C.
TẬP BA
KINH
CHUẨN ÐỀ
ÐÀ
LA NI HỘI THÍCH
Quyển
Hạ
11.
Phương pháp họa tượng Chuẩn Ðề Tôn Na Bồ Tát
12.
Pháp sám ngũ hối
13.
Trì tụng pháp yếu
14.
Tu bi điền và kính điền
15.
Quán Tự Tại Bồ Tát cam lồ chơn ngôn
16.
Lục Tự Ðại Minh chơn ngôn
17.
A Di Ðà Phật nhất tâm tự chú
18.
Văn Thù Bồ Tát ngũ tự tâm chú
19.
Ðại bảo quảng bát lầu các thiện trụ bí mật Ðà La Ni
20.
Công đức Bảo Sơn thần chú
21.
Tam tự tổng trì chơn ngôn
22.
Sổ châu công đức pháp
23.
Hành du già bí mật pháp yếu
24.
Tụng kệ, sái tịnh, kiết ấn hộ thân
25.
Tịnh pháp giới, kiết giới, triệu thỉnh, cúng dường
26.
Bổn tôn gia trì
27.
Tán thán
28.
Phụ bản trì chú tháp
THẤT
CÂU CHI PHẬT MẪU
SỞ
THUYẾT ÐÀ RA NI KINH HỘI THÍCH
Quyển
Hạ
Ðời
Thiên Trúc, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Quảng Trí Bất Không
phụng
chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Thanh
Việt Ðông, Ðảnh Hổ Sơn, Ngài Ca Môn Hoằng Tán
phát
Bồ Ðề tâm hội thích (gồm thâu các bộ mà giải thích).
Tỳ
Khưu Thích Viên Ðức dịch Hán ra Việt.
NÓI
ÐẾN PHƯƠNG PHÁP HỌA TƯỢNG
PHẬT
MẪU CHUẨN ÐỀ
(Cũng
gọi là Tôn Na Bồ Tát)
Lấy
vải lụa trắng tốt, lựa bỏ lông tóc, treo nơi vách tường
thanh tịnh, trước lấy đàn hương thoa khắp, dùng ứ già
ẩm thực, tùy sức cúng dường. Vị họa sư (họa sĩ) phải
thọ bát quan trai giới thanh tịnh, vẽ tượng của Ngài sắc
thái phải sáng suốt rực rỡ, các vật dụng và đồ đựng
đều phải hoàn toàn mới, phải điều hòa các màu sắc, vẽ
tượng Phật Mẫu Chuẩn Ðề, thân sắc vàng hay trắng, ngồi
kiết già phu, ngồi trên hoa sen, thân có viền tròn hào quang
mặc áo sa lụa mỏng, như áo Thập Ba la mật Bồ Tát, trên
có hoa. Y dưới sắc trắng. Lại mỗi góc thiên y có quấn
đan chuỗi ngọc anh lạc, đầu đội mão, tay cầm pháp loa,
đeo vòng xuyến, ngón đàn và huệ đeo vòng ngọc báu (Hai ngón
tay út).
GIẢI:
Ðàn huệ tức hai ngón tay út.
Ngài
Kim Cang Trí dịch: Các thứ trang nghiêm nơi thân lưng, dưới
mặc y trắng, trên y có hoa. Lại thân mặc áo khinh la, tay áo
thiên y rộng rãi, dây đeo quanh thân lưng màu sắc như ánh
trời sáng sớm mai, cổ tay đeo vòng xuyến trắng lóng lánh
như kim cương, trên mỗi mỗi tay có bảy báu trang nghiêm, mười
tám tay đều có đeo vòng.
Mặt
tượng Ngài có ba con mắt và mười tám tay, hai tay trên là
ấn tướng thuyết pháp, bên hữu tay thứ hai là ấn thí vô
úy, tay thứ ba cầm kiếm, tay thứ tư cầm bảo mạng (Xâu
tràng hoa báu), tay thứ năm cầu câu duyên quả (tiếng Phạn
nói vi nhã bố la ca quả). Trung Hoa dịch Tử mãn quả, (xứ
Tây vức có, ở đây không có), tay thứ sáu cầm búa bén,
tay thứ bảy cầm móc câu, tay thứ tám cầm Kim Cang xử,
tay thứ chín cầm tràng chuỗi. (Ngài Kim Cang trí dịch: Tay
thứ tư trì niệm châu (chuỗi), tay thứ 9 cầm bảo mạng,
Pháp Hiền dịch: Tay thứ tư cầm bảo cái linh (chuông lắc)
mà không có bảo mạng).
Bên
tả tay thứ hai cầm như ý bảo tràng, tay thứ ba cầm
hoa sen hồng vừa nở, tay thứ tư cầm bình quân trì (bình
nước tắm), tay thức năm cầm dây quyến sách, tay thứ sáu
cầm bánh xe pháp luân, tay thứ bảy cầm thương khư (con ốc,
pháp loa), tay thứ tám cầm hiền bình (Tức cam lồ tịnh bình)
tay thứ chín cầm kinh Bát Nhã Phạn.
Hai
bên dưới hoa sen vẽ nước, trong nước có Nan Ðà Long Vương,
Ô Ba Nan Ðà Long Vương, nâng đỡ hoa sen (Ngài Kim Cang Trí dịch:
hai vị Long Vương chung phò đỡ cây hoa sen) bên tòa phía mặt
vẽ người trì tụng, tay cầm lư hương chiêm ngưỡng Thánh
Chuẩn Ðề Phật Mẫu xót thương người trì tụng, đôi mắt
nhìn xuống, trên vẽ hai vị Tịnh Cư Thiên Tử, một gọi
Cu Tố Ðà Thiên Tử tay cầm tràng hoa nương hư không bay đến
rưới hoa cúng dường Thánh Chuẩn Ðề.
Tượng
vẽ rồi, tùy sức Tăng thứ thỉnh bày vị Tăng cúng dường,
thỉnh khai quang minh chú nguyện, tán thán. Nơi dưới tượng
nên viết:
Pháp
Nhân Duyên Khởi Kệ:
Chư
pháp tùng duyên khởi,
Như
Lai thuyết thị nhơn,
Bỉ
pháp nhơn duyên tận,
Thị
đại Sa Môn thuyết.
Nghĩa:
Các pháp theo duyên khởi,
Như
Lai nói là nhơn,
Pháp
kia nhơn duyên hết,
Là
đại Sa Môn nói.
Ðem
tượng vào tịnh thất bí mật cúng dường, lấy lụa trắng
phủ kín tượng lại, khi trì tụng mở ra chiêm lễ cúng dường,
niệm tụng rồi phủ lụa kín lại, dè dặt không cho người
thấy. Vì sao vậy? Theo sư Thọ Nghi Quỹ họa tượng pháp.
Nếu chuyền cho người xem tượng, bị ma dòm ngó, nên cần
phải bí mật.
GIẢI:
Bạch diệp (lụa trắng) nếu không có người dệt tốt nhứt,
cùng vải tốt Âu Tây giống nhau, dài ngắn rộng hẹp nên
khéo dùng đó, như không có vải tơ, có thể lấy vải tốt
Âu Mỹ thay thế cũng được, sắc phải trong sạch, không nên
dùng keo da, phải dùng keo trắng thơm, nếu thứ này không có,
nên dùng keo cây đào, hoặc lựa lấy trái bồ kết lớn tốt,
bỏ vỏ thô ở trên, lấy chất trắng sạch bên trong làm keo,
hoặc ma huỳnh đậu trắng, bạch cập dùng làm keo đều được.
Tăng
thứ ấy, nghĩa là sợ không có tài lực, không thể tổng
thỉnh chúng Tăng được…Bởi vì đức Như Lai không cho lựa
thỉnh, cho nên tùy theo trong Tăng chúng, thứ đệ Tăng sai mà
phó thỉnh.
PHỤ
NGŨ HỐI KINH
(Nghi
pháp sám ngũ hối)
Kinh
dạy rằng: Mỗi khi vào đạo tràng, trước nên lễ Phật,
sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, phát nguyện, rồi nên thọ
Bồ đề tâm giới. Năm pháp này là của các Bồ Tát
trong sáu thời tu hành.
Qui
tắc trong các kinh luận rất đầy đủ. Nay lược chép ra đây
rất đơn giản, để tiện cho người hành giả tu trì.
Ban
đầu vào đạo tràng quỳ gối chấp tay, chuyên tâm định
ý, tay bưng lư hương.
Nguyện
rằng:
Nguyện
mây hương hoa này,
Biến
khắp mười phương cõi,
Tất
cả các Phật độ,
Vô
lượng hương trang nghiêm.
Ðầy
đủ Bồ Tát đạo,
Thành
tựu hương Như Lai.
(Cúng
dường hương hoa rồi, đứng dậy lễ kính Tam-Bảo)
Nhứt
tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na Mâu Ni Thế Tôn (1 lễ)
(Phân
biệt Thánh vị tu chứng pháp môn nói rằng: Ðức Như Lai tối
sơ nơi Vô thượng thừa, phát tâm Bồ đề, do Ðức Phật
A Súc gia trì cho nên chứng được viên mãn Bồ đề tâm, do
chứng Bồ đề nên ngoại cảm trong hư không, Ðức Phật Bảo
Sanh quán đảnh, thọ ngôi vị Pháp Vương trong ba cõi, do Ðức
Phật Quán Tự Tại Vương gia trì, nói lời chuyển pháp luân
vô lượng tu đa la pháp môn, do Ðức Phật Bất Không Thành
Tựu gia trì nơi các việc Phật sự và việc hữu tình, đã
tu hành lợi lạc hết thảy đều thành tựu. Vậy cho nên sau
đây thứ lớp lễ bái.)
v
Nhứt tâm đảnh lễ A Súc Thế Tôn (1 lễ)
v
-Nhứt tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Bất Không Thành Tựu Thế Tôn (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Cực Lạc Thế Giới A Di Ðà Thế Tôn
(1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Chư Phật Thế
Tôn (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Ðại
Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni (3 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Tu Ða La Tạng
Nhứt Thiết Ðà Ra Ni môn (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na cung điện trung Thất Cu
Chi Chuẩn Ðề Phật Mẫu Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Vô Năng Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Ðại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Nhứt Thiết Bồ
Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả Chư Ðại Thanh Văn
Tăng (1 lễ)
v
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Nhứt Thiết Tam
Thừa Hiền Thánh Tăng (1 lễ)
GIẢI:
Như trên đều lễ một lễ đến Chuẩn Ðề Phật Mẫu và
Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni, mỗi câu cần ba lễ. Ðây là nhơn pháp
làm chủ của đạo tràng. Cho nên lễ bái rồi tiếp đến
sám hối, người tu hành nên tưởng tự thân mình đối trước
ngôi Tam-Bảo chớ nghĩ tội đời trước và đời nay đã tạo.
Nếu không sám hối phải đọa A Tỳ địa ngục, thọ cực
đại khổ, đâu có thể thành tựu được chỗ tu hành diệu
hạnh Chơn ngôn? Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói rằng: Người
tu hành Du Già pháp môn. Nếu muốn tu tập cầu các Tất
Ðịa, trước tự thân mình phải tu các pháp sám hối, để
trừ túc nghiệp đời trước, khiến không chướng nạn, nếu
không như thế, Thánh đạo khó thành. Ngài Kim Cang Trí dịch
bổn kinh và ghi quỹ này, tùy chép ra năm pháp sám hối mà
văn rất gọn ghẽ, sợ người tu hành xem văn trình bày khó
hiểu, để muốn cho khẩn thiết tinh thành, nên ở đây trình
bày thêm yếu chỉ của các kinh cho rõ. Như Vô Lượng Thọ
Nghi Quỹ nói: Thân mình phải năm vóc sát đất, tưởng ở
trước mỗi Ðức Phật, Bồ Tát cung kính làm lễ, rồi liền
quỳ gối chấp tay, đem lòng chí thành phát lồ sám hối, tất
cả tội chướng từ vô thỉ đến giờ, vui mừng tùy hỷ
chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và các phước nghiệp
của tất cả hữu tình đã tu. Lại quán tưởng mười phương
thế giới, chỗ nào có các đức Như Lai mới thành chánh giác,
nên thỉnh Chuyển pháp luân, nơi nào có các đức Như Lai hiện
vào cõi Niết Bàn, xin thỉnh ở lại đời lâu dài không vào
Niết Bàn. Lại phát nguyện rằng: con đã chứa nhóm thiện
căn, lễ Phật, sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, đem phước
tụ này hồi thí cho tất cả hữu tình, cho đến thấy Phật
nghe pháp mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, biết
như vậy rồi tâm sanh tha thiết miệng tuyên sám hối:
Con
đệ tử … chí tâm sám hối, những tội từ vô thỉ sanh
tử đến giờ, theo ác lưu chuyển, cùng chung các chúng sanh,
tạo nghiệp chướng tội, bởi tham sân si trói buộc, do thân
khẩu ý tạo năm tội vô gián và mười nghiệp ác, tự làm,
bảo người khác làm, thấy kẻ khác làm sanh lòng vui mừng;
hoặc vật của tháp, vật của Tăng, tự tại phí dụng, đối
với các người lành sanh lòng phỉ báng, thấy các bậc tu
học Thanh Văn, Duyên Giác Ðại Thừa, con ưa sanh lòng mắng
chửi, khiến cho các người tu hành tâm sanh buồn phiền, thấy
có kẻ nào hơn mình sanh lòng ganh ghét, đối với pháp thí,
tài thí thường sanh keo kiết, bị vô minh che lấp, hoặc tâm
tà kiến. Không tu nhơn lành, khiến ác tăng trưởng, ở chỗ
các Phật, mà khởi lên phỉ báng, những tội như vậy Phật
đều thấy biết. Con nay qui mạng đối trước chư Phật, Bồ
Tát, Thánh chúng thảy đều trình bày tội lỗi, không dám
che giấu, tôi chưa làm con không dám gây tạo, những tội đã
làm con đều xin sám hối, nghiệp chướng đã tạo đáng đọa
tam đồ và ở chỗ tám nạn. Con nguyện đời này, có bao nghiệp
chướng đều được tiêu diệt, đã có ác báo đời sau không
thọ, cũng như quá khứ, vị lai, hiện tại, các đại Bồ
Tát tu Bồ đề hạnh, đã có nghiệp chướng thảy đều sám
hối. Nghiệp chướng của con nay cũng sám hối, hết thảy
phát lồ không dám che giấu, tội đã làm nguyện được trừ
diệt, tội ác vị lai không dám tạo nữa.
