A.
TẬP MỘT
HIỂN
MẬT VIÊN THÔNG
THÀNH
PHẬT TÂM YẾU
1.
Hiển giáo Tâm yếu
2.
Mật giáo Tâm yếu
3.
Hiển Mật Song Biên
4.
Vui mừng được gặp lời trước thuật
5.
Chuẩn Ðế Sám Pháp
6.
Vào đạo tràng trì Chú Chuẩn Ðề
7.
Cách dùng kính đàn và an chín chữ chú Chuẩn Ðề
8.
Nhập nhà mới và trị bệnh
9.
Chú Tỳ Lô Giá Na Phật
10.
Chú Quảng Bát
I.-
HIỂN GIÁO TÂM YẾU
Nguyên
một đời giáo hóa của đức Như Lai, văn ngôn rộng rãi,
giáo lý sâu xa, Hiển Mật đều thâu tận hết thảy.
HIỂN:
nghĩa là các thừa Kinh, Luật, Luận.
MẬT:
nghĩa là các bộ Ðà ra ni (Thần chú)
Kể
từ khi Ngài Ma Ðằng truyền đạo vào đời Hán, ba Tạng lần
lần lan khắp xứ Trung Hoa. Ngài Vô Úy truyền đạo vào đời
Ðường, ngũ mật ở Trung Hoa mới bắt đầu hưng thịnh, chín
phái đồng quy ngưỡng, bảy chúng đều tuân hành; lời nói
pháp không thị phi. Con người phân chia ra đường tu chứng,
trải qua nhiều năm bị phai mờ, sự hiểu lầm không phải
là ít. Hoặc có người học tập Hiển giáo, khinh chê Mật
bộ, hoặc có kẻ chuyên Mật ngôn, mờ mịt lý thú của Hiển
giáo, hoặc chăm học danh tướng, chưa biết được ngõ vào
đạo; hoặc học chữ, tiếng, ít biết quy tắc trì minh, khiến
cho quán hạnh thậm thâm, biến thành danh ngôn. Hiển Mật thần
tông trở thành âm vận.
Nay
tôi không so chút tài mọn, quyết nương vào hai tông: Hiển
Mật lược bày tâm yếu thành Phật. Ngõ hầu hy vọng tương
lai mọi người được viên thông, nên nương vào giáo lý lược
bày bốn môn:
1.
Hiển giáo Tâm yếu
2.
Mật giáo Tâm yếu
3.
Hiển Mật song biện
4.
May mắn gặp gỡ pháp môn vô giá này, hết lòng vui mừng.
(Trong
bốn đoạn dưới đây, vì tránh văn nghĩa phiền phức, hoặc
ám dụng Thánh giáo, hoặc dẫn nghĩa kinh văn, người xem nên
biết.)
Ðầu
tiên nói về Hiển giáo tâm yếu, Ngài Hiền Phủ, Ngài Thanh
Lương đều chia sự giáo hóa một đời của Ðức Phật ra
làm năm thời:
1)
Tiểu Thừa giáo: A Hàm v.v…gồm có 600 quyển Kinh, Bà Sa v.v…
hơn 600 quyển Luận.
Nói
tất cả pháp từ nhơn duyên sinh, chỉ rõ ba cõi không an cũng
như nhà lửa, thấu rõ chơn lý nhơn không, tu hành tự lợi,
sung sướng được chứng quả Tiểu Thừa.
2)
Ðại Thừa Thỉ giáo: có hai:
a)
Pháp Tướng Tôn: Gồm có Thâm Mật, Phật Ðịa Kinh v.v… có
đến hàng mười bộ kinh. Du Già, Duy Thức v.v… có đến hàng
trăm quyển Luận, nói tất cả pháp đều do Duy Thức, chỉ
rõ chơn lý Nhị Không, tu Lục độ Vạn hạnh, thẳng đến
Ðại Thừa Phật quả. Trong đó phần nhiều nói đến Pháp
Tướng mà thôi.
b)
Vô Tướng Tôn: gồm có Bát nhã v.v… hơn một ngàn quyển
kinh. Trung Luận. Bách Môn Luận v.v… các bổn luận văn đó
nói tất cả các pháp bản lai là không. Vô thỉ mê tình vọng
nhận là có. Muốn chứng đạo Bồ đề lấy đó làm sở đắc
để tu tập vạn hạnh. Trong đây phần nhiều nói nghĩa Không,
Vô Tướng. Hai tông này đều là sơ môn của Ðại Thừa cho
nên gọi là Thỉ, nghĩa là ban đầu vậy.
3)
Nhứt thừa Chung giáo: Pháp Hoa, Niết Bàn v.v… hơn bốn mươi
bộ Kinh. Bảo Tánh, Phật Tánh v.v… hơn mười bộ Luận nói
tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Từ xưa đến nay sáng
suốt không mờ, tỏ rõ thường biết, nhưng vì vô thỉ mê
vọng, điên đảo không tự giác ngộ. Muốn chứng Phật quả,
trước hết phải tỏ ngộ Phật tánh của chính mình đã có,
sau mới đem tánh ấy tu tập: Bổn Hữu Vô Lượng Diệu Hạnh.
Ở đây hành toàn nói về Pháp tánh, là tận lý của giáo
pháp Ðại Thừa cho nên gọi là Chung. Chung nghĩa là hết vậy.
4)
Nhứt thừa Ðốn giáo: Gồm có Lăng Già, Tư Ích, Kinh văn.
Ngài Ðạt Ma đã truyền thiền tông, nói tất cả vọng tưởng
bổn không, chơn tâm bổn tịnh, nguyên không có phiền não
vốn là bồ đề, chỉ nói Chơn tánh không nương cấp bực
mà thành Phật, cho nên gọi là Ðốn.
5)
Bất Tư Nghì thừa Viên giáo: Gồm có Hoa Nghiêm nhứt Kinh,
Thập Ðịa nhứt Luận, hoàn toàn nói: Tỳ Lô Pháp Giới, Phổ
Hiền Hạnh Hải. Trong đó đều có hoặc Sự, hoặc Lý, hoặc
Nhơn, hoặc Quả. Một mà đầy đủ tất cả trùng trùng vô
tận. Tổng hàm các pháp, không một pháp nào mà không thu nhiếp.
Xứng tánh tự tại, không chướng, không ngại xa hẳn các
thiên thuyết nên gọi là Viên. Năm thời giáo này, trước
tiên là hẹp hòi, là quyền dụ, sau cùng là thâm mầu, là
chơn thật. Nếu lấy Viên giáo mà so sánh, bốn thời giáo
trước đều tạm quyền mà nói ra vậy.
(Nay
căn cứ vào lý tương đối mà Luận, bốn thời trước là
quyền, Viên giáo là thật. Nếu định chấp Viên giáo là thật,
thì sẽ thiếu khuyết bốn thời trước, như thế không phải
là kẻ thông suốt Viên giáo đầy đủ. Nếu năm thời giáo
đều truyền bá, thì Thiên Viên cùng tán thán, hiệp được
mọi căn cơ mới đầu đủ. Như trong Viên giáo dưới đây,
đều bao gồm đầy đủ các giáo lý pháp môn trước, cho nên
không tách riêng ra mà nói.) Nay nương theo Viên giáo tu hành,
lược chia làm hai phần. Ban đầu ngộ Tỳ Lô pháp giới, sau
tu Phổ Hiền hạnh hải. Ban đầu ngộ Tỳ Lô pháp giới nghĩa
là trong kinh Hoa Nghiêm đã nói: Nhứt chơn vô chướng ngại
pháp giới, hoặc là nhứt tâm, ở trong đó đầy đủ ba thế
gian:
1)
Khí Thế Gian: là nói tất cả quốc độ.
