B.
TẬP HAI
KINH
ÐẠI THỪA
TRANG
NGHIÊM BẢO VƯƠNG
1.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển 1
2.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương , quyển 2
3.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển 3
4.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển 4
5
Kinh Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Ðại Chuẩn Ðề Ðà La Ni
6
Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Ðại Chuẩn Ðề Ðà La Ni Pháp
7
Thất Câu Chi Ðộc Bộ pháp
8
Chuẩn Ðề Biệt pháp
9
Kinh Thánh Lục Tự Tăng Thọ Ðại Minh Ðà La Ni
NAM
MÔ ÐẠI THỪA TRANG NGHIÊM
BẢO
VƯƠNG KINH HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT
(3
lần)
PHẬT
NÓI KINH
ÐẠI
THỪA TRANG NGHIÊM BẢO VƯƠNG
QUYỂN
HAI
Sau
thời kỳ Phật Thức Khí, có Ðức Phật ra đời hiệu là
Tỳ Xá Phù Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Trừ Cái Chướng! Tôi ở
thời ấy làm Nhẫn Nhục Tiên Nhơn nơi thâm sơn. Chỗ ấy
núi cao hiểm trở sỏi đá khô cằn, không người lai vãng
ở lâu trong đó. Bấy giờ, tôi ở chỗ đức Như Lai kia, nghe
công đức oai thần của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát,
Ngài Quán Tự Tại hiện thân vào nơi kim vị, vì Phú Diện
hữu tình mà nói diệu pháp, chỉ bày Bát Chánh Ðạo, đều
khiến chứng được địa vị Niết Bàn. Ra khỏi kim địa
này lại vào ngân địa. Chỗ ấy hữu tình đều là bốn chân.
Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát vì loài hữu tình kia mà nói
pháp: “Ngươi nên lắng nghe! Chánh pháp như vậy, cần phải
phát tâm suy xét chín chắn, ta nay chỉ bày tư lương Niết
Bàn cho ngươi.” Các hữu tình ấy đứng trước Ngài Quán
Tự Tại bạch Bồ Tát rằng: “Hữu tình không mắt, cứu
làm sáng tỏ, khiến được thấy đường. Không nơi nương
nhờ, lại làm cha mẹ, khiến được nhờ nương. Trong đường
tăm tối làm đèn đuốc sáng, khai mở chánh đạo là nguồn
giải thoát. Nếu có hữu tình niệm danh hiệu Bồ Tát thì
được an vui. Chúng tôi thường chịu khổ nạn như vậy.”
Khi ấy tất cả những hữu tình nghe kinh Ðại Thừa Trang Nghiêm
Bảo Vương, được nghe kinh rồi, liền được an vui, chứng
bậc Bất thối.
Bấy
giờ, Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát ra khỏi nơi ấy lại
vào thiết địa mà nơi ấy là chỗ cấm của vua Ðại Lực
A Tô La. Bồ Tát khi vào trong đó hiện thân như Phật. Bây
giờ vu đại Lực A Tô La, từ xa đến nghinh đón Ngài Quán
Tự Tại đại Bồ Tát vào trong vương cung A Tô La, có vô số
quyến thuộc, phần nhiều trong ấy đều là lưng gù xấu xí,
quyến thuộc như vậy đều đế, thân gần lễ bái nơi chân
Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát mà nói bài kệ rằng:
Con
đời nay đắc quả, chỗ nguyện thảy viên mãn.
Mong
cầu được như ý, đấy là chánh kiến con.
Ðã
được thấy Bồ Tát, con và các quyến thuộc đều được
an vui, lại lấy bảo tòa báu dâng hiến Ngài Quán Tự Tại
Bồ Tát, chấp tay cung kính bạch rằng: Bọn quyến thuộc chúng
con từ xưa đến nay ham ưa việc tà dâm, thường ôm lòng sân
hận, ưa giết hại sanh mạng, tạo tội nghiệp âý, tâm con
rất lo buồn, sợ hãi già chết luân hồi, chịu nhiều điều
khổ não, không nơi nương, không chỗ tựa. Cúi mong Ngài thương
tình cứu độ, vì con chỉ bày đường đạo giải thoát.
Ngài
Quán Tự Tại Bồ Tát dạy rằng: Thiện nam tử! Ðức
Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác thường làm hạnh khất thực,
nếu ai bố thí đồ ăn sẽ được phước đức nói không
kể hết. Thiện nam tử! Chẳng những thân tôi tại hang A Tô
La này nói không thể hết, mà cho đến như mười hai Căng
già hà sa số Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đều ở một
chỗ, cũng không thể nói hết phước đức số lượng như
thế. Thiện nam tử! Vi trần đã có, tôi có thể đếm số
lượng của nó được. Thiện nam tử! Cúng thí cơm cho đức
Như Lai được phước đức đó, tôi không thể nói hết số
lượng. Thiện nam tử! Lại như nước biển lớn, tôi có thể
đếm mỗi một giọt nước kia được. Thiện nam tử! Cúng
thí đồ ăn cho đức Như Lai thì được phước đức tôi không
thể nói hết số lượng. Thiện nam tử! Lại như bốn đại
châu, đã có người nam, kẻ nữ, con trai, con gái, thảy đều
gieo ruộng, đầy khắp bốn đại châu, không trồng giống
khác, chỉ gieo hạt cải. Long rồng thuận thời, thường được
mưa xuống, hạt cải chắc tốt, nơi trong một châu lấy làm
sân chứa, giậm đạp xong rồi gom thành đống lớn. Thiện
nam tử! Như vậy tôi có thể đếm hết số mỗi một hạt
cải. Thiện nam tử! Cúng thí đồ ăn cho đức Như Lai được
phước đức tôi không thể nói hết số lượng. Thiện nam
tử! Lại như núi Diệu Cao Sơn Vương vào nước tám vạn bốn
ngàn Du thiện na, ra nước tám vạn bốn ngàn Du thiện na. Thiện
nam tử! Như vậy núi Vương kia lấy làm giấy, lấy nước
biển lớn chứa đầy trong đó, đều làm nước mực. Ðem
bốn đại châu gồm có tất cả kẻ nam, người nữ, con trai,
con gái, thảy đều chép viết lượng núi Diệu Cao đã chứa
giấy ấy, chép hết không sót, như vậy tôi có thể đếm
số mỗi một chữ kia. Thiện nam tử! Cúng thí món ăn cho đức
Như Lai được phước đức mà tôi không thể nói số lượng.
