Phần I:
Những bài
giảng của thầy
Phương
pháp diễn giảng
Những
kinh nghiệm giảng dạy Phật pháp dành cho tăng ni sinh ở các
lớp giảng sư
Hôm
nay tôi xin chia sẻ với các thầy cô một số phương pháp
giảng dạy giáo lý mà tôi đã học hỏi đúc kết từ kinh
nghiệm của các vị giảng sư đi trước tự bản thân rút
ra qua bao nhiêu năm đứng trên bục giảng.
Điều
đầu tiên tôi muốn nói với các thầy cô: Đối với người
đời thì dạy học là một nghề nghiệp, một sự nghiệp,
nhưng đối với tu sĩ chúng ta thì giảng dạy giáo lý là một
bổn phận, một nhiệm vụ thiêng liêng. Đứng trên bục giảng,
chúng ta phải luôn tâm niệm vị tha vì đạo, không cầu danh
lợi cá nhân. Giáo lý tối thượng là của Đấng Thế Tôn
chứng ngộ, chư vị Tổ sư kết tập, truyền thừa, chúng
ta chỉ là người giữ gìn, thắp nối ngọn đèn Chánh pháp.
Ý thức được nhiệm vụ quan trọng và thiêng liêng của mình
một cách thấu đáo thì chúng ta mới có thể hoàn thành tốt
được phần nào bổn phận của một sứ giả Như Lai.
A.
NHỮNG BƯỚC CHUẨN BỊ:
I.
Am tường giáo lý:
1.
Hiểu đúng:
Hiểu
đúng giáo lý là điều tối thiết. Xưa có câu chuyện một
vị tăng vì hiểu và trả lời sai về nhân quả mà phải đọa
năm trăm kiếp làm chồn. Làm một giảng sư, nếu hiểu và
giảng sai giáo lý thì đưa đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng
cho bản thân và cho biết bao người. Do vậy, phải trang bị
cho mình một sự vững vàng về giáo lý. Phải tìm hiểu thật
cặn kẽ, rốt ráo, nếu có điểm gì còn nghi ngờ, chưa rõ.
Tuyệt đối không được mập mờ, dễ dãi. Đối với kinh
tạng phải hết sức cẩn thận, nghiên cứu, đối chiếu kỹ
lưỡng về mặt từ ngữ khi trích dẫn, sai một li đi một
dặm. Ngày xưa Tổ Đạt Ma chủ trương bất lập văn tự một
phần cũng là ngụ ý răn nhắc người sau phải hết sức cẩn
trọng đối với sự truyền đạt giáo lý. Đối với chân
nghĩa giáo lý phải coi trọng còn hơn sinh mạng của mình.
Không qua loa dễ dãi, khế lý khế cơ tuỳ tiện.
2.
Hiểu sâu, hiểu rộng:
Người
giảng sư cần có kiến thức về giáo lý sâu sắc. Không chỉ
trong phạm vi chương trình, đề tài của mình giảng dạy mà
phải mở rộng và nâng cao, để trong quá trình giảng ta có
sự so sánh, đối chiếu, có như vậy thì bài giảng mới sâu
sắc, sáng tỏ. Kiến thức sâu rộng mới có thể trả lời
được ngay cả những câu hỏi ngoài bài học nhưng có hỗ
trợ, liên quan đến bài học khi người nghe tham hỏi, nếu
không trả lời được, ấp úng lờ mờ hoặc trả lời sai
thì sẽ mang lại sự hoài nghi, thất vọng, mất niềm tin ở
người nghe. Muốn hiểu sâu hiểu rộng giáo lý phải đọc
và tham khảo nhiều tài liệu sách vở đông tây kim cổ. Đọc
nhiều các luận giải, quan điểm của các tông phái, trường
phái để có sự so sánh đối chiếu, sáng tỏ vấn đề.
Một
vấn đề rất quan trọng nhất để hiểu sâu giáo lý là phải
“hành thâm” giáo lý. Nếu không tu tập để có sự chứng
nghiệm từ bản thân thì không thể hiểu sâu sắc giáo lý
được.
3.
Tuyệt đối tuân thủ, nhất quán:
Đối
với Chánh pháp không được tự ý thêm thắt lý giải theo
cách hiểu, quan niệm của riêng mình. Giảng giáo lý không
thể chấp nhận năm nay các thầy giảng như thế này, năm
sau lại giảng như thế khác cho một vấn đề, đương nhiên
là tuỳ theo trình độ cao thấp mà gia giảm mức độ nông
sâu, nhưng cái căn bản là phải nhất quán. Đối với ngành
giáo dục nước ta hiện nay, năm nay dạy thế này, năm tới
có thể sẽ phải dạy thế khác, bởi giáo dục bây giờ luôn
được cải cách để cập nhật với sự tiến bộ của khoa
học, xã hội và tâm thế của con người hiện đại. Còn
đối với giáo lý của Đức Thế Tôn mấy ngàn năm qua vẫn
không thể đổi khác. Đó là chân lý tuyệt đối vĩnh hằng.
Người tu có thể khế lý khế cơ áp dụng giáo lý phù hợp
với căn cơ của mình, với hoàn cảnh hiện tại để tu, nhưng
nền tảng căn bản của giáo lý không thể thay đổi hay hiểu
khác đi được.
II.
Trang bị kiến thức xã hội:
Người
giảng sư cần trao dồi kiến thức xã hội, nếu quá lạc
hậu so với thời cuộc thì không nắm bắt được tâm lý,
mối quan tâm của người nghe, bài giảng sẽ kém sức hấp
dẫn vì thiếu thực tế. Thậm chí phải biết sơ lược, cơ
bản về các tôn giáo khác để có tầm nhìn bao quát. Cần
có sự cảm thụ, hiểu biết về văn học nghệ thuật để
dẫn chứng cho bài giảng tươi mát hơn. Những bài kệ, bài
thơ có chủ đề Phật giáo nếu được trích dẫn phù hợp
sẽ mang lại hiệu quả lý thú, dễ nhớ cho người nghe. Đức
Phật ngày xưa đã áp dụng phương pháp này rất tuyệt vời,
hiệu quả. Hầu hết các bài kinh ngài thuyết đều có những
câu kệ dễ nhớ mà sâu sắc, độc đáo, tầng tầng ý nghĩa.
III.
Chuẩn bị bản thân:
1.
Tu tập: Một giảng sư Phật học phải có thực tu. Giảng
giáo lý mà không có kinh nghiệm tu tập sẽ chỉ là những
lời nói suông, thiếu tính thực tiễn, thuyết phục.
2.
Trau dồi giới đức: Phải luôn giữ gìn giới đức oai nghi
nghiêm nhặt, vì khi đứng trên bục giảng mà bản thân không
làm cho người nghe tin tưởng, thân giáo không có thì khẩu
giáo cũng không hiệu quả.
3.
Sức khoẻ: Rất cần thiết cho việc giảng dạy, không thể
giảng tốt nếu bệnh cảm, uể oải, giọng khan…
IV.
Chuẩn bị đề tài:
1.
Nếu giảng ở các trường phật học thì chương trình dạy
đã có sẵn, ta cứ tập trung nghiên cứu, đầu tư cho bài
giảng của mình thật kỹ.
2.
Nếu giảng ở các đạo tràng phật tử, các buổi bát quan
trai, các khoá tu v.v… thì cần sắp xếp các đề tài, chủ
đề một cách có trình tự từ cơ bản đến nâng cao, để
người nghe nơi ấy tuy nghe ta giảng nhiều lần vẫn không
bị lập lại, nhàm chán. Không tuỳ tiện hứng đâu giảng
đó; thiếu sự xuyên suốt, khoa học thì giảng một thời
gian lâu là bí đề tài, không biết giảng cái gì nữa.
3.
Nếu là buổi thuyết pháp đột xuất ở một địa phương
nào đó thì phải nghiên cứu tìm hiểu phong tục tập quán
thói quen sinh hoạt, trình độ, mối quan tâm của thính giả
nơi đó mà chọn đề tài phù hợp.
V.
Chuẩn bị giáo án:
- Soạn
giáo án chi tiết cẩn thận, khoa học với ý thức rằng không
chỉ dạy một lần, mà giáo án ấy có thể còn theo ta dạy
dài lâu. Lưu giữ giáo án đầy đủ để sau này rút kinh nghiệm,
sửa chữa, bổ sung. Giáo án cần bố cục hợp lý, trình bày
rõ ràng khoa học, để khi giảng ta dễ theo dõi, và người
nghe cũng có thể ghi chép dễ dàng.
B.
NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý TRONG KHI GIẢNG:
I.
Nội dung bài giảng:
1.
Bám sát và nêu bật được chủ đề. Phân bố thời gian hợp
lý cho các vấn đề chính, phụ, đừng để vấn đề chính
thì chỉ nói qua loa, vấn đề phụ thì lại đào sâu, khai
thác quá mức.
2.
Khi dẫn chứng cần nêu những trường hợp khái quát, phổ
biến, cập nhật. Dẫn chứng cần sâu sát, có tính thiết
thực. Ưu tiên dẫn chứng những trường hợp lịch sử có
thật. Dẫn chứng văn học nghệ thuật nên chọn những tác
phẩm có ý nghĩa liên quan, bổ ích cho bài giảng, đừng lan
man.
II.
Hình thức thể hiện:
1.
Giọng nói: Rõ ràng, không pha giọng, người vùng nào nói giọng
vùng đó, không bắt chước, pha giọng sẽ trở thành ngọng
nghịu, gượng ép. Tuy nhiên nếu giảng viên là người có
giọng địa phương đặc biệt thì nên cố gắng phát âm rõ
ràng, hạn chế dùng từ địa phương ít thông dụng. Âm điệu
nhẹ nhàng, điềm đạm, không lên gân, không nói nhanh, nói
hấp tấp.
2.
Cử chỉ: Đúng mực, giữ oai nghi ung dung của một người
tu. Ánh mắt thân thiện, hoà ái, nụ cười nhẹ nhàng, không
cười to hết cỡ. Không huơ tay múa chân, đứng lên ngồi
xuống, đi tới đi lui rối rít.
3.
Thái độ: Khiêm cung, hoà nhã, nhân hậu. Luôn khởi tâm từ
bi, quí mến mọi người để có sự thông cảm, đồng cảm,
giao lưu giữa người nói và người nghe. Không nổi giận,
áp đặt, chỉ trích người khác khi dẫn chứng, tránh các
vấn đề nhạy cảm như chính trị, tôn giáo…
III.
Phương pháp truyền đạt:
1.
Theo trình tự:
a.
Nhập đề giới thiệu: Phần mở đầu giới thiệu một buổi
giảng rất quan trọng, ông bà ta nói: “đầu xuôi đuôi lọt”
ngay từ lúc đầu ta phải gây được sự chú ý, hấp dẫn
người nghe bằng cách giới thiệu rõ ràng, thông minh, làm
cho thính giả cảm thấy bài giảng mà họ sắp nghe rất lý
thú và bổ ích.
b.
Triển khai nội dung: Sắp xếp khoa học từng đề mục, theo
thứ tự từ thấp đến cao. Tóm ý, giải quyết gọn từng
đề mục, không giảng đảo lộn, chồng chéo các vấn đề
gây khó hiểu. Mỗi ý đều có dẫn chứng, lý giải rõ ràng
cụ thể, không bày ra vấn đề rồi bỏ lửng, nói không đến
nơi đến chốn, mập mờ, mơ hồ.
c.
Kết luận vấn đề: Tóm tắt các ý chính, nói lên ý nghĩa,
tầm quan trọng, vị trí của vấn đề trong đời sống tu
tập cho mọi người. Rút ra bài học cụ thể, phương cách
áp dụng.
2.
Đặt câu hỏi: Tạo điều kiện để người nghe tham gia bày
tỏ quan điểm, sự hiểu biết về vấn đề ta giảng; dựa
vào đó ta biết mối quan tâm, mức độ tiếp thu của ngươi
nghe mà điều chỉnh kịp thời. Không nên đặt câu hỏi quá
khó, phải có gợi ý, giải thích.
IV.
Những điều cần lưu ý:
1.
Tạo không khí vui vẻ: Phải làm cho buổi giảng sinh động
bằng cách tạo không khí vui vẻ. Đừng quá căng thẳng, ngột
ngạt. Tuỳ theo đối tượng nghe giảng mà tạo sự giao lưu,
thân mật. Khi pha trò phải biết chừng mực, bổ ích; không
nói đùa quá trớn làm ngượng ngùng thính giả, mất oai nghi
giảng sư.
2.
Bình tĩnh: Nếu có sự cố xảy ra trong buổi giảng hoặc lớp
quá ồn ào, thiếu tập trung v.v…, người giảng sư luôn phải
có thái độ cẩn trọng, phán quyết thông minh, không được
nổi giận, xúc động thái quá.
3.
Trang phục: Ăn mặc lịch sự, giản dị. Dụng cụ cá nhân
đơn giản gọn gàng (lên lớp chỉ nên đem theo viết và giáo
án, đừng nên túi xách rườm rà). Là người tu phải luôn
giản dị, không nên chăm chút quá đáng ngoại hình, nhưng
đứng trước đông người cũng không nên cẩu thả tuềnh
toàng để thể nhập nếp sống văn minh, tôn trọng mọi người.
4.
Thời gian: Luôn đúng giờ, không đến lớp trễ, canh thời
gian để phân bố bài giảng hợp lý, cố gắng đừng dạy
lố giờ, vì tâm lý người nghe lúc ấy không tập trung được.
