người khác, thì
mỗi thần chú trở thành 100.000 thần chú Vajrasattva. Nếu mỗi
thần chú bạn tụng chỉ để cho bản thân bạn thành tựu
hạnh phúc vĩnh cửu của sự giải thoát khỏi sinh tử hay
để có những đời sau tốt đẹp hơn, hạnh phúc trong những
đời sau cho riêng mình bạn, thì điều đó không mang lại
cho bạn công đức bao la như bầu trời. Bạn thất bại về
điều đó. Bởi bạn không phát triển động lực Bồ Đề
tâm, bạn mất cơ hội trong việc mỗi thần chú gấp bội
lên 100.000 lần. Cho dù việc trì tụng của bạn trở thành
một Phật sự bởi động lực của bạn là đức hạnh –
nghĩ tưởng rằng bản thân bạn không đau khổ trong những
cõi thấp, làm việc vì hạnh phúc của bạn trong những đời
sau – cho dù bạn tụng bao nhiêu thần chú Vajrasattva hay OM
MANI PADME HUM, khi bạn so sánh những lợi lạc của chúng với
những gì bạn thâu hoạch được khi trì tụng các thần chú
với Bồ Đề tâm, thì những lợi lạc ấy hầu như vô nghĩa,
uổng phí.
Mục
đích của việc nhấn mạnh vào động lực Bồ Đề tâm vào
lúc bắt đầu mỗi thời khóa, thường xuyên lập lại nó,
là để nhắc nhở bạn phát triển Bồ Đề tâm khiến bạn
không làm uổng phí những thần chú Vajrasattva mà bạn trì
tụng.
Điều
đó cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ làm lợi lạc cho người
mới nhập thất nhờ chỉ rõ cho họ cách thực hành thiền
định, việc thường xuyên lập lại cũng giúp cho những người
đã có mặt ở đây từ lúc bắt đầu hiểu rõ tầm quan trọng
của động lực Bồ Đề tâm và để nhớ phát triển nó trong
mỗi thời khóa.
Dĩ
nhiên là vào lúc này tâm tôi đã hoàn toàn sa sút, nhưng trong
quá khứ, nếu tôi nhận ra là mình đã tụng một chuỗi thần
chú mà không có Bồ Đề tâm, thì tôi cảm thấy mình đã
lãng phí toàn bộ các chuỗi đã tụng và tôi sẽ lập lại
nó với động lực đúng đắn.
Khi
bạn có một thái độ bi mẫn thì ngay lập tức bạn có sự
an bình và hạnh phúc trong đời bạn. Bất luận bạn sống
với ai bạn cũng thấy hạnh phúc và thoải mái. Khi bạn có
lòng bi mẫn đối với người khác thì bạn hạnh phúc khi
sống với bất kỳ ai. Cho dù bạn sống đơn độc một mình
thì bạn cũng sung sướng. Nếu trong hiện tại bạn có hạnh
phúc và sự thoải mái thì tâm thái này của bạn có tương
lai tốt đẹp nhất. Không chỉ có thế, bạn cũng chết trong
cách thế tuyệt hảo. Nếu bạn chết với lòng bi mẫn thì
tâm bạn sẽ hạnh phúc và an bình và bạn sẽ không chết
với sự ân hận hay tội lỗi. Cách thức tuyệt hảo để
chết là chết với lòng bi mẫn đối với người khác. Cũng
thế, nếu bạn muốn tái sinh trong một cõi tịnh độ, chết
với lòng bi mẫn là cách thức tốt nhất để làm cho điều
đó xảy ra. Nếu bạn chết với lòng bi mẫn thì không chỉ
cái chết của bạn sẽ an bình và hạnh phúc, mà bạn cũng
sẽ nhận được những tái sinh tốt đẹp trong tất cả những
đời sau của bạn, giải thoát khỏi sinh tử và đạt được
sự Toàn Giác – tất cả những phẩm tính tốt lành bao la
của thân, ngữ, tâm linh thánh của Đức Phật sẽ là của
bạn, và bạn sẽ có thể làm giác ngộ vô lượng chúng sinh.
Với
lòng bi mẫn, cả hiện tại lẫn tương lai của bạn đều
được hạnh phúc./.
Lama
Zopa Rinpoche
Nguyên
tác: “Teachings from the Vajrasattva Retreat”
by
Lama Zopa Rinpoche
http://www.lamayeshe.com/lamazopa/tvr/tvr_36shtml
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Chú
thích:
(1)
Puja: Sự thiền định được hát lên trong dân chúng Tây Tạng.
Một sự cầu khẩn với những vật cúng dường theo nghi lễ.
(2)
Nyung-na: Một khóa nhập thất ăn chay hai ngày dựa vào Đức
Avalokiteshvara (Quán Thế Âm). Thực hành mãnh liệt này bao gồm
việc trì giữ tám giới luật Đại thừa, cũng như vào ngày
thứ hai bổ túc thêm những giới nguyện không ăn, không uống
hay không nói trong hai mươi bốn giờ. Những thời khóa thiền
định gồm có những sự tán thán, lễ lạy, và trì tụng
thần chú. Đây là một thực hành tâm linh mãnh liệt để
tịnh hóa và tích tập năng lực tích cực.
(3)
Torma: Bánh cúng dường theo nghi lễ được làm bằng bột mì
và bơ và được nhào thành bột dẻo.