(Sám
hối rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con
đệ tử hết lòng vui mừng tùy hỷ, quá khứ, vị lai, hiện
tại tất cả chúng sanh, tu hành bố thí, trì giới, tâm huệ
đã có căn lành. Con nay thảy đều thâm sanh tùy hỷ, do làm
phước tùy hỷ như vậy, cho nên chắc chắc sẽ thu hoạch
được quả tôn trọng thù thắng Vô thượng Vô đẳng. Lại
ở quá khứ vị lai, hiện tại, tất cả chư Phật, Bồ Tát,
Thanh Văn, Duyên Giác đã chứa nhóm vô lượng công đức. Con
nay chí tâm thảy đều tùy theo mà vui mừng khen ngợi.
(Tùy
hỷ rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con
đệ tử … chí tâm khuyến thỉnh mười phương tất cả chư
Phật Thế Tôn, hiện được Vô thượng Bồ đề, chưa Chuyển
pháp luân. Con đều chí thành khuyến thỉnh chuyển đại pháp
luân, an vui hữu tình. Mười phương tất cả chư Phật Thế
Tôn, muốn xả báo thân vào cõi Niết Bàn. Con nay cúi đầu
đảnh lễ, hết lòng khuyến thỉnh trụ ở đời lâu, độ
thoát và an vui cho tất cả chúng sanh.
(Khuyến
thỉnh rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con
đệ tử … hết lòng hồi hướng từ vô thỉ đến ngày nay,
đối với ngôi Tam-Bảo đã tu hành thành tựu các căn lành,
cho đến bố thí cho tất cả chúng sanh một vắt cơm.
Lại nữa đem hết công đức trì tụng bí mật, sám hối,
khuyến thỉnh, tùy hỷ, các căn lành ấy thảy đều thu nhiếp
đem hồi thí cho tất cả chúng sanh, không tâm hối tiếc, là
phần giải thoát căn lành đã nhiếp. Như chư Phật Thế Tôn
đã thấy biết, không thể tính lường vô ngại thanh tịnh.
Những công đức căn lành đã có như vậy, thảy đem hồi
thí tất cả chúng sanh, không trụ tâm tướng, không xả tướng
tâm. Con cũng như vậy, công đức căn lành, thảy đều hồi
thí tất cả chúng sanh, cùng các chúng sanh đồng chứng Vô
thượng Bồ đề, được tất cả trí, nhơn căn lành này,
lại còn xuất sanh vô lượng pháp lành, cũng đều hồi hướng
Vô thượng bồ đề. Lại như quá khứ, vị lai, hiện tại
chư đại Bồ Tát, khi tu hành các căn lành công đức, thảy
đều hồi hường tất cả chủng trí. Vậy con đã có công
đức căn lành, cũng đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề,
các căn lành ấy nguyện cùng tất cả chúng sanh đều thành
chánh giác. Như các chư Phật ngồi nơi đạo tràng dưới cội
Bồ đề, không thể nghĩ bàn vô ngại thanh tịnh, an trụ nơi
vô tận Pháp Tạng Ðà Ra Ni, Thủ Lăng Nghiêm định, phá ma
Ba Tuần, vô lượng binh chúng, trong một sát na thảy đều
thấy rõ, nơi khoảng nửa đêm được cam lồ pháp, chứng
cam lồ nghĩa. Con và chúng sanh nguyện đều đồng chứng Diệu
Giác như vậy, cũng như chư Phật, thị hiện ứng hóa, đắc
Vô thượng Bồ đề, chuyển Diệu pháp luân, độ các chúng
sanh.
(Hồi
hướng rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con
đệ tử … chí tâm phát nguyện, nguyện các chúng sanh hết
thảy phát tâm Vô thượng Bồ đề, thường nhớ nghĩ công
đức trí huệ của mười phương chư Phật. Lại nguyện tất
cả chúng sanh phá dứt vô minh, được thấy Phật tánh, cũng
như các đại Bồ Tát, tất cả Thiên Long Bát Bộ, tăng ích
oai quang, ủng hộ quốc độ và nơi đạo tràng, dẹp các oán
ma, khiến con đã tu pháp yếu bí mật của chư Phật mau được
thành tựu.
(Phát
nguyện rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
GIẢI:
Kế đến nên tự thọ Bồ đề tâm giới, như trên văn sám
hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, hồi hướng, chép ra trong kinh
Kim Quang Minh, năm pháp đều rõ. Sám hối có công năng trừ
chướng, diệt tội. Lễ Phật hay trừ ngã mạn chướng, được
thân tôn quý. Sám hối hay trừ ba chướng, được y (y báo)
chánh (chánh báo) đầy đủ. Tùy hỷ hay trừ tật đố chướng,
được đại quyến thuộc. Khuyến thỉnh hay trừ mạn pháp
chướng, được đa văn trí huệ. Hồi hướng là tự hồi
những thiện căn đã tu, hướng về ba chỗ, tức thật tướng
Bồ đề và đối với chúng sanh hay trừ trước hữu, cùng
tâm xan lẫn. Do hồi hướng chút căn lành, biến nhập ba cõi
như giọt nước rơi vào biển lớn, như tiếng nhập vào góc
loa thời âm thinh bay vang xa. Phát nguyện hay trừ chướng thoái
lui, được tổng trì các hạnh, mau được diệu quả. Hồi
hướng liền kiêm phát nguyện, nay ở nơi hồi hướng mở
ra lời phát nguyện để đối trị tâm không quyết định
và chướng hỷ thoái lui. Hoặc khi vào đạo tràng, lễ Phật
cho đến hồi hướng trì tụng rồi mới kiêm phát nguyện
cũng được. Niệm tụng rồi như trước, thứ lớp kiết ấn
tụng Chơn ngôn một biến, lại tu ngũ hối. Nếu thời gian
mau, không thể như trước tụng hết văn sám hối, có thể
tụng bài kệ sau đây:
Con
đệ tử … hết lòng sám hối
Ðại
Thánh Chuẩn Ðề Tôn
Tất
cả chúng Hiền Thánh
Thân
này hoặc thân trước
Ðã
tạo các nghiệp ác
Các
tội đều sám hối.
Con
đệ tử … hết lòng khuyến thỉnh
Tất
cả mười phương Phật
Hiện
được thành đạo
Con
thỉnh Chuyển pháp luân
An
vui các chúng sanh
Mười
phương tất cả Phật
Nếu
muốn vào Niết Bàn
Con
nay cúi đầu lễ
Khuyến
thỉnh ở lại đời.
Con
đệ tử … hết lòng tùy hỷ
Ba
đời các Như Lai
Bồ
Tát chúng Thanh Văn
Người
tu tập tam thừa
Cho
đến các phàm phu
Ðã
có các phước lành
Thí
giới thiền định huệ
Nhẫn
nhục và tinh tấn
Con
nay đều tùy hỷ.
Con
đệ tử … hết lòng phát nguyện
Nguyện
khắp các chúng sanh
Thảy
phát tâm Bồ đề
Vĩnh
dứt các phiền não
Sẽ
chứng nhất thiết trí
Lại
nguyện con nay tu
Chuẩn
Ðề hạnh bí mật
Mong
cầu các Tất Ðịa
Tùy
tâm chóng thành tựu.
Con
đệ tử … hết lòng hồi hướng
Con
đem các tu phước
Và
cùng hạnh Chơn ngôn
Hồi
hướng các hữu tình
Chung
thành Vô thượng đạo
Lại
nay đem chỗ tu
Lễ
bái và sám hối
Khuyến
thỉnh cùng tùy hỷ
Phát
nguyện hồi hướng thiện
Hết
thảy thí chúng sanh
Vĩnh
dứt khổ tam đồ
Ðồng
đến đại Bồ đề
Pháp
giới chơn như hải.
PHỤ
TRÌ TỤNG PHÁP YẾU
Nay
pháp yếu này là vì người sơ cơ tu hành, y kinh tu tập tam
nghiệp chưa thuần, không thể tu tập các pháp quán hạnh.
Tuy nhiên nghe Ðà Ra Ni, công đức thù thắng, tâm muốn mau
trì tụng; hoặc người độn căn, nghe kinh Chơn ngôn quán hạnh,
lòng sanh lui sợ, mất pháp mầm Bồ đề, vô lượng công đức
như kinh đã nói. Nếu có người vừa tụng một biến, liền
sanh pháp mầm Bồ đề, huống gì thường hay niệm tụng thọ
trì. Do căn lành này mau thành Phật chủng, vô lượng công
đức thảy đều thành tựu. Cho nên Trì Minh Tạng nói: Nếu
có chúng sanh làm đại ác nghiệp, không có thiện chủng, nơi
tâm Bồ đề không do đâu sanh khởi, Bồ đề phần pháp vĩnh
không chứng đắc. Người như vậy may gặp tri thức, tụng
Chơn ngôn này, một phen tai nghe, trọng tội giảm kém, giống
lành liền sanh. Huống nữa hằng thường trì tụng, chuyên
chú tinh cần. Mạng Trà La sớ nói: Niệm Như Lai Thần chú,
tâm khế hợp Như Lai tâm. Tụng Mật ngôn Bồ Tát, nguyện
nguyện phù hợp nguyện của Bồ Tát, sanh tử nào mà không
ra khỏi, Niết Bàn nào mà không đắc chứng. Có điều lợi
ích như thế nên do đây làm tập pháp yếu này để tiện
người tu hành thọ trì nếu muốn trì tụng trước cần dứt
bặt các duyên, khởi khẩn trọng tâm tưởng điều khó gặp,
đến trước Thánh tượng, hoặc đối trước Kính đàn, đứng
thẳng chấp tay đảnh lễ. Ðây là Ấn tướng Tối thượng
Ðảnh lễ Chuẩn Ðề Bồ Tát. Vậy sau chú tâm quán tưởng
tôn dung, năm vóc sát đất, đảnh lễ mười phương Phật,
Pháp, Tăng Tam-Bảo, kế đến lễ Tỳ Lô Giá Na Mâu Ni Như
Lai, Chuẩn Ðề Phật Mẫu, Quán Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ
Bồ Tát và tất cả Thánh chúng rồi, quỳ gối chấp tay hết
lòng sám hối. Nói như thế này: Con đệ tử từ vô thỉ đến
giờ, thân khẩu ý đã tạo ra các tội, nay đối trước Tam-Bảo
chư Phật, Bồ Tát, phát lồ sám hối, không dám che giấu,
cho đến quá khứ, hiện tại, vị lai ba đời chư Phật, Bồ
Tát, các món công đức phức trí viên mãn, con nay tùy hỷ.