Thiện nam tử! Như vậy tất cả người chép viết ấy, đều
đắc Thập Ðịa Bồ Tát vị. Như vậy Bồ Tát đã có
phước đức, cùng với cúng thí cho đức Như Lai một bữa
ăn, lượng phước đức kia bằng nhau không khác. Thiện nam
tử! Như Căng già sa hà sa số biển lớn, trong đó có số
cát, tôi có thể đếm mỗi một hột các kia. Thiện nam tử!
Cúng dường bữa ăn cho đức Như Lai được phước đức mà
tôi không thể nói hết số lượng. Lúc bấy giờ vua Ðại
Lực A Tô La nghe nói việc đó buồn khóc thảm thiết, lệ
chảy tuôn tràn, ôm lòng buồn khổ nghẹn ngào than thở. Bạch
Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát rằng: Con từ xa xưa làm việc bố
thí, nhưng chỗ thí ấy tối tăm phi pháp, do việc thí ấy
cho nên con nay và các quyến thuộc ngược lại phải chịu
nghiệp báo ràng buộc ở trong ác thú, nay đây làm thế nào
đem ít phần thực, phụng dâng Như Lai biến thành cam lồ.
Con từ xưa đến nay ngu si vô trí, tập hành ngoại đạo pháp
Bà la môn. Thời ấy có một người thân hình hèn xấu, đến
nơi chỗ con cầu xin cần thiết. Con đem bày đủ các thứ
mão báu đẹp đẽ, vàng bạc vòng tai, y phục thượng diệu,
đủ báu trang nghiêm, đồ đựng ứ già … Lại có trăm
ngàn voi ngựa xe báu, chơn châu anh lạc, lưới báu trang nghiêm,
treo các chuỗi ngọc xen nhau trong sức, có các thức tàn báu,
lưới báu, màng trướng, trên treo các linh báu tiếng khua lung
linh mầu nhiệm. Lại có một ngàn con trâu màu vàng lông sắc
tuyệt đẹp, móng bạc trang nghiêm, sừng vàng phục sức. Lại
dùng các báu xen nhau trang điểm. Còn có một ngàn đồng nữ
hình thể đẹp đẽ, dung mạo đoan nghiệm, dường như thiên
nữ, đầu đội mão trời, vàng báu đeo tai, thân mặc diệu
y, lưng đeo dây báu, vòng quý đeo tay, chuỗi ngọc anh lạc,
khua rung êm diệu, tràng hoa mầu nhiệm, các thứ như vậy thân
đều trang sức. Lại có các thứ tòa báu vô số trăm ngàn.
Còn có các thứ vàng bạc châu báu chứa để vô số. Có các
trâu dê số trăm ngàn vạn, và người chăn thả cũng nhiều
như thế. Các thứ đồ ăn mỹ vị thơm tho như ở cõi trời.
Còn có vô số linh báu, vô số tòa sư tử bằng vàng bạc,
vô số phất trần vàng báu đẹp đẽ. Vô số đồ bảy báu
trang nghiêm tàn lọng. Khi bày đủ các thứ như vậy làm đại
bố thí, thì có trăm ngàn Tiểu vương đều đến nhóm hội.
Có vô số trăm ngàn muôn chúng Sát Ðế Lợi cũng đến nhóm
hội.
Khi
con thấy rồi lòng sanh nghi hoặc. Ðương thời ấy con là tối
tôn, đủ thế lực mạnh thống lãnh đại địa. Con y phép
Bà la môn, chuyên làm sám hối túc thế ác nghiệp, muốn giết
các Sát đế lợi và vợ con quyến thuộc của họ, lấy cắt
tim gan để cúng tế trời, mong trời diệt tôi. Khi ấy con
đem trói hết tay chân và nhốt hết vào trong hang cấm bằng
đồng trăm ngàn người biên địa, cũng đều bỏ vào trong
hang cấm, lấy dây sắt trói vào cột sắt, trói cột tay chân
tất cả người ấy. Bây giờ con tạo dựng cửa hang, lấy
cây thường làm lớp cửa thứ nhứt, lấy cây khư nhĩ làm
lớp cửa thứ hai, dùng sắt làm lớp cửa thứ ba, lấy thục
đồng làm lớp cửa thứ tư, lấy sanh đồng làm lớp cửa
thứ năm, lấy bạch ngân làm lớp cửa thứ sáu, lấy
huỳnh
kim làm lớp cửa thứ bảy, trên bảy lớp cửa như vậy. Mỗi
cái dùng năm trăm dây xiềng đóng chắc chắn, lại nơi mỗi
cửa đè lên một hòn núi. Khi ấy có trời Na La Diên thoạt
nơi một ngày hiện thân làm con ruồi bay đến dò xem. Lại
một ngày nữa hiện hình con ong. Lại một ngày nữa hiện
hình con thân heo. Một ngày nọ hiện tướng phi nhơn. Cứ thế
ngày ngày thân tướng thay đổi dò xem. Con bây giờ trong tâm
suy nghĩ làm làm phép Bà la môn, trời Na La Diên thấy con làm
phép đó, đến nơi hang đồng mà phá hoại dẹp bỏ bảy lớp
cửa, đem mỗi hòn núi ném qua nơi khác và lớn tiếng kêu
những người bị trói rằng: Vô Thắng Thiên Tử! Các ngươi
thân chịu đại khổ não, thân mạng các ngươi còn sống hay
đã chết. Những người này nghe tiếng kêu hỏi, lên tiếng
trả lời: “Mạng tôi nay còn đây.” Trời Na La Diên Tôn
sai Ðại Lực Tinh Tấn cứu khổ nạn tới, trời kia liền
pháp hoại hang đồng cùng bảy lớp cửa, khi ấy các tiểu
vương ở tại hang đồng, liền được thoát nạn trói buộc
mà thấy trời Na La Diên.