2)
Chúng Thế Gian: là nói tất cả hữu tình
3)
Trí Chánh Giác Thế Gian: là nói tất cả Thánh Nhơn.
Bốn
Pháp Giới:
1)
Sự Pháp Giới.
2)
Lý Pháp Giới.
3)
Sự Lý Vô Ngại Pháp Giới.
4)
Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới.
Tất
cả các pháp nhiễm tịnh, chưa có một pháp nào ra ngoài pháp
giới này. Ðây là chơn tâm căn bản của tất cả phàm phu,
Thánh nhơn. Cũng là chơn thân căn bản.
Nói
rộng Chơn Tâm có hai:
1)
Ðồng Giáo Chơn Tâm
2)
Biệt Giáo Chơn Tâm.
Ðồng
Giáo lại có hai:
1)
Chung Giáo Chơn Tâm.
2)
Ðốn Giáo Chơn Tâm.
Trước
hết nói về Chung Giáo Chơn Tâm: Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng:
“Phải biết hư không sinh ra trong tâm của ông, cũng như một
đám mây điểm giữa bầu trời xanh, huống là các thế giới
ở trong hư không ư?”(Chơn tâm của ta, cũng như bầu trời
trong xanh. Mười phương hư không dường như một đám mây,
tức biết chơn tâm rất lớn, hư khkông rất nhỏ. Hư không
so với Chơn tâm cũng còn rất nhỏ, huống các thế giới ở
trong hư không vậy ư? ). Lại nói rằng: “Hư không sanh trong
đại giác, cũng như bọt nước sanh trong biển lớn. Vi trần
quốc độ hữu lậu, đều y hư không mà sinh”. Ðại Giác
tức là tên khác của Chơn tâm, Chơn tâm rất rộng lớn, cũng
như đại hải. Hư không rất nhỏ, in tuồng một bọt nước.
Huống các quốc độ, đều y hư không mà sinh. Nếu so với
Chơn tâm, tức là nhỏ ở trong cái nhỏ.
Lại
nữa, Chơn tâm biến khắp và viên mãn, bao gồm cả mười
phương. Quán sát lại thân cha mẹ sinh ra, giống như trong mười
phương hư không kia mà đem thổi một vi trần, thoạt còn,
thoạt mất. Lại rằng: (Không biết sắc thân, cho đến sơn
hà đại địa, hư không đều là vật ở trong Diệu minh Chơn
tâm.) Lại rằng: “Tất cả các vật có trong thế gian đều
là Bồ đề Diệu minh Chơn tâm.” (Ðã nói: Tức là Bồ đề
Diệu minh Chơn tâm, không phải các pháp thế gian mà ở trong
Chơn tâm riêng có tự thể. Tức biết hết thảy pháp giới,
hư không, đại địa, hữu tình, vô tình, toàn là một vị
Diệu minh Chơn tâm vắng lặng, thanh tịnh, không thêm, không
bớt.). Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến giờ, mê ngất
Chơn tâm; vọng nhận tứ đại làm thân, duyên lự làm tâm.
Thí như trăm nghìn biển lớn trong lặng không nhận, chỉ nhận
một bọt nước nhỏ. Nếu rõ thân tứ đại, tâm duyên lự,
duyên sinh không tánh, toàn là nước biển.
Gần
đây có kẻ Nho sinh ít xem kinh Phật, nghe nói Chơn tâm rất
rộng lớn, mờ mịt chưa tin.
Tôi
xin nói thêm rằng: Ðây chính là đức Như Lai dạy: Chỉ có
tự tâm mê muội, điên đảo không thấy, đâu có thể tin
là không có được. Như sách Trang Tử ở thế tục còn nói
rằng: Ở biển Bắc Minh có con cá, tên nó là Côn, cá Côn
lớn không biết bao nhiêu nghìn dặm; hóa làm con chim gọi là
chim Bàng, lưng loại chim này dài không biết bao nhiêu nghìn
dặm. Lúc giận, nó bay lên và đôi cánh che phủ như mây trời.
Bay đến biển Nam Minh, nó đập nước tung lên ba nghìn dặm,
nổi sóng gió động đến chín vạn dặm. Ông Liệt Tử nói
rằng: Ðời đâu biết có con vật như thế đó ư? Ông
Ðại Võ đi đường xem thấy, ông Bá Ích biết mà đặt tên,
ông Di Kiên nghe mà để ý. Không nên cho rằng mắt mình không
thấy vật đó, rồi không tin là có. Sách thế tục còn nói:
Có tướng vật kỳ lạ, huống nữa đức Như Lai đã nói Vô
tướng Chơn tâm vậy ư?
Luận
Bảo Tánh nói rằng: Người ở trong vỏ trứng làm sao thấy
suốt được vũ trụ bao la? Câu nói đó thật là đúng!
Sau
đây nói về Ðốn Giáo Chơn tâm, nghĩa là tâm tuyệt đãi
đầy đủ thanh tịnh, trong đó không dung nạp một cái gì
khác, tất cả vọng tưởng bản lai là không, tuyệt đãi Chơn
tâm bản lai thanh tịnh. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: Pháp tánh
bổn không tịch, không thủ cũng không kiến; tánh không tức
là Phật, không thể nghĩ lường được.” Luận Khởi Tín
nói rằng: “Tất cả các pháp từ vô thỉ đến nay, xa lìa
tướng nói năng, xa lìa tướng danh tự, xa lìa tướng tâm
duyên, rốt ráo là bình đẳng; không có thay đổi biến dị,
không thể phá hoại; chỉ là nhất tâm cho nên gọi là Chơn
như.” Về phần Chung giáo ở trước, tùy theo mê muội của
chúng sanh, nói có sắc thân, sơn hà, hư không, đại địa,
thế gian các pháp. Khiến các chúng sanh đổi vọng về chơn.
Rõ thấu sắc thân, sơn hà, hư không, đại địa, thế gian
các pháp, toàn là một vị Diệu minh Chơn tâm.
Nay
trong Ðốn giáo, vốn không có sắc thân, sơn hà, hư không,
đại địa, thế gian các pháp. Vốn là một vị tuyệt đãi
Chơn tâm. Cho nên Ngài Thanh Lương nói rằng: Tóm lại không
nói Pháp Tướng, chỉ biện rõ chơn tánh, tức biết rõ châu
biến pháp giới, vốn là một vị tuyệt đãi Chơn tâm, vắng
lặng thanh tịnh, không sanh diệt, tăng giảm.” Muốn hiểu
rõ sự châu biến của pháp giới, hãy ví dụ nó giống như
một viên ngọc tròn sáng, tỏ rõ, thanh tịnh, không hình không
ảnh, không trong, không ngoài. Ngài Thanh Lương nói rằng: “Thể
tịch chiếu diệu độc lập, vật ngã nhứt như.”
Ngài
Ðại Ma nói: “Pháp của ta lấy tâm truyền tâm, không lập
văn tự!” tức là truyền tâm này vậy. Ngài Tào Khê nói:
“Gương sáng vốn thanh tịnh, cần gì phải lau chùi bụi trần
ư?”, cũng là tâm này vậy. Tất cả chúng sanh từ vô thỉ
đến nay, không rõ tâm này, vọng thấy các tướng cũng như
con mắt bịnh, thoạt thấy hoa đốm giữa hư không. Kinh Viên
Giác nói: “Vọng nhận tứ đại làm tự Thân tướng. Bóng
dáng của lục trần là tự Tâm tướng”. Cũng như con mắt
bịnh kia thấy hoa đốm giữa hư không. “Nếu rõ Chơn tâm,
vốn không có các tướng, như trong hư không vốn không có
các hoa đốm.” Kinh Viên Giác nói: “Như Lai nhơn địa tu
Viên Giác. Biết được không hoa đốm tức không còn lưu chuyển,
cũng không có thân tâm chịu sanh tử. Không tạo tác cho
nên là Không, vì bản tánh là Không.” Nay trong Ðốn giáo
dụ như không hoa đốm rất là thiết yếu. Ngày nay, người
xuất gia học Thiền rất rộng, nhưng đến khi nghe khai thị
tâm này, phần nhiều không nhập thần được. Như có ông
Diệp Công ưa thích loài rồng, nhưng lúc có con rồng thật
hiện ra trước mắt, ông ta mặc nhiên không đoái hoài đến.