Kế
đến ngồi Kim Cang chánh tọa, lấy chân mặt đè lên vế bên
trái, hoặc ngồi bán già, hoặc tùy ý ngồi. Kế đến kiết
đại ấn tam muội, lấy hai tay mở ngửa ra, tay mặt để
lên tay trái, hai ngón tay cái giáp móng lại với nhau, để
ngang dưới rún. Ấn này hay diệt tất cả cuồng loạn vọng
niệm tạp nhiễm suy nghĩ. Ðã lắng định thân tâm rồi, liền
quán tưởng sáu đường chúng sanh, từ vô thỉ đến nay ở
trong biển khổ sanh tử, luân hồi nơi sáu thú, nguyện các
chúng sanh kia phát Bồ đề tâm, tu hành Bồ Tát hạnh, mau được
ra khỏi, suy nghĩ vậy rồi, liền nhập định pháp giới tam
muội. Nghĩa là tưởng tự thân trên đảnh của mình có chữ
Phạn thơ LAM tự, chữ này biến ánh sáng chiếu khắp cũng
như ngọc Minh Châu tròn sáng, hoặc như mặt trăng rằm. Tưởng
chữ này rồi, lại kết ấn Kim Cang quyền, lấy ngón cái tay
bên trái bấm vào tiết thứ nhứt dưới ngón vô danh, còn
bốn ngón kia nắm chặt ngón tay cái lại, hình như cầm cú.
Ấn này hay trừ nội ngoại chướng nhiễm, thành tựu tất
cả công đức. Tay mặt cầm chuỗi, miệng tụng tịnh pháp
giới Chơn ngôn 21 biến. Chơn ngôn: Úm Lam (hoặc riêng trì
chữ Lam cũng được, Lam hoặc Lãm)
Chữ
Lam tịnh pháp giới này, nếu tưởng hoặc tụng hay khiến
ba nghiệp thảy đều thanh tịnh, tất cả tội chướng tận
diệt tiêu trừ. Lại hay thành tựu xong xuôi tất cả việc
thù thắng, tùy chỗ trụ xứ thảy được thanh tịnh, y phục
không tịnh lại được tịnh y, thân không tắm rửa lại được
sạch sẽ. Nếu dùng nước làm, sạch không gọi là chơn tịnh,
nếu gồm pháp giới tâm, Lam tự này tịnh đó, tức gọi rốt
ráo thanh tịnh bình. Như một hạt linh đơn, điểm sắc thành
vàng báu. Một chữ Chơn ngôn biến nhiễm thành tịnh. Kệ
rằng:
Ra
tự sắc trắng sạch
Không
điểm trang nghiêm đó.
(Chữ
Phạn Ra trên an không điểm tức thành Lam vậy.)
Như
trên đảnh kia Minh Châu để nơi nhục kế, Chơn ngôn đồng
pháp giới, vô lượng các tội trừ. Tất cả chạm chỗ uế,
phải gia Tự môn này. Cho nên Liên hoa bộ niệm tụng
pháp nói: Nếu chạm chỗ dơ uế, phải quán tưởng trên đảnh
có chữ pháp giới sanh ra, phóng ánh sáng sắc đỏ. Nghĩa là
Lam tự vậy.
(Nếu
thật không có ngoại duyên đầy đủ, không có nước tắm
rửa, thiếu y mới thanh tịnh, dùng chữ Lam này tịnh đó,
nếu ngoại duyên đầy đủ mà không tắm rửa thay áo mới,
để làm phép tịnh này là người không có lòng cung kính,
là người biếng nhác, chính là lỗi khinh mạn vậy. Như thế
làm sao phước sanh tội diệt được? Thành tựu việc sở
cầu Tất Ðịa. Nếu trước như pháp tắm rửa sạch sẽ,
mặc y mới thanh tịnh, lại dùng Chơn ngôn này tịnh nữa,
tức trong ngoài thanh tịnh, việc mong cầu sẽ mau được linh
nghiệm).
Kến
đến tụng Hộ thân Chơn ngôn, theo bản kinh, kiết đệ nhị
căn bản ấn, tụng tâm Chơn ngôn 7 biến, hoặc kiết Vô Năng
Thắng Bồ Tát ấn, tụng Vô Năng Thắng Chơn ngôn 7 biến,
thời nay phần nhiều tụng các bộ khác. Nghĩa là Văn Thù
Nhứt Tự Chơn ngôn: Úm Xỉ Lâm
Chữ
Xỉ Lâm này là hai âm (nhị hiệp), hoặc ba âm (tam hiệp):
Thất li long, hoặc bốn âm (tứ hiệp): Thể li hê dâm. Ngài
Nghĩa Tịnh dịch: Thất lạc hê diêm. Bốn chữ như vậy họp
làm một tiếng mới thành Phạn âm một chữ. Như không thể
hiểu rành Phạn âm thì thật khó được chơn diệu. Một chữ
vương chú này, công lực rất lớn không thể nghĩ bàn. Như
Văn Thù Nhứt Tự Ðà Ra Ni Pháp nói: Ðức Thế Tôn bảo các
chư Thiên rằng: Nên biết Ðà Ra Ni này là vua lớn trong các
chú, có đại thần lực. Nếu có người trai lành, gái tín
hay thọ trì, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thường đến đến ủng
hộ, hoặc khi thức, hoặc trong chiêm bao, vì hiện thân tướng
và các việc lành. Chú này còn hay nhiếp được Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, huống các Bồ Tát khác và các chúng Hiền Thánh,
thế, xuất thế gian. Chú này có công năng tiêu trừ các tội
ngũ nghịch, tứ trọng và nghiệp thập ác. Nên biết chú này
đối với các Thần chú trong thế gian và xuất thế gian rất
là thù thắng hơn hết. Là tâm của chư Phật hay khiến tất
cả sở nguyện thảy đều đầy đủ. Khi chưa làm phép
(tác pháp) tức hay thành tựu tốt đẹp các việc như ý. Nếu
phát Vô thượng Bồ đề tâm, tụng ột biến có năng lực
thủ hộ tự thân mình. Nếu tụng hai biến có năng lực thủ
hộ đồng bạn. Nếu tụng ba biến có năng lực thủ hộ người
trong một nhà. Nếu tụng bốn biến có năng lực thủ
hộ người trong một thành. Nếu tụng năm biến có năng lực
thủ hộ người trong một nước. Nếu tụng sáu biến có công
năng thủ hộ người trong nhứt thiên hạ. Nếu tụng bảy
biến có công năng thủ hộ người trong tứ thiên hạ. Nếu
mỗi buổi sớm mai tụng một chú này vào trong nước rửa
mặt hay khiến người thấy sanh lòng hoan hỷ, còn nói rằng:
Nếu có chúng sanh bị Phi đầu quỷ bắt giữ, lấy tay mình
thoa nơi mặt người kia, tụng chú 108 biến, làm ra tướng
mạo đáng sợ, liền lấy tay trái kiết bổn sanh ấn (lấy
ngón tay cái co để trong lòng bàn tay, bốn ngón sau nắm ngón
tay cái lại, hình như cầm cú) tức tự nộ hét, đôi mắt
ngầm nghiêm, tụng Thần chú này mà thoa vào người bịnh hoạn,
bịnh tức trừ. Nếu tất cả quỷ gây làm hoạn bịnh, dùng
chú này chú vào tay mặt 108 biến, thiêu an tức hương xông
đó, tay trái kiết ấn bổn sanh tay mặt xoa vào đầu người
bịnh, bịnh tức trừ lành. Nếu muốn đi qua tất cả chỗ
hiểm nạn, sư tử, hổ lang, độc xà, oán tặc, nên cần phải
thân tâm không được gần gũi người nữ và ăn đồ ngũ
tân, tất cả rượu thịt, đối các chúng sanh khởi đại
bi tưởng, chí tâm tụng chú 49 biến, thì các oán ác tự nhiên
lui tản, giả như có gặp cũng đều hoan hỷ. Chú này có những
chúng sanh, hoặc một kiếp, hoặc vô lượng kiếp, cho đến
danh tự cũng không thể nghe được, huống gì được thấy
mà chuyên tâm trì tụng. Ðà Ra Ni này hay khiến chúng sanh hiện
đời và đương lai thường được an ổn, cùng các Như Lai
và chúng đại Bồ Tát, thường làm quyến thuộc. Vậy cho
nên phải ân cần sanh tâm tưởng khó gặp, không nên khinh
nhẹ, khởi nghi hoặc tâm, rộng như các kinh đã nói, không
thể chép hết.
(Bộ
khác dịch rằng: Nếu tụng 100 biến hay hộ một nước, nếu
tụng 1000 biến hay hộ tứ thiên hạ. Bản cựu khiến tụng
một chữ chú vương rồi, lại tụng Lục Tự Ðại Minh Chơn
ngôn, 108 biến, vậy sau mới tụng Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni, nay
sợ nhiều xen lộn bộ khác, người tu hành thấy khó trì tụng,
nên ở nơi đây không chép ra, như muốn trì sau này sẽ tụng.)
Kế
đến tụng gia trì sổ châu Chơn ngôn, dùng bột hương thoa
vào chuỗi, để chuỗi trên hai tay ngang ngực. Tụng Chơn ngôn
7 biến gia trì nơi tràng chuỗi.
Chơn
ngôn: Úm - Phệ lô giá na, ma la ta phạ hạ (7 biến)
Gia
trì nơi chuỗi rồi, tâm nghĩ miệng phát lời nguyện rằng:
con nay muốn niệm tụng, xin nguyện Bổn Tôn chư Phật, Bồ
Tát, gia trì hộ niệm khiến cho con mau được như ý sở cầu
nguyện mãn. Vậy sau lấy tay trái ngón vô danh và ngón cái
nương châu, tay mặt lấy ngón tay cái và ngón vô danh lần
từng hạt chuỗi, phải để nơi trước ngực, lắng lòng quán
tưởng Chuẩn Ðề Phật Mẫu cùng các quyến thuộc đoanh vây
xung quanh, rõ ràng phân minh như đối trước tòa. Khi tụng
Chuẩn Ðề Chơn ngôn âm thinh không chậm không mau, mỗi khi
xưng đến chữ Ta Phạ Hạ đồng thời lần qua một hạt chuỗi.
Hoặc 108 biến, hoặc 1080 biến. Thường phải hạn định không
được thiếu bớt, nếu mờ loạn ấy, tụng 108 biến rồi
sau tùy ý tán trì đó. Hoặc kiết căn bản đại ấn, nơi
trên tay của Bồ Tát ký số niệm tụng, tụng rồi xả ấn
lên đảnh, nếu tụng 108 biến mãn rồi, không thể ký số
nhiều, nên dùng tay trái kiết Kim Cang quyền ấn, tay mặt cầm
chuỗi niệm tụng căn bản Chơn ngôn:
Nẵng
Mồ Táp Ða Nẫm, Tam Miệu Tam Một Ðà Cu Ðê Nẫm, Ðát Nễ
Dã Tha. Úm - Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Phạ Hạ.
Nếu
việc mong cầu muốn mau được thành tựu, phải y nơi trước
bản kinh làm đủ phép tắc, dứt trừ rượu thịt và ngũ
tân mới được ứng nghiệm. Như hoặc tùy thời thu hoạch
lợi ích, diệt tội sanh phước. Người tại gia không thể
hoàn toàn đoạn dứt rượu thịt, thê thiếp, có thể mười
ngày trai mà trì tụng. Như muốn trường trì không gián đoạn,
thì chẳng những mười ngày chay, dù cho có rượu thịt vợ
con đi nữa, chỉ nên một lòng tụng trì cũng được lợi
ích, có thể khiến người đoản mạng tăng tuổi thọ, tật
bịnh được tiêu trừ.
(Trong
kinh luật gọi người tại gia không thể trường trì trai giới,
ở nơi mỗi tháng trong mười ngày chay, thọ trì bát quan trai
giới, đoạn dứt sát, đạo, dâm, vọng, tửu, hương hoa, ca
vũ, hý lạc, hết thảy tám việc ấy là Giới, quá ngọ không
ăn ấy là Trai. Do mười ngày tịnh trì trai giới này, nên
khiến tụng Chơn ngôn quyết được mau hiệu nghiệm. Thời
nay không biết trai giới, chỉ không ăn thịt uống rượu cho
đó là trai, việc này đã lầm lâu rồi vậy. Riêng đây cho
người trì tụng rượu thịt vợ con ấy, bởi gần đây kẻ
thế tục rượu thịt vợ con là thường nghiệp của họ,
tuy nghe Phật giới mà tập tánh khó cải đổi. Nếu không
nhờ dùng Thần chú đại bất tư nghì này để cứu vớt thì
biết ngày nào được ra khỏi sanh tử. Cho nên Phật Ðảnh
Tụng dạy: Không trì trai ấy mà gọi là trì trai, không trì
giới ấy mà gọi là trì giới. Nếu nghe niệm Phật đảnh
Ðà Ra Ni liền được đầy đủ Thanh Văn giới. Còn người
nào có trai giới thanh tịnh, y pháp trì tụng, đâu không mau
ra khỏi sanh tử ư? !
Hoặc
có người vô tướng vô phước, cầu quan không toại ý, nghèo
cùng khốn khổ, cơm không no miệng, áo không đủ che thân.