Bấy
giờ những người lòng toan suy nghĩ, Ðại Lực A Tô La Vương
kia đã chết rồi ư? Hay lại ở đâu hay chết phương
nào? Những Sát đế lợi lại nói lên rằng: Tôi thà cùng
họ đối địch giết nhau chết mà còn có đất, chứ không
chịu trói cột thế này đến phải chết, tôi nay sẽ y pháp
Sát đế lợi cùng họ chiến đấu giết nhau, giả như có
chết tại nơi đất ấy cũng được sanh Thiên. Giờ các Tiểu
vương nơi tại nhà mình bày biện xe giá, yên cương dây ngựa,
tay cầm dùi gậy muốn đại chiến đấu.
Bấy
giờ, trời Na La Diên hiện Bà la môn thân hình lùn xấu, mặc
áo giáp da, quấn quanh nơi vai, trong tay nắm cầm chĩa ba cây
nhọn, làm vật tùy thân, qua đến cửa con. Khi ấy kẻ giữ
cửa bảo người kia rằng: Không nên vào cửa này, người
ông hèn xấu, chớ có vào trong. Bà la môn nói: Tôi nay từ
xa mà qua đến đây. Kẻ giữ cửa hỏi Bà la môn rằng: Ông
từ đâu đến? Bà la môn đáp: Tôi là Ðại Tiên Nhơn làm
Quốc vương xứ Nguyệt Thị, từ đó mà đến đây. Bây giờ
kẻ giữ cửa đến chỗ Ðại Lực A Tô La Vương nói: Người
ấy nay đến đây để làm gì? Người giữ cửa nói: Tôi nay
không biết họ đến làm gì? Ðại Lực A Tô La Vương bảo
rằng: Ngươi đi kêu Bà la môn đến. Người giữ cửa vâng
lệnh gọi Bà la môn vào trong. Ðaị Lực A Tô La vương thấy
rồi liền mời ngồi tòa báu. Kim Tinh là thầy đã được
A Tô La Vương hầu hạ phụng sự ở trong đó, bảo Ðại Lực
A Tô La Vương rằng: Nay Bà la môn này là người đại ác,
lại đến đây quyết định phá hoại thầy ông. Nay sao biết
ư? Bảo rằng: Tôi nay biết đó. Sao biết thân ta đã
hiện ấy là trời Na La Diên? Ðã nghe thấy rồi tâm liền
suy nghĩ. Con làm huệ thí thì không phản phúc, nay đến chướng
nạn phá hoại nơi con. Ðại Lực A Tô La nói: Con miệng biện
tài cần gì hỏi Bà la môn: Ông đến chỗ tôi là có ý gì?
Bà la môn đáp: Tôi đến xin vua hai dặm đất. A tô La bảo
Bà la môn rằng: khanh cần xin hai dặm đất, tôi sẽ cho khanh
đất kia ba dặm. Trước lấy bình vàng trao nước tịnh thủy,
bảo rằng cần đất khanh sẽ thọ lấy. Bà la môn thọ rồi
mà chúc nguyện an vui trường thọ.
Bấy
giờ Bà la môn biến mất thân hìn xấu xí. Lúc ấy Kim tinh
bảo A Tô La Vương rằng: Ông nay sẽ chịu ác nghiệp quả
báo. Bây giờ trời Na La Diên thoạt nhiên hiện thân, trên
vai gánh hai vầng nhật nguyệt tay cầm gươm bén, tay bưng luân
báu cung tên cây gậy. Khi ấy Ðại Lực A Tô La Vương bỗng
nhiên thấy rồi giựt mình run sợ, thân người té xỉu mê
man dưới đất, giây lâu mới tỉnh, nay phải sao đây! Ta thà
tự vẫn thuốc độc mà chết ư? Khi ấy trời Na La Diên
đang đo số đất chỉ còn hai dặm chứ không có nữa, chẳng
đủ ba dặm trái lời hứa trước, tôi nay làm? Na La Diên nói
với vua rằng: Nay phải nên theo lời tôi chỉ bảo. Lúc đó,
Ðại Lực A Tô La Vương thưa rằng: Tôi xin vâng lời chỉ
giáo. Trời Na La Diên nói: Ngươi thật ấy ư? Ðại Lực
A Tô La Vương thưa: Tôi như thật vậy. Ðây là lời thành
thật tôi không hối tiếc.