Nếu chưa ngộ tâm này, không gọi là bậc Chơn thiền định.
Như vậy, muốn tu hạnh tham thiền, trước hết phải tỏ ngộ
nhất tâm này.
BIỆT
GIÁO CHƠN TÂM: Nhứt chơn vô chướng ngại đại pháp giới
tâm, bao hàm ba thế gian, đầy đủ bốn pháp giới, bao gồm
cả đây, cả kia mà không chướng ngại. Tức biết pháp giới
bao la, trùm chứa mười phương, toàn là nhứt chon đại pháp
giới tâm. Ở trong nhứt chơn đại pháp giới này đã có:
Phàm, Thánh, hoặc Lý, hoặc Sự. Tùy theo đó nêu một pháp,
cũng đều toàn là đại pháp giới tâm.
Kinh
Hoa Nghiêm nói: “Hoa Tạng thế giới đã có trần; trong mỗi
một trần thấy pháp giới, lại một trần đã là đại pháp
giới tâm. Ở trong một trần đại pháp giới này, lại nêu
một trần, cũng toàn là đại pháp giới tâm. Hoặc thời gian
hoặc không gian trùng trùng nêu cử, trùng trùng đều là đại
pháp giới tâm.” Cho nên Ngài Thanh Lương trong Hoa Nghiêm Thập
địa phẩm sớ đã nói: “Ðế võng vô tận nhứt tâm vậy”.
Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay mê vọng, không biết
vô tận pháp giới là tự thân tâm. Ở trong đó vốn
đầy đủ vô tận sắc tâm công đức, tức cùng với Tỳ
Lô Giá Na, thân tâm bình đẳng. Bỏ mất thân tâm Phật, vô
chướng, vô ngại của chính mình, điên đảo chấp làm tạp
nhiễm chúng sanh. Thí như Kim Luân Thánh Vương thống trị tứ
thiên hạ, thân trí đầy đủ, giàu vui không ai sánh bằng.
Thoạt tiên ngủ mê, mộng thấy làm thân con kiến, ở trong
mộng chỉ nhận thân mình là kiến, không biết mình là Luân
Vương.
(Vô
tận pháp giới của Phật, đời khó thấu được, nay chỉ
dụ nghĩa: Mê chơn, chấp vọng, người trí phải nên biết.)
Vậy
muốn cầu thành tựu cứu cánh Phật quả cần phải ngộ Tỳ
Lô pháp giới, nếu chưa ngộ pháp giới này, dù trải qua nhiều
kiếp tu tập vạn hạnh, cũng uổng công nhọc xác, không được
gọi là Chơn thật Bồ Tát. Cũng không thể sinh trong nhà của
đức Như Lai. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Không rõ nơ tự tâm, làm
sao biết Thánh đạo, trí huệ bị điên đảo, do đó tăng
trưởng tất cả sự ác. Ngài Thanh Lương nói: “Không nương
sự ngộ này, việc làm không chơn chánh, sự tu hành của mình
sẽ ràng buộc thành nghiệp.” Vô tận pháp giới nhứt tâm
này, người ít hay biết, biết cũng ít tin, tin cũng ít hiểu,
hiểu cũng khó đạt đến cảnh giới đó. Vì vậy Bồ Tát
nhiều kiếp không tin, không hiểu. Thượng thủ Thanh Văn như
đui, điếc. Nếu là người có túc căn viên mãn, nên chú ý
ở đây, ai dốc lòng tri ngộ, đương nhiên ngày nay sanh vào
nhà của Phật.
Sợ
người khó tin, tôi xin kể câu chuyện trong Pháp Uyển Châu
Lâm: “Có một người ảo thuật, đi đường thấy một kẻ
gánh một gánh, trên có cái lồng có thể chứa được vài
thùng. Người ấy bảo kẻ gánh rằng: Tôi đi bộ mệt mỏi
quá, muốn chun vô lồng của ông để nghỉ chân, mong ông vui
lòng cho tôi được như ý. Người gánh bèn suy nghĩ cho đó
là kẻ khùng, bèn nói: Ông thử vào xem. Người kia bèn nhảy
vô lồng một cách nhẹ nhàng. Tuy lồng chẳng lớn mấy mà
người ảo thuật cũng không phải là nhỏ. Người gánh đi
mãi vẫn không thấy nặng. Ði được vài mươi dặm đường,
ông ta đặt gánh bên gốc cây và ăn uống, bèn mời người
ảo thuật cùng ăn. Người ảo thuật nói rằng: Tôi cũng có
đầy đủ thức ăn. Người gánh nhìn vào lồng thấy các vật
dụng chứa đầy đồ ăn uống, bèn mời người ảo thuật
cùng ăn. Người ảo thuật bảo người gánh rằng: Tôi muốn
cùng ăn với vợ tôi. Nói xong, y hả miệng nhả ra một người
con gái dung mạo đẹp đẽ và hai người cùng ăn uống. Ăn
xong, người chồng ngủ, còn cô vợ bảo người gánh rằng:
Tôi có một tình nhân muốn đến dùng bữa với tôi. Khi chồng
tôi thức dậy, ông chớ nên nói lại việc này. Cô gái liền
há miệng nhả ra một tình nhân rồi cùng ăn uống. Cả ba
người đều ở trong lồng vẫn không thấy chật hẹp. Lát
sau, người ảo thuật cựa mình sắp thức dậy, anh tình nhân
bảo người gánh: Chào ông, tôi đi! Cô gái liền bỏ tình
nhân vào miệng và đồ ăn uống cũng cất hết trong mồm.
Rồi lúc đó người ảo thuật thức giấc cũng đem vợ bỏ
vào miệng.” Ðó là truyện tiểu thuyết của thế gian, trùng
trùng dung nhan như thế, mà không bị chướng ngại pháp giới
ư?
Vậy
cần phải suy xét cho chín chắn mà tin, suy nghĩ để thấu
hiểu. Chớ nên cao suy Thánh cảnh, luống dối một đời không
lợi ích.
TU
PHỔ HIỀN HẠNH HẢI: Ðã ngộ được vô chướng ngại
pháp giới vốn tự tâm ta, trong đó vốn đầy đủ mười
Hoa Tạng thế giới vi trần số tướng hảo, đế võng, vô
tận thần thông công đức. Cũng mười phương chư Phật không
sai khác; ngặt vì vô thỉ, vọng tình chấp chặt, tập dĩ
tánh thành, cuối cùng khó đoạn dứt. Ðể khiến cho thần
thông công đức của chính ta không thể thọ dụng một cách
tự tại. Cho nên cần phải xứng với Tỳ Lô pháp giới của
chính mình, tu tập bản hữu Phổ Hiền Hạnh Hải, làm cho
vô tận công dụng mau được hiện tiền.
Kinh
Hoa Nghiêm nói: “Tu pháp này ít làm công lực, mau chứng Bồ
đề. Tuy Phổ Hiền Hạnh Hải rộng bao la không bờ bến.”