Thường trì tụng Thần chú Chuẩn Ðề này, hay khiến hiện
đời hưởng được phước báu như vua Chuyển luân. Sở cầu
quan vị quyết được toại lòng. Nếu cầu trí huệ, hoặc
nam nữ thảy đều vừa ý. Chơn ngôn này giống như ma ni bảo
châu, tất cả tùy tâm ưa muốn đều được, cho đến muốn
thỉnh Phạm Vương, Ðế Thích, Tứ Thiên Vương, Diêm La, Thiên
Tử v.v… chỉ tụng chú này tùy thỉnh quyết đến, nếu có
sai khiến tùy tâm mình nguyện. Chú này đối với Nam Thiệm
Bộ châu, có thế lực lớn, dời núi Tu Di, khô nước đại
hải, chú vào cây khô phát sanh hoa quả. Huống gì lại hay
y pháp trì tụng, không chuyển nhục thân, đắc được đại
thần túc thông, bay thẳng vào Ðâu Suất Thiên cung, nghe được
Chánh pháp của đức Di Lặc, và bay khắp mười phương thế
giới hầu hạ chư Phật, được thọ ký Bồ đề.
Nếu
muốn thành tựu đàn pháp, như trước y kinh làm các phép tắc.
Hoặc chỉ dùng Kính đàn, nên lấy một cái kính mới chưa
từng dùng, để trước tượng Phật, theo tháng ngày 15 (rằm)
nơi ban đêm hướng về Ðông phương, để kính trước tòa,
tùy sức trang nghiêm cúng dường đầy đủ các hương hoa ứ
già tịnh thủy, nhiên hậu kiết Căn bản đại ấn, để nơi
ngang ngực, tụng căn bản Chơn ngôn, chú nguyện vào Kính đàn
108 biến, lấy đãy bỏ kính vào, thường đem theo nơi thân,
mỗi khi muốn niệm tụng, chỉ lấy Kính đàn để trước
mặt, kiết ấn Chuẩn Ðề tụng chú, nếu không thể hằng
ngày đối kính niệm tụng, chỉ đối với mười ngày chay
đối trước Kính đàn niệm tụng, còn các ngày khác không
đối kính niệm tụng cũng được, nếu không có Kính đàn,
chỉ quán tưởng một Kính đàn trước mặt trì tụng cũng
thành tựu. Hoặc không thể quán tưởng, chỉ cần chuyên chú
niệm tụng cũng thành tựu. Thần chú Chuẩn Ðề này là bảy
trăm bảy mươi ức các đức Như Lai đồng nói. Ngài Long Thọ
Bồ Tát làm bài kệ khen ngợi rằng:
Chuẩn
Ðề công đức tụ, tịch tịnh tâm thường tụng.
Nhứt
thiết chư đại nạn, vô năng xâm thị nhơn.
Thiên
thượng cập nhơn gian, thọ phước như Phật đẳng.
Ngộ
thử như ý châu, định hoạch Vô Ðẳng Ðẳng.
Dịch:
Chuẩn
Ðề công đức tụ, vắng lặng tâm thường tụng.
Tất
cả các đại nạn, không thể xâm hại người.
Trên
trời và cõi người, thọ phước ngang bằng Phật.
Gặp
châu như ý này, đắc định chứng Bồ đề.
Thời
nay phần nhiều ở nơi sau Chuẩn Ðề Chơn ngôn kiêm trì tụng
Phật Ðảnh Ðại Luân Nhứt Tự Minh Vương Chơn ngôn: Gọi
là Thần chú Bộ Lâm (Ðây là Phạn tự Bộ Lâm kéo lưỡi
ngân âm thanh dài ra, hai chữ hợp lại làm một chữ, cũng
nói Bộ Lâm hoặc Phô Long. Lại nói
Bộ
Lung, hoặc Bột Long. Bất Không Tam tạng dịch: Bột Lỗ Úm,
ba chữ hợp làm một chữ. Chú rằng chữ Lỗ kéo dài lưỡi
chung làm một âm. Lại nữa tiếng kéo dài ra từ trong yết
hầu mà phát ra âm thinh như đánh trống lớn. Bản xưa dịch
Bộ Lâm hơi sai không được đúng lắm. Như vậy âm giọng
rất khó đúng chỉ người nào giỏi Phạn âm mới có thể
được đó.
Kinh Căn Bản Nghi Quỹ nói: Phật Ðảnh Ðại Luân Nhứt Tự
Minh Vương này được thành tựu, cho đến đối với Chánh
pháp của các đức Như Lai khi sắp muốn diệt, có công năng
làm các Phật sự. Lại hay ủng hộ tất cả Pháp Tạng của
các đức Như Lai. Một chữ Minh Vương này, sau khi Phật diệt
độ trong thời kỳ mạt pháp, giúp đỡ người tu hành ở
trong thế gian được thù thắng hơn tất cả Chơn ngôn và
chư Phật, Bồ Tát cũng thảy đều thọ trì, bởi vì quá khứ
Phật, Bồ Tát đã truyền nói. Nếu ở chỗ nào có người
tu hành chuyên tâm trì tụng Ðại Minh chú này, ở chỗ đó
trong khoảng địa giới năm do tuần có tất cả ác tinh diệu
(sao xấu) không dám xâm gần, các ác quỷ thần đều tự chạy
trốn tản mất, cho đến tất cả các ác không dám làm hại,
hơn nữa đối với Thiên nhơn, Thánh nhơn cũng không dám gần.
Nếu người trì tụng tất cả nghiệp chướng đều được
thanh tịnh, nếu có ủng hộ hay ẩn thân mình, nhập vào tất
cả trong nhiều các bộ, không chỗ chướng ngại, đối với
thế gian và xuất thế gian không dám làm hại, có công năng
bẽ gãy tất cả các ác chú trong thế gian. Chơn ngôn này là
đỉnh đầu của tất cả chư Phật, là tâm của Văn Thù Bồ
Tát, hay ban thí vô úy (không sợ hãi) hay ban an vui cho tất
cả chúng sanh, phàm có tu trì tùy ý đắc quả, đồng ngọc
như ý châu có công năng làm mãn nguyện tất cả, nếu trì
tụng các Thần chú khác mà không thành tựu, nên dùng Chơn
ngôn này cùng chung Thần chú khác đồng trì tụng, quyết định
thành tựu. Nếu không thành tựu và linh nghiệm thì các chư
thần của Thần chú kia đầu sẽ phá bể làm bảy phần. Phải
biết Chơn ngôn này hay giúp tất cả Thần chú mau được thành
tựu.
Nếu
muốn trì riêng Chơn ngôn ngày để cầu tất cả pháp thành
tựu, phải y vào bản kinh kia làm phép tắc niệm tụng. Nếu
người trì tụng không thể y như trước, tụng tịnh pháp
giới Chơn ngôn và hộ thân Chơn ngôn, cho đến Ðaị Luân
Nhứt Tự Chơn ngôn ấy, thì có thể chuyên trì Chuẩn Ðề
Ðà Ra Ni này cũng được thắng diệu. Hoặc có người tuổi
già suy yếu sức hơi thở ngắn ít, không thể tụng toàn bộ
Chơn ngôn. Ðầu tiên tụng ba biến rồi sau chỉ tụng từ
chữ Úm (Án) trở xuống chín chữ cũng được. Lại hoặc
không thể kiết Chuẩn Ðề đại ấn, nên kiết Kim Cang quyền
ấn niệm tụng, phàm khi tụng chú hết rồi, liền dùng ấn
Kim Cang quyền, miệng tụng Thần chú Hồng Hồng cho liên tiếp,
và ấn vào năm chỗ sau đây: ấn trên trán, kế ấn vai bên
mặt, kế ấn vai bên trái, kế ấn nơi giữa ngực, sau ấn
trên yết hầu, ấn xong xả ấn lên đảnh, có công năng trừ
tất cả ma chướng, thành tựu tất cả việc thù thắng. Lại
tùy ở chỗ nào muốn trừ dẹp quỷ thần, có thể kiết Kim
Cang giới, chỉ tụng Chuẩn Ðề Thần chú Chơn ngôn chú vào
trong nước hương thơm 21 biến, sái vẩy tám phương trên dưới,
tức thành toái trừ kiết giới. (Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói:
Hoặc làm phép tắc khi ở trong đàn, hoặc khi nằm ngủ, hoặc
bị ác mộng tức tụng Phật nhãn Chơn ngôn 800 biến, khi đương
tụng tay mặt cầm chuỗi, tay trái cầm Kim Cang xử. Chơn ngôn:
Úm - Ðộ Nẵng Phạ Nhựt Ra Hác)
Mỗi
ngày y pháp trì tụng, cần phải thân thời hạn định. Nếu
một thời trì tụng, nên trì buổi sáng, nếu hai thời trì
tụng kiêm cả hoàng hôn (tối sẩm). Nếu ba thời trì tụng
thời gia thêm chánh ngọ (giữa trưa). Như nhiều công việc
không thể y thời, chỉ thời nào cũng được trì tụng. Nếu
hạng thượng căn trì tụng, Tam Mật tương ưng, một Thân
mật (kiết ấn ngồi ngay thẳng), hai Ngữ mật (miệng tụng
Chơn ngôn Thần chú), ba Ý mật (một niệm chuyên pháp, hoặc
tưởng Chơn ngôn Phạn tự hoặc duyên tiếng trì tụng, hoặc
tưởng dung nhan Thánh tượng Chuẩn Ðề, hoặc tưởng trong
tay của Bồ Tát cầm các vật hoa quả.)
Kinh
Thần Biến Sớ nói: Nếu dùng Tam Mật làm môn tu hành, không
cần phải trải qua nhiều kiếp số tu các hạnh. Chỉ ở hiện
đời này đầy đủ các Ba la mật. Ngũ Bí Mật Nghi Quỹ nói:
Tam Mật Kim Cang để làm tăng thượng duyên hay có công năng
chứng quả vị của ba thân Tỳ Lô Giá Na thanh tịnh. Thích
Ðà Ra Ni văn tự nói: Nếu các chư Phật không tu Tam Mật môn,
không y Phổ Hiền hạnh nguyện mà được thành Phật là điều
không có lý. Nếu thành Phật với Tam Mật môn và Phổ
Hiền hạnh nguyện có thôi nghỉ là điều không có lý. Nếu
chánh trì tụng ba thời chưa mãn 108 biến, không được cùng
người nói chuyện, như muốn nói chuyện nơi trên lưỡi tưởng
chữ Phạn Lam, dù có nói chuyện cũng không thành gián đoạn.
Khi nói rồi liền phải trì tụng như trước.
Hỏi:
Chỉ trì một đạo Chơn ngôn công đức thành tựu hay là phải
rộng trì nhiều đạo Chơn ngôn công đức mới thành tựu?
Ðáp:
Ðây có hai môn:
1-Tùy
căn ưa muốn nghĩa là người có nhiều món ưa thích không
đồng. Hoặc ưa trì tụng ba đạo Chơn ngôn, cho đến một
trăm đạo Chơn ngôn v.v… ở trong đó tùy căn cơ ưa muốn,
đều được trì tụng.
2-Muốn
mau được thành tựu, nghĩa là muốn cầu tất cả công đức
mau được thành tựu, nên chuyên trì tụng một đạo Chơn
ngôn thành thời tất cả Chơn ngôn công đức thảy đều thành
tựu. Cho nên kinh Văn Thù Nghi Quỹ nói: Nếu muốn tất cả
công đức thành tựu, không được riêng đối với Chơn ngôn
mà sanh khởi tư tưởng (đừng sanh tâm dị biệt đối với
các Thần chú, Thần chú nào cũng sanh tâm chí kính, cũng là
pháp thành Phật tất cả.)
Như
trên tuy có các số đạo Chơn ngôn đều cùng trì tụng với
Chuẩn Ðề Thần chú, thứ lớp trợ giúp mau thành thắng diệu
vậy. Lại nữa mỗi ngày đối kính trì tụng, ban đầu khi
muốn trì tụng, phải theo như bản kinh. Quán tưởng tâm ta
như một mặt trăng tròn sáng rực rỡ, có chín chữ Thánh
Chuẩn Ðề Phạn tự, mỗi mỗi chữ tưởng có các thứ ánh
sáng chiếu khắp nơi tâm nguyệt tròn sáng ấy. Hoặc không
thể tưởng được chín chữ, nên có thể tưởng trong tâm
Nguyệt luân tròn sáng ấy, tưởng một chữ Phạn ÚM hoặc
tưởng chín chữ Phạn an bố khắp thân mình mình, trong ấy
có Chơn ngôn chín chữ Phạn tự, ánh hào quang sáng rực rỡ.
Như Ngài Kim Cang Trí đã dịch bản tụng rằng:
ÚM
tưởng an trên đảnh đầu, sắc kia trắng như mặt trăng.
Chiếu phóng vô lượng quang, trừ diệt tất cả chướng.