Thời
ấy con y Bà la môn giáo, làm chỗ tác pháp đều bị phá hoại
những của cải đã có, vàng bạc trân báu, đồng nữ trang
nghiêm, y phục linh báu, tàn lọng, phất mầu, bảo tòa sư
tử, trâu vàng nghiêm báu, cùng các quý khác trang nghiêm đầy
đủ. Bấy giờ tiểu vương cùng thảy các chúng đều thọ
nhận lấy, tức thời ra khỏi nơi chỗ tác pháp Ðại Lực
A Tô La vơng.
Vua
Ðại Lực A Tô La bạch Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát rằng:
Con nay tâm hằng suy nghĩ, vì khi xưa kia y pháp Bà la môn, làm
đại hội bố thí, việc bố thí của con thật mê muội sai
lầm. Con nay và các quyến thuộc, vì thế bị cầm giữ trong
hang sắt này, chịu đại khổ não. Ngài Quán Tự Tại! Con
nay xin quy y, mong Ngài thương xót, cứu thoát chúng con khỏi
khổ nạn. Rồi làm lời khen rằng:
Quy
mạng Ðại Bi Liên Hoa Thủ,
Ðại
Liên Hoa Vương đại Cát Tường.
Các
thứ trang nghiêm diệu sắc thân,
Ðầu
đội mão trời trang nghiêm các báu.
Ðảnh
đội Di Ðà nhất thiết trí,
Cứu
độ hữu tình hằng vô số.
Người
thì bịnh khổ cầu an vui,
Bồ
Tát hiện thân làm thầy thuốc.
Mắt
sáng mặt trời nơi đại địa,
Tối
thượng thanh tịnh mắt mầu nhiệm.
Chiếu
soi hữu tình được giải thoát,
Ðược
giải thoát rồi diệu tương ưng.
Cũng
như như ý ma ni bảo,
Hay
hộ chơn thật diệu Pháp Tạng.
Thường
hằng nói sáu Ba la Mật,
Xương
dương pháp ấy đủ đại trí.
Con
nay khẩn thiết đến quy y,
Khen
ngợi Ðại Bi Quán Tự Tại.
Hữu
tình nhớ niệm danh Bồ Tát,
Lìa
khổ giải thoát được an vui.
Tạo
gây ác nghiệp đọa Hắc Thằng,
Và
đại A Tỳ địa ngục đạo.
Có
các ngã quỷ nơi khổ thú,
Sợ
sệt xưng danh đều giải thoát.
Như
vậy ác đạo các hữu tình,
Thảy
đều lìa khổ được an vui.
Nếu
người hằng niệm Ðại Sĩ danh,
Sẽ
được vãng sanh cõi Cực Lạc.
Thấy
Phật Như Lai Vô Lượng Thọ.
Ðược
nghe diệu pháp chứng Vô Sanh.
Lúc
ấy Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát thọ ký cho Ðại Lực
A Tô La Vương: Ông đời vị lai sẽ được thành Phật, hiệu
rằng Cát Tường Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ông ở thời ấy
sẽ chứng sáu chữ Ðại Minh của môn Tổng Trì. Nay đây tất
cả các A Tô La Vương, ở đời sau ông đều cứu độ. Tất
cả hữu tình ở cõi Phật như vậy,
không
còn có tiếng tham sâm si. Bây giờ Ðại Lực A Tô La Vương
đã được thọ ký rồi, liền lấy trân châu anh lạc giá
trị trăm ngàn cùng các thứ diệu báu mầu nhiệm trang nghiêm,
trăm ngàn muôn số mão trời vàng ngọc vòng tai, dâng lên nguyện
mong thọ nhận.
Lúc
bấy giờ Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát bảo Ðại Lực
A Tô La Vương rằng: Ta nay vì ông nói pháp, ông hãy lắng nghe
mà suy nghĩ, đời người là vô thường giả tạm, mạng căn
khó bền lâu, trong tâm các ông thường suy nghĩ tham đắm đầy
đủ đại phước đức, lòng thì thường mến nhân dân tôi
tớ, cho đến lúa nếp kho lẫm và kho tàng của báu. Tâm thường
luyến cha mẹ, vợ con, cho đến các quyến thuộc, những thứ
như vậy tuy hằng thương yêu nhưng chỉ như chiêm bao đã thấy,
khi mạng chết rồi không thể thay nhau cứu được. Mong được
sống lâu ở Nam Thiệm bộ này, do điên đảo đó nên sau khi
mạng chung, thấy sông Nại Hà máu huyết tràn đầy, lại thấy
cây lớn lửa hừng cháy mạnh. Thấy việc ấy rồi tâm sanh
khiếp sợ, khi ấy Diêm Ma ngục tốt lấy dây cột trói, vội
vã dắt đi trên đường lớn đầy chông dao bén nhọn. Mỗi
cất bước đi là chẻ cắt đứt thương, có vô số chim la
la, chim thứu hung tợn và những chó dại gầm rú ăn thịt.
Ở tại địa ngục chịu cảnh cực khổ kia, trong đường
đi lớn đầy dao nhọn bén, lại còn có những cây gai nhọn
dài đến mười sáu ngón tay, mỗi bước có năm trăm mũi dao
nhọn đâm vào bàn chân, đau đớn khóc than kêu gào thảm thiết
mà nói rằng: Những hữu tình chúng tôi đều ưa tạo tội
nghiệp, nay phải chịu đại khổ, tôi nay biết làm thế nào?