(Tất cả hạnh môn trong Tạng giáo đã nói đều là Hoa Nghiêm
Phổ Hiền Hạnh, chỉ ứng căn cơ thiển cận mà quyền chỉ,
nên nêu ra đây một ít mà thôi.)
Nay
nói Quán Hạnh Pháp Lược có năm môn:
1)
Quán Chư Pháp như mộng huyễn.
2)
Quán Chơn Như tuyệt tướng,
3)
Quán Sự, Lý vô ngại.
4)
Quán Ðế Võng vô tận.
5)
Quán Vô Chướng ngại pháp giới.
Trước
hết: 1) Quán các pháp như mộng huyễn: (Tức đương sự pháp
giới quán) nghĩa là thường quán các pháp nhiễm, tịnh, tất
cả không thật, đều như mộng huyễn. Kinh Hoa Nghiêm nói:
“ Cũng như trong chiêm bao, thấy các hình tướng sai khác;
thế gian cũng như vậy, như mộng không khác.” Lại nói: “Ðộ
thoát tất cả chúng sanh phải biết các pháp đều như huyễn;
chúng sanh không khác huyễn, hết huyễn không còn chúng sanh.”
Và kinh Kim Cang có dạy: “Tất cả các pháp hữu vi như chiêm
bao, bọt nổi, như sương mù, điện chớp, thường quán xét
như vậy.” Ngài Triệu Công nói: “Hư vậy, Vọng vậy, ba
cõi không thật; Mộng vậy, Huyễn vậy, sáu đường không
vật.” Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, chấp tất
cả pháp cho là có thật, khiến khởi hoặc tạo nghiệp, tuần
hoàn trong sáu đường. Toàn thể không thật, đều như mộng
huyễn thì ái ố tự nhiên tiêu diệt, lòng bi trí tự nhiên
tăng trưởng, sáng suốt. Quán mộng huyễn trong Viên Giác Sớ
gọi là: “Khởi Huyễn tiêu trần quá. Trong Thiên Thai gọi
là Giả quán, cũng còn gọi là “Phương tiện tùy duyên chỉ”.
Phân minh, soi chiếu, gọi là Quán, vắng lặng không loạn động
gọi là Chỉ. Tức là trong Quán có chỉ, trong chỉ có quán
mới là chỉ quán song vận, các phép chỉ quán khác nương
theo đây mà rõ. Hoặc có người tuy tin hiểu Viên giáo mà
phiền não nặng nề, không thể tu tập quán mộng huyễn được
nên tu quán bất tịnh. Nghĩa là quán sát thân này có năm món
không sạch.
a)Chủng
tử bất tịnh: Nghĩa là tinh cha, huyết mẹ, hai chất trắng
đỏ hòa hợp mà thành. Trí Ðộ Luận nói: “Thân là giống
không sạch, không phải các vật nhiệm mầu, quý báu, không
do chất trong sạch sinh ra, mà sinh ra từ nơi dơ uế.”
b)Trụ
xứ bất tịnh: Là ở trong bụng mẹ, dưới sanh tạng, trên
thục tạng chảy ra chất không sạch, ô uế đầy dẫy, mà
lại ở ngay trong đó. Lại như Hải Sơn nói: Ðồ không sạch
mà đem làm áo trang sức, còn thứ ô uế thì lấy làm vật
ăn uống.
c)Tự
thể bất tịnh: Gồm có ba mươi sáu vật, đều cùng hòa hợp
không sạch. Nói ba mươi sáu là: bên ngoài có mười hai phần:
Tóc, lông, móng, răng, mồ hôi, đại, tiểu, ghèn, mũi, đàm,
dãi, nước miếng. Lại có mười hai phần: Da, da ngoài, huyết,
nhục, mỡ, đầu, óc, màng mỏng, xương, tủy, gân, mạch.
Bên trong gồm có mười hai: Tim, gan, mật, phổi, lá lách, thận,
ruột, dạ dày, sanh tạng, thục tạng, đàm đỏ, đàm trắng.
Tức là từ đầu đến chân đều không sạch. Ngài Vĩnh Gia
dạy: “Cái đãy đầy phân nhơ là chỗ chứa tụ máu mủ;
chảy ra những chất không sạch, là chỗ ở của vi trùng giòi
giun, quán cá ươn, hầm tiêu, cũng không sánh kịp.”
d)Tự
tướng bất tịnh: Là chín chỗ (cửu khiếu) thường chảy
ra các chất dơ nhớp. Cửu khiếu: là hai tai xuất ra chất
dơ; hai mắt chảy ghèn và nước; hai lỗ mũi chảy ra nước
mũi; miệng chảy ra đàm dãi; đường đại tiện ra phân dơ;
tiểu tiện chảy ra nước khai hôi. Trí Ðộ Luận nói: “Các
vật không sạch chứa đầy trong thân, thường chảy ra các
thứ không sạch như cái đãy rách đựng đồ vật dơ.”
e)Cứu
cánh bất tịnh: Nghĩa là khi thân hoại mạng chung, sình to,
hôi thúi, máu mủ nứt rã, không dám lại gần. Ngài Thiên
Thai nói rằng: “Từ chân đến đầu, từ đầu đến chân,
tuần tự quán sát, chỉ thấy sình lớn, nứt rã, trong đường
đại, tiểu tiện giòi trùng theo máu mủ bò ra, thúi hơn con
chó chết.” Kinh Tâm Ðịa Quán dạy: “Nên quán sát tự thân
mình hôi thúi, không trong sạch, cũng như chó chết”. Kinh
Kim Quang Minh nói rằng: “Ta từ lâu hầu hạ thân hôi thúi
này, máu mủ chảy ra không thể thương mến được. Tuy thường
cung cấp nuôi dưỡng, nó vẫn ôm sự oán hại. Cuối cùng
bỏ ta, nó chẳng biết ơn. Quán sát tự thân mình xong, lại
quán sát thân kẻ khác hoặc nam hoặc nữ, đã có thân thì
có đủ năm món bất tịnh.” Cho nên Luận Khởi Tín nói rằng:
“Nên quán tất cả những thân có trong thế gian đều là
bất tịnh.” Các món dơ uế không có một cái gì đáng thương.
Ðã quán sát đều là bất tịnh, tâm tham ái tự nhiên không
khởi. Kinh A Hàm nói rằng: “Xưa có một vị quốc vương
đắm mê sắc dục không nhàm chán. Có vị Tỳ Kheo lấy một
bài kệ can gián rằng:
- Mắt
là một cái hang chứa ghèn, lệ,
-
Mũi là cái đãy dơ chứa mũi, dãi.
-
Miệng là đồ đựng đàm dãi.
-
Bụng là kho chứa phẩn niếu.
Chỉ
có vua không có mắt huệ, bị sắc dục làm mờ mịt. Bần
đạo thấy gớm, cho nên xuất gia đi tu đạo tràng.” Ngài
Thiên Thai dạy rằng: “Tuy quán sát bất tịnh mà hay thành
đại sự. Như thây chết trong biển, nương nơi đó mà vào
bờ.
Hoặc
là quán bộ xương trắng: Trước hết quán tưởng cái thân
của mình da thịt nát rã, chỉ thấy xương trắng lần lần
từ hẹp đến rộng. Tưởng nơi một cái đầu da thịt rã
rời, chỉ thấy xương trắng cho đến toàn thân đều là xương
trắng. Ðã quán thân mình đầy đủ một bộ xương trắng
phân minh hiện rõ, rồi lại quán người khác rã rời cũng
vậy. Lần lượt quán hết một cái phòng, một ngôi chùa,
một thành lũy, một quốc gia cho đến khắp đất đai, lấy
biển làm biên giới, sẽ thấy đầy những bộ xương trắng.