(Tức
đồng Phật, Bồ Tát, rờ trên đảnh đầu người.)
CHIẾT
an nơi hai mắt, sắc kia như nhật nguyệt.
Chiếu
phá các ngu ám, hay phát thâm huệ minh.
LỆ
an nơi trên cổ, sắc biếc như lưu ly.
Hiển
bày các sắc tướng, lần đủ trí Như Lai.
CHỦ
an nơi giữa ngực, sắc trong như tơ lụa.
Khiến
tâm được thanh tịnh, mau đến đường Bồ đề.
LỆ
an nơi hai vai, sắc như màu vàng ròng.
Do
quán sắc tướng này, được mặc giáp tinh tấn.
CHUẨN
tưởng nơi trong rún, sắc kia diệu vàng trắng.
Mau
lên diệu đạo tràng, không thoái Bồ đề tâm.
ÐỀ
an hai bắp vế, sắc kia màu vàng lợt.
Mau
chứng đạo Bồ đề, được ngồi tòa Kim Cang.
TA
PHẠ an hai cổ chân, sắc kia đỏ rực rỡ.
Thường
hay tưởng chữ này, mau được chuyển pháp luân.
HA
an nơi hai chân, sắc sáng như trăng tròn.
Hành
giả quán chữ này, mau được đến viên tịch.
Xét
trong bộ Hiển Mật Viên Thông, lấy chữ nghĩa của các bộ
Ðà Ra Ni an bố quán tưởng, là bởi
sợ
người sơ học đời nay khó thu nhận thực hành, cho nên y
bổn tông làm pháp yếu trì tụng. Hoặc muốn quán tưởng
các chữ nghĩa khác ấy, phải như bổn kinh trong đó chép ra
một pháp riêng khác cho được rõ hơn, như có người không
thể quán tưởng chữ Phạn, chỉ chuyên tâm trì tụng cũng
đầy đủ tất cả tam muội (chánh định). Kinh Ðại Bi Tâm
Ðà Ra Ni nói: Ðà Ra Ni là thiền định tạng, trăm ngàn tam
muội thường hiện tiền, nếu có người khẩn thiết trì
tụng, hoặc gặp các thứ ma chướng, hoặc thoạt nhiên run
sợ, hoặc miệng lưỡi khó tụng, hoặc thân tâm bất an, hoặc
nhiều hờn giận, hoặc nhiều ngủ nghỉ, hoặc các dị tướng,
hoặc ở nơi Thần chú sanh tâm nghi ngờ, không muốn trì tụng
nữa .v.v… phải có pháp đối trị, nên y vào bổn kinh, kiết
đệ nhị căn bản, tụng tâm Chơn ngôn, hoặc làm phép Vô
Năng Thắng Chơn ngôn ấn khế, hoặc quán tưởng chữ Phạn
RA hoặc quán chữ A theo đó làm một phép, tùy quán tưởng
một chữ các cảnh giới kia tự nhiên tiêu diệt. Nếu phân
biệt tâm nhiều, nên quán chữ SÁI tức thành vô phân biệt.
Nếu trước hữu vi tâm nhiều nên quán chữ HÀM tức đắc
nhơn duyên pháp vốn không. Kinh Trì Minh Tạng nói: Người tu
hành khi muốn làm các phép tắc, trước hết cần phải lặng
tâm xa lìa các chỗ ồn ào, ở nơi thân phần của mình, tưởng
tướng vi diệu của các chữ, mỗi mỗi được hiện ra trước
mắt, nếu được hiện tiền thì tất cả tội cấu đều
được tiêu diệt vi diệu chữ ấy, trước nơi cửa miệng
tưởng chữ Xả, nơi trên vai mặt tưởng chữ Ám, nơi trên
vai trái tưởng chữ Á, nơi trên đầu tưởng chữ Ám, nơi
trên tay mặt tưởng chữ A, trên tay trái tưởng chữ PHẠ,
nơi giữa rung tưởng chữ Hồng, lại nơi khắp thân tưởng
chữ A. Người tu hành mỗi khi tưởng như vậy là chữ nơi
thân phần khi ấy hiện ra. Tức liền tụng Chơn ngôn: Hồng
Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ, Hồng. Chơn ngôn này tụng 10 vạn
biến (nhứt lạc xoa) hay trừ tất cả tội. Lại Chơn ngôn:
Úm Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ, Phấn Tra. Chơn ngôn này nếu tụng
đến nhứt lạc xoa (10 vạn biến) đắc đại trí huệ. Lại
Chơn ngôn: Nẵng Mồ, Tả Lệ Chủ Lệ Tôn Nễ, Nẵng Mồ.
Chơn ngôn này thường trì hay trừ tất cả trần cấu. Chữ
Xá là Diệu Cát Tường Bồ Tát căn bổn. Chữ Muội là Từ
Thị Bồ Tát căn bản. Chữ Thất Trị là Như Lai căn bổn.
Chữ Ám là Phổ Hiền Bồ Tát căn bản. Chữ Ác là Hư Không
Tạng Bồ Tát căn bản. Chữ A là tất cả Như Lai căn bản.
Chữ A lại là Quán Tự Tại Bồ Tát căn bản, lại là Kim
Cang Thủ Bồ Tát căn bản. Chữ Hồng là Diệm Mạng Ðắc
Ca Phẫn Nộ Minh Vương căn bản.
Nay
lược chép ra ấn tướng, trước đứng ngay thẳng, sau lui
lại rồi xoay bên mặt, lấy hai tay, nắm mỗi tay lại mởi
ngón tay giữa ra làm tướng lay động. Ðây gọi là Nhã Phạ
Nẵng ấn, nếu người tu hành ở trong đại nạn, hoặc bị
cấm trói thời dùng đó, tất cả việc không thể làm hại.
Lại
lấy tay mặt nắm lại ngón tay giữa thẳng lên, đây gọi
là Tràng ấn, nếu khi chiến đấu, hoặc khi có đại bố
sợ hãi thì dùng. Lại trước ngồi kiết già phu, lấy tay
bên tả nắm lại đứng thẳng ngón tay cái, lấy tay mặt nắm
ngón tay cái bên trái an để nơi rún, đây gọi là pháp ấn
cầu giải thoát, dùng thì tất cả thiên nhơn thảy đều khen
ngợi. Lại nữa lấy hai tay mở ra các ngón tay cách nhau, để
nơi trên đầu triển chuyển như tướng bánh xe, ấn này gọi
là Bát Bức Luân, oai lực hay đoạn trừ tất cả đại ác.
Lại
trước đứng ngay thẳng tát hữu vũ thế (Múa mạnh bên mặt)
xoay chuyển bên mặt, lấy tay mặt làm phép thí nguyện, tay
trái làm phép tam phan tướng (?) an trên nơi trán, rồi trở
lại tát hữu vũ thế (múa mạnh bên mặt) rồi trở lại tát
tả vũ thế (múa mạnh bên trái): Ðây gọi là phương vị
ấn, có công năng hàng phục sư tử, long, hổ và các bộ đa
tất xá tả quỷ .v.v… Cho đến các kẻ đạo tặc (trộm
cướp).
Lại
lấy hai tay, để trên mỗi cánh tay, các đầu ngón tay thẳng
đứng, đây gọi là Bát lị già ấn, hay trừ tất cả bịnh
ngược (rét).
Lại
lấy hai tay nắm lại với nhau, lấy ngón tay cái tréo
lại nhau, đây gọi là Ðảo xử ấn, để dùng dứt trừ đại
ác tú diệu (sao ác).
Lại
lấy ngón tay cái mặt và ngón tay út an để nơi đầu ngón
tay trỏ, đây gọi là Bát trí ta ấn, hay hàng phục A Tô La.
Lại
lấy hai tay chấp lại hai ngón cái hình như kim châm, đây
gọi Thuyết pháp ấn để dùng khi cúng dường đức Bổn Tôn,
sẽ được chư Phật, Bồ Tát và Thiên Long, Bát Bộ, các vị
Trì Minh Thiên Tôn thảy đều vui mừng hay ban thí cho sự thành
tựu. (Như trên các ấn, đều tụng Bổn bộ Chơn ngôn.) Như
muốn thành tựu đại sự mau cầu linh nghiệm ấy, quyết phải
cần y kinh lập đàn làm các pháp tắc mới thu hoạch được
kết quả như ý mong muốn.
TU
BI ÐIỀN VÀ KÍNH ÐIỀN
1-
TU KÍNH ÐIỀN.
Hành
giả tu hạnh Du Già, muốn được huệ tăng trưởng, phước
trí viên minh quyết cần phải rộng tu hai món phước điền
Bi và Kỉnh. Trên hết cúng dường mười phương Tam-Bảo, dưới
cứu giúp lục đạo tứ sanh, để làm nền tảng cho định
huệ căn bản cho Bồ đề. Cho nên nói rằng: Bồ đề tâm
có hai thứ độ vô biên chúng sanh để làm nhơn, làm quả
cho Vô thượng Bồ đề. Mạn Trà La Sớ nói: Luận kẻ làm
đạo, trên nếu không cúng dường chư Phật, Bồ Tát thì làm
thế nào khai mở trí huệ mong cầu Bồ đề, dưới nếu không
cứu giúp chư tiên, ngã quỷ, thì thế nào có hạnh từ bi?
Như muốn tu kính điền phải y bản kinh kiết ngũ cúng dường
ấn tụng căn bản Chơn ngôn, vận tưởng cúng dường Bổn
Tôn chư Phật, Bồ Tát, tất cả Thánh chúng đã thành tựu
sở nguyện phước trí viên mãn. Như hoặc thường tu cúng
dường không thể y kinh làm đủ phép tắc. Nay căn cứ vào
các bộ Ðà Ra Ni và Thành Phật Tâm Yếu mà chép ra, trước
hết ở trước Thánh tượng nhứt tâm cung kính, năm vóc sát
đất, khắp lễ mười phương pháp giới, vô tận Phật, Pháp,
Tăng Tam-Bảo. Như ngũ tự Ðà Ra Ni tụng khiến kiết Kim Cang
ấn, lấy hai tay đôi lưng nhau, hai ngón út hai ngón cái câu
móc với nhau, miệng tụng Chơn ngôn 7 biến.
Chơn
ngôn: ÚM, PHẠ NHỰT RA VẬT (Ðọc việc hay phệ).
Tụng
rồi xả ấn lên trên đảnh, do Chơn ngôn ấn pháp này oai
lực không thể nghĩ bàn, tự nhiên biến khắp pháp giới vô
tận Tam-Bảo, trước các ngôi Tam-Bảo đều có tự thân lễ
bái phụng sự, nhiên hậu lấy đồ ăn uống hương hoa các
thứ v.v… tùy sức bày biện nhiều món để trong đồ thanh
tịnh, kiết phổ thông kiết tường ấn, ấn đó lấy tay mặt,
ngón tay cái cùng ngón vô danh bấm nhau lại ba ngón tay kia mở
tản ra, tụng tịnh pháp giới Chơn ngôn, gia trì 21 biến.
Chơn
ngôn: Úm Lam (21 biến).
Do
sức Chơn ngôn gia trì và oai lực của ấn, các món đồ vật
thực ăn uống thảy đều tự nhiên thanh tịnh, khắp nơi pháp
giới.
Liên
Hoa bộ niệm tụng pháp nói rằng: Ðối với tất cả các
món cúng dường hương hoa v.v… chữ LAM tự này phóng
ánh sáng sắc trắng, tức không thể uế xúc, vật đã cúng
dường đều khắp pháp giới. Kế đến tụng vô lượng oai
đức tự tại quang minh thắng diệu lực Biến thực Chơn ngôn:
chấp tay gia trì 21 biến.
Chơn
ngôn: Nẵng mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa phạ lồ chỉ
đề, úm tam bạt ra tam bạt ra hồng (21 biến).
Do
sức gia trì Chơn ngôn này, cho nên các món ăn uống kia biến
thành thức ăn ngon lành của chư Thiên thượng vị cam lồ,
phụng hiến cúng dường mười phương vô tận Tam-Bảo, cũng
là tán thán, khuyến thỉnh, tùy hỷ công đức. Kiết xuất
sanh cúng dường ấn, hai tay chấp lại mười ngón ngoài tréo
nhau, hai lóng đầu của các ngón giao nhau, để trên đảnh
đầu, tụng xuất sanh cúng dường Chơn ngôn 21 biến: ÚM. Do
Chơn ngôn này và ấn oai lực không thể nghĩ bàn, tự nhiên
biến khắp pháp giới, xuất sanh vô tận hương hoa, đèn nến,
tràng phan, bảo cái, y phục, ngọa cụ, lầu các, âm nhạc
v.v… các món cúng dường đầy đủ biến khắp pháp giới
vô tận Tam-Bảo v.v… Nếu không có các món ẩm thực hương
hoa v.v… chỉ đối trước Phật vận tưởng kết ấn tụng
chú, cũng tự nhiên xuất sanh các món cúng dường như trên
đầy đủ khắp pháp giới Tam-Bảo.(Ðây là biến thực Chơn
ngôn lý thú công đức như sau sẽ rộng rõ).