Khi ấy Diêm Ma ngục tốt bảo rằng: Ngươi từ xưa đến nay
chưa từng đem cơm cúng dường cho các bậc Sa Môn, cũng chưa
từng nghe những tiếng pháp âm thâm diệu hòa nhã, chưa từng
đi nhiễu tháp tượng Phật. Khi ấy các tội nhơn bảo Diêm
Ma ngục tốt rằng: Tôi là tội chướng đối với Phật, Pháp,
Tăng, không cung kính tín hiểu mà thường xa lìa. Ngục tốt
bảo rằng: Chính ngươi đã tự tạo các ác nghiệp, nay phải
chịu khổ báo, ngục tốt đem các tội nhơn ấy đến chỗ
vua Diêm Ma, đến rồi đứng trước mặt. Khi ấy vua Diêm Ma
nói rằng: Ngươi đi đến ở nơi chỗ nghiệp báo. Khi ấy
Diêm Ma ngục tốt lãnh dắt tội nhân bỏ vào đại địa ngục
Hắc Thằng, đến rồi các tội nhơn ấy bị ném bỏ vào trong
địa ngục, đã ném vào rồi, mỗi một tội nhơn đều bị
trăm vết thương, thân thể vị dùi cắt mạng đều không
chết. Lại bị hai trăm vết thương lớn, thân thể đều bị
dùi cắt mạng cũng không chết. Lại có ba trăm vết thương
lớn, đồng thời dùi cắt thân mạng kia cũng không chết,
mạng vẫn còn sống. Khi ấy đem ném vào hầm lửa lớn mạng
cũng không chết. Lúc ấy lại lấy cục sắt nóng nhét vào
trong miệng tội nhơn bắt phải nhai nuốt, môi răng lưỡi
nứu, cổ và yết hầu đều bị cháy nát, cả tim gan ruột
bụng cũng đều bị nướng, khắp thân cháy hoại như rang
khô. Quán Tự Tại dạy Ðại Lực A Tô La Vương rằng: Khi
chịu những cái khổ đó không một ai thay nhau cứu được,
ngươi nên biết vậy. Ta nay vì ngươi nói pháp đó, các ngươi
phải đem thân tự mình làm phước. Bấy giờ Ngài Quán Tự
Tại bảo Ðại Lực A Tô La Vương rằng: Ta nay muốn đến
rừng cây Kỳ Ðà, ngày nay ở tại đó đại chúng đang nhóm
hội.
Khi
ấy Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát phóng vô số sắc hào quang
sáng: Hào quang sắc xanh, hào quang sắc vàng, hào quang màu hồng,
hào quang màu trắng, hào quang màu pha lê, hào quang màu sắc
sáng màu vàng kim … Những hào quang đó chiếu đến trước
đức Tỳ Xá Phù Như Lai. Bấy giờ trời, rồng, dược xoa,
la sát bà, Khẩn Na La, Ma Hộ La nga và các người cùng thảy
đều nhóm hội. Lại có vô số đại Bồ Tát cũng đến nhóm
hội. Trong chúng ấy có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng
từ chỗ ngồi đứng dậy sửa y áo trịch vai bên hữu, gối
hữu sát đất, chấp tay cung kính hướng về đức Thế Tôn
mà bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Hào quang sáng này là từ
đâu đến? Phật dạy: thiện nam tử! Hào quang sáng ấy là
của Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát ở trong cung Ðại Lực A Tô
La Vương phóng ra đến đây. Bấy giờ Ngài Hư Không Tạng
Bồ Tát bạch đức Thế Tôn rằng: con nay làm cách nào để
có thể thấy Ngài Quán Tự Tại kia? Phật bảo: Thiện nam
tử! Bồ Tát kia Ngài sẽ đến đây.
Ngài
Quán Tự Tại Bồ Tát khi ra khỏi vương cung Ðại Lực A Tô
La, vườn cây Kỳ Ðà bỗng nhiên hiện cây Thiên Diệu Hoa,
cây Thiên Kiếp Ba, lại có vô số chư Thiên đẹp đẽ sắc
tướng trang nghiêm, trên cây treo trăm thứ chơn châu chuỗi
ngọc anh lạc, các thứ Kiều Thi Ca y rất đẹp và các thứ
y phục khác. Cây nhánh đều là sắc thẫm hồng, vàng bạc
thì làm lá. Lại có vô số cây hương thơm vi diệu và những
cây hoa nhiệm mầu, vô số ao báu trong ao báu ấy có trăm ngàn
muôn sắc diệu hoa xen nhau tỏa khắp mùi hương. Khi cảnh xuất
hiện ra những điều như vậy, Ngài Hư Không Tạng bồ tát
bạch đức Thế Tôn rằng: Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát nay ở
đâu mà chưa thấy đến?
Phật
dạy: Thiện nam tử! Ngài Quán Tự Tại từ vương cung Ðại
Lực A Tô La ra rồi, lại có một chỗ gọi là Hắc Ám, không
người năng đến. Thiện nam tử! Chỗ Hắc Ám kia ánh sáng
mặt trời mặt trăng không thể chiếu thấu, có như ý bảo
gọi là tùy nguyện, ở trong đó thường khi pháp ra ánh sáng
chiếu soi, nơi ấy có vô số trăm ngàn Dược Xoa an trú. Khi
thấy Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát đi vào, lòng chúng quá vui
mừng nhảy nhót hớn hở, đến chiêm ngưỡng nghinh đón Ngài
Quán Tự Tại Bồ Tát, đầu mặt lễ sát chân mà thưa hỏi
rằng: Bồ Tát nay vào đây không mệt nhọc ư? Lâu nay
không thấy đến chỗ Hắc Ám này? Ngài Quán Tự Tại Bồ
Tát nói: Ta vì cứu độ các hữu tình nên đến đây. Bây
giờ chúng Dược Xoa, La Sát đem tòa sư tử Thiên Kim Bảo mà
thỉnh Ngài an tọa. Bồ Tát liền vì Dược Xoa, La Sát mà thuyết
pháp: Các ngươi nên lắng nghe! Có kinh Ðại Thừa tên Trang
Nghiêm Bảo Vương. Nếu có người được nghe một bài kệ
bốn câu mà hay thọ trì đọc tụng, giải nói nghĩa lý, tâm
thường suy nghĩ sẽ được phước đức không có hạn lượng.