Trên
đây là một số kinh nghiệm giảng dạy Phật pháp mà tôi
muốn chia xẻ với các thầy cô. Đương nhiên là còn rất
sơ lược và chủ quan. Tuỳ theo tình hình cụ thể từng nơi,
tuỳ theo tâm lý trình độ của người nghe mà quyền biến
cho phù hợp. Mong rằng các thầy cô sẽ nghiên cứu và rút
ra được những phương pháp tốt nhất để áp dụng hiệu
quả cho công việc hoằng hoá lợi sanh của mình.
Thu
Nguyệt (lược ghi)
Tâm
sự với tăng ni sinh.
Trước
khi các thầy cô bắt đầu vào khoá học, tôi có vài điều
muốn tâm sự, căn dặn các thầy cô. Không chỉ với tư cách
một người thầy khuyên nhủ học trò mà còn với tư cách
một người bạn đồng hành, một huynh đệ đồng môn, cùng
chia xẻ những kinh nghiệm tu học để cùng nhau vững bước
trên đường Đạo.
Điều
đầu tiên tôi muốn nhắn nhủ với quí thầy cô đoa là sự
Tri hành hợp nhất. Điều hay lẽ phải thì ai cũng biết nhưng
không phải ai cũng làm được. Chúng ta được học biết bao
điều hay, nhưng học chỉ để biết chớ không áp dụng, thực
hành thì vẫn chỉ là “cái đãy sách”. Ngày xưa khi Bạch
Cư Dị nói với Ô Sào thiền sư rằng: “Những điều ông
nói đứa trẻ lên ba cũng nói được” thì thiền sư đã
trả lời: “Những điều tôi nói đứa trẻ lên ba cũng nói
được nhưng ông già tám mươi chưa chắc đã làm được!”
Từ cái sự nói đến cái sự biết đã là một khoảng cách,
rồi từ cái sự biết đến cái sự làm lại là một khoảng
cách lớn hơn nữa.
Đức
Phật ngày xưa cũng đã nói: “Pháp của ta là pháp để tu
chớ không phải là pháp để học”. Bây giờ cũng vậy, tôi
mong rằng những điều tôi nói hôm nay sẽ được các thầy
cô để tâm vận dụng, chớ không phải chỉ ngồi nghe trong
vài tiếng đồng hồ này thôi, rồi sau tiết học, đứng lên
chắp tay hồi hướng là những điều tôi nói cũng “hồi”
trả lại tôi luôn!
* Vấn
đề thứ nhất, tôi muốn trao đổi với các thầy cô là vấn
đề học tập:
Đã
gọi là tăng ni sinh thì vấn đề cấp thiết đầu tiên là
học. Việc học của các thầy cô hôm nay gồm có cả nội
điển và ngoại điển.
Học
xong phổ thông cũng như học xong chương trình cơ bản Phật
học đó là trình độ bắt buộc mà một tăng ni trong thời
đại ngày nay phải có. Nhưng xong các chương trình này rồi
thì phải học tiếp như thế nào thì rất nhiều thầy cô
băn khoăn, không biết chọn lựa ra sao? Có người cho rằng
tuổi còn nhỏ, có điều kiện nên lo học đại học bên ngoài
trước, còn việc học nội điển có thể học sau hoặc tự
nghiên cứu lấy, không học ở trường cũng được. Theo tôi,
điều này phải tuỳ theo khả năng và chí hướng hoằng pháp
của từng người. Nếu là người có khả năng chứng ngộ
thì cũng có thể tự học bằng trí huệ của mình, cộng với
ý chí quyết tâm tìm cầu thì có thể tự nghiên cứu và học
nội điển. Còn việc học ngoại điển nếu đã có chí hướng
hoằng pháp lợi sanh, thì tuỳ theo khả năng của mình mà chọn
một chuyên ngành thực sự hữu ích, làm phương tiện thiết
thực cho việc hoằng pháp. Muốn theo học như vậy thì phải
là người thực giỏi, thực tài mới thực hiện được, nếu
khả năng khiêm tốn mà nghĩ mình có thể tự học và theo
học cao như vậy là không xong! Mất cả chì lẫn chài, mất
thời gian, không thu được kết quả, uổng phí một đời,
đó là chưa nói vì vọng tưởng, xu hướng, chạy theo phong
trào, học để lấy bằng, lấy tiếng thì thật là đáng trách.
Chúng ta là người xuất gia, ăn bát cơm ngàn nhà, nếu chúng
ta tiêu phí thời gian và công sức vào những việc không ích
lợi cho Phật pháp thì tội nặng không lường. Quí thầy cô
còn nhớ sự tích một hạt cơm làm chìm cái áo cà sa không?
Do
vậy, việc chọn cái để học là vô cùng quan trọng. Đối
với người tu, tôi nghĩ rằng không học gì tốt hơn là học
Phật. Đứng trên bục thuyết pháp cho mọi người, điều
kiện đầu tiên là sự thông hiểu Phật pháp. Ông bà ta thường
nói “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” mình đi tu, nếu có
làm kỹ sư bác sĩ chắc cũng không làm lại người đời.
Vả lại kỹ sư bác sĩ ngoài đời đâu có thiếu, cái mà
đời thiếu là thiếu những bậc chân tu. Một ông thầy rành
về vi tính hơn giáo lý thì có tốt không? Một ông thầy nói
tiếng Tây tiếng Tàu ro ro mà giảng một câu kinh của đấng
Từ Phụ mình không đạt thì có tốt không? Có người bảo:
“Còn trẻ lo học ngoại điển, về già sẽ lo học nội điển”.
Nói như vậy có khác gì các Phật tử bảo rằng: “Còn trẻ
cứ sống cho đã, về già vô chùa tu!” Già rồi học gì nữa?
Già rồi tu gì nữa? Già, đầu óc còn đâu nhạy bén để
học để tu? Lo chống chọi với bệnh tật còn không xuể!
Đó là chưa nói kiếp sống vô thường, ta hẹn lần hẹn lữa,
bất ngờ chết bất đắc kỳ tử thì không có cái gì để
đem theo. Đối với chuyện học giáo lý, chuyện tu, chúng ta
phải học, phải tu với tinh thần tưởng như mình không còn
sống bao lâu nữa thì mới được. Không nên lãng phí thời
gian.
Học
Phật không chỉ là lên lớp ngồi nghe giảng. Kho tàng giáo
lý mênh mông, kiến giải của vị giảng sư chỉ là một góc
hiểu biết, chúng ta phải tự tìm tòi, nghiên cứu, ngẫm nghĩ
thêm để phát huy trí huệ. Học giáo lý không phải để cho
xong chương trình các cấp lớp như học trò bậc tiểu học,
trung học ngoài đời. Học giáo lý không chỉ để biết, để
có kiến thức về giáo lý, học giáo lý phải hiểu sâu giáo
lý, từ đó mới có thể “hành thâm” để “chiếu kiến”
mới “độ nhất thiết khổ ách” được chớ!
Học
giáo lý là học cho mình, cho chính mình cuộc đời mình, đừng
học như đối phó, học cho có, cho xong. Lớp cơ bản Phật
học Vĩnh Nghiêm có khi tăng vắng đến gần nửa lớp, tôi
thấy thật xót xa, thương mấy thầy cô còn trẻ, cạn nghĩ,
cứ buông lung giãi đãi, không biết mình đã bỏ phí thời
gian, tự làm hại mình, công thầy tổ cho đi học, công đàn
na tín thí cúng dường mà mình lơ là như thế thiệt tội
lắm!
Thời
đại bây giờ vấn đề học được đặt lên hàng đầu.
Điều đó không chỉ đúng ở ngoài đời mà nó cũng đúng
ở trong đạo. Các thầy, các sư cô bây giờ không có cơ hội
được sống trong Phật Học Viện nội trú nên không cảm
nhận được cái giá trị của việc vừa học vừa hành như
thế nào. Cái nhu cầu được học, được mở rộng tri kiến
bao giờ cũng có, cũng lớn và nhất là những người trẻ
thì không bao giờ thiếu được. Không chỉ học Phật pháp
cho tinh tường, mà phải học thế học cho rộng rãi, cho thông
suốt nữa. Mình phải diễn bài giáo lý của đức Phật sao
cho người ta dễ nghe, dễ hiểu, dễ chấp nhận và dễ thực
hành. Mình phải nắm vững nhu cầu cấp tiến của xã hội,
phải cập nhựt thông tin khoa học. Giáo lý được trình bày
dưới ánh sáng khoa học thì càng thu hút và gây niềm tin cho
người đời, nhất là tấng lớp trí thức. Nhưng nếu chỉ
có học thôi, chỉ có biết thôi thì cũng chẳng là gì hết
đối với lý tưởng và sự nghiệp của mình. Lý tưởng và
sự nghiệp của mình là phải đi tới chỗ tự tại, chỗ
an lạc, chỗ giải thoát. Mình không bị danh lợi, tài sắc,
quyền lực khống chế đã đành rồi mà chữ nghĩa, kinh điển,
giáo lý cũng không thể ràng buộc được mình nữa. Mình phải
thoá ly danh tự. Mình phải vượt thoát ngôn luận. Mình phải
thực chứng những gì mình biết, mình nói. Phật giáo sẽ
chẳng còn chỗ đứng, sẽ bị người ta ngoảnh mặt làm ngơ
nếu chỉ có ba tàng kinh điển khô cứng và im lìm bất động.
Chúng ta là những học trò tiếp nối sự nghiệp của đức
Thế Tôn, của chư vị Tổ sư thì cái hoài bão được độ
sanh phải luôn canh cánh trong lòng. Muốn bước ra độ sanh
thì chúng ta phải xem lại mình có cái gì để hiến tặng
đây? Chúng ta phải thành công, phải tìm được viên kim cương
trong mỗi người thì gia tài của đức Thế Tôn để lại
mới mong tiếp tục được bảo quản lâu dài.
* Vấn
đề thứ hai tôi muốn nói với các thầy cô đó là vấn đề
tu tập. Không gì lý do học mà lơ là chuyện tu. Các thầy
cô đã từng trị nhật, nấu nướng, làm bếp chưa? Bếp lửa
phải đều, nếu chỉ xoáy đốt vào một chỗ thì cơm khét!
Chỉ lo học, không lo tu thì…tẩu hoả nhập ma, nói ra chỉ
toàn lý thuyết! Đã gọi là xuất gia đi tu mà không tu thì
là gì? Có tu mới có phước, có đức mới sinh huệ thì học
giáo lý mới tốt được. Người không tu, đến với giáo
lý chỉ bằng kiến thức thì mãi mãi chỉ biết đạo chớ
không ngộ đạo được! Chỉ biết thôi thì chúng ta trở thành
một nhà nghiên cứu Phật học chớ không trở thành một nhà
tu được! Vấn đề tu này tôi không nói nhiều, vì với người
tu mà nhắc chuyện tu hoài thì kỳ quá, bởi đó là chuyện
đương nhiên, sở dĩ tôi nhắc đây là nhắc các thầy cô
trong lúc học không được lơ là chuyện tu thôi. Hoà thượng
Thiện Hoa tuy có chia cuộc đời của người tu qua ba giai đoạn:
1- học; 2- hoằng truyền; 3- chuyên tu; nhưng cả ba giai đoạn
đó đều có trong nhau. Nghĩa là trong khi học vẫn phải tu
tập hết lòng, và vẫn có thể hoằng truyền bằng thân giáo
qua phẩm hạnh. Trong khi hoằng truyền mình vẫn tiếp tục
học vì sự nghiệp học sẽ không bao giờ dừng, vẫn phải
hết lòng thực tập pháp môn. Trong khi chuyên tu mình vẫn là
kẻ đang học và hoằng truyền bằng sự toả sáng thân tâm
của mình. Tuy là ba nhưng vẫn là một, nói có ba tại vì trong
mỗi giai đoạn như vậy thì ta cần làm nổi bật cái nào
hơn cái nào thôi.
* Vấn
đề thứ ba tôi muốn tâm sự với các thầy cô là các mối
quan hệ. Các thầy cô còn trẻ, tính tình còn bồng bột, do
vậy dễ vấp phải vấn đề về các mối quan hệ. Sống trên
đời chúng ta có rất nhiều mối quan hệ: Mối quan hệ với
gia đình, với xã hội, với thầy tổ, với huynh đệ đồng
môn, với phật tửv.v… Ở đây vì các thầy cô là tăng ni
sinh nên tôi đề cập trước đến hai mối quan hệ: đó là
mối quan hệ thầy trò và mối quan hệ huynh đệ đồng học.
Mối quan hệ thầy trò thì chắc tôi không cần nhắc, đã
là người tu thì mối quan hệ thầy trò các thầy cô đã hiểu
rất thông. Tôi chỉ nhắc một phần nhỏ trong mối quan hệ
huynh đệ đồng học.