1-
KẾ ÐẾN TU BI ÐIỀN
Muốn
cúng chí đồ ăn cho chư Tiên, lấy một cái đồ thanh tịnh
đựng đầy các thức ăn uống, tụng biến thực Chơn ngôn
21 biến, ném vào trong dòng nước trong sạch, tức biến thành
món ăn mỹ diệu của Thiên Tiên, cúng dường trăm ngàn ức
hằng hà sa số chư Tiên, hết thảy các chư Tiên kia được
gia trì món ăn mỗi mỗi đều thành tựu sở nguyện các thiện
công đức. Nếu người nào lấy Chơn ngôn này gia trì trong
đồ ăn uống cúng thí cho chúng chư Tiên, hay khiến hiện đời
tăng trưởng phước thọ, tâm được thanh tịnh thấy nghe
chánh giải, đầy đủ thành tựu Phạm Thiên oai đức, tất
cả oán thù không thể xâm hại.
Muốn
cứu tế các loài ngã quỷ, mỗi buổi sớm chiều hay các thời
khác cũng đều không ngại. Lấy đồ sạch đựng ít nước
tịnh thủy để vào ít cơm và đồ ăn như bánh, lấy tay trái
cầm đồ đựng, tay mặt kiết Bảo ấn. (Lấy ngón tay cái,
ngón tay trỏ, ngón tay giữa, ngón tay út mở ra, lấy ngón vô
danh dùng khoáy vào trên đồ ăn, thí cho các Tiên ăn cũng dùng
ấy này). Tụng Biến thực Chơn ngôn 7 biến gia trì rồi nhiên
hậu xưng danh hiệu bốn đức Như Lai.
Nam
Mô Ða Bảo Như Lai (hay phá nghiệp xan lẫn của ngã quỷ, được
phước đức viên mãn.)
Nam
Mô Diệu Sắc Thân Như Lai (hay trừ hình hài xấu xí của ngã
quỷ, được sắc tướng đầy đủ.)
Nam
Mô Quảng Bát Thân Như Lai (hay khiến yết hầu ngã quỷ mở
lớn ăn được đồ cúng thí, hết thảy được no đủ.)
Nam
Mô Ly Bố Úy Như Lai (hay trừ tất cả sự sợ hãi của ngã
quỷ được xa lìa quỷ đạo.)
Xưng
Như Lai danh hiệu rồi, gảy móng tay bảy lần, lấy đồ ăn
kia để trên đất sạch, mở tay mặt rưới đó (trên đá
sạch, cây, đồ sành cũng được.) Phật dạy gia trì Ðà Ra
Ni này 7 biến, hay khiến tất cả các món ăn uống biến thành
các thứ cam lồ, ăn uống no đủ, trăm ngàn ức na do tha hằng
hà sa số tất cả quỷ thần và hết thảy các loại ngã quỷ
khác đều được no đủ, các chúng ngã quỷ như vậy, mỗi
mỗi đều được 49 hộc to lớn các đồ ăn uống, như nước
Ma Già Ðà. Nước và đồ ăn uống đồng pháp giới, ăn được
đồ ăn vô tận ấy đều được thành Thánh quả, giải thoát
khổ thân được sanh lên cõi trời và sanh về Tịnh độ.
Người hay cúng thí, hiện đời được đầy đủ vô lượng
phước đức, thời đồng với công đức cúng dường trăm
ngàn ức các đức Như Lai không khác.
GIẢI:
Phải biết đây là sức vô lượng oai đức, tự tại quang
minh thắng diệu. Biến thực Ðà Ra Ni, tức là bí tạng của
ba đức. Bí tạng này, đầy đủ tất cả pháp, có công năng
lưu xuất vô cùng, xuất sanh vô lượng châu biến pháp giới,
khắp cúng dường ba đức: Pháp thân, Bát Nhã, Giải thoát
và đầy đủ Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, bốn đức của pháp
thân, không riêng gì Pháp thân có đầy đủ Bát Nhã và Giải
thoát; mà Bát Nhã, Giải thoát cũng đầy đủ như vậy. Nói
oai đức tự tại ấy; tức là Giải thoát đức. Quang minh
ấy; là Bát Nhã đức. Thắng diệu ấy; là Pháp thân đức.
Lực ấy là sức của ba đức. Phạm ngữ Ðà Ra Ni đây dịch
rằng: Tổng trì nghĩa là Tổng trì ba đức, tóm lại là ở
nơi nhứt tâm, một tâm đủ tam đức, pháp nhĩ đầy đủ
như vậy. Song nhứt tâm tức Ðà Ra Ni. Ðà Ra Ni tức là pháp
thực, đều lấy ba đức chung làm Thể, cũng đều lấy ba
đức chung làm Dụng. Người ở bên Viên giáo, do hay rõ biết
bí tạng của ba đức đầy đủ tất cả pháp, tất cả các
pháp thể của nó là ba đức. Cho nên nêu Thể khởi Dụng
làm ra hiện tiền những phần ban thí ra các món ăn, ở trong
mỗi mỗi món ăn ấy, xuất sanh tất cả Thiên Tu Ðà Cam Lồ
Vị và hết sức vui mừng, phàm những món như bơ, phô ma,
đề hồ, tất cả các món ăn mỹ vị thảy đều đầy đủ.
Ở đây trong mỗi mỗi vị cũng lại xuất sanh hương thơm
vi diệu, hoa báu nhiệm mầu, áo trời đẹp đẽ, chuỗi ngọc
trân châu, các thứ xe báu, tất cả đồ phục dụng, chuông
khánh, kim bạt, thiều sáo, sừng ốc, nhạc cụ, đờn ca, tất
cả diệu âm, dòng suối trong mát, ao tắm thanh tịnh, hoa trái
vườn rừng, hào quang chiều sáng, lâu đài cung điện, tất
cả trụ xứ. Lại ở trong mỗi mỗi mỹ vị, mỗi mỗi phục
dụng, mỗi mỗi diệu âm, mỗi mỗi trụ xứ. Mỗi vật kia
xuất sanh tất cả diệu cúng của lục trần, như trên đều
chu biến khắp hết. Một món đồ ăn đựng nhỏ cho đến
một thìa, mà chỗ thọ dụng năng thí mầu nhiệm không thể
nghĩ bàn ấy. Vì đây một tức toàn thể của ba đức.
Tôi
nay trì ba đức này, đã huân ướp diệu cúng của sáu trần
khắp thí pháp giới vô lượng quần sanh, một thời đầy
đủ, không còn thiếu kém. Tuy vật ban thí mà cũng vốn
không có ta, và chúng sanh, cũng không có tướng, là vì không
quán vậy. Tuy lại không, mà cùng không giữ lấy, không vật,
không ta, không chúng sanh, người thí, kẻ thọ và những vật
trong ấy đều uyển nhiên rõ ràng có thể thấy được, là
bởi vì nhờ ở sự quán tưởng, trong một tâm rõ biết người
thí, kẻ thọ và các vật đã bố thí, chẳng phải có, cũng
chẳng phải không có, tam luân cu tuyệt (cả ba đều tuyệt
nhiên vắng lặng). Là bởi vì trong ấy do sức quán tưởng,
ba quán chiều trong một niệm, đắc không sau, không trước,
tưởng gì? Nghĩ gì? Hãy luyện pháp quán tưởng như vậy mà
tu hạnh bố thí. Ấy là không trụ tưởng bố thí, hay là
các chúng sanh thọ thí. Khi bố thí này mỗi mỗi món ăn tự
nhiên đều được thiền duyệt pháp hỷ. Vì vậy ở cõi Trời
chuyển thêm thắng phước, nơi cõi Người thì đốn ngộ nguồn
chơn, ở Tu la thì tâm được điều phục, ở Ngã quỷ thì
được no đủ, ở Súc sanh thì tự được trí huệ, nơi Ðịa
ngục vĩnh thoát giam cầm câu thúc. Liền khi bấy giờ đều
hối hận ăn năn nghiệp nhơn đã tạo, tiến cầu đạo quả
xuất thế. Nên biết là pháp, là thực đều được lợi lạc.
Thí như ướp thuốc, thuốc tùy sức lửa, nhập vào trong thân
người, bịnh hoạn trừ diệt trở lại khỏe mạnh, pháp thực
ăn vào cũng lại như vậy. Hoặc gần hoặc xa trọn phá vô
minh.
Nếu
lấy một bát nước, dùng Cam lồ Chơn ngôn gia trì 7 biến,
tán rải nơi hư không, một giọt nước kia, tức biến thành
10 hộc vị cam lồ, tất cả ngã quỷ đều được uống đủ,
không có thiếu kém, thảy đều đầy đủ sung mãn.
Chơn
ngôn: Nam Mô tố rô bá da, đát đa nga tha da, đát điệt
tha – Úm tố rô tố rô bá ra tố rô bá ra tố rô ta phạ
ha (7 biến).
GIẢI:
Giả như không có đồ ăn uống, tức dùng Cam lồ Chơn ngôn
gia trì trong nước đem thí, khiến tất cả ngã quỷ thảy
đều no đủ. Nếu có bốn chúng đệ tử, dùng Chơn ngôn này
và danh hiệu bốn đức Như Lai gia trì đồ ăn uống mà bố
thí các loài ngã quỷ, thì hay được đầy đủ vô lượng
công đức, tuổi thọ sống lâu phước đức tăng vinh. Lại
được nhan sắc trắng đẹp, oai đức mạnh mẽ, mau chóng
đầy đủ đàn Ba la mật (Bố thí Ba la mật). Tất cả Dạ
Xoa, La Sát, các ác Quỷ Thần, người chẳng phải người v.v…
đều kính nể người đó, không dám lại gần xâm hại.
TRÍ
CỰ NHƯ LAI TÂM PHÁ ÐỊA NGỤC
CHƠN
NGÔN
Kinh
Biệt Hành nói: Thần chú này nếu tụng một biến, địa ngục
Vô gián tan nát như vi trần, những chúng sanh thọ khổ ở
trong đó, thảy đều sanh về Cực Lạc. Nếu viết Thần chú
này bằng chữ Phạn nơi chuông, nơi trống, nơi linh, nơi khánh,
có các âm thanh, hoặc trên bảng mộc v.v… Chúng sanh nào nghe
được tiếng ấy, các tội thập ác ngũ nghịch thảy đều
tiêu diệt, không còn đọa vào trong các ác thú.
Chơn
ngôn: Nẵng mồ a sái tra tất để nẫm, Tam ma dã tam mẫu
đà cố trí nẫm; Úm cấn nghiết nẵng phạ bà, tất đề
lị đề lị hồng. (Viết chữ Hán và chữ Phạn trên chuông,
trống rất là nhiệm mầu.)
TỲ
LÔ GIÁ NA
PHẬT
ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN
Kinh
Bất Không Quyến Thần Biến nói: Nếu có các chúng sanh tạo
đủ mười điều ác, năm nghịch tội, bốn trọng giới, tội
số như vi trần đầy khắp thế giới, thân hoại mạng chết
thần thức đọa vào các ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì
vào đất, cát, 108 biến tán rải nơi vong linh, nơi tử thi,
nơi hài cốt, rải trên mồ mả, vong linh kia nếu ở địa
ngục, ngã quỷ, tu la, súc sanh v.v… nhờ sức Chơn ngôn gia
trì tức liền khi ấy được ánh hào quang của chư Phật rọi
vào, thân trừ các tội báo, bỏ thân khổ sở, vãng sanh về
Tây phương Cực Lạc thế giới, hóa sanh trong hoa sen, thẳng
đến thành Phật, không còn đọa lạc.
Chơn
ngôn: Úm a mộ già vĩ lô tả nẵng ma hạ, mẫu nại ra ma
nĩ bát nạp mạ nhập phạ ra, bát ra mạt đa dã hồng (108
biến).
GIẢI:
A mộ già đây nói rằng vô gián đoạn. Vĩ lô tả nẵng cũng
nói Phệ lô giá na. Hoặc dùng giấy, vải lụa, viết chép
Thần chú này để nơi vong nhơn nơi trên thân, hoặc trên hài
cốt cũng rất nhiệm mầu. Có bài kệ rằng: Chơn ngôn Phạn
tự chạm xúc nơi thi cốt của vong nhơn, được sanh về cõi
tịnh độ, thấy Phật nghe pháp, gần gũi thọ ký mau chứng
Vô thượng đại Bồ đề. Kinh Bất Không Quyến nói: Nếu
nghe Thần chú này hai, ba, đến bảy lần trải qua nơi tai mình,
tức được trừ diệt tất cả tội chướng. Nếu có chúng
sanh, chầy năm nhiều tháng bịnh hoạn khổ sở hoành hành,
vạn mối sầu khổ; ấy là người bịnh do nghiệp báo đời
trước, tụng Chơn ngôn này trước người bịnh nhơn một,
hai đến ba ngày, mỗi ngày lớn tiếng tụng Thần chú này
1080 biến thì được trừ diệt túc nghiệp bịnh chướng.