Thiện nam tử! Vi trần đã có, ta có thể đếm số lượng
được. Thiện nam tử! Nếu có người đối với kinh Ðại
Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương này có thể thọ trì một bài
kệ bốn câu thì phước đức kia ta không thể đếm số lượng.
Như nước biển lớn, ta có thể đếm từng giọt một. Ðối
với kinh này mà thọ trì một bài kệ bốn câu, phước đức
ấy ta không thể tính số lượng được. Giả sử mười hai
Căng già ha sa số Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, trải
qua mười kiếp đều ở một chỗ, thường lấy y phục, ngọa
cụ, thuốc thang, đồ ăn uống và các món cần dùng khác dâng
cúng chư Phật, cũng không thể nói hết số lượng phước
đức kia được. Chẳng những chỉ mình ta ở chỗ Hắc Ám
mà nói không thể hết. Thiện nam tử! Lại nữa, người trong
bốn châu lớn mỗi ngươì tự mình xây dựng nhà cửa, tạo
lập tịnh xá, trong đó lấy toàn vàng báu cõi trời tạo dựng
ngàn tháp nhiều tầng (Suất Ðổ Ba), trong một ngày hết thảy
thành tựu các công đức cúng dường, không bằng đối với
kinh này mà thọ trì đọc tụng một bài kệ bốn câu. Thiện
nam tử! Như năm sông lớn dẫn nước về đại hải, những
dòng nước như thể không có cùng tận. Nếu có người hay
thọ trì kinh Ðại Thừa này bốn câu kệ thì phước đức
thu được cũng bất tận vậy.
Bấy
giờ Dược Xoa, La sát bạch Ngài Quán Tự Tại rằng: Nếu
có hữu tình mà hay biên chép kinh Ðại Thừa này thì phước
đức kia thế nào? Thiện nam tử! Phước đức ấy vô cùng
vô tận. Nếu có người hay biên chép kinh này, cùng với người
biên chép tám vạn bốn ngàn pháp tạng phước đức ấy bằng
nhau. Người đó sẽ được địa vị Chuyển luân Thánh vương,
thống lãnh bốn đại châu oai đức tự tại, diện mạo đoan
nghiêm, ngàn thiên nữ vây quanh hầu hạ, tất cả kẻ địch
tự nhiên thần phục. Nếu có người chỉ thường niệm danh
hiệu kinh này, ngươì đó mau được giải thoát khổ báo luân
hồi, xa lìa già chết, ưu bi khổ não. Người đó sau khi sanh
nơi nào cũng nhớ được túc mạng đời trước, thân thường
có mùi thơm ngưu đầu chiên đàn, trong miệng thường tỏa
ra mùi thơm hoa sen xanh, thân tướng viên mãn, đầy đủ đại
thế lực.
Khi
thuyết pháp rồi, các Dược xoa, La sát có kẻ chứng được
Thánh quả Dự lưu. Trong đó hoặc có kẻ đắc quả Nhất
lai mà nói lên lời như thế này: Cầu xin Bồ Tát ở lại
chỗ này chớ đi nơi khác. Con nay ở chỗ Hắc Ám này, lấy
vàng báu tạo chỗ kinh hành. Khi ấy Ngài Quán Tự Tại đại
Bồ Tát dạy rằng: Ta vì cứu độ vô số hữu tình khiến
được đạo Bồ đề cho nên muốn đi nơi khác. Lúc ấy các
Dược xoa, La sát đều cúi đầu, lấy tay chống má bồi hồi,
lòng càng lưu luyến mà nghĩ như thế này: Nay Ngài Quán Tự
Tại đại Bồ Tát bỏ đây mà đi, sau này ai vì chúng ta nói
pháp vi diệu.
Ngài
Quán Tự Tại đại Bồ Tát ở đây ra đi, các Dược xoa, La
sát đều đi theo mà đưa tiễn. Ngài Quán Tự Tại đại Bồ
Tát bảo rằng: Các ngươi đưa đi xa rồi nên trở về chỗ.
Các Dược xoa, La sát đầu mặt sát đất đảnh lễ bên chân
Ngài Quán Tự Tại rồi mới trở về chỗ cũ.
Khi
ấy Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát cũng như ánh lửa xẹt
lên hư không, đến thẳng cung trời, đến cung trời Ngài hiện
thân là Bà la môn. Trong các thiên chúng kia, có một vị Thiên
tử gọi là Diệu Nghiêm, mà lại thường chịu khổ báo nghèo
cùng.
Bấy
giờ Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát hiện thân Bà la môn đến
chỗ Thiên tử đó, đến rồi bảo rằng: Tôi bịnh hoạn đói
khát và lại mệt nhọc. Lúc ấy Thiên tử khóc than mà bảo
Bà la môn rằng: Tôi nay nghèo thiếu không có vật chi để
dâng. Bà la môn nói tôi rất cần xin đem biếu tôi chút ít
phần. Thiên tử lúc ấy gắng gượng vào cung tìm tòi
coi có vật chi, thoạt tiên thấy các đồ đựng báu lớn,
lại có các thứ quý báu khác đựng đầy trong đó. Lại có
đồ quý trong ấy đựng đầy thức ăn uống thượng vị.