Ngoài
xã hội, vấn đề phân chia kỳ thị vùng miền là hiện tượng
khá phổ biến. Hiện tượng này vẫn không biến mất khi các
thầy các cô đã khoác áo tu sĩ. Đành rằng đặc điểm văn
hoá tập tục, thói quen mỗi địa phương có khác nhau. Những
người cùng sinh ra và lớn lên ở cùng một vùng đất thì
có đặc tính cơ bản giống nhau nên dễ gần nhau, dễ thông
cảm, do vậy sinh hoạt chung nhau có thuận tiện hơn. Nhưng
chúng ta chớ vì điều ấy mà để tâm phân biệt. Trong lớp
chúng ta có huynh đệ nhiều vùng miền, pháp Lục hoà phải
luôn được ghi nhớ, áp dụng. Đã là người tu áo vuông đầu
trọc như nhau, cùng chung chí hướng, chung đấng Từ Phụ,
chúng ta phải hành xử, tôn trọng quí mến nhau đúng như pháp
Phật đã dạy. Chúng ta khởi lòng thương yêu tất cả chúng
sinh trong mười phương pháp giới mà huynh đệ ngồi cạnh
mình, mình lại bưng bỏ ra xa ngoài Bắc, trong Nam, miền Trung,
xứ Huế… Thử hỏi có đúng tinh thần từ bi hỷ xả chưa?
Anh em sống chung với nhau có rất nhiều tình thương. Cái tình
thương đó quan trọng trong đời tu hành dữ lắm. Người ta
nói: “Ăn cơm cần có canh, tu hành cần có bạn”, tôi nghĩ
đúng vì khi mình rời bỏ gia đình, xóm làng, người thân,
nguyện theo lý tưởng, theo sự nghiệp giải thoát và độ
đời thì những người đồng chí hướng sống chung là mối
quan hệ rất cần thiết. Họ tuy khác miền, khác địa phương,
khác phong tục tập quán nhưng họ giống mình ở cái lý tưởng
nên mình dễ được nuôi dưỡng và lớn lên từ họ lắm.
Họ là bạn mình nhưng họ cũng là anh, là thầy của mình.
Chỉ cần mình đi lệch một chút, làm sai một chút, nghĩ quấy
một chút là họ kéo mình lại liền. Con mắt của tăng và
bàn tay của tăng thật quan trọng. Cho nên tinh thần hoà hợp
là điều kiện tiên quyết và bắt buộc phải có trong một
đời sống cộng đồng, nhứt là cộng đồng của những người
làm đạo đức cho nhân loại.
Thế
hệ chúng tôi có duyên may được kề cận học hỏi với các
vị trưởng lão tài đức như: Hoà thượng Thanh Từ, Hoà thượng
Bửu Huệ, Hoà thượng Thiền Tâm. Sống dưới bóng mát của
ba vị tôn túc đó, chúng tôi luôn thấy an ổn và vững niềm
tin. Những gì các ngài truyền trao đều là sản phẩm của
sự thực tu thực chứng chứ không phải lý thuyết suông.
Hạt giống dầu tốt đến đâu nếu không có môi trường
tốt, nếu không có những tăng thượng duyên tốt thì nó cũng
không thể lớn lên và cho hoa trái lành được. Mình dù có
căn lành bao nhiêu mà không được dưỡng nuôi trong một môi
trường tu học nghiêm túc, hiểu sai, thực hành sai, không ai
bảo hộ thì không chỉ gây tai hại cho chính bản thân mình
và còn gây ra tai hoạ cho giáo hội, cho xã hội nữa. Cho nên
chọn bến để đỗ, chọn cây để đậu, chọn đất để
mọc là chuyện mà mình phải cẩn thận và đắn đo kỹ lưỡng.
Mình phải thông minh và biết mở lòng ra để quan sát. Mình
không nên dễ dãi phó thác cuộc đời mình vào những nơi
mà mình chưa biết sự thật về nó rồi sau này có hối hận
thì mình cũng đã dang dở hết nửa đời hoặc cả đời tu
rồi. Tu như vậy thì thà đừng đi tu còn hơn. Tu phải đi
cho đúng đường, phải được học tập, phải được thực
hành, phải được bảo bọc thì mới đáng với việc làm
bỏ nhà, bỏ xóm, bỏ sự nghiệp thế gian. Mình đi tu phải
với tư cách của tập thể, cộng đồng, của xóm làng, của
quê hương đất nước thì mình mới mau tới được. Tại
vì mình sẽ không cho phép mình thất bại, té xuống rồi thì
phải biết đứng dậy mà đi tiếp. Mình thất bại thì tất
cả sẽ thất bại theo. Sự nghiệp tu hành thì cũng giống
y chang như sự nghiệp ngoài thế tục. Ngoài đời nếu mình
không ăn nên làm ra, cứ long bong cho hết ngày tháng thì người
ta sẽ khinh mình dù đó là người thân. Huống chi xã hội
sẽ đào thải mình. Mình sẽ bị bỏ lại, sẽ bị loại trừ.
Đi tu cũng vậy, nếu mình trở thành một ông thầy tu có danh
phẩm mà kinh điển không thông suốt, thực hành chẳng có
phẩm chất nào thì mình cũng bị loại trừ và bỏ lại.
Lời
cuối cùng nhắn gởi là mong các thầy cô hãy nhìn lại tâm
Bồ đề của mình mà tinh tấn lên. Trong quá khứ có thể
đã có những vụng về, những đổ vỡ, những thất bại,
nhưng chúng ta có thể sửa sang lại ngay từ bây giờ. Chúng
ta hãy ngồi lại với nhau trong tinh thần của một bó đũa
để sức mạnh của Tăng-già luôn luôn bền vững mà không
bị bất kỳ thế lực nào có thể bẻ gãy. Thế hệ chúng
tôi sắp đi qua rồi, các thầy là sự tiếp nối của chúng
tôi thì hy vọng các thầy sẽ làm hay hơn chúng tôi nhiều.
Bây giờ việc học của các thầy có nhiều thuận lợi hơn
chúng tôi thuở trước, đời sống tự viện của các thầy
đầy đủ phương tiện hơn chúng tôi thuở trước, nhưng đời
sống tâm linh tức nội lực thì phải coi lại, nhìn kỹ lại,
tại vì cái đó quyết định tất cả đó các thầy ơi! Các
thầy phải định hướng cuộc đời mình ngay từ bây giờ,
không còn chần chờ gì nữa. Các thầy phải nhìn sâu sắc
để thấy cái gì có lợi cho con đường của mình thì mình
tiếp tục vun đắp, còn cái gì phương hại tới thì phải
từ bỏ liền, từ bỏ một cách cương quyết bằng tất cả
hùng lực mà không luyến tiếc gì hết.
Vào
đầu năm học mới, tôi có đôi điều tâm sự, nhắc nhở
các thầy cô như thế, mong rằng suốt khoá học, các thầy
cô sẽ thu thập nhiều điều bổ ích cho sự tu học của mình.
Minh
Thông & Nhuận Liên (lược ghi)
Làm
chủ lục căn
Thưa
quí phật tử!
Hôm
nay, tôi xin chia xẻ với đạo tràng những kinh nghiệm tu tập
để làm chủ bản thân, không bị chi phối bởi các trần
duyên bên ngoài, nhằm đạt được sự tự chủ, tự tại
và an lạc trong cuộc sống. Pháp thoại này có đề tài là:
Làm chủ lục căn.
Lục
căn là gì?
Nói
một cách gọn ghẽ: lục là sáu, căn là giác quan.
Trên
phương diện hình thức, con người có năm giác quan:
- mắt
(nhãn căn)
- tai
(nhĩ căn)
- mũi
(tỷ căn)
- lưỡi
(thiệt căn)
- thân
(thân căn)
Trên
phương diện tinh thần con người có ý (ý căn) ghép vào thành
lục căn.
Dẫu
ta định nghĩa rằng lục là sáu, căn là giác quan, nhưng gọi
là sáu căn thì nghe được, nhưng nói là sáu giác quan thì
lại không ổn lắm, bởi thông thường người ta hay gọi “giác
quan thứ sáu” là sự linh cảm, mà sự linh cảm thì vượt
xa hơn phạm trù của ý căn. Về phần này nếu có điều kiện
tìm hiểu thêm về duy thức học, quí phật tử sẽ rõ hơn.
Trong phạm vi bài này tôi không thể giảng hết được, hẹn
dịp khác vậy. Ở đây chúng ta chỉ tạm tìm hiểu về việc
làm chủ lục căn thôi.
Mỗi
căn có một đối tượng tiếp xúc riêng, gọi là trần. Vậy
nên ta có sáu trần:
- sắc
trần (cảnh vật)
- thanh
trần (âm thanh)
- hương
trần (mùi hương)
- vị
trần (vị)
- xúc
trần (cảm giác ở thân)
- pháp
trần (cảnh ở trong tâm).
Chính
sáu căn này làm ra cơ sở tiếp xúc với sáu trần để sinh
ra sáu thức rồi khởi tâm phân biệt, yêu ghét và từ đó
tạo ra muôn ngàn tội lỗi. Nếu nói vậy thì sẽ có người
thắc mắc: Thế thì những người không đầy đủ lục căn
như mù mắt, điếc tai, tâm thần… chắc ít có điều kiện
tạo tội? Vậy hổng lẽ ta tự huỷ hoại bớt… vài căn
của mình để hạn chế gây tội? Chà, cái này khó dữ a,
dù ai có sợ tội tới đâu, bảo đảm cũng không dám chọn
cách tránh tội dại dột kiểu này! Vả lại đức Phật nói:
Được thân người, có đầy đủ lục căn được gặp Phật
pháp là một phước báu. Quí phật tử ngồi đây đều có
phước báu lớn, vừa được thân người đầy đủ lục căn,
lại vừa được gặp Phật pháp. Dẫu được thân người
nhưng nếu thiếu một căn là bất hạnh rồi, nếu người
bị điếc thì làm sao nghe thuyết pháp mà hiểu đạo được
phải không? Con người có lục căn cũng như có gia tài, tiền
bạc vậy, nếu sử dụng đúng thì đem lại hạnh phúc, an
vui; nếu sử dụng sai thì chuốc lấy khổ đau, bất hạnh.
Thử nghĩ xem, nếu quí phật tử có tiền đem làm từ thiện,
giúp đỡ cho người nghèo thì có đem lại niềm vui cho mình
cho người hay không? Còn nếu có tiền đi mua thuốc phiện,
hút chích ma tuý, ăn chơi sa đoạ thì có phải đem lại cái
hại cho mình, cho người hay không? Do vậy, biết làm chủ một
cách sáng suốt gia tài, tiền bạc mà mình có, là đem lại
hạnh phúc. Lục căn là một “gia tài” vô giá của con người,
biết làm chủ lục căn sẽ mang lại an lạc.
Thế
nào là làm chủ lục căn?
Làm
chủ lục căn có nghĩa là luôn chánh niệm và tỉnh giác khi
căn tiếp xúc với trần, giữ vững tâm ý luôn thanh tịnh.
Cổ
đức có dạy:
Mắt
thấy sắc trần chớ ước ao
Tai
nghe ngoài cửa chẳng đem vào
Mũi
dầu có ngửi hương đừng nhiễm
Lưỡi
nếm vị ngon chẳng khát khao
Thân
xúc chạm mềm, êm không đắm
Ý
tịnh trang nghiêm giới buộc, rào
Trí
thường soi tỏ đường chơn giác
Tánh
tịnh Niết Bàn tối thượng trao.
Như
chúng ta thấy tượng ngài Di Lặc, vị Phật tương lai có năm
đứa con nít (một đứa tiềm ẩn bên trong) đứa moi mắt,
đứa móc tai… mà Ngài vẫn cười, an nhiên tự tại. Bởi
Ngài đã làm chủ được lục căn, tức làm chủ hoàn toàn
với mọi tác động của trần duyên bên ngoài.
Người
Hoa thể hiện triết lý của mình qua hình tượng bốn con khỉ:
con bịt mắt, con bịt tai, con bịt miệng, con ôm bụng là một
cách thể hiện sự chế ngự lục căn. Không cắt đứt, không
liên hệ với bên ngoài mà chính là ngăn chặn, chế ngự,
kiểm soát, thu thúc lục căn; không để duyên trần chi phối.
Nếu
mắt ta thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm
vị, thân xúc chạm, ý phân biệt, cái gì thích thì chạy theo,
manh tâm chiếm đoạt, cái gì không ưa thì ghét bỏ, trừ khử
thì đó chính là giặc. Tu tập chính là tỉnh giác để chủ
động với lục căn, biến lục căn thành lục thông.
Đối
với người tu, mắt cũng cần thấy sắc, tai cũng cần nghe
…, tuy vẫn thấy nghe mà không đắm nhiễm. Đạo Phật chủ
trương không đắm nhiễm để được tự tại, an nhiên. Vì
thực ra, tự thân của lục trần vốn không có lỗi. Cái lỗi
lớn nhất là tâm phân biệt, thương ghét, vọng tưởng điên
đảo của con người. Con người vì đắm nhiễm lục trần
mà đau khổ triền miên, trôi lăn mãi trong luân hồi sanh tử.
Mắt vẫn thấy sắc, tai vẫn nghe tiếng, mũi vẫn ngửi mùi…
nhưng không đắm nhiễm, đó là làm chủ được lục căn.
Làm
sao để làm chủ lục căn?
Chắc
quí phật tử sẽ nói: Cái thân mấy chục ký của mình, cái
tai cái mắt cái mũi cái lưỡi của mình, đương nhiên mình
làm chủ được, có gì khó? Vậy mà không dễ đâu. Một ông
giám đốc làm chủ cả ngàn công nhân mà mọi người cứ
nghe theo răm rắp, vậy mà chưa chắc gì về nhà ổng làm chủ
được vài người trong gia đình ổng. Làm chủ người khác
coi vậy mà còn dễ hơn làm chủ mình, bởi vậy kinh Pháp Cú
có nói: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng lòng
mình”. Làm chủ mình coi vậy mà khó lắm đó chớ không dễ
đâu! Ở đây tôi sẽ nêu ra những ví dụ do không làm chủ
được lục căn nên đã gây ra những tai hại như thế nào,
rồi quí phật tử lấy đó mà ngẫm nghĩ, tự quán thấu,
rút ra cho mình những phương pháp để làm chủ lục căn một
cách thích hợp và hiệu quả nhất cho bản thân.