Nếu bị quỷ mị làm nhiễu hại cuồng loạn mất tiếng không
nói được, trì Chơn ngôn này gia trì nơi tay 108 biến thoa
nơi đầu mặt, để tay nơi ngực nơi trán gia trì 1080 biến
bịnh được trừ lành. Nếu các quỷ thần vọng lượng làm
bịnh, gia trì nơi chỉ ngũ sắc 108 biến thành 108 gút, đeo
trên lưng, tay, cổ người bịnh, hoặc gia trì nơi áo mặc,
bịnh kia liền trừ lành.
QUÁN
TỰ TẠI BỒ TÁT CAM LỒ CHƠN NGÔN
Kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát Ðà Ra Ni nói: Nếu người tụng chú
này, đời quá khứ, hiện tại đã tạo tứ trọng , ngũ nghịch,
hủy báng kinh Phương Ðẳng, tội nhứt xiển đề, hết thảy
các tội đều được tiêu diệt không còn dư sót, thân tâm
nhẹ nhàng, trí huệ minh mẫn. Nếu thân hoặc lời nói thảy
hay lợi lạc tất cả hữu tình. Nếu có chúng sanh rộng tạo
tất cả các tội Vô gián, nếu được gặp người trì chú
này, hình bóng chói vào thân của người kia, thoạt được
cùng nói chuyện, hoặc nghe tiếng nói người kia, tội chướng
thảy đều tiêu diệt. Nếu muốn lợi ích tất cả hữu tình,
mỗi khi trời mưa khởi đại bi tâm, ngửa mặt hướng hư
không tụng Chơn ngôn này 21 biến, mỗi giọt mưa kia thấm
nhuần tất cả hữu tình, diệt hết tất cả nghiệp trọng
tội, đều được lợi lạc.
Chơn
ngôn: Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị
dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát
phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát
nễ dã tha. Úm Ðộ Nĩnh Ðộ Nĩnh, Ca Ðộ Nĩnh Ta Phạ Hạ.
(Ca
hoặc nói hát nê, hoặc nói nhĩ nĩnh, hoặc nói nễ.)
GIẢI:
Nếu muốn lược tụng, chỉ trì từ chữ Úm trở xuống, chữ
Úm trở lên là lời quy kính, chánh chú là từ chữ Úm. Nếu
chép Chơn ngôn Phạn tự này trên chuông, trống, khánh v.v…
tất cả những vật có ra tiếng, các chúng sanh nghe tiếng
kia thảy đều thanh tịnh, mạng chung được sanh về Tây phương
Tịnh độ.
LỤC
TỰ ÐẠI MINH CHƠN NGÔN
-
Úm ma ni pát mê hum.
-
Úm ma ni bát di hồng.
-
Úm ma ni pết nạp minh hồng.
Kinh
Trang Nghiêm Bảo Vương nói: Khi bấy giờ đức Quán Tự Tại
Bồ Tát nói Thần chú Ðại Minh này, bốn đại bộ châu và
cung điện của các cõi trời, thảy đều rung động, nước
bốn biển lớn, nổi sóng ào ạt. Hết thảy các ma làm việc
chướng ngại đều sợ hãi chạy trốn tản mất.
Phật
bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà
Ra Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu
chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc
không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người
đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô
lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống
gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm
vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát. Nếu người nào thường
hay thọ trì chú Ðại Minh này, ở lúc trì tụng có 99 căn
già hà sa số Như Lai tập hội, lại có vi trần số Bồ Tát
tập hội, lại có vô số Thiên Long, Bát Bộ đến để hộ
vệ người ấy. Người trì tụng Thần chú này bảy đời
dòng họ đều sẽ được giải thoát, trong bụng có các loài
trùng sẽ được địa vị bất thoái chuyển của Bồ Tát.
Nếu đeo trì trong thân trên đảnh, có người được thấy
người đeo trì ấy cũng như đồng thấy thân Kim Cang của
Như Lai. Nếu hay y pháp niệm tụng, tức được vô tận biện
tài, ngày ngày thường đủ sáu Ba la mật, viên mãn công đức.
Nếu trong miệng hơi thở ra chạm vào người nào, người đó
liền khởi tâm lành, xa lìa các sân độc, sẽ được bất
thoái chuyển Bồ Tát, mau chứng Vô thượng Bồ đề. Người
đeo trì giữ gìn chú này, lấy tay rờ đến người nào, hoặc
lấy đôi mắt liếc nhìn đến các loài dị loại, các hữu
tình, thảy đều mau được địa vị Bồ Tát. Người như
vậy vĩnh viễn không thọ các khổ sanh, lão, bịnh, tử. Lại
nữa Phật nói: Vi trần đã có, ta có thể đếm số lượng
kia được, cho đến nước đại hải ta có thể biết số
lượng kia. Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh một biết,
đã được công đức mà ta không thể đếm tính số lượng,
giả như trong bốn đại châu, tất cả kẻ nam nữ đều chứng
được địa vị Thất Ðịa Bồ Tát, công đức đã có cùng
với người niệm Lục Tự Ðại Minh một biến mà công đức
không sai khác. Nếu có người viết chép Ðại Minh này,
đồng với viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng. Nếu lấy
kim bảo cõi trời tạo hình tượng của các đức Như Lai số
như vi trần, không bằng chép viết một chữ trong sáu chữ
Ðại Minh này, chỗ thu hoạch công đức quả báo không thể
nghĩ bàn, người ấy sẽ được 108 món Tam ma địa môn. Chỉ
niệm một biến sẽ được tất cả Như Lai đem y phục, ẩm
thực, thuốc thang và đồ ngồi nằm đầy đủ tất cả để
cúng dường. Pháp này ở trong Ðại Thừa rất là tối thượng,
tinh thuần vi diệu. Tất cả Như Lai và các Bồ Tát thảy đều
cung kính chấp tay làm lễ.
Khi
nói sáu chữ Chơn ngôn này, có bảy mươi trăm ức các đức
Như Lai đều đến tập hội, đồng nói: Thất Cu Chi Chuẩn
Ðề Ðà Ra Ni. Vậy nên biết sáu chữ Chơn ngôn cùng với
Chuẩn Ðề Chơn ngôn đầu đuôi tương tu. Như muốn cùng Chuẩn
Ðề Chơn ngôn đồng tụng ấy, có thể ở trước Chuẩn Ðề
Chơn ngôn niệm tụng. Song cần yếu hiệp hai chữ nạp minh
làm một chữ mới phù hợp Phạn âm. Hoặc muốn riêng trì
tụng, công đức như trên đã nói. Nếu muốn như pháp kiết
đàn niệm tụng rõ như bản kinh văn, đây không chép hết.
A
DI ÐÀ PHẬT NHẤT TỰ TÂM CHÚ
Chơn
ngôn “Hật Rị”.
Om
A Mi Tabha Hrih.
Úm
A Di Ðát Phạ Hật Rị Sa Ha.
Câu
chú này luôn luôn đi theo với Úm Ma Ni Pát Mê Hum (Hồng). Căn
cứ theo chư sư truyền lại, nên thêm Úm A Di Ðát Phạ và
thêm chữ Ta Ha cũng được.
Kinh
dạy: Chữ Hật Rị (HRIH) Ðủ bốn chữ thành một Chơn ngôn.
Chữ Hạ tự môn, nghĩa là tất cả pháp nhơn bất khả đắc.
Chữ RA tự môn, nghĩa là tất cả pháp ly trần. Trần
nghĩa là ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Cũng gọi
hai món chấp trước năng thủ và sở thủ. Chữ Y tự môn,
là tự tại bất khả đắc, hai điêm ác tự nghĩa. Chữ Ác
gọi là Niết Bàn. Do giác ngộ các pháp vốn không sanh, đều
xa lìa món chấp trước, chứng được pháp giới thanh tịnh.
Chữ Hật Rị này cũng nói làm tàm (hổ thẹn), nếu nói đủ
là tàm quí (hổ thẹn), tự thẹn với lương tâm mình và xấu
hổ đối với kẻ khác, vì thế nên không làm tất cả điều
bất thiện vậy. Ðầy đủ tất cả pháp lành vô lậu vậy.
Cho nên Liên Hoa Bộ cũng gọi là Pháp Bộ.
Do
gia trì chữ Hật Rị này mà ở thế giới Cực Lạc, nước,
chim, cây, rừng đều diễn nói pháp âm. Rộng như trong kinh
đã thuyết minh. Nếu có người nào trì một chữ Chơn ngôn
này, có công năng hay diệt trừ tai họa, tật bệnh. Sauk hi
chết sẽ sanh về cõi An-Lạc quốc, được thượng phẩm thượng
sanh. Ðây là nhứt thông tu Quán Tự Tại tâm Chơn ngôn của
người tu hành và cũng là hay trợ giúp cho các người tu các
bộ Du Già vậy.
VĂN
THÙ BỒ TÁT NGŨ TỰ TÂM CHÚ
-
A ra bạt giả na.
Kim
Cang Ðảnh Kinh Ngũ Tự Chơn ngôn Thắng Tướng nói: Nếu người
vừ tụng một biến, như tụng tám vạn bốn ngàn thập nhị
Vi Ðà tạng kinh. Nếu tụng hai biến Văn Thù, Phổ Hiền liền
theo gia bị, Hộ Pháp, Thiện Thần ở trước người đó. Lại
nữa, nếu tụng một biến hay trừ tất cả khổ nạn của
người tu hành. Nếu tụng hai biến trừ diệt ức kiếp sanh
tử trọng tội. Nếu tụng ba biến tạm muội hiện tiền.
Nếu tụng bốn biến được tổng trì bất vong. Nếu tụng
năm biến mau thành Vô thượng Bồ đề. Nếu người nhứt
tâm ở riêng chỗ vắng vẻ, viết năm chữ Phạn làm vòng
đàn pháp, y pháp niệm tụng mãn một tháng rồi, Văn Thù Bồ
Tát liền hiện thân kia, ở trong hư không diễn nói pháp yếu,
khi bấy giờ người tu hành được túc mạng trí, biện tài
vô ngại, thần túc tự tại, thắng nguyện thành tựu, phước
trí đầy đủ, mau chưóng Như Lai pháp thân. Chỉ có tín tâm
thọ trì thì trải qua mười sáu đời quyết định thành Chánh
giác.
GIẢI:
(Muốn làm phép gia trì kiết giới, rõ như Ngũ Tự Tâm Ðà
Ra Ni phẩm.)
ÐẠI
BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀ RA NI
Nẵng
mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa nẫm, Úm vĩ bổ lã nghiệt
bệ, mạ nĩ bát ra bệ, đát tha đa nễ nại xả nĩnh, mạ
nĩ mạ nĩ, tô bát ra bệ, vĩ mạ lê, ta nghiệt ra, nghiễm
tỷ lệ, Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, một đà
vĩ lô chỉ đế, hủng đế dạ địa sắc sỉ, đa nghiệt
bệ, ta phạ ha.
Tâm
chú: Úm ma nĩ phạ nhựt ra hồng.
Tùy
tâm chú: Úm ma nĩ đà lị hồng phấn tra.
Chú
này trước sau có ba nhà dịch, bản dịch ban đầu bị mất,
người tên Khai Nguyên lục chép ra vào đời Lương Trung Hoa,
sau Ngài Bồ Ðề Lưu chỉ dịch, đến lượt thứ ba Ngài Bất
Không Tam Tạng dịch. Nay sợ người mới học khổ nỗi Phạn
âm, nên mới giảo đính lại cả ba bản dịch, chép ra chính
bản văn của Ngài Bất Không Tam Tạng, còn chữ của hai bản
dịch kia không đồng, nên bản này rõ hơn, để cho người
tu tập âm giọng không còn nghi trệ.
Kinh
dạy rằng: Ðà Ra Ni này có đại oai đức. Phật do đây thành
đạo, do đây hàng ma, hay diệt ác chướng hay thành lục độ.