Lại có thượng diệu y phục để trang nghiêm nơi thân đầy
khắp trong cung. Lúc đó Thiên tử lòng toan suy nghĩ: Bà la môn
ngoài cửa phải là người không thể nghĩ bàn, khiến
tôi được phước thù thắng phi thường, phải mời vị đại
Bà la môn kia vào trong cung điện. Vua đem những đồ quý báu
và các thức ăn uống cao lương mỹ vị cúng dường. Thọ
lãnh đồ cúng dường rồi vị Bà la môn chúc vua an vui trường
thọ.
Bấy
giờ Thiên tử bạch Bà la môn rằng: Hiền giả từ phương
nào đến đây? Bà la môn nói: Tôi từ trong đại tịnh xá
rừng cây Kỳ Ðà mà đến đây. Thiên tử hỏi rằng: Chỗ
đó thế nào? Bà la môn bảo: Tịnh xá ở trong rừng cây Kỳ
Ðà, nơi ấy thanh tịnh, xuất hiện ma ni báu trời và cây
Kiếp Thọ trang nghiêm. Lại hiện ra các thứ ma ni quý báu
khác lòng rất ưa thích. Còn hiện ra các thứ ao báu. Lại
có vô số các vị đại chúng giới đức oai nghiêm đầy đủ
đại trí tuệ, cùng xuất hiện trong đó. Ở đó có Ðức
Phật hiệu Tỳ Xá Phù Như Lai. Nơi ấy là chỗ Thánh Thiên
an trụ, có việc biến hóa xuất hiện như thế. Bấy giờ
Thiên tử bạch hiền giả rằng: Thế nào Ngài đại Bà la
môn nên nói thật Ngài là trời hay là người? Hiền giả!
Làm sao lại xuất hiện các việc ấy? Bà la môn nói: Tôi chẳng
phải trời chẳng phải ngươì. Tôi là Bồ Tát vì muốn cứu
độ tất cả hữu tình, thấy được đại Bồ Tát đạo.
Thiên tử nghe rồi liền lấy Thiên diệu mão báu, vòng tay
ngọc quý trang nghiêm đem dâng cúng dường, nói kệ khen rằng:
Con
gặp được công đức, xa lìa các tội lỗi,
Như
nay trồng ruộng tốt, hiện chắc được quả báo.
Khi
Thiên tử nói kệ rồi, vị Bà la môn kia việc hóa độ đã
xong mà liền ra khỏi Thiên cung. Liền khi ấy qua nước Sư
Tử. Ðến nơi đứng trước mặt các nữ La sát, hiện thân
tướng đẹp đẽ trang nghiêm lạ kỳ. Các La sát nữ thấy
vẻ đẹp ấy khởi lên dục tâm, đem lòng hâm mộ, bước
đến gần mà bảo rằng: Ông có thể làm chồng tôi, tôi là
gái trẻ đẹp, chưa từng sính đôi, mong được làm chồng
tôi, nay đã đến đây chớ đi nơi khác, như người vô chủ
mà lại được chủ, nhà nhà tối gặp đèn sáng, tôi này
giàu có kho lẫm chứa đầy đồ ăn, thức uống, y phục và
có vườn đầy trái ngon ngọt, có ao tắm trong mát vừa lòng.
Vị Bà la môn bảo bọn nữ La sát rằng: Các ngươi nên lắng
nghe ta nói. La sát nữ thưa: Xin nghe lời chỉ dạy. Bà la môn
bảo: Ta nay vì các ngươi nói pháp Bát Thánh Ðạo và nói pháp
Tứ Thánh Ðế … Bây giờ bọn nữ La sát nghe pháp rồi, đều
được chứng Thánh quả, có người được quả Dự lưu, có
người được quả Nhất lai, không còn khổ tham sân si, không
khởi ác tâm, không ý giết hại sinh mạng, lòng mến chánh
pháp , vui trọn nơi giới. Bọn La sát nói: Chúng tôi từ nay
trở đi không dám giết hại, như người Nam Thiệm Bộ châu
giữ gìn giới luật, sống đời trong sạch, ăn uống thanh
tịnh. Chúng tôi từ nay nguyện sống cuộc đời như vậy.
Thế là bọn nữ La sát không còn tạo nghiệp ác nữa và giữ
giới thanh tịnh.
Ngài
Quán Tự Tại đại Bồ Tát ra khỏi nước Sư Tử, lại qua
đại thành Ba La Nại. Chỗ ấy xấu xa nhơ nhớp, có vô số
trăm ngàn vạn loại sâu giòi chen sống nơi ấy. Ngài Quán
Tự Tại Bồ Tát vì muốn cứu độ các hữu tình kia nên hiện
ra con ong bay đến miệng phát ra tiếng: “NẴNG MỒ MỘT ÐÀ
DÔ (Nam Mô Phật Ðà Da), các loài trùng nghe tiếng ấy, cùng
nhau lên tiếng như thế. Do sức oai lực ấy, loài sâu trùng
kia, thân kiến tuy chấp như núi cao và đầy các tùy hoặc
phiền não, trí Kim Cang xử đều phá hoại tất cả, liền
được vãng sanh về Cực Lạc thế giới, đều làm Bồ Tát
đồng danh Diệu Hương Khẩu.
Ở
đó Ngài cứu độ các loài hữu tình kia rồi, Ngài Quán Tự
Tại liền ra khỏi thành Ba La Nại, qua đến nước Ma Dà Ðà.
Khi ấy trong nước gặp trời nắng hạn hơn hai mươi
năm. Ngài thấy dân chúng và các hữu tình đói khát khổ não,
đều ăn thịt lẫn nhau. Lúc ấy Bồ Tát Quán Tự Tại suy
nghĩ: “Lấy phương pháp gì để cứu hữu tình này?”. Bây
giờ Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát giáng xuống những trận mưa,
nước mưa thấm ướt khắp hết những nơi khô khan. Sau tiếp
mưa rơi đầy các thứ đồ đựng, nước trong mỗi đồ đựng
biến thành những món ăn thức uống ngon ngọt, các người
kia được ăn uống no đủ.