* Đối
với nhãn căn: Tạm thời tôi chia làm hai mức:
- Mức
thứ nhất là biết mà cố đắm nhiễm: Biết là không hay
mà vẫn thích nhìn ngắm, ví dụ như ai cũng biết cảnh đánh
nhau bạo lực, máu đổ đầu rơi là không nên nhìn, người
biết đạo, biết thế nào là tàng thức thì càng tránh xa
không huân tập vào tâm mình những hình ảnh xấu. Vậy mà
hễ đi đường thấy cảnh đụng xe là xúm đen xúm đỏ vào
coi, coi xong rồi về nhà nhớ hoài cảnh rùng rợn đó đến
ăn nuốt không vô, vậy mà vẫn coi, vừa hại mình mà đôi
khi lại vừa hại người nữa, có lần tôi chứng kiến cảnh
tai nạn giao thông, nhiều người đang bị thương cần cấp
cứu mà xe bệnh viện không thể vào được vì những kẻ
“ham coi” bu đen hết, kẹt xe cả một đoạn đường dài!
Vậy có phải là vô tình giết chết người không? Hoặc phim
ảnh đồi trụy, bạo lực, ai cũng biết đó là xấu, nhưng
già trẻ lớn bé vẫn bỏ thời gian (cái rất quí được ví
với vàng bạc) ra để coi. Đó là không làm chủ được nhãn
căn, để nó dẫn dắt đưa ta vào chỗ có hại.
- Mức
thứ hai là vì tâm phân biệt mà đắm nhiễm: Khi nhìn thấy
một vật ta cho là đẹp, ta sanh tâm ham thích rồi bằng mọi
giá chiếm đoạt về làm sở hữu. Trong khi đó bản thân cái
đẹp xấu vốn do tâm sinh. Tuỳ theo thời gian, theo không gian
mà quan niệm về cái xấu cái đẹp khác nhau. Hồi xưa mấy
bà mấy cô nhuộm răng đen hạt huyền là đẹp, ngày nay thì
tìm đủ cách tẩy răng trắng như ngọc trai mới là đẹp.
Xưa đẹp khác nay, Tây đẹp khác Ta. Tui hình tướng như vầy
có người chê: ông thầy ốm nhom ốm nhách, có người nói
ông thầy có dáng thanh cao… Đối với người này là đẹp,
với người kia là xấu, đẹp xấu là do sự phân biệt của
mình, vậy mà ta cứ mãi chạy theo để rồi sa vào cái khổ
thứ năm là “cầu bất đắc khổ!”
Quí
phật tử có đi ngang vùng biển ban đêm, thấy ngoài xa đèn
giăng sáng rực rỡ rất đẹp, biết gì hông? Đèn câu mực
đó. Người ta lấy ánh sáng làm bẫy, con mực thấy đèn sáng
đẹp là bu vô. Con thiêu thân cũng vậy, chết vì đắm nhiễm
sắc trần.
*Đối
với nhĩ căn: Âm thanh có tác động rất quan trọng đến tinh
thần con người, thanh thiếu niên bây giờ đa số thích nghe
những bài nhạc kích động, nghe những bài nhạc như vậy
thì tự nhiên con người cũng muốn phá phách, nổi loạn. Quí
phật tử đi chùa nghe tiếng chuông mõ, tụng kinh thì thấy
lòng an lạc, còn với những người đời chỉ thích bon chen
thì nghe tiếng tụng kinh chỉ thấy buồn ngủ. Ngày xưa bao
triều vua sụp đổ cũng vì nghe lời ton hót của nịnh thần.
Ngày nay có những tin đồn thất thiệt đem đến cái hại
cho biết bao người. Trẻ con ở trong môi trường nào sẽ hấp
thu lời nói của môi trường đó, nếu ở nhà cha mẹ cứ
nói những lời cộc cằn, hở ra là chửi thề thì chúng cũng
sẽ nhiễm những lời ấy do chúng chưa có ý thức làm chủ
được nhĩ căn của mình. Bà mẹ Mạnh Tử ngày xưa nhà ở
gần nghĩa địa, Mạnh Tử cứ suốt ngày lấy kèn thổi nhạc
đám ma, bài trò khóc lóc… Bà thấy vậy mới dời nhà đến
ở gần trường học, chú bé Mạnh Tử nghe tiếng học bài
quen tai nên đầu óc sau này mới dễ dàng tiếp thu học thức.
Làm chủ nhĩ căn là biết chọn lọc, biết nghe những điều
hay lẽ phải, biết “bỏ ngoài tai” những lời gian dối,
gièm siểm, lời ác độc, khích bác lẫn nhau. Biết huân tập
vào mình những âm thanh tốt đẹp thì tâm hồn mới an lạc
thuần khiết.
*Đối
với tỷ căn: Mùi hôi thì ai cũng không thích nhưng có những
thứ hôi mà người vẫn thích, ví như các loại mắm tôm,
mắm ruốc… Cái này chắc mọi người ở đây đều biết
hết ha? Đi ngang mấy chỗ ủ mắm, eo ơi nó hôi bất nhơn
vậy mà đa số mọi người vẫn ghiền cái mùi đó! Tây nó
qua mình nghe cái mùi mắm nó chạy không kịp. Mấy thầy mình
đi qua Ấn Độ, Thái Lan, nghe mùi món ăn truyền thống của
họ mình lại rất khó chịu. Đối với người này là thơm,
đối với người khác là hôi. Mùi hương là vậy mà ta cứ
khởi tâm phân biệt, rồi ưa thích và không ưa thích, sanh
ra đủ thứ phiền toái.
*Đối
với thiệt căn: Món ăn ngon ai cũng ưa thích, ông bà ta thường
nói: “Bệnh tùng khẩu nhập, hoạ tùng khẩu xuất”, có
những món biết là ăn vào thì sanh bệnh, nhưng do không làm
chủ được cái lưỡi thích nếm vị ngon mà hại cho cái thân.
Tôi đọc báo thấy kể chuyện thợ săn vô rừng bắn thú,
vì đi nhiều ngày mới về nên cứ ướp phoọc môn vào rồi
đào lỗ chôn con vật xuống, xong đi tiếp có khi đến nửa
tháng, bận về mới đào lên, đem vô thành phố bỏ mối cho
mấy quán đặc sản thịt rừng. Các bà các ông xúm vào ăn,
hoá ra ăn thịt “tử thi” xác ướp lâu ngày mà không biết!!!
Nói chi xa, ngay quí phật tử mình đây ai cũng biết ăn mặn
là tạo tội, ăn chay là tốt, vậy mà mấy ai làm chủ được
cái miệng thích ăn thịt cá của mình đâu! Rồi có người
thích ăn cay, ăn ớt. Bữa ăn nào không có ớt là khổ sở
không thể ăn. Rồi có người ghiền rượu v.v… Ăn uống
vô khỏi cổ, qua khỏi cái lưỡi rồi thì còn biết ngon không?
Vậy mà chỉ vì chìu theo cái lưỡi, không làm chủ được
nó, để nó sai khiến. Tôi nhớ trong dân gian có câu: “Miếng
ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu!”
nghe thiệt là thấm thía.
Tích
Tàu có một gương rất độc đáo: đó là nhân vật Tôn Tẩn.
Khi Tôn Tẩn bị Bàng Quyên bắt giam, vì muốn bảo toàn tánh
mạng mình, đành giả điên để được tha. Để “trắc nghiệm”
coi Tôn Tẩn có bị điên thiệt không. Bàng Quyên sai người
mang vào chén cơm và chén phân, rồi rình xem Tôn Tẩn chọn
ăn thứ nào? Tôn Tẩn đã ăn chén phân để đánh lừa Bàng
Quyên và được thoát nạn. Điều khiển được tỷ và thiệt
căn của mình như vậy quả là phi phàm!
*Đối
với thân căn: Trường phái tu khổ hạnh thời trước đức
Phật rất phổ biến, hành giả tự lấy roi quất vào mình
đến chảy máu, phơi nắng nằm sương, bất kể xúc cảm của
thân, phương pháp tu ấy cũng một phần nhỏ là nhằm làm
chủ thân căn, đương nhiên mục đích chính của các vị ấy
là hành xác do quan điểm sai lầm về cái khổ, nhưng thôi,
ở đây ta không phân tích sự đúng sai hay dở của vấn đề
này, chỉ là ví dụ để quí phật tử thấy được một góc
nhỏ trong vấn đề làm chủ thân căn. Một trường hợp nữa
trong lịch sử nước Tàu: ngày xưa Việt Vương Câu Tiễn nằm
gai nếm mật để rèn luyện ý chí kiên cường. Thân là vua
mà khi thất thế, ông tập mình ngày ngày nằm trên giường
lót gai để nuôi chí phục quốc, cũng là một trường hợp
điều khiển được thân căn một cách đáng nể.
*Đối
với ý căn: Khi sáu căn duyên với sáu trần làm điều kiện
cho sáu thức phát khởi. Trong sáu thức thì ý thức giữ vai
trò quan trọng nhất: phân biệt, suy lường để yêu ghét.
Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy: Trong các pháp tâm làm chủ, tâm
dẫn đầu, tâm tạo tác tất cả. Muốn tâm ý luôn ngay thẳng,
chơn chánh không điên đảo thì phải luôn chánh niệm. Để
thành tựu chánh niệm, ngoài sự tỉnh giác cao độ khi đối
diện với trần cảnh còn có sự trợ duyên vô cùng to lớn
của giới luật. Giới luật là những điều răn cấm, là
hàng rào để ngăn ngừa phát sinh tội lỗi, tạo cho chúng
ta luôn thăng hoa, hướng thượng. Trong kinh Di Giáo, Đức Phật
dạy: Này các Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, các ông phải lấy
giới luật làm thầy. Như đi đêm tối gặp đèn sáng, như
người nghèo gặp của báu, dầu ta sống bao lâu trên đời
vẫn không bằng pháp này vậy. Quí vị là phật tử thì cố
giữ năm giới của phật tử, quí vị có một tổ chức, cơ
quan, đoàn thể thì cũng cần có qui luật, qui định riêng.
Phải rèn luyện và tu tập từ cách suy nghĩ, hành xử đều
đúng theo Bát Chánh Đạo. Muốn trở thành người tốt hay
người xấu là chính nơi mình, vì vậy mỗi người phải nỗ
lực phấn đấu, phải tự rèn luyện. Ví dụ, người phật
tử vâng giữ năm giới, trong đó bốn giới đầu thuộc về
tánh tội, nghĩa là tội từ trong bản chất của chúng sanh.
Giới không uống rượu thuộc về tướng tội, do hoàn cảnh
và sự huân tập trong hiện đời. Nếu phạm bốn giới tánh
là bị mất hết nhân cách của người phật tử. Về thế
gian nếu phạm nghiêm trọng bốn giới căn bản này cũng là
vi phạm pháp luật, dẫu là phật tử hay không phải là phật
tử thì khi phạm bốn giới này đều bị luật pháp hành xử.
Còn giới tướng uống rượu là do hoàn cảnh phát sinh. Giữ
giới là bổn phận, là ý thức muốn trở thành một con người
tốt. Nên muốn trở thành Bồ tát, thành Phật thì phải thực
hành tu tập giới luật. Muốn đèn không tắt thì phải có
bóng đèn chắn che mưa gió, muốn ngựa hay nên phải thắng
dây cương, bóng đèn hay dây cương ở đây chính là giới
luật. Giới luật cầm cân, nẩy mực cho con người, giúp họ
từ xấu ác trở thành hiền thiện.
Một
khi ánh sáng tới thì bóng tối tan biến, làm việc lành thì
bỏ việc ác, niệm Phật thì không niệm chúng sanh, không niệm
phiền não. Đó là nói về làm chủ lục căn, nhờ phát huy
trí tuệ nên không mê mờ, không nhằm lẫn, thiện ác phân
minh nên mới thành tựu mắt thấy, tai nghe mà không chấp.
Bởi đã chấp trước thì chắc chắn sẽ bị dính mắc, mà
dính mắc là đầu mối, căn nguyên của sanh tử luân hồi.
Nên nói:
Sắc
trần nhọn bén chẳng thua dao
Thanh
trần nhiễm tiếng khổ biết bao
Hương
trần yêu thích thêm khổ lụy
Vị
trần ngon ngọt bỏ cho mau
Xúc
trần giả hợp đừng say đắm
Pháp
trần không tánh chớ bám vào.
Sáu
câu trên, đứng về phương diện thô của ngũ dục lạc thì
có: tài, sắc, danh, thực, thuỳ. Đây là năm món dục mà chúng
sanh hằng mong muốn, tìm cầu và ưa thích. Tiền tài, sắc
đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ lắm khi là mục đích
phấn đấu, đeo đuổi của một đời người. Đứng về phương
diện rộng và vi tế là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Chính trần cảnh làm cho con người đảo lộn, con người tham
đắm chạy theo và cuối cùng chắc chắn sẽ khổ vì nó.
Trí
tuệ sáng soi toàn thế giới
Chơn
tâm bình đẳng sẵn dành trao.