Nếu chép nơi chuông, trên điện, trên lụa, vải, trên giấy,
trên vách tường, bảng v.v… những vật trên đó có các chúng
sanh mắt tạm được thấy. Hoặc thân tay chạm đến, hoặc
chói qua trong hình bóng và các người khác đụng chạm đến
người này, hoặc mang nơi thân, hoặc đeo nơi đảnh, hoặc
chép nơi trên vật có tiếng, hoặc người nghe thấy tiếng
ấy, hoặc người đọc tụng, hoặc chỉ nghe tên Ðà Ra Ni
này, những chúng sanh như vậy, dù có những tội tứ trọng,
ngũ nghịch thập ác, thảy đều tiêu diệt, quyết định sẽ
chứng đắc Vô thượng Bồ đề, hay ở nơi hiện đời được
vô lượng trăm ngàn công đức, thường được quốc vưong,
tể quan, bốn chúng cung kính vui mừng, không thọ thế gian
các thứ khổ não, độc dược, dao gậy, các nạn nước lửa,
tất cả các ác thú như sư tử, cọp, sói không dám làm hại.
Lại không bị các nạn trộm cướp, các độc xà, các tà
thần, quỷ mị. Hiện thân không thọ tất cả các bịnh:
nghĩa là bịnh rét, bịnh mắt, bịnh tai, bịnh mũi, bịnh lưỡi,
bịnh răng, bịnh môi, bịnh yết hầu, bịnh đầu, bịnh cổ.
Các bịnh của chi phần: Bịnh tay, lưng, hông, rún, trĩ, đái
sưng, lị, nhọt rò, nhọt, đầu gối, gót chân, mụn con, ban,
dạ dày, ghẻ lở, sẹo, lác, hắc lào, hết thảy các bịnh
như vậy không dính vào thân. Không bị trù rủa, yếm đảo
độc trùng, chú trớ, thư nộp, mà dính nơi thân, không bị
tai hoạnh mà chết. Nằm ngủ yên ổn, thức thì an vui, ở
trong chiêm bao mộng thấy trăm ngàn cõi Phật. Cùng thấy chư
Phật và Bồ Tát đoanh vây chung quanh, khi mạng gần chết tâm
không tán loạn, tất cả chư Phật hiện ra trước mặt an
ủi. Lại tất cả các loài bàng sanh như nai, chim, mòng, muỗi,
trùng, kiến, ong bướm cho đến thai noãn, thấp, hóa, các loài
hữu tình nghe danh Ðà Ra Ni này, hoặc thân chạm xúc, hoặc
trong bóng ngã qua, quyết định sẽ đắc Vô thượng Bồ đề.
Lại
có người nào trên đảnh núi cao, tụng Ðà Ra Ni này, tầm
mắt phóng thấy tận đến chỗ nào, tất cả chúng sanh ở
nơi ấy đều được diệt trừ tất cả tội nghiệp (rộng
như trong kinh đã dạy.)
CÔNG
ÐỨC BẢO SƠN ÐÀ RA NI
Nam
Mô Phật Ðà da
Nam
Mô Ðạt Ma da
Nam
Mô Tăng Già da
Úm
tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà,
tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.
(Chữ
hộ cũng nói là hồ, đô cũng đọc là độ, chỉ cũng đọc
giá, ba cũng đọc bà, lị cũng đọc nĩ khứ thinh.)
Kinh
Ðại Tập nói: Nếu người tụng chú này một biến, như lễ
Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến.
Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo
tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu
tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú
này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn
đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh
Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng
phẩm thượng sanh.
GIẢI:
Tạo tội hơn mười sát độ ấy, nghĩa là tội đã tạo quá
hơn mười thế giới vi trần; kiếp hết lại sanh, nghĩa là
cõi Ta Bà thế giới này khi đã hoại diệt, tội kia chưa hết,
liền gởi sanh trong địa ngục ở thế giới phương khác.
Cõi này thành rồi đời người tội nhơn kia trở về trong
địa ngục phương này mà chịu khổ báo.
TAM
TỰ TỔNG TRÌ CHƠN NGÔN
- Úm
Á Hồng
-
Úm A Hum
-
Án dạ hồng.
Du
Già Ðại giá Vương kinh nói: Chữ Úm là Ðại Biến Chiếu
Như Lai tức Phật Tỳ Lô Giá Na. Chữ Á là Vô Lượng Thọ
Như Lai, tức Phật A Di Ðà. Chữ Hồng là A Súc Như Lai, tức
Bất Ðộng Phật. Ðức Như Lai nhơn ở trong nhiều năm tu trì
hành đạo không đắc Bồ đề, sau tu tập quán tưởng này,
trong khoảng nửa đêm liền thành Chánh giác. Nghĩa là chữ
ÚM gồm đủ vô lượng pháp môn, là mẫu của tất cả Chơn
ngôn (Thần chú). Tất cả Như Lai đều nhơn quán tưởng chữ
này mà được thành Phật. Chữ A (hay Á) là Tỳ Lô Phật thân,
cũng là pháp giới, cũng là Bồ đề tâm. Nếu người tưởng
niệm, hay sanh vô lượng công đức. Chữ Hồng tổng nhiếp
Kim Cang bộ, tất cả Chơn ngôn (Thần chú) là chủ thân Kim
Cang bộ, cũng là ba môn giải thoát. Nếu thường tưởng niệm,
hay trừ tất cả tội chướng, thành tựu tất cả công đức.
Ba giải thoát môn: 1- Không giải thoát môn, 2- Vô tướng giải
thoát môn, 3- Vô nguyện giải thoát môn. Căn bản các hạnh
của đại Bồ Tát từ sơ phát tâm đến “Nhứt thiết trí”.
Chư
Giáo Quyết Ðịnh Danh Nghĩa Luận nói: Chữ Hồng tức Pháp
thân, chữ A tức Báo thân, chữ Úm tức Hóa thân. Ba chữ như
vậy nhiếp cả ba thân này, để phân biệt nói tam thừa và
đạo giải thoát, ấy là nhơn chánh thuyết, nói có Thanh Văn,
Duyên Giác và Nhứt thiết trí. Do trí xuất hiện nói tất
cả pháp, tức ba chữ kia cũng là Kim Cang tam nghiệp, như thật
an trụ; nghĩa là Úm – A - Hồng. Trong chữ Úm này, là Kim
Cang thân nghiệp, chữ A Kim Cang ngữ nghiệp, chữ Hồng Kim
Cang tâm nghiệp. Lại nữa, chữ Hồng là tâm trí giác liễu
(rõ thấu tất cả) tất cả pháp như trên đã nói. Phải biết
tất cả văn tự đều từ chữ Úm A Hồng ba chữ mà ra, do
đó nên các pháp khởi lên các tướng phân biệt tất cả
pháp kia, đều cùng Úm – A hai chữ trước sau nhiếp
nhau. Chữ Hồng trong đây, xuất sanh tất cả, ở trong ba cõi,
xuất hiện các sắc; nghĩa là có Thiên, Nhơn, Long, A tu la,
Ca lầu la, Khẩn Na La, Càn thác bà. Thành tựu Trì Minh Thiên,
Cát Tường Thiên, Biện Tài Thiên, Ô Ma Thiên, Ðế Thích Thiên,
Phạm Vương Thiên, Na La Diên Thiên, Ðại Tự Tại Thiên, những
trời như vậy, và Thiên hậu đã có tất cả trong cõi hữu
tình kẻ nam tử, người nữ nhơn cho đến hết thảy các Phật,
Bồ Tát đều từ chữ Hồng này xuất sanh biến hóa, kia mỗi
một tâm, trụ tướng chữ này, nếu khi tâm tưởng chữ này,
phải trụ nơi hư không, xuất sanh ra vô ngại, nghĩa là tâm
ba cõi, đồng một tâm này, được nhập vào tâm rồi, tức
được gọi là hiện chứng Bồ đề, phải biết tâm này là
vô đẳng, vô thủ, vô trước, vô trụ, vô biểu, vô tướng,
tức là hư không bình đẳng tất cả trí vô sở đắc, tương
ưng không tự, không tha, tương ưng chánh hạnh. Thế gian đã
có Chiên đà la tối hạ chủng tộc v.v… các loại kia cũng
bình đẳng các hạnh cho đến các loại súc sanh, kia đã có
hạnh, các hạnh sai khác. Các hạnh như vậy, tuy lại sai khác,
đều cũng không lìa nhứt thiết trí, trí tương ưng chánh
hạnh v.v…
Thành
Phật Nghi Quỹ tụng rằng:
Do
tụng chữ Úm này, gia trì oai lực vậy.
Dù
quán tưởng không thành, nơi các Phật hải hội.
Các
cúng dường mây biển, chơn thật đủ thành tựu.
Do
chư Phật chắc thật, pháp nhĩ đã thành vậy.
Do
vừa tụng chữ Á, diệt sạch các tội chướng.
Ðược
các vui ý lạc, đồng đẳng tất cả Phật.
Vượt
hơn các chúng ma, không thể làm chướng ngại.
Ðáng
thọ các thế gian, rộng nhiều thứ cúng dường.
Do
gia trì chữ Hồng, cọp sói các trùng độc,
Ác
tâm người chẳng người, không còn thể khuấy phá.
Như
Lai mới thành đạo. Nơi dưới cội Bồ đề.
Dùng
Ấn Mật ngôn này, phá dẹp chúng Thiên ma.
Kinh
Ðại Phật Ðảnh Ðà Ra Ni nói: Giả sử có chúng sanh nơi
tâm tán loạn, miệng tụng Thần chú, còn có 8 vạn 4 ngàn
na do tha hằng hà sa trăm ức, Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát chủng
tộc. Mỗi vị đều có các chúng Kim Cang làm quyến thuộc.
Ngày đêm thường theo hầu hạ ủng hộ, người này dù cho
ma vương rình tìm phương tiện, trọn không thể được, các
Thần quỷ núi đi cách xa người thiện nhơn này, ngoài mười
do tuần. Nếu có quyến thuộc của ma muốn tìm đến phá rối
người thiện ấy, các chúng Kim Cang lấy chày Bảo xử đập
nát cái đầu kia cũng như hạt bụi, hằng khiến người này
việc làm như nguyện.
GIẢI:
Như trên tu trì bi kỉnh các Chơn ngôn, nếu không thể mỗi
mỗi tụng trì chép tả ấy, thì tất cả việc làm hết thảy
đều dùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn cũng được. Vì Chuẩn Ðề
Chơn ngôn giống như châu ngọc như ý, nếu người tu hành
trì tụng nơi chỗ dùng đó, đều được thành tựu. Như trên
tụng trì Chơn ngôn, hay diệt ngũ nghịch, thập ác, tứ trọng
tội ấy. Phải biết tội có Tánh tội và Giá tội, sám hối
phải đủ Sự Lý. Tánh thời không luận thọ giới hay không
thọ giới, làm là có tội. Giá (ngăn) nghĩa là tăng thọ Phật
giới, tâm hủy phạm. Sự, cần phải trình bày phát lồ, lễ
Phật danh kinh, tu hành các nghi Phương Ðẳng, để hàng phục
cội gốc của nghiệp. Lý, nghĩa là chuyên quán thật tướng,
đạt tội tánh không, diệt nghiệp căn nguồn. Các Chơn ngôn
Thần chú này, nếu hay y pháp tụng trì, tức song vận cả
Sự Lý, nguồn tội gốc nghiệp liền tiêu. Nếu phạm cấm
giới, căn cứ theo luật nói sám hối, gia thêm Thần chú, thời
Sự Lý gồm đủ, Tánh Giá đều tiêu hết không sót. Không
thể vừa nghe công lực của Thần chú như thế, liền trái
phạm cấm giới, không y luật sám hối thì giá tội cũng phải
còn. Hoặc nhờ nương Nghi Quỹ Chơn ngôn lại tạo thêm các
lỗi. Thí như người ngu, ỷ thế lực của vua, rộng tạo
các ác, họa trọn đứt đầu. Nghiệp tâm không dứt, tội
thật khó trừ, quyết khiến thân tâm đều tiêu, mới được
diệt tội, như ánh mặt trời sương mù tiêu tan.
SỔ
CHÂU CÔNG ÐỨC PHÁP
Nói
về tràng chuỗi, để tâm ghi nhớ cho người sơ cơ chứa nhóm
công đức. Trì ấy là thành đức, đeo là diệt tội cấu,
quả tốt của thế gian và xuất thế gian đâu không do đây
ư! Như kinh Kim Cang Ðảnh Du Già Niệm Châu nói: Lúc bấy giờ
đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn bảo Ngài Kim Cang Thủ rằng: Lành
thay! Lành thay! Vì các Bồ Tát tu Chơn ngôn hạnh, nói các Nghi
Quỹ, thương xót đời vị lai, hết thảy hữu tình, nói công
đức thắng lợi niệm châu, do nghe như vậy, diệu ý thú ấy,
mau chứng Tất Ðịa. Khi bấy giờ Ngài Kim Cang Tát Ðỏa Bồ
Tát bạch Phật mà nói: Thưa Thế Tôn! Con nay xin nói. Lúc bấy
giờ Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát nói bài kệ rằng:
Châu
biểu thắng quả của Bồ đề,
Nơi
trong đoạn dứt hữu vi lậu.
Sợi
dây xâu suốt biểu Quán âm,
Mẫu
ch