Muốn cho quán tâm tăng trưởng, lại quán lần lượt từ rộng
đến hẹp. Quán một quốc độ là một bộ xương. Lần lần
sẽ thấy một thành, một chùa, một phòng, một bộ xương
đầy đủ. Rồi quán bộ xương đó cho tới lúc chỉ thấy
một chút xương trắng ở giữa chặn mày. Thấy giữa chặn
mày rồi chuyên chú một chỗ vắng lặng mà an trụ, như vậy
tu tập cho đến khi đắc định. Quán này thành tựu thì tất
cả tham ái tự nhiên tiêu diệt.
Hoặc
Quán Sổ Tức: Nên từ cạn đến sâu, lần lượt tiến tu.
Trước hết phải tự mình điều hòa hơi thở, không rít,
không nghẹt. Nhứt tâm chuyên chú đếm hơi thở ra vào. Trước
hết, đếm hơi hít vào, sau đếm hơi thở ra, từ một đến
mười, xong rồi đếm lại thế mãi, tâm tưởng nơi đếm,
đừng cho tán loạn. Nếu thấy, không cần cố sức mà đếm
dễ dàng từ một đến mười trong hơi thở; lúc đó lại
nhứt tâm theo hơi thở ra vào. Khi hít vào, tâm cũng theo hơi
vào, từ mũi đến yết hầu, từ yết hầu đến tim, đến
rú, đến đơn điền, bắp vế, ống chân cho đến bàn chân,
ngón chân. Khi hơi thở ra, tâm cũng theo hơi thở ra. Hơi thở
ra xa ngoài thân cho đến một gan, một tầm. Nhứt tâm theo
dõi hơi thở ra vào; nếu thấy tâm và hơi thở nương nhau
dễ dàng, bây giờ nên buộc niệm, đình chỉ tại giữa chặn
mày, hoặc ở nơi đầu mũi, dừng tâm tại đó, quán hơi thở
an trụ nơi thân, như sợi chỉ xâu hạt châu, hoặc lạnh hoặc
ấm, hoặc thêm hoặc bớt. Nếu thấy, thân vắng lặng khoái
lạc, an vui, rồi lại quán sát hơi thở nhẹ nhàng, vi tế.
Lại quán tâm thức sát na không trụ. Như vậy tu tập, cảm
giác biết hơi thở ra, vào, khắp lỗ chân lông. Tâm nhãn khai
minh, thấy sáng suốt trong thân ba mươi sáu vật và các trùng
bọ, lúc bấy giờ đã đắc định; rồi lại chăm tu các hạnh
môn khác. Ở đây, vì sợ phiền phức nên tạm chấm dứt.
Như
trong kinh nói: Quán hơi thở ra, vào là bước đầu vào đạo
của chư Phật ba đời vậy.
Hoặc
Quán Ngã Không: Nên cần phải để ý suy tìm, thân này bản
lai vốn không có Ta (vô ngã).
Chỉ
là sắc tâm, hai pháp hòa hợp mà thành. Sắc có bốn loại:
đất, nước, gió, lửa. Nghĩa là cấu sắc: Lông, tóc, móng,
răng, da, thịt, gân, cốt, tủy, não, đều là đất. Mũi, đàm
dãi, máu mủ, nước miếng, nước bọt, tinh khí, đại, tiểu
tiện đều là nước. Hơi nóng là lửa. Sự động chuyển
“hô hấp” là gió. Tâm có bốn loại: thọ, tưởng, hành,
thức. Thọ nghĩa là lãnh nạp; giữ lấy hình tượng bóng
dáng, đó là Tưởng; tạo tác là Hành; rõ biết, phân biệt
là Thức.
Ở
trong tám loại này, cái nào là Ta? Nếu đều là Ta thì có
tám cái Ta. Hơn nữa ở trong thân thể đã có ba trăm sáu chục
đoạn xương, mỗi đoạn đều riêng. Da, lông, gân, thịt,
gan, tim, phổi, thận, mỗi cái không giống nhau. Thấy không
phải là nghe. Vui không phải là giận. Ðã có nhiều vật như
thế, không biết định lấy cái nào để làm Ta. Nếu đều
là Ta cả, thì sẽ có cả trăm ngàn cái Ta. Trong một thân
sanh nhiều phân đoạn. Xa lìa nó, sẽ không có pháp riêng khác,
tìm tòi kỹ lưỡng cái Ta, cũng không thấy đâu cả. Ðã biết
thân này là do duyên giả hợp với nhau. Bản lai không có Ta.
Hành giả ngày đêm thường tu phép quán rất nhiệm mầu này.
Bởi vì tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến giờ, chấp thân
này là Ta; do đó mà quý trọng nó, tham cầu danh lợi, muốn
đem vinh quang lợi ích cái Ta. Tức giận cảnh nghịch vì sợ
nó xâm phạm đến Ta. Tâm tình ngu si, đã so sánh một cách
trái lý. Nay đã thường quán thân này: Bản lai không có Ta,
tức tam độc tự diệt, tam độc diệt rồi, ba cõi tự xa
lìa vậy.
Hoặc
Quán Pháp Không: Nên cần quán xét hai pháp sắc tâm của thân
này: Sắc có: Ðịa, thủy, hỏa, phong. Tâm có: Thọ, tưởng,
hành, thức. Nơi tám pháp này mỗi pháp quán xét đều do duyên
sanh, không có tự tánh. Thể của tám pháp là không. Sơ tâm
của hành giả nên tu quán môn này. Tùy nơi tâm tam ưa thích
một, hoặc hai, cho đến năm pháp quán đều được tu tập.
Tâm quán pháp môn chỉ quý ở sự tu luyện, luyện mới có
giá trị, nói suông chẳng lợi ích chi.
2)Chơn
Như Tuyệt Tướng Quán: (Tức đương lý pháp giới quán) ở
trong an tâm lại có ba môn:
a)Thường
quán toàn thể pháp giới, chỉ là một vị thanh tịnh chơn
như. Vốn không có sự tướng sai khác. Trí năng quán này cũng
là một vị chơn như. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Tất cả
các pháp vô sanh; tất cả các pháp vô diệt. Nếu hiểu như
vậy, các Phật thường hiện tiền”. Thất Tổ thiền sư
lại nói rằng: “Niệm vô niệm, tức là niệm chơn như”.
Ðức Lục Tổ giải thích vô niệm rằng: “Không, là không
có các tướng; niệm, là niệm chơn như”, đây mới tưởng
niệm các pháp toàn là chơn như. Nhưng tưởng niệm vốn là
tướng của vô tưởng niệm; cho nên Luận Khởi Tín nói rằng:
“Tuy niệm không có cái năng niệm, để mà niệm.” (Sở
tưởng chơn như ở đây tức là tuyệt đãi Chơn tâm trong
Ðốn giáo đã nói trước. Hạnh môn này thường tưởng tất
cả pháp, chỉ là một vị thanh tịnh chơn như, vốn không
sanh diệt. Ðó gọi là Chơn như tam muội, cũng gọi là Nhất
hạnh tam muội, hay là Vô sanh tam muội.)
b)Nếu
tu niệm khởi, chỉ khởi giác tâm. Cho nên Ngài thất tổ nói
rằng: “Khi niệm khởi liền biết, biết tức liền không;
tu hạnh diệu môn chỉ ở nơi đây; tức là giác tâm này,
gọi là quán. Ðây cũng tuy khởi giác tâm, vốn không có tướng
khởi giác.” (Hạnh môn này, trong tất cả thời, nếu khởi
tâm niệm, chỉ khởi giác tâm. Ðây chính là tu hạnh yếu
môn nhiệm mầu vậy).