Khi
trí tuệ sáng soi, chơn tâm hiển lộ thì không có cái gì xấu
đẹp, cao thấp, hay dở; tất cả đều bình đẳng và hiển
bày thực tướng dưới ánh sáng của trí tuệ. Hai câu này
là phương tiện hữu hiệu và thù thắng nhất để dứt lục
căn, đoạn lục trần.
Đã
là con người thì không ai không có tội. Điều quan trọng
trong đạo Phật là không sợ người làm tội mà sợ người
không biết hối, không biết ăn năn hối lỗi. Một triết
gia phương Tây có câu: “Người biết lỗi mình đã là khó,
biết lỗi rồi mà biết sửa sai lại càng khó hơn”. Đức
Phật dạy phương pháp biết lỗi là cùng nhau sách tấn, khuyên
lơn, soi sáng cho nhau. Vì con người thường chủ quan cho mình
là đúng, là phải, không bao giờ chịu nhận lỗi; mà khi mình
nhận lỗi thì mình có tiến bộ. Mỗi ngày, phải tự tạo
cho mình thời khoá, tự tích luỹ thiện nghiệp cho mình, đừng
vì vô vàn lý do mà thối thác. Chúng ta mỗi ngày mỗi cố
gắng, phải tinh tấn, nỗ lực không mệt mỏi, không một
cố gắng nào mà không đưa đến thành công. Tại sao thỏ
phải thua rùa? Vì thỏ ỷ mình chạy nhanh nên nằm ngủ còn
rùa thì biết thân phận nên nỗ lực, cố gắng. Chúng ta cung
vậy, vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ, có ai hẹn được
đến 80 tuổi mới chết đâu? Vì thế, khi có đủ điều kiện
gì thì gắng mà tu, đừng chờ đợi. Làm bất cứ việc gì
phải cố gắng làm thiện, nghĩ thiện thì tâm hồn mình sẽ
thư thái. Khi làm ác hối hận, ăn năn thì việc đã qua. Người
trí thì không để nước tới chân mới nhảy, phải biết
trước hậu quả của nó, phải ngăn chặn từ nơi lục căn.
Chúng
ta phải tin chắc, trọn vẹn vào lý nhân quả. Nhìn vào tự
thân của mỗi người trong hiện tại để biết rằng mình
đã tạo những nhân gì trong quá khứ. Căn cứ vào những hành
xử trong cuộc sống hiện tại để biết kết quả ở tương
lai. Nhân tốt thì quả tốt.
Tóm
lại, tu học chính là phải nhận định rõ ràng, bất cứ
hành động nào cũng có thể sai phạm, tạo ra tội lỗi. Nếu
người sống chỉ biết tìm cầu, chạy theo khoái lạc, không
nhiếp hộ các căn thì chỉ như cành mềm trước cơn gió lốc.
Nếu người biết khắc kỷ, biết nhìn lại mình, biết tỉnh
giác và chánh niệm để tự chủ trước duyên trần giống
như gió thổi núi đá. Chúng ta phải có lập trường tu học
cho chính mình, phải quyết chí và kiên trì. Vì vậy, cần
phải tu trong mọi hoàn cảnh, thu thúc các căn không cho sai
phạm, để được an lạc ngay trong đời này và đời sau.
Người
đời đi qua các bước: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Người tu cũng vậy, trước nhất làm chủ được mình, làm
chủ được lục căn của mình, bước dần theo con đường
Bát Chánh Đạo rồi mới tìm chân lý giải thoát.
Cầu
nguyện Tam Bảo gia hộ cho đạo tràng thân tâm thường lạc
và tu tập thành công.
Quảng
Tánh & Nhuận Liên (lược ghi)
An
cư kiết hạ
nguồn
sinh lực của tăng già
An
cư kiết hạ là một thông lệ từ lâu của các đạo sĩ Ấn
Độ khi tăng đoàn Phật giáo hãy còn chưa xuất hiện. Thời
tiết Ấn Độ có vẻ khác hơn Việt Nam hay Trung Quốc cũng
như các quốc gia khác: Từ tháng một đến tháng tư là mùa
xuân, từ tháng chín đến tháng mười hai là mùa đông. Ấn
Độ không có mùa thu. Một năm chia làm ba mùa rõ rệt như
thế, nên các đạo sĩ qui định vào những tháng mưa gió nên
an trú một nơi nhất định để bảo tồn sức khoẻ và tăng
cường đạo lực. Giáo đoàn Phật giáo hợp thức hoá thông
lệ này bắt đầu từ Lục quần Tỳ kheo (sáu thầy tỳ kheo
chuyên gia khai duyên cho Phật chế giới). Suốt mấy tháng mùa
mưa, nhóm sáu thầy tỳ kheo này lang thang du hoá khắp nơi không
kể gì mưa gió, đạp dẫm lên hoa cỏ mùa màng mới đâm chồi
hay những loài côn trùng vừa sanh nở. Cư sĩ chê trách hàng
sa môn Thích tử thật quá đáng, các đạo sĩ khác vẫn có
những tháng sống cố định, ngay đến loài cầm thú vẫn
có mùa trú ẩn của nó, còn các vị hành đạo này thì luông
tuồng không biết nghỉ chân vào mùa nào cả. Lúc ấy, đức
Phật ở tại nước Xá Vệ, trong thành Cấp Cô Độc, biết
được sự việc xảy ra liền ban hành quyết định cấm túc
an cư cho toàn thể tăng đoàn trong các tháng đầu mùa mưa,
tức từ mồng một trăng tròn của tháng A-sa-đà đến hết
trăng tròn của tháng A-thấp-phược-đê-xà (Theo ngài Huyền
Trang là nhằm 16 tháng 5 của Trung Quốc, sau vì muốn lấy ngày
rằm tháng bảy Vu Lan làm ngày Tự tứ nên chọn ngày An cư
là 16 tháng 4). Phật giáo Việt Nam cũng tuân theo nguyên tắc
này nhưng thời gian có khác một chút. Nghĩa là thời tiết
Việt Nam tuy thể hiện rõ rệt chỉ có hai mùa nắng và mùa
mưa, nhưng vẫn qui định theo bốn mùa như Trung Quốc: xuân,
hạ, thu, đông. Như vậy thời điểm để tu sĩ Phật giáo
Việt Nam an cư là bắt đầu từ ngày rằm tháng 4 đến rằm
tháng 7 (mùa hạ), đó gọi là tiền an cư. Hậu an cư là dành
cho trường hợp đặc biệt, có duyên sự khẩn thiết thì
có thể bắt đầu an cư từ 17 - 4 cho đến 17 - 5, và kết
thúc dĩ nhiên cũng phải đủ 90 ngày như tiền an cư (cùng
làm lễ Tự tứ, nhưng phải ở lại cho đủ số ngày). Riêng
hệ phái Nguyên Thuỷ chọn thời điểm kiết hạ vào ngày
rằm tháng 6 cho đến ngày rằm tháng 9. Tuỳ theo quốc độ,
địa phương mà có những mùa an cư không hoàn toàn giống
nhau, ở Việt Nam, một vài nơi còn có thêm kiết đông bắt
đầu từ rằm tháng 9 đến rằm tháng 12 là dựa theo tinh thần
của Luật Bồ Tát.
Vì
sao lại phát sinnh thêm kiết đông thay vì chỉ có kiết hạ?
Có phải an cư là thời gian để tăng già tích luỹ nguốn
sinh lực hay không?
Hàng
xuất gia trong giáo đoàn Phật giáo bao giờ cũng tâm niệm
hai nhiệm vụ cần phải sớm thành tựu: thượng cầu Phật
đạo và hạ hóa chúng sanh. Song lộ trình tiến đến quả
vị Phật hay Thánh quả thật gian truân cách trở, không phải
là vấn đề một sớm một chiều hay một kiếp. Vì vậy việc
tự lợi là một nhu cầu cần thiết cho bất cứ một hành
giả nào còn vương mang pháp hữu lậu, chưa có phần dự vào
dòng Thánh. Nếu như thời gian dành cho việc đi lại bên ngoài
quá nhiều, mà căn bản phiền não vẫn còn sâu kín bên trong
thì kết quả hoàn toàn sai với tinh thần hóa độ của đức
Phật. Người bị trói tất nhiên không bao giờ cởi trói được
cho người khác. Người có thật nhiều hạnh phúc, vượt lên
trên những khổ đau triền phược mới có thể đưa người
ra khỏi dòng tục bến mê. Hóa độ thì xem như chia phần,
bớt đi. Mặc dù một ngọn đèn có thể thắp sáng hàng trăm
nghìn ngọn đèn khác. Song một khi ngọn đèn ra trước gió,
thì sự an nguy cũng giống như một người hành đạo chưa
liễu đạo mà phải đương đầu với ngũ dục trần lao. Thế
mới biết, an cư là thời gian quý báu để người tu hành
có điều kiện nhìn lại chính mình, soi thấu bệnh tật phiền
não hoặc mới huân tập hoặc lâu đời mà đoạn trừ, trị
liệu. Ngoài ra việc tránh ngộ sát côn trùng hay không ảnh
hưởng mùa màng của người thế tục cũng là một duyên cớ
để trưởng dưỡng lòng từ bi. Song lý do trước mới là
tinh thần chính yếu của việc cấm túc an cư.
Bộ
Luật Tư Trì Ký định nghĩa: Lập tâm một chỗ gọi là Kiết;
bộ Nghiệp Sớ định nghĩa: Thu thúc thân vào chỗ tịch tĩnh
gọi là An. Như vậy dù kiết hạ hay kiết đông an cư thì
mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới
đức. Tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào không quan tâm đến việc
tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không
xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắc khe này
cũng chỉ vì đức Phật muốn bảo hộ sức sống của tăng-già
bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân.
Nếu ai trong hàng xuất gia đệ tử Phật không tôn kính vâng
giữ lời huấn thị của đức Phật, xem an cư là một điều
bó buộc, một phương tiện nhỏ nhặt thì quả thật người
ấy không những tự chối bỏ phần tự lợi mà gây ảnh hưởng
không tốt cho tăng đoàn. Cũng như bác nông phu mỗi năm phải
làm ruộng, nếu năm nào bỏ bê không chăm lo đến mùa màng
thì bác sẽ bị nghèo nàn đói thiếu. Hàng Bí Sô nếu không
có những ngày tháng cùng sinh hoạt cộng trú để sách tấn
lẫn nhau thì làm sao có điều kiện để tạo thành năng lực
hoà hợp và kiểm chứng giá trị thanh tịnh? Kết thúc khoá
an cư là Tự Tứ, một hình thức tối quan trọng để tổng
kết quá trình tu tập tiến triển hay lui sụt của từng cá
nhân qua ba tiêu chuẩn: thấy, nghe, nghi. Những ai vượt ra khỏi
phạm vi giới luật, buông lung theo ba nghiệp, hành động theo
bản năng cố hữu thì sẽ bị cử tội giữa đại chúng để
bổ khuyết sửa chữa.
Một
lần, sau mùa an cư các thầy tỳ kheo lần lượt về vấn an
đức Phật và trình bày công phu tu tập của mình. Đức Phật
hỏi:
- Vừa
qua các ông có được an lạc không?
- Thưa
an lạc lắm ạ!
- Thế
trong ba tháng ấy các ông tu tập pháp gì?
Các
thầy tỳ kheo vui vẻ trả lời:
- Bạch
Thế Tôn, chúng con thực hành pháp tịnh khẩu, tự mỗi người
giữ im lặng tuyệt đối.
- Đức
Phật quở trách:
- Các
ông thật vô trí, được sống chung sao không chịu trao đổi
hay nhắc nhở nhau tu tập mà lại thực hiện pháp câm như
thế, vậy an cư được lợi ích gì chứ? Các ông phải luôn
sinh hoạt trong niệm đoàn kết, trên dưới thuận hoà, cùng
thống nhất ý kiến, cùng bàn bạc trao đổi và học hỏi
lẫn nhau, lẽ nào không thấy được giá trị của thấy, nghe
và nghi làm tiêu chuẩn để thanh lọc mỗi người. Các ông
đã bỏ phí một mùa an cư. Các ông đã hành động phi pháp.
Năng
lực của đại chúng quả thật như biển (Đức chúng như
hải) sẽ nâng đỡ những con thuyền lành tốt, khôn khéo chiều
theo từng đợt sóng, và sẽ đào thải tất cả những con
thuyền hư thủng ra khỏi lòng đại dương. Tăng đoàn muốn
hòa hợp theo đúng bản chất của nó như nước với sữa
thì buộc mỗi cá nhân phải tự nỗ lực, trang nghiêm chính
mình. Ngày nay, những người trí thức ở phương Tây luôn
tranh thủ cho mình một khoảng thời gian một tháng hay nhiều
hơn trong năm để tu nghiệp, tức là bồi dưỡng thêm nghề
nghiệp. Người tu sĩ Phật giáo lấy trí tuệ làm sự nghiệp
lẽ nào không đầu tư vào công phu thiền định. Không có
thời gian để cùng nhau nhắc nhở giới luật. Tứ niệm xứ,
Tứ thánh chủng… Một mình một cõi du hóa lơ lỏng trong
nhân gian thì rất khó cho việc thành tựu tuệ giác, hóa độ
viên mãn.