Khi
ấy Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát lại giáng xuống những trận
mưa hạt giống như lúa, mè, đậu, bắp cùng các thứ khác
cần dùng. Những người nơi đó thọ dụng tùy ý đầy đủ.
Bây giờ tất cả nhân dân trong nước Ma Dà Ðà lấy làm kinh
ngạc chưa từng có. Dân chúng nhóm hội một chỗ, đã khi
đang nhóm họp các người đồng nói lên rằng: Oai lực của
trời nay vì sao lại đến như thế? Trong đám dân chúng ấy
có một cụ già lưng khòm, tay chống gậy, người này sống
lâu vô số trăm ngàn tuổi, bảo các người rằng: Chẳng phải
oai lực trời đâu! Nay đã hiện ra thế này, chắc là oai thần
biến hiện của Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát. Các người hỏi
rằng: Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát kia làm thế nào mà xuất
hiện ra điềm tốt ấy? Ông già nói: “Ngài Thánh Quán Tự
Tại dùng oai thần lực biến tối tăm thành đèn sáng, biến
trời nóng bức thành bóng che mát, nơi nào thiếu khát hiện
ra dòng sông, nơi nào sợ sệt liền ban vô úy, bịnh khổ bức
bách hiện thầy thuốc hay, hữu tình thọ khổ biến làm cha
mẹ, khiến chúng sanh trong A Tỳ địa ngục thấy được đạo
Niết Bàn, hay khiến tất cả hữu tình trong thế gian đều
được công đức, lợi ích an vui. Nếu có người niệm danh
hiệu Ngài Quán Tự Tại thì người đó tương lai xa lìa tất
cả khổ não luân hồi. Những ngươì nghe rồi đều nói lành
thay! Nếu có người ở trước tượng Ngài Quán Tự Tại mà
kiến lập đàn vuông (Mạn noa la), thường dùng hương hoa cúng
dường Bồ Tát Quán Tự Tại, người đó sẽ được Chuyển
luân Thánh vương, có bảy báu đầy đủ như: Kim luân báu,
voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, chủ kho tàng báu, chủ
binh báu. Ðược bảy báu như thế. Nếu có người đem dâng
một cành hoa cúng dường Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thì
thân ngươì đó tiết ra mùi thơm, sanh vào nơi nào thân tướng
cũng đầy đủ.
Ông
già ấy sau khi kể công đức thần lực của Ngài Quán Tự
Tại Bồ Tát rồi thì cùng với các người khác trở về chỗ
ở.
Bấy
giờ, Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát bay lên hư không suy nghĩ:
“Ta lâu không thấy đức Tỳ Xá Phù Như Lai, nay trở về
rừng cây Kỳ Ðà nơi trong tịnh xá để thấy đức Thế Tôn”.
Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát liền trở về tịnh xá, thấy có
vô số trăm ngàn vạn trời, rồng,
Dược
xoa, Ngạn đạt phạ, A Tô la, Nghiệt lỗ noa, Khẩn Na La, Ma
hộ la nga, người và chẳng phải người. Lại có vô số trăm
ngàn vạn Bồ Tát đều đang nhóm hội. Lúc ấy Ngài Hư Không
Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: Thưa đức Thế Tôn! Vị đến
đây là Bồ Tát nào? Phật dạy: Thiện nam tử! Ðó là Ngài
Quán Tự Tại đại Bồ Tát. Khi đó Ngài Hư Không Tạng Bồ
Tát ngồi lặng thinh. Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát nhiễu quanh
Phật ba vòng rồi trở về bên trái mà ngồi. Bấy giờ đức
Thế Tôn an ủi mà nói rằng: Ông không mệt nhọc ư?
Thiện nam tử! Ông ở các nơi làm việc giáo hoá thế nào?
Ngài Quán Tự Tại liền kể hết những việc giáo hoá đã
qua, tôi đã cứu độ hữu tình như vậy. Như vậy! Lúc ấy
Hư Không Tạng nghe rồi tam ngạc nhiên chưa từng có: Nay tôi
thấy Quán Tự Tại còn làm Bồ Tát mà có thể cứu độ những
quốc độ hữu tình như thế, những hữu tình trong những
quốc độ ấy nay đã làm Bồ Tát được thấy Như Lai như
thế. Khi đó Hư Không Tạng Bồ Tát đứng trước Ngài Quán
Tự Tại mà thưa hỏi Quán Tự Tại rằng: Hóa độ như vậy
không mệt nhọc ư? Quán Tự Tại Bồ Tát nói: Tôi không
mệt nhọc, thưa hỏi rồi yên lặng mà ngồi.
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn gọi thiện nam tử rằng: “Các ông
hãy lắng nghe, tôi nay vì ông nói sáu pháp Ba la mật đa. Thiện
nam tử! Nếu làm Bồ Tát, trướcc phải tu hạnh bố thí Ba
la mật đa, sau tu các hạnh Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn,
Thiền Ðịnh, Trí tuệ Ba la mật đa, tất cả được viên
mãn như vậy. Nói pháp xong đức Thế Tôn yên lặng mà an trụ.
Bấy giờ trong chúng hội ai nấy đều trở về chỗ cũ, các
chúng Bồ Tát cũng trở về nơi các cõi Phật Sát.
Nam
Mô Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
Phật
nói kinh Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương.
(HẾT QUYỂN HAI)