c)Xét
tâm là sai, động niệm liền trái, chỉ để tâm mà không
ký thác vào, lý huyền diệu này sẽ tự lãnh hội. Cho nên
kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Pháp tánh vốn không tịch, không
thủ cũng không kiến. Tánh không tức là Phật, chẳng thể
suy lường được.” Cổ đức nói rằng: “Thật tướng xa
lìa nói và nghĩ; chơn như vượt lên trên thấy và nghe. Ðây
là chỗ an tâm; học sự khác sẽ uổng công…” Ở đây cứ
theo bổn tánh tự chiếu, chứ không khởi sanh huệ giải mới
mẻ nào. Cho nên kinh Viên Giác dạy rằng: “Chỉ cần các
Bồ Tát và mạt thế chúng sanh ở tất cả thời không vọng
niệm; nơi các vọng tâm cũng không dứt bỏ. An trụ ở cảnh
vọng tưởng, không thêm liễu. Ở nơi không liễu trí, không
biện chơn thật”. Ngài Hiền Thủ lại dạy rằng: “Nếu
khởi tâm làm phàm, làm Thánh không phải là chơn hạnh; không
làm tất cả hạnh, hạnh tâm không nương ký vào đâu cả,
đó gọi là Ðại Hạnh.” Môn này lấy bổn tánh tự chiếu,
gọi là quán “Hạnh môn này trong tất cả thời, tâm vô sở
ký đó gọi là chơn tu. Tuy tu đủ vạn hạnh, ở trong vạn
hạnh, tâm vô sở ký…”. Thiền tôn ở Trung Hoa bảy đời
Tổ Sư, chỗ truyền tâm yếu có ba môn; mà nhiếp tận hết
thảy, không để sót gì cả.
1)Kiến
Tánh Môn: Trước cần phải liễu ngộ tuyệt đãi Chơn tâm.
Tất cả vọng tưởng bổn không, Chơn tâm bổn tịnh; tức
tâm là Phật. Không nhờ ngoại cầu, tức là Ðốn giáo Nhứt
tâm nói ở trên.
2)An
Tâm Môn: Như ba môn tưởng niệm chơn như đã nói ở trên.
3)Phát
Hạnh Môn: Cần phải đầy đủ tu Bồ Tát Lục độ Vạn hạnh.
Ðủ y ba môn tức là chánh thiền; thiếu đi một môn sẽ trở
thành thiên kiến. Ngài Ðạt Ma nói rằng: “Pháp của ta, lấy
tâm truyền tâm, không lập văn tự. Tâm này là bổn giác thanh
tịnh của tất cả chúng sanh, cũng gọi là Phật tánh. Muốn
cầu Phật đạo cần phải ngộ tâm này, tức là Kiến Tánh
Môn”. Lại nói rằng: “Do đó an tâm, gọi là quán vách khiến
cho kẻ đạo nhơn tu tập, tâm an trụ chơn lý. Tịch nhiên
vô vi, ví như tường vách, không khởi phân biệt tức là an
tâm môn.” Lại nói rằng: “Như vậy phát hạnh, có bốn
hạnh”:
a)Báo
Oán Hạnh: Nghĩa là kẻ tu hành lúc gặp sự khổ sở phải
tự nghĩ rằng: Ta từ xưa, trải qua bao số kiếp, bỏ gốc
theo ngọn, trôi nổi trong các thú, khởi lên nhiều ghét oán,
gây ra nhiều điều bậy bạ, nguy hại. Nay tuy không phạm,
nhưng vì ác nghiệp, túc oán đã chín muồi, chẳng phải trời
hay người đem lại, cam tâm nhẫn chịu mà không oán trách.
Kinh dạy rằng: “Gặp khổ không buồn. Vì sao? Ðã hiểu thấu
vậy!”
b)Tùy
Duyên Hạnh: Nghĩa là đạo nhơn tu hành nếu được các
việc quả báo thù thắng vinh dự, phải tự mình nghĩ rằng:
Tất cả pháp đều từ duyên sanh. Vì quá khứ ta tu nhơn đã
cảm nay mới được. Duyên hết rồi, trở lại hoàn không;
có gì phải vui mừng. Ðược, mất tùy duyên, tâm không tăng
giảm, gió vui không động; gió giận không sanh.
c)Vô
Sở Cầu Hạnh: Ðời người mê dại, nơi nơi tham trước gọi
là tìm cầu. Người trí khi ngộ chơn lý, xem thấy tam giới,
chín cõi cũng như nhà lửa. Có thân đều phải khổ, đâu
được sự an vui, ở trong tam giới, không còn chỗ mong vui.
Kinh dạy rằng: “Có cầu đều khổ, không cầu mới vui”.
d)
Xứng Pháp Hạnh: Nghĩa là tánh tịnh chơn lý gọi là pháp,
mà tánh này vốn không keo kiệt cùng tất cả vạn ác khác.
Nên xứng lý tánh mà tu bố thí v.v… Tất cả vạn thiện,
riêng bốn hạnh này tức là phát hạnh môn. Ngài Thảo Ðường
Thiền Sư, ở trong kinh Viên Giác Sớ cũng có ba môn, đều
giống như vậy.
1)Trước
hết phải ngộ Viên Giác tánh: Nghĩa là nhứt vị thanh tịnh
Chơn tâm.
2)Phát
Bồ đề tâm: Nghĩa là đại bi, đại trí, đại nguyện.
3)Sau
rồi tu Bồ Tát hạnh: Nghĩa là Lục độ Vạn hạnh các pháp.
Ba
môn này rất thiết yếu cho người học Thiền, nếu không
viên tu ba môn, không do đâu thể xa lìa các tà kiến. Từ xưa
đến nay Ngữ Lục của các nhà Thiền tôn, đa số chỉ ứng
theo thời, theo căn cơ hoặc chỉ nói đến kiến tánh, hoặc
chỉ nói an tâm, hay chỉ nói phát hạnh. Lại như trong nơi
an tâm, phát hạnh, lại mỗi mỗi có nhiều đường lối, hoặc
chỉ rõ một đường lối v.v… Nay các môn này, tâm nếu không
đạt; nhiên hậu xem đến Thiền giáo khác mới biết được
quy chỉ.
3)Quán
Sự Lý Vô Ngại: (Tức là đương sự vô ngại pháp giới quán).
Nghĩa là thường quán tất cả các pháp nhiễm tịnh duyên
sanh vô tánh, toàn là chơn lý. Chơn lý là tất cả các pháp
nhiễm tịnh. Như quán sóng, toàn là tánh ướt, tánh ướt
toàn là sóng. Cho nên Khởi Tín Luận nói rằng: Tuy nghĩ các
pháp tự tánh không sanh, nhưng lại nghĩ đến nhân duyên hòa
hợp. Các nghiệp: thiện, ác, quả báo, khổ vui, không mất,
không hoại. (Lý bất ngại Sự vậy, như tánh ướt tuy có
một, không chướng ngại cho việc sanh ra nhiều sóng). Tuy nhớ
nghĩ nhân duyên thiện ác, nghiệp báo mà cũng liền nghĩ đến
tánh của nó không có. (Sự bất ngại lý vậy. Như sóng mòi
tuy nhiều, nhưng không ngại toàn thể là tánh ướt.)
Nếu
tu tập: Giả, Không, Trung – ba pháp quán, nghĩa là tưởng
tất cả các pháp đều duyên sanh không tự tánh, thể của
nó là không, tức là Không quán. Như quán những hình tượng
trong gương, toàn là không có thật thể. Nếu tưởng tất
cả các pháp, tuy có mà không thật, đều như chiêm bao huyễn
hoá, tức là Giả quán. Như quán những hình bóng trong gương,
có mà không thật. Nếu tưởng tất cả các pháp, toàn là
một vị diệu minh Chơn tâm, nhu trước chung giáo đã nói rõ,
Chơn tâm rộng lớn ấy, tức là Trung quán. Như quán cái gương
sáng. Ba phép quán này, hoặc là riêng tu một môn, hay là tiệm
thứ đều tu, hoặc là một thời đồng tu, tùy ý lấy hay
bỏ như đồ dùng.