Cũng
như những giáo hội khác, ngày nay ở Việt Nam không còn giống
như thời Phật ở Ấn Độ là hàng xuất gia không phải mỗi
người du hóa một phương, mang theo ba y một bình bát và ngủ
dưới gốc cây, nhưng lối sống theo từng tông phái, chùa
riêng, tổ đình riêng, thầy riêng đệ tử riêng thì cũng
xem như rời rạc, chưa đoàn kết hoà hợp. Vì lẽ chưa dung
hoà đó mà Kiết hạ an cư đã trở thành qui luật rất cần
thiết để làm phương thuốc hồi sinh, làm sống lại tình
Linh Sơn cốt nhục mà lắm lúc vì những nguyên do gì đó,
vì bệnh nghiệp cá biệt nào đó đã làm cho anh em cùng nhà
phải bút chiến, khẩu chiến phân tranh cao hạ, làm cho sư
tử phải trọng thương chỉ vì loài trùng ăn gặm trong thân
sư tử. Hơn nữa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hôm nay nhắm
vào tinh thần thống nhất về tổ chức (thống nhất ý chí
và hành động) thì Kiết hạ an cư là một phương tiện thuận
lợi cho giáo hội xây dựng tăng đoàn đoàn kết hòa hợp
và thống nhất mọi mặt theo phương châm: “Đạo pháp - Dân
tộc - chủ nghĩa xã hội”.
Rõ
ràng, ba tháng an cư, cửu tuần tu học đích thực là nguồn
năng lực quí báu làm nóng lại và bền vững hơn tinh thần
thanh tịnh hòa hợp của tăng-già. Chúng ta sẽ dễ dàng nhìn
thấy sự hưng thịnh của Phật pháp khi chốn tòng lâm ngày
ngày giới luật nghiêm minh, đêm đêm toạ thiền niệm Phật,
trên dưới hoà hợp, tu tập trong niệm đoàn kết an hoà.
Mùa
An Cư - PL 2544
Thích
Chơn Thanh.
Bờ
này của Tâm
(Qua
tư tưởng kinh Bảo Tích)
Một
triết gia phương Tây nói rằng: Trong tất cả mọi sự kỳ
diệu, kỳ diệu nhất vẫn là con người. Ở con người có
sự kết hợp hài hoà huyền diệu giữa thể xác và tinh thần,
giữa thân thể sinh học diệu kỳ và bộ máy tâm thần mầu
nhiệm.
Trong
tác phẩm “Sự tiến hóa của loài người”, Darwin chỉ ra
một cách khoa học con đường tiến hóa, và ông khẳng định
con người là đỉnh cao trong quá trình tiến hóa ấy. Từ tiền
đề vật chất tốt đẹp ấy mà con người có bộ máy tâm
thần hơn hẳn các loài khác. Bởi thế, con người có một
khả năng to lớn có thể làm được nhiều điều mà tưởng
chừng không thể làm được. Những triết gia cổ đại phương
Đông nói về sự kỳ diệu của tâm: “Tam điểm như tinh
tượng, hoành câu tự nguyệt tà, phi mao tùng thử đắc, tố
Phật giả do tha”. Bằng thực nghiệm tâm linh, Đức Phật
dạy chúng ta con đường tiến hóa của chúng sanh qua mười
nấc thang: Địa ngục - Ngạ quỉ - Súc sanh - A tu la - Nhơn
- Thiên - Thanh văn - Duyên giác - Bồ tát - Phật.
Thế
giới tinh thần không có hình tướng, nhưng thông qua hoạt
động ta nhận ra nó. Ví như sóng điện có đầy trong không
gian, mắt thường chúng ta không nhìn thấy được, nhưng chỉ
cần có máy cat-sét, ti vi thì chúng ta có thể tiếp được
làn sóng đó. Tôi lấy một ví dụ nữa dễ hiểu hơn, khi
đi tản bộ trên đồi cỏ ở Đà Lạt, bất ngờ gặp nụ
cúc vàng lay nhẹ trong gió xuân. Ngang đó thôi, ta nhận ra điều
gì? Cái gì giúp ta biết đây là hoa cúc vàng và vẻ đẹp
huyền ảo của nụ hoa vàng trong gió xuân? Xin thưa, khả năng
ấy là năng lực của tâm. Đó là tánh thấy, tánh biết luôn
hiện hữu nơi ta, nhờ vậy mà ta có khả năng nhận thức
được thực tiễn hoặc thế giới biểu tượng. Nên kinh thường
nói: Sự xoay chuyển trong tứ thánh lục phàm cũng từ tâm
này. Phật dạy chúng sanh có hai loại tâm là chơn tâm và vọng
tâm. Trong buổi pháp thoại hôm nay, tôi xin chia sẻ cùng quý
vị các phương diện của vọng tâm qua lời dạy của Phật
trong kinh Bảo Tích.
1.
Tâm như nước chảy sanh diệt chẳng dừng, hằng chuyển như
bộc lưu.
Nước
dòng sông thì liên tục chảy. Giọt nước này tiếp nối giọt
nước kia không ngừng, tạo thành sự chuyển động của dòng
sông. Tâm chúng ta niệm niệm sanh diệt tiếp nối nhau như
nước trong dòng sông vậy. Bởi vậy nên biết rằng tâm ta
không cố định mà có sự chuyển động tiếp nối. Chính
đặc tính chuyển động khả biến này mà chúng ta có thể
học hành, tu tập được; có thể nói chuyện này đến chuyện
khác được.
Quý
vị ngồi quan sát tâm mình thử coi, có phải nó là hoạt động
liên tục phải không? Lúc nghĩ đến quá khứ, lúc mơ tưởng
tương lai, lúc đuổi theo việc này, lúc nắm lấy việc kia.
Sự lưu chuyển của tâm ta như nước chảy không ngừng. Ngày
xưa khi Khổng Tử đứng nhìn dòng thác đã thốt lên rằng:
“Thiên hà ngôn tại, tứ thời hành yên, vạn vật sanh yên”
(chảy mãi thế ư, bốn mùa lưu chuyển, vạn vật sinh sôi).
Rõ ràng ông ta cũng ngộ được điều đó.
2.
Tâm như ngọn đèn vì có các duyên:
Leonchiep
nói: Khi nói đến hoạt động là bao hàm cả chủ thể hoạt
động và đối tượng hoạt động. Ở đây, tâm hoạt động
thì tâm là chủ thể mà đối tượng là thực tiễn, biểu
tượng và khái niệm. Nhà Phật gọi chung là cảnh. Tâm nương
cảnh khởi lên, ba hồi thì vui như mở hội, khi thì buồn
rũ rượi như cỏ úa… Tâm ta lúc bị các duyên làm chao đảo,
ngả nghiêng bên này, ngả nghiêng bên kia giống như ngọn đèn
trước gió.
3.
Tâm như chớp vì niệm niệm sanh diệt:
Khi
mưa thì có chớp lóe, ánh chớp lóe lên rồi tắt, cứ chớp
tắt liên tục như thế. Tâm ta buồn, thương, ghét, mến…đưa
đến liên tục không ngừng, hết ở trạng thái này sang trạng
thái kia tiếp nối thay thế cho nhau như ngọn đèn dầu tiếp
nối giọt dầu này đến giọt dầu kia, ngọn lửa này đến
ngọn lửa kia sanh diệt không ngừng. Bản chất tâm sanh diệt
ấy là vô thường, không có chủ thể cố định; nên nếu
ta theo đuổi bám lấy nó cho là mình thì sanh ra khổ đau bất
tận. Nếu dừng lại không theo những tâm sanh diệt ấy nữa
thì an lành hạnh phúc sẽ tràn về như đêm hết thì ngày
xuất hiện liền.
4.
Tâm như hư không vì khách trần nhơ:
Hư
không thì rộng lớn vô biên, nơi ấy vạn vật sinh sôi nảy
nở. Hư không không có màu sắc và tướng hình, như tâm của
ta không dùng mắt để thấy, dùng tai để nghe, nắm bắt bằng
tay được, nhưng nó là có thật và rất thiết thực với
chúng ta. Trong các bộ luật Đại thừa thường nói, tâm ta
vốn xưa là thanh tịnh, nhưng do một niệm bất giác vô minh
nổi lên mà có sanh diệt, trở thành chúng sanh. Giống như
hư không vốn trong sạch, trở thành ô nhiễm là do vạn vật
ở trong nó tạo nên. Ví dụ ở giảng đường này, không khí
trong sạch, bất chợt một chiếc xe chở cá chạy ngang qua,
mùi tanh xông vào thì làm cho không khí trong phòng bị ô nhiễm.
Tâm
chúng sanh thường manh động bị cảnh trần lôi cuốn, đeo
đẳng hoặc không thể nào dứt ra được. Bởi vậy chúng
ta mới bị trầm luân trong ba cõi sáu đường. Đức Phật
và chư Tổ thấy chúng ta ở trong vòng lẩn quẩn khổ đau
quá nhiều, các vị dạy cho chúng ta cách an tâm, hàng phục
tâm, điều cốt tử là “tâm bình thường”. Giữ được
tâm bình thường tức là đạo.
5.
Tâm như khỉ vì tham lục dục:
Hình
ảnh con khỉ quý vị thấy trong sở thú rồi đấy, có bao
giờ nó chịu ngồi yên một chỗ không? Hầu như lúc nào nó
cũng nhảy nhót lung tung, mắt láo liên không ngừng. Tâm chúng
sanh náo động giống như khỉ, hết đuổi bắt tiền tài,
danh vọng uy quyền, đến món ngon vật lạ… Hằng ngày chúng
ta sống chạy theo cảnh mà quên mất mình. Ngũ dục thực chất
là vô thường, vô ngã nhưng trở thành hấp lực lôi kéo chúng
ta đi là bởi bên trong chúng ta đầy dẫy những tâm tham dục,
tâm chấp ngã… Chính năng lượng dục vọng này rất to lớn
đủ sức lôi chúng ta đi về mục tiêu nó muốn. S.M.Freud,
nhà phân tâm học, khi nghiên cứu về vô thức cũng thấy được
năng lực vô hình đó. Ông gọi là libido (tính dục). Năng
lượng dục vọng này là con dao hai lưỡi, cũng từ nó làm
ta đau khổ, cũng từ nó mà ta hạnh phúc nếu biết chuyển
hóa.
6.
Tâm như họa sư vì hay khởi nhân duyên các nghiệp:
Nguyễn
Du rất có lý khi nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ”. Thế giới thực tiễn vốn không vui không buồn, có
vui buồn là do tâm con người mang vào. Trong Duy thức học nói,
chúng sanh thường không sống với chân hiện lượng mà hay
chơi với tợ hiện lượng, bởi tâm ta thường hay đèo bòng
(đới chất cảnh) nên mới sanh ra khổ. Vậy thì, vui buồn,
hạnh phúc, khổ đau… đều do tâm vẽ ra cả. Chàng họa sĩ
này vô hình nhưng vẽ ra những điều đau khổ lại là thật.
Do tính hay vẽ vời của tâm mà các nghiệp đeo bám lấy ta.
Nghiệp (Karma) nghĩa là hành động. Do nghiệp mà có sự khác
biệt giữa muôn loài (Tuy các tuỳ nghiệp sở hiện bất đồng
- kinh Thập Thiện), một khi khởi nghiệp, thì nghiệp này vừa
làm nhân vừa làm duyên cho các nghiệp khác tiếp nối nhau
không dứt, nhưng không có chủ thể, không có tác giả thật.
7.
Tâm không nhứt định vì theo đuổi các thứ phiền não. Tâm
thường độc hành không hai, vì không thể có hai tâm trong
cùng một lúc:
Qui
luật hoạt động của tâm thức là cảm xúc và trí tuệ ức
chế nhau. Nghĩa là lúc cảm xúc xuất hiện thì ức chế năng
lực trí tuệ, hoặc ngược lại. Tuỳ theo mức độ của cảm
xúc và trí tuệ mà sự ức chế lẫn nhau đến mức độ nào.
Cũng theo qui luật đó, khi tâm thiện xuất hiện thì tâm ác
lặn mất và ngược lại. Trong một thời gian không thể xuất
hiện hai tâm. Bởi vậy khi ta làm việc thiện, nói việc thiện,
nghĩ việc thiện hoài thì tâm xấu ác tự nó tiêu mất; giống
như cây kiểng mà không tưới nước thì phải chết thôi.
Tuy
nhiên, tâm ta không bao giờ thuần nhất một trạng thái mà
luôn đuổi bắt theo các thứ phiền não. Phiền não thì nhiều,
trong Duy thức nói gọn có 6 đại phiền não và 20 tuỳ phiền
não, nên tâm ta ít nhất cũng nằm trong các trạng thái chính
đó. Nếu lọt vào một trong những phiền não kể trên thì
sướng hay khổ? Tất nhiên là khổ rồi, phải không?
8.
Tâm như oan gia vì hay đem đến các khổ não:
Chúng
ta có oan gia không? Đang thoải mái tự tại vui vẻ tự nhiên
nhớ lại chuyện đâu đâu rồi lo nghĩ buồn chán, ăn không
ngon, ngủ không yên. Những nỗi buồn và sợ hãi ấy quay đi
quay lại hoài, sự đeo đẳng dai dẳng khó lòng dứt bỏ được.
Đó không là oan gia thì là gì? Phật dạy đừng nhớ tưởng
quá khứ, đừng mơ ước tương lai, quá khứ thì không còn,
tương lai thì chưa đến, nên sống hết mình với thực tại.
Thực tại là nhiệm mầu, sống tốt ở thực tại thì tương
lai sẽ an vui. Tất cả mọi thứ trên đời đều vận hành
theo qui luật nhân quả mà. Nếu sống được như vậy thì
tâm kia không còn là oan gia nữa, nó đã được chuyển hóa
thành thân hữu đem đến cho ta nhiều điều tốt lành.
