Khi
chúng ta bắt đầu thực hành con đường của Đức Phật,
điều rất cần thiết là phải xoay chuyển tâm ta hướng về
Pháp. Điều này được hoàn thành bằng cách nương tựa vào
Bốn Tư tưởng là những nền tảng chung cho việc thực hành
của ta. Tất cả những Đạo sư và Thành tựu giả trước
đây đã từng suy niệm Bốn Tư tưởng này. Những sự chuẩn
bị sơ bộ chuyển hóa tâm hướng về Pháp này thì còn sâu
xa hơn cả thực hành chính yếu.
Bốn
Tư tưởng đó là: 1) Sự Tái sinh Làm Người Quý báu, 2) Sự
Vô thường và sự Chết, 3) Nghiệp, Nhân và Quả, và 4) Những
Lỗi lầm của Sinh tử.
SỰ
TÁI SINH LÀM NGƯỜI QUÝ BÁU
Tư
tưởng đầu tiên là suy niệm rằng chúng ta có một sự tái
sinh làm người quý báu. Sự tái sinh làm người của ta khó
có được và cực kỳ hy hữu. Sự tái sinh làm người quý
báu này có tám sự tự do đối với tám trạng thái hiện
hữu bất lợi. Sự tự do đối với những trạng thái hiện
hữu bất lợi này khiến cho ta thực hành một cách đúng đắn
mà không gặp trở ngại to lớn nào.
Tám
trạng thái bất lợi của sự hiện hữu là:
1)
Những Chúng sinh Địa ngục, bị hành hạ rất nhiều bởi
sự nóng