1)
Ðế Võng Vô Tận Quán: (Tức là đương sự sự vô ngại quán).
Trong đây lược bày có năm môn:
1)
Lễ kính môn.
2)
Cúng dường môn.
3)
Sám hối môn.
4)
Phát nguyện môn.
5)
Trì tụng môn.
1)Lễ
kính môn:Nghĩa là tưởng hư không khắp pháp giới: trần trần
sát sát trước đế võng vô tận Tam-Bảo, có mỗi đế võng
vô tận tự thân mình. Mỗi mỗi thân mình đều lễ lạy đế
võng Tam-Bảo vô tận. Trước mỗi ngôi Tam-Bảo có đế võng
Tam-Bảo tự thân lễ bái. Lại tưởng một môn này, tận hết
đời vị lai tế, không thôi nghỉ, niệm niệm tương tục,
không gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp không có nhàm mỏi (Hoặc
trong lúc ngồi thiền quán tưởng; hoặc sớm chiều lễ Phật,
khi tu tập kiểm niệm. Nhập quán môn này công đức vô tận).
(Ngài Thanh Lương nói rằng: Không nhập pháp quán này, tự
mình mệt nhọc uổng công. Hoặc thuần nhập được môn này,
thì tưởng khắp pháp giới toàn là Tỳ Lô Phật hoặc Chuẩn
Ðề v.v... Mỗi trước một tôn tượng, tưởng một thân mình
lễ Phật. Tu tập cho đến thuần thục, lần lần tăng trưởng
đến 100, 1000 Tôn vị Phật cho đến vô tận. Mấy pháp cũng
y theo môn này mà tu tập.)
2)Cúng
dường môn: Tưởng tận hư không khắp pháp giới trần sát
đế võng trước vô tận Tam-Bảo, có mỗi đế võng vô tận
đồ cúng dường đầy đủ, các sự cúng dường đế võng
vô tận Tam-Bảo. Trước mỗi một ngôi Tam-Bảo, có đế võng
vô tận thân cúng dường. Lại tưởng một môn này khắp hết
đời vị lai tế không nghỉ ngơi. Niệm niệm nối nhau không
gián đoạn. Thân, ngữ, ý, nghiệp không nhàm mỏi. (Hoặc
trong khi ngồi tưởng cúng dường trước Phật, hoặc thiêu
hương, dâng hoa, luyện tập nhập pháp quán này. Nếu không
có hương hoa, chỉ chấp tay nhập quán môn này, công đức
cũng phát sanh vô tận).
3)Sám
hối môn: Tưởng tận hư không khắp pháp giới, trần trần
sát sát đế vọng vô tận trước Tam-Bảo, có đế võng vô
tận thân. Mỗi mỗi một thân đều đem hết lòng chí thành
sám hối đế võng vô tận tội chướng. Nghĩa là từ hồi
nào đến thân ngày nay, đã tạo các tội ngũ nghịch, thập
ác, các phiền não sở tri chướng. Mỗi mỗi một thân, sám
hối đế võng vô tận tội chướng. Mỗi mỗi tội chướng,
có đế võng vô tận thân sám hối. Tổng tưởng một môn
này hết thảy đời vị lai tế không bao giờ nghỉ ngơi. Mỗi
mỗi niệm nối nhau không gián đoạn. Thân, ngữ, ý nghiệp
nối nhau không nhàm mỏi. (Hoặc trong khi ngồi tưởng sám hối,
trước Phật sám hối, nên tu tập quán môn này.)
4)Phát
nguyện môn: Tưởng tận hư không pháp giới, trần trần sát
đế võng vô tận, trước Tam-Bảo có đế võng vô tận thân.
Mỗi một thân phát đế võng vô tận nguyện. Nghĩa là: Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn. Phật pháp vô biên thệ nguyện học. Vô biên phước
trí thệ nguyện tập. Vô thượng Bồ đề thệ nguyện thành.
Ðem tất cả tự tâm dã an vui với thiện nguyện mà tổng
phát. Mỗi mỗi một thân phát đế võng vô tận nguyện. Mỗi
mỗi một nguyện có đế võng vô tận thân phát. Tổng tưởng
một môn này hết đời vị lai tế không nghỉ ngơi. Mỗi mỗi
niệm nối nhau không gián đoạn. Thân, ngữ, ý nghiệp không
nhàm mỏi. (Trong lúc ngồi niệm luyện trước Phật, khi phát
nguyện tu tập pháp quán tưởng này.)
5)
Trì tụng môn: Tưởng tận hư không khắp pháp giới, trần
trần sát sát đế võng vô tận trước Tam-Bảo, có các đế
võng vô tận thân. Mỗi mỗi một thân trì các đế võng vô
tận chơn ngôn giáo pháp danh hiệu chư Phật, Bồ Tát. Mỗi
mỗi một chơn ngôn giáp pháp, danh hiệu chư Phật, Bồ Tát
có đế võng vô tận thân trì tụng. Tổng tường một môn
này, tận đời vị lai tế không nghỉ ngơi. Mỗi mỗi niệm
nối nhau không gián đoạn. Thân, ngữ, ý nghiệp không nhàm
mỏi. (Hoặc khi trì tụng kinh v.v… trước quán tưởng pháp
môn này rồi, nhiên hậu trì tụng rất nhiệm mầu. Năm pháp
môn đã thực hành rồi, còn các hạnh khác, y theo đây mà
tu tập.)
Nếu
tu tập Tương tức quán, có bốn câu:
1)Một
tức là một: Nghĩa là quán một sợi lông tức là một cái
tai. Một cái tai, đồng thời là một sợi lông.
2)Tất
cả tức là một.
3)Một
là tất cả: Hai câu này nên hiệp lại mà quán. Nghĩa là khi
quán tất cả người, tức là tất cả Phật, tất cả Phật
đồng thời, tức là tất cả người. Trong mỗi câu tất cả
các pháp lệ chuẩn theo đây mà quán.
Nếu
tu tập Tương tập nhập quán cũng có bốn câu:
1)Một
nhiếp một đem nhập một: Nghĩa là quán một người, nhiếp
một Ðức Phật, đem nhập vào một vị Bồ Tát. Như cái gương
phía Ðông nhiếp vào cái gương phía Nam, đem nhập vào cái
gương phía Tây.
2)Một
nhiếp tất cả, đem nhập một: Nghĩa là quán một cái hoa
nhiếp tất cả sông, đem nhập vào một hòn núi.
3)Tất
cả nhiếp một, đem nhập tất cả: Nghĩa là quán tất cả
trần nhiếp một Ðức Phật, đem nhập trong một sợi lông.
4)Tất
cả nhiếp tất cả, đem nhập vào tất cả: Nghĩa là quán
tất cả cây nhiếp tất cả thần, đem nhập vào trong tất
cả biển. Trong mỗi câu, tất cả các pháp lệ chuẩn nơi
đây mà quán tưởng. Hai phép quán: Tương tức, tương nhập
này, tùy theo trong mỗi câu mà quán tưởng, lại có tổng quán,
biệt quán, nhiều pháp môn. Sợ phiền, không trình bày hết,
chỉ chuyên tâm tu luyện, tự nhiên hiểu thấu.
Cho
nên Ngài Bùi Công ở trong bài tựa Pháp Giới Quán nói rằng:
“Chỉ khiến cho người học không rõ cảnh trong tự tâm.