9.
Tâm như voi điên đạp các nhà cửa vì hay phá hoại các căn
lành:
Voi
đã điên rồi thì bất kể thứ gì, nó đạp phá lung tung.
Phật ví tâm ác như voi điên phá hoại những ngôi nhà hạnh
phúc an lạc. Căn lành là gốc rễ, mầm mống của sự tốt
đẹp, thánh thiện, an vui, giải thoát, tỉ lệ nghịch với
tâm ác. Bởi vậy, tâm vọng tưởng, tâm điên đảo, tâm giận
hờn… cần phải được điều phục. Do vậy nếu khi quí
vị có nóng giận thì niệm Phật, tập hít thở hoặc uống
một ly nước lạnh vào, rồi đi nơi khác để tâm nguội lại.
10.
Tâm như ruồi xanh vì trong bất tịnh cho là tịnh. Tâm như
cá nuốt câu vì sống trong khổ não mà tưởng là vui:
Con
cá vì cái gì mà mắc câu? Vì ham mồi ngon phải không? Khi
đớp mồi rồi, lưỡi câu dính chặt đớn đau không thể
nào bứt ra được. Tâm ta chấp chặt vào ngũ dục ở đời,
sinh đủ thứ phiền toái khổ đau như sanh, lão, bịnh, tử,
khổ; thương yêu xa lìa: khổ; thù oán gặp gỡ: khổ; mong
muốn không được: khổ… Thế nhưng chúng sanh vẫn chấp
nhận. Vậy mới lạ chớ, phải không? Trong kinh Pháp Hoa ví
dụ một hình ảnh rất đau lòng là lũ trẻ vui chơi trong nhà
lửa. Vì sao vậy? Bởi chúng sanh lấy cái đó làm sự sống
của mình, biết là khổ vẫn cứ lao vào. Như người nghiện
xì ke, biết hút chích là tổn tài, là bệnh tật, là chết,
nhưng họ vẫn hút chích vì đã dính vào thì khó bứt ra được.
Khó chứ không phải là không bỏ được, phải không! Ngũ
dục khó bỏ nhưng có người đã bỏ được và họ trở thành
Phật thành Thánh.
11.
Tâm như chiêm bao vì trong vô ngã tưởng là ngã:
Theo
Phật giáo thì ngã chân thật là Phật tánh, là chơn tâm, là
hằng hữu không sanh không diệt. Chúng sanh không nhận ra chân
ngã này nên chấp huyễn ngã là ngã. Chẳng hạn chấp thân
này là mình thật, nhà cửa, xe cộ… là của mình, trong khi
mọi thứ ấy đều do duyên sanh, là tạm bợ, là vô thường.
Nếu quan sát chiếc lá, ta thấy nới chiếc lá có những yếu
tố của nước, đất, gió, mặt trời, mặt trăng…, tách
rời những yếu tố ấy ra thì đâu là chiếc lá? Một ví
dụ kinh điển mà quý vị thường nghe là tỳ kheo Na Tiên hỏi
vua Milanda: Các bánh xe có phải là chiếc xe không? Gọng xe,
mui xe, căm xe…có phải là xe không? Tất nhiên là không rồi.
Vậy thì chiếc lá, chiếc xe, xét cho cùng không có một chủ
thể cố định. Nó cấu thành bởi những yếu tố không phải
là nó, do vậy nên vô ngã.
Kinh
nói tâm vô thường, thân vô thường, hoàn cảnh vô thường,
mọi thứ đều vô thường mà ta chấp là thật, đấy là chiêm
bao. Chúng ta mở mắt chiêm bao phải không?
12.
Tâm thường tham tiếng như lính đi lâu thích nghe tiếng trống
giục. Tâm thường tham sắc như bướm bay vào lửa. Tâm thương
tham hương như heo nằm chỗ dơ. Tâm thường tham xúc như ruồi
bu đầu:
Theo
Phật giáo thì con người gồm có sáu căn, đối tượng của
sáu căn là sáu trần.
- Nhãn
Sắc
- Nhĩ
Thinh
- Tỷ
Hương
- Thiệt
Vị
- Thân
Xúc
- Ý
Pháp
Nhưng
chủ nhân điều khiển sáu căn đối với sáu trần vẫn là
tâm. Đối với sắc, thinh, hương, vị, xúc, con người luôn
ưa muốn khó lòng vượt qua được. Chính nó là hấp lực
của tâm như con bướm bay vào lửa, như ruồi bu vào đầu,
heo tìm đến chỗ dơ, người lính nghe tiếng trống giục.
13.
Tâm như giặc dữ vì làm hại người:
Chiến
tranh gây ra biết bao cảnh tang thương, chết chóc. Nguyên nhân
sâu xa làm động cơ cho chiến tranh đó là tâm tham lam, sân
hận, si mê. Một khi ba tâm này nổi lên trong lòng một cách
lớn mạnh thì con người không còn nhân tính nữa, vì theo
sau nó là sự chết chóc oán thù. Như bọn giặc dữ vậy.
Giặc ở ngoài tuy ghê gớm thật nhưng không bằng giặc trong
tâm người. Phật dạy: Chiến thắng vạn quân không bằng
tự chiến thắng tâm mình.
14.
Tâm thường cao thấp vì bị tham sân làm hại:
Tâm
thường sanh khi cao lúc thấp bất thường, đôi khi cao thượng
tốt đẹp lúc lại bần tiện thấp hèn, có khi con người
không ra con người, tất cả đều do tâm tham lam, sân hận
mà ra.
Ví
dụ anh em ruột, bình thường rất yêu thương nhau, vì một
miếng đất mà tranh giành chém giết nhau như báo đã từng
đăng đó. Nên biết tác hại to lớn của tham sân mà chúng
ta ráng thực tập tu để bớt tham, bớt sân si thì cuộc sống
chúng ta sẽ an vui và mọi người cũng bớt khổ.
Qua
kinh Bảo Tích, Phật dạy rõ cho chúng ta thấy được các trạng
thái đem đến sự tác hại do vọng tâm của chúng sanh, chúng
ta ráng thực tập, giữ gìn. Biết tâm là quan trọng, nó làm
chủ mọi hành vi tạo tác từ việc lớn đến việc nhỏ.
Phật dạy “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện”, nên
chúng ta phải biết điều phục tâm đừng để chạy theo cảnh
bên ngoài, phải một lòng sợ thất tâm, (mất tâm) mà cố
gắng giữ gìn.
Hằng
ngày quý vị nên tập sống với thực tại, đơn giản nhất
là khi ta làm việc gì thì biết mình làm việc đó. Như người
thợ may phải để ý cây kim, nếu không sẽ dễ bị kim đâm
vào tay.
Chúc
quý vị vô lượng an lạc.
Giác
Tri & Minh Thuận. (lược ghi)
Thập
thiện
Thưa
quí phật tử!
Hôm
nay, tôi xin trình bày với quí vị một phương pháp tu tập
để tự chuyển hóa nhằm thăng hoa đời sống từ xấu ác
trở thành hiền thiện. Tu tập đạt được mười điều thiện,
thanh tịnh ba nghiệp của thân, miệng và ý là một bước
tiến quan trọng trong lộ trình tu học hướng đến giải thoát
của hàng phật tử.
Thập
thiện nói đầy đủ là thập thiện nghiệp, tức hướng tới
và đạt được sự thanh tịnh trong mỗi hành vi tạo tác.
Thế nào gọi là thiện, thế nào gọi là ác? Khi làm việc
gì mà có lợi cho mình cho người, lợi ích hiện tại và tương
lai, lợi ích đời này và đời sau, đó là thiện. Hoặc theo
tinh thần Bồ Tát tuy có tổn hại mình nhưng lợi người,
lợi chúng sanh, trong đời này và đời sau cũng là thiện vì
thương chúng sanh, khởi đại bi tâm, có thể hy sinh thân mình.
Ngược
lại với thiện là ác, phàm làm việc gì hại mình, hại người
trong đời này và đời sau hoặc lợi mình nhưng hại người,
đó là ác. Còn nghiệp là gì? Nghiệp là sự tạo tác của
hành vi, là kết quả của những sự tạo tác có chủ ý. Có
mươi nghiệp thiện và mười nghiệp ác thông qua sự tạo
tác của thân, miệng và ý. Hành động không phải là chính
mà chính là ở nơi tâm mình. Chữ thiện, ác không dễ thấy
rõ, ví dụ như người làm cha mẹ đánh con, như vậy đánh
con là ác sao? Nói “thương con cho roi cho vọt”, hoặc có
thằng nhỏ leo lên cây tiểu xuống, ông quan chẳng những không
rầy mà còn cho bánh như vậy ổng ác hay thiện? Quan trọng
là tâm của mình chứ không phải hành động.
Bất
cứ hành động nào cũng xuất phát từ tâm. Ý suy nghĩ, miệng
mới nói, tay mới làm, tức là từ nơi ba nghiệp: thân, khẩu
và ý nghiệp. Khi xét đoán việc làm nào phải xét từ ba nghiệp
mới khẳng định được là thiện hay ác, không thể nói mù
mờ được. Hành động của nghiệp thì vô số nhưng phân
chia căn bản thì có mười việc lành hoặc dữ.
* Thân
nghiệp: sát sanh, trộm cắp, tà dâm.
* Khẩu
nghiệp: nói dối, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều,
nói hung ác.
* Ý
nghiệp: tham sân si.
Đó
là mười nghiệp ác nếu làm thì phạm, không làm là thiện;
như trong bìa kệ: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành,
tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”. Nghĩa là các việc
ác chớ làm, nếu làm thì phạm; các việc lành nên làm, làm
thì không phạm, nếu không làm thì phạm.
Chúng
ta đừng quan niệm tôi ăn hiền ở lành, không làm việc gì
xấu ác với ai là đã tu rồi. Nếu quan niệm như vậy thì
chỉ đứng tại chỗ không tiến lên được. Như một hạt
lúa mà không gieo trồng, tưới nước bón phân thì nó có lên
thành cây lúa, bụi lúa không? Chúng ta có Phật tánh mà không
biết lau chùi, không tu tập thì có giải thoát không? Biết
mình có Phật tánh thì phải vun bồi phát triển thì mới sáng
suốt được.
Nếu
gặp thời an lạc thì con người tu thiện nhiều, thời ác
thì dễ làm ác. Quan trọng nhất là chúng ta còn sống được
khoẻ mạnh ngày nào, còn trí tuệ thông minh sáng suốt thì
gắng tu vì già chết không hẹn cùng ai, nên cần phải dừng
nghỉ các hành động ác. Phải tu hết đời này và nhiều
đời nhiều kiếp nữa chứ không phải chỉ một kiếp này
thôi. Ba nghiệp đã tạo thì cần phải ăn năn sám hối chừa
bỏ.
Ngã
tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai
do vô thỉ tham sân si
Tùng
thân ngữ ý chi sở sanh
Nhứt
thiết ngã kim giai sám hối.
Thấy
rõ do ba nghiệp tạo ra tham, sân, si. Chính nó đưa chúng ta
đi lên hoặc đi xuống, nên phải tạo cho mình nền móng vững
vàng như xây căn nhà vậy. Nó là yếu tố để tu hành và
đưa đến kết quả. Một khi đã kết tạo thành nghiệp rồi
nó ăn sâu vào chủng tử thì rất khó mà bỏ được như việc
hút thuốc hay ăn trầu, đã huân tập nó thành thói quen, thành
nghiệp. Khi chúng ta tu thì sẽ chuyển nghiệp được, nếu
không chuyển được thì cũng như xì ke mà không cai nghiện
thì nó sẽ đưa đến những hậu quả ác nhất như giết người.
Nghiệp ác thì phải trừ, nghiệp thiện thì nên tạo, phải
thấy được cái nghiệp nào cần thiết để tu sửa. Muốn
đi theo con đường lành thì phải cải tạo các hành động
việc làm ác ngay từ bây giờ, để cho ba nghiệp được thanh
tịnh mới đồng Phật vãng Tây phương. Chúng ta có 84 ngàn
pháp môn tu, tu pháp môn nào cũng được miễn sao thuần hóa
tâm, thanh tịnh tâm, chữa bịnh tâm. Khi cái chánh tới thì
cái tà không còn đất sống, như ánh sáng đến thì bóng tối
tự tan đi. Nếu chúng ta làm điều thiện ở chỗ này vùi
thì chỗ khác cũng vui, ở nơi nào cũng vui vì thiện nghiệp
mình tạo ra thì phải sinh ra an lạc. Khi quí vị đi ra đường
thấy người già mình dẫn qua đường tự nhiên cảm thấy
có chút niềm vui nho nhỏ. Mỗi ngày cứ tăng thêm việc thiện
từ lời nói, hành động, suy nghĩ thiện thì tam an lạc.
Nếu
không có tạo nghiệp thì không cần diệt nghiệp. Như cái
áo không dơ thì đâu cần giặt. Chuyện kể có vị Phật đi
trên một chiếc ghe có 500 vị thương buôn, trong đó có hai
tên cướp. Phật biết được ý đồ hai tên cướp muốn giết
500 người này, Phật phải giết hai người kia. Hành động
đó là thiện hay ác? Hành động với nội dung tất cả đều
do tâm tạo. Phật đã vì tâm từ bi sẵn sàng chịu quả báo
cho chúng sanh, có thể làm mọi việc với tâm từ chứ không
phải tâm độc ác. Quí vị cứ tin chắc tin sâu vào nhân quả.