Tâm huệ đã sáng tỏ rồi, tự thấy nghĩa vô tận. Ðừng
đem giáo nghĩa Viên Thông ra chia vụn vặt từng đoạn. Nếu
đồng thời tu tập đầy đủ tương ưng quán, nghĩa là tùy
quán một pháp, đồng thời đầy đủ pháp giới các pháp
vậy. Các huyền môn kia lệ nơi đây mà hiểu. Nếu ưa muốn
tu tập Viên tôn tam quán chỉ. Chính như thân một người rõ
ba đế: Nhơn thân giả tướng mà có, đó gọi là Tục đế.
Nhơn thân duyên sanh vô tánh, sắc thể của nói toàn không
gọi là Chơn đế. Nhơn thân giả tướng không có tự tánh
riêng biệt, thể của nó toàn là tịch chiếu chơn lý, gọi
là Trung đạo đế. Nhưng ba đế này thể dụng không ngại,
không, hữu dung nhau. Tức một mà ba, tức ba mà một. Pháp
vốn như thị, y như ba đế này hành giả quán sát thành Tam
quán Tam chỉ. Nghĩa là tâm của hành giả quán nhơn thân giả
tướng, lìa được cái chấp đó gọi là Phương tiện tùy
duyên chỉ. Lại quán nhơn thân sắc thể toàn không, gọi là
không quán. Tức quán tâm này khi rõ được sắc Không, lìa
được các chấp sắc thể thật có, gọi là Thể chơn chỉ.
Lại quán nhơn thân này toàn là Trung đạo thật tánh gọi
là Trung đạo quán. Tức là quán tâm này xa lìa được cái
chấp có tướng và xa lìa được cái chấp thể không gọi
là Viễn ly nhị biên phân biệt chỉ.
Quán
tâm như vậy ở trong một niệm thấy cả ba đế, nghĩa là
lập tam quán. Xa lìa được ba món chấp, nghĩa là lập tam
chỉ. Tam quán tam chỉ, chỉ là nhứt tâm. Tức một thường
là sáu, tức là sáu thường là một. Ðem nhứt tâm này khế
đồng sở quán tam đế, cảnh vô ngại của thể và dụng,
của không và hữu. Tâm cảnh thường dung, lại thường rõ
ràng. Ðã quán một thân người mà thành tam quán tam chỉ;
quán tất cả đều như vậy. Hỏi rằng: Luận về Ðại Hạnh
tóm lại chỉ vô niệm; cớ sao lấy đế võng tương tức quán
v.v… Khiến cho người khởi lên vô tận tưởng niệm, há
không mệt mỏi thân tâm ư? Xin trả lời: Nếu thấy đây
là một ly niệm để ngoại cầu vô niệm, mà còn chưa được
cái chơn vô niệm. Chơn vô niệm là niệm vốn không không
làm thế nào lại được cái niệm, cùng vô niệm không chướng
ngại nhau? Nếu như được toàn thể Viên hạnh trong Vô tận
hạnh? Lời hỏi này là cái ý xuất ra trong Hoa Nghiêm Kinh Ðại
Sở. Nếu không tu tập các quán đế võng tương tức, thì
không thể chứng trọn được vô ngại Phật quả. Nay có tiểu
căn nghe pháp môn này liền thêm phiền loạn, hoàn toàn không
thèm để ý. Người xưa nói rằng: con ếch ngồi đáy giếng
không thể biết nơi biển lớn được. Núi Thái Sơn không
thể đựng trong đãy được.
5)Vô
Chướng Ngại Pháp Giới Quán: (Tức đương tức pháp giới
sở y tổng pháp giới quán), nghĩa là thường quán sát tất
cả pháp nhiễm tịnh. Thể của nó toàn là vô chướng ngại
pháp giới tâm. Trí năng quán này cũng tưởng toàn là pháp
giới tâm. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Biết tất cả pháp,
là tâm tự tánh. Thành tựu huệ thân, không do tha ngộ”.
Lại Ngài Thanh Lương nói rằng: “Nếu biết xúc vật đều
là tâm, mới rõ được tâm tánh. Nay trong vô chướng ngại
pháp giới này, vốn đủ ba thế gian, bốn pháp giới. Tất
cả nhiễm tịnh các pháp, chưa có một pháp nào ra ngoài pháp
này, mà pháp giới này đầy đủ cái này, cái kia, xen nhau
vô chướng ngại. Thời biết căn căn, trần trần, toàn là
vô chướng ngại pháp giới. Nếu ở trong bốn oai nghi, thường
quán căn căn, trần trần đều là trùng trùng vô tận pháp
giới, thì tu được cảnh giới phổ nhãn vậy. Quán này là
căn bản của tất cả phép quán tam muội. Nếu thường tu
tập, tất cả tam muội quán môn tự nhiên hiện tiền.” Như
trên đã nói nhiều quán môn, hoặc ưa thích tổng tu, hoặc
tu một, hai phép, tùy lòng đều được. Chỉ chuyên cần tu
luyện, một đời chưa được, ba đời chắc hoàn thành. Lại
nữa, hành giả cần phải nổi lên cái tư tưởng, tưởng
được hiện tiền, thường được hiện không ẩn mới là
Hoa Nghiêm Viên giáo, Chơn Hạnh; Thanh Lương Sở Chú: Sự sự
vô ngại trong mười huyền môn gồm có sáu câu. Năm câu trước
là khởi tưởng tu luyện, luyện được hiện tiền rồi, lại
không tưởng luyện, tuy không tưởng luyện thường hiện không
ẩn, mới thành đệ lục hành cú. Pháp giới quán nói rằng:
“Suy tư thật sâu xa, khiến nó hiện ra trước mắt, viên
minh hiển hiện, xứng hạnh cảnh giới.” Ngài Khuê Sơn thiền
sư giải thích rằng: “Suy tư khiến nó hiện ra chơn giải
vậy. Ðã hiện ra, liền dừng suy tưởng. Tuy không suy tưởng
mà cũng thường hiện ra, không giấu kín mới là thật hạnh.”
Ngài
Nhất Hạnh thiền sư nói rằng: “Trước cần khởi tưởng,
tưởng được hiện tiền, nhiên hậu dùng Bát nhã không mà
tịnh trừ nó. Tức thành bất tư nghì đại dụng, liền đốn
nhập Phật quả. Nếu không khởi tâm quán đó, lầm lãnh hội
ý Bát nhã, dẫu cho có nhập không cũng mất đạo lý viên
đốn, đối với viên tôn hành giả tu luyện chí thiết thì
tự nhiên lời nói biến mất, dứt tuyệt suy nghĩ, liễu liễu
phân minh mới là chơn tu hạnh. Nếu được như vậy trong bốn
oai nghi thường thấy những cảnh giới không thể nghĩ bàn.
Người muốn tu đạo nên lưu tâm sự này, bổn lai như vậy,
chỉ vì mê muội không thấy đó thôi.
Người
tu tâm hoặc có cảnh mộng thiện ác, hoặc gặp các thứ ma
chướng hiện ra các cảnh giới khác: Trái, thuận, hay nghe
các thứ tiếng thiện ác, hoặc các loài trùng kiến bò chạy
trên thân, hoặc thân tâm không an, nhiều lo lắng. Hoặc khi
nhập quán tưởng có các thứ tướng hiện, không đồng với
bổn quán tương ưng v.v… Ðiều cần phải quán đó như chiêm
bao, mộng huyễn, tất cả đều không có thật. Hoặc quán
tất cả là tự chân tâm của mình. Luận Khởi Tín dạy rằng:
“Ðương niệm duy tâm, cảnh giới bèn diệt, không thể làm
hại mình được.”
Từ
trước đến giờ đã nói xong phần HIỂN GIÁO TÂM YẾU.