Cố gắng nhẫn nại làm các việc lành.
Nói
thập thiện là nói về ba nghiệp, nó là căn bản của thế
gian và xuất thế gian. Gieo nhân thì gặt quả, ngay trong đời
hiện tại hoặc đời sau, không sai chạy. Nhân nhỏ thì nhỏ
quả nhỏ, nhân lớn thì quả lớn, như người ta nói: Thiện
ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì,
tức là cái thiện và cái ác trước sau gì cũng có quả báo,
chỉ có chậm hay mau mà thôi. Cũng như trồng cây: có cây hai
hoặc ba tháng có trái, có cây một năm, hai năm và có những
cây đến 10 năm hoặc 20 năm. Nếu siêng làm tất cả việc
thì kết quả sẽ tốt.
Muốn
được quả làm người thì phải gieo nhân lành là giữ tròn
năm giới. Với nhân này ta có quả hiện tại từ trong gia
đình cho đến ngoài xã hội đều quý trọng, nếu tiến xa
hơn một bực nữa thì phải tu thập thiện. Hiện tại đã
khẳng định rằng mình đã tu nhân làm người rồi nên bây
giờ mới được làm người đây. Đã gây được nhân làm
người lục căn đầy đủ, được gặp Phật pháp thì phải
cố gắng tiến lên thêm nữa là tu thập thiện, từ từ đi
lên cao hơn để trở về với Phật quả chứ đừng có hướng
xuống. Con người là giai đoạn trung gian để đi lên tứ thánh
hoặc trở lại lục phàm. Mình đã khẳng định đã chọn
lý tưởng rồi thì phải cố gắng theo đuổi, kiên trì nhẫn
nại thì sẽ vượt qua hết tất cả, không nên chán nản.
Phải thấy được cái lợi ích để mình vượt qua. Muốn
lấy được gỗ quí thì phải dọn những gai góc dọc đường,
đi vào sâu trong rừng mới có gỗ quí, phải chịu những nghịch
cảnh chướng duyên, cực khổ. Càng lên cao càng nguy hiểm
và khó khăn. Phải vượt lên chướng duyên của bản thân
và của hoàn cảnh.
Chúng
ta phải làm sao tự mình giữ cho ba nghiệp được thanh tịnh.
Một khi ý nghĩ hay hành động nào muốn làm mình phải suy
xét tường tận từ ý nghiệp, thân nghiệp và khẩu nghiệp.
Mỗi ngày phải tập cho thân không phạm, miệng cũng không
phạm, việc nào đáng nói thì nói không thì thôi. Phải tập
nói năng như chánh pháp, im lặng như chánh pháp.
Chúc
quí phật tử giữ gìn và trau dồi tốt thập thiện nghiệp.
Tu tiến để được giải thoát.
Quảng
Tánh. (lược ghi)
Lợi
ích khi lìa bỏ tham dục
Là
con người, ít nhiều thì ai cũng có lòng tham. Nói con người
không tham là chưa chính xác. Có nhiều cái để tham, tạm khái
quát qua các mặt: tài, sắc, danh, thực, thuỳ. Muốn kềm chế
lòng ham muốn không phải dễ, vì hầu như không bao giờ người
ta thấy mình đầy đủ. Để có một cuộc sống thanh bạch,
nhẹ nhàng, không phiền não, lo âu, sợ sệt, chúng ta cần
biết đủ, tức là sống thiểu dục tri túc. Điều này không
phải ai cũng làm được, bởi lòng tham vốn không đáy.
Thế
gian, dù có bao nhiêu, đa số mọi người vẫn cứ thấy thiếu.
Chỉ có hạng người biết đủ mới không có cảm giác luôn
thấy mình chưa đủ và không bị lòng ham muốn dằn vặt mà
thôi.
Cuộc
đời Đức Phật là một tấm gương sáng chiếu về vấn đề
này. Là một thái tử, ngài có đầy đủ tiền tài, danh vọng,
cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan…, nhưng ngài sớm
nhận biết những thứ đó không làm cho ngài an lạc. Ngài
đã vì lý tưởng lớn, vì nhân loại, vì muốn chỉ tri kiến
Phật cho chúng sanh tỏ ngộ mà khước từ tất cả hạnh phúc
thế gian. Có thể nói, người có quyền lực, tiền tài, danh
vọng mà dám từ bỏ, không tham đắm, đó mới là người
có ý chí tối thượng. Người đã thiếu mà còn tham thì lại
càng thêm khổ. Cũng như vậy, nhu cầu luôn làm cho con người
cảm thấy thiếu, mà càng thấy thiếu thì lại càng khổ.
Biết mình sống tạm đủ, không bon chen danh lợi thì nhất
định sẽ có phần nào an lạc. Trong kinh dạy rất rõ: “Nếu
biết đủ thì nằm đất cũng thấy đủ; nếu không biết
đủ dầu ở thiên đường cũng không xứng ý”.
Do
tham đắm nên nghiệp mới lôi kéo con người triền miên trong
sanh tử luân hồi. Bản tánh tham đã có trong nhiều đời nhiều
kiếp, muốn gột rửa nó thì phải trải qua quá trình tinh
tấn tu tập. Đứa trẻ ba bốn tuổi thấy những sinh vật
nhỏ bé như: cào cào, bươm bướm… nó liền muốn bắt, đó
là tập khí muốn chiếm hữu; hoặc khi đưa vật gì màu xanh,
màu đỏ nó chụp lấy ngay, không lấy được nó khóc xanh
mặt, tánh tham này có từ trong bụng mẹ. Những tánh tham ấy
không phải ngày một ngày hai mà lìa bỏ được. Phải kiên
nhẫn gột rửa dần dần, như cái áo trắng dính bẩn lâu
ngày không giặt, nếu chỉ giặt một lần, giặt sơ sơ thì
không thể sạch được, nhưng điều quan trọng là ta thấy
được vết bẩn ấy và quyết tâm tẩy nó đi. Tập từ những
bước đơn giản, ví như: Tập cho mình tánh giản dị trong
cuộc sống, chẳng hạn như bữa ăn hàng ngày không quá cầu
kỳ, dưỡng chất, chỉ cần làm sao vừa đủ để nuôi thân.
Như vậy, chúng ta không phải lao tâm khổ tứ vì chuyện ăn
mặc và có nhiều thời gian để tu tập.
Có
thể nói, trên bước đường tu tập, đường đi lên rất
khó còn đường đi xuống lại rất dễ, bởi tiền tài, sắc
dục có sức rất mạnh, thường dễ lôi kéo, cám dỗ con người.
Do đó, cần phải chế ngự năm căn, không để cho nó sai xử,
dẫn dắt, phải biết làm chủ hành động của mình. Nên nhớ,
nghiệp cũ chưa dứt bỏ hết thì không nên tạo thêm nghiệp
mới; nếu chưa biết hút thuốc thì đừng hút, bởi khi huân
tập rồi thì khó mà bỏ được. Cũng như vậy, điều tốt
chưa sinh thì khiến nó phát sinh, điều tốt đã có rồi thì
làm cho nó phát triển hơn nữa. Bằng sự nỗ lực, mỗi người
trong chúng ta cố gắng khắc kỷ và làm hòn đảo cho chính
mình, đừng để sóng tham dục nhận chìm, bởi việc tốt
thì khó làm mà việc xấu lại dễ huân. Chúng ta hãy giữ
vững lập trường, ý chí, không chạy theo ngũ dục, trần
cảnh, tự chế ngự thân tâm và thực tập sống với tinh
thần biết đủ để an vui. Đức Phật nói người ngu si ám
độn thì bị đắm chìm trong buông lung. Người không lấy
trí tuệ làm nền tảng của sự nghiệp thì không biết cái
nào là phải - trái, tội - phước… Do đó họ có thể làm
bất cứ điều gì, để rồi kết quả là đọa lạc trong
cảnh khổ nhiều kiếp.
Người
trí không buông lung tham đắm nên họ chẳng lo sợ gì, còn
kẻ ngu si luôn ôm nhiều lo sợ. Người có trí giống như người
đứng ở trên lầu cao nhìn xuống muôn vật, biết rõ sự
tốt - xấu, thấu tỏ người ngu - trí. Trước khi làm việc
gì, chúng ta cần suy nghĩ đến hậu quả của nó. Việc xấu
cho dù có mang đến danh lợi nhất thời chúng ta cũng không
làm. Việc nào đáng nói mới nói, nói cho đúng sự thật,
đúng thời và đúng chỗ. Bậc trí là người đứng trên danh
lợi, tài sắc, đứng ngoài các tội lỗi của thế gian, thấy
những người nghiền rượu, xì ke, biết được hậu quả
của nó và không để vướng vào các tệ lậu đó. Người
sống trong sự cám dỗ của tham dục khó có thể nhận ra điều
dở, xấu của mình. Thế nên, chúng ta phải tập quán sát
các pháp thế gian như mộng, huyễn… để thức tỉnh sự
tu tập, bởi chỉ có đạo đức và trí tuệ là không bao giờ
tan hoại. Trí tuệ, đạo đức phát sinh từ sự tu tập của
chính mình, nó là cái không thể mua bán, chiếm đoạt, cũng
không thể do một quyền năng nào đó ban tạo mà có được.
Ở đời, không để nhiễm dục lạc trần gian là điều rất
khó, tuy nhiên, người hiểu biết sẽ không để cuộc sống
của mình đắm chìm trong dục lạc. Chúng ta phải sống và
tu tập như thế nào để trở thành người cư trần mà không
nhiễm trần, luôn phòng hộ các căn không để buông lung. Giống
như anh chàng đi tìm thầy học kiếm, tuy không được học
kiếm ngay mà phải làm công việc nấu cơm, dọn dẹp, nhưng
nó cũng tập cho anh tính kiên nhẫn và sự thuần thục, nhanh
nhẹn trong từng thao tác của công việc. Một hôm, trong lúc
anh đang nấu cơm, vị thầy đột nhiên xuất hiện và chém
gươm xuống, anh ta phản xạ rất nhanh và tránh được nhát
kiếm. Từ đó về sau, anh ta luôn tập cho mình sự phòng hộ
trong mọi tình huống, bởi vì lưỡi gươm bất cứ lúc nào
cũng có thể cướp đi mạng sống quí giá của anh ta. Cũng
như vậy, chỉ một phút lơ là đắm nhiễm, ngũ dục lạc
thế gian sẽ đoạn mất căn lành khiến chúng ta đời đời
đau khổ.
Tuy
nhiên, nói vậy không phải để mọi người chán ghét tất
cả mọi thứ thuộc về thế gian mà chúng ta nên hiểu: Những
thứ ấy chỉ là phương tiện, không phải cứu cánh. Thế
gian này chỉ là tương đối, vì thế, không phải cái gì cũng
vừa ý mình, nếu không biết sự giả tạm của nó mà đắm
nhiễm vào đó, không khéo sẽ bị khổ không dứt vì tham muốn.
Chúng ta cũng không nên để cho sự khắc kỷ đi đến mức
cực đoan, ở phương tiện nào chúng ta nên sống theo phương
tiện đó, chẳng hạn như khi ăn uống, không phải vì từ
bỏ mọi ham muốn mà bỏ đi những thứ ngon tốt, chọn ăn
những thứ dở xấu. Làm như thế là thiếu trí tuệ và cố
chấp. Tự tạo cho mình cuộc sống thoải mái, đơn giản,
không cầu kỳ thì sẽ được an vui cả thân lẫn tâm, sự
an vui này là thành quả của việc lìa tham và biết đủ.
Mỗi
ngày, trước khi đi ngủ chúng ta nên suy xét từ sáng đến
giờ mình đã làm những việc gì, từ ý nghĩ, lời nói đến
hành động, xem việc nào sai trái thì ăn năn, chừa bỏ,
việc nào tốt thì cố gắng làm tốt hơn. Trong cuộc sống,
điều gì mình không muốn mà nó đến với mình thì nên khắc
phục và cố gắng tĩnh tu. Đức Phật từng dạy: “Bậc trí
chăn giữ tâm mình không buông lung như nhà giàu chăn giữ của
quí”. Nếu chúng ta cứ để cho trần cảnh và những việc
trái ý nghịch lòng mặc sức tạo cơ hội cho tham sân si nổi
lên thì việc chế ngự thân tâm rất khó có kết quả. Đối
với những chuyện vui buồn, tâm rất dễ chiêu cảm, cho nên
chuyện gì cũng thâu tóm vào trong tâm thì chúng ta rất khó
có được sự tự tại.
Trong
kinh Pháp Cú Đức Phật có dụ: “Nhà lợp không kín ắt bị
mưa dột, kẻ tâm không tu thế nào cũng bị tham dục lọt
vào tàn phá”. Đức Phật thường đưa ra những ví dụ cho
chúng sinh hiểu, như trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện,
Người muốn đưa chúng sinh từ tam thừa trở về nhất thừa,
nên đưa ra dụ “nhà lửa”, trong đó chỉ có một cái cửa,
mà những người con chẳng hiểu gì là nhà, gì là cửa, cũng
không biết được sự nguy hại của lửa nên cứ mãi chơi
giỡn trong đó, chẳng chịu thoát ra; cũng như chúng sinh trong
ba cõi không biết được tham dục là khổ nên chẳng chịu
tu. Đức Phật nói khổ trước rồi mói chỉ bày phương tiện
sau, bởi Bồ Tát sợ nhân chúng sinh sợ quả. Đức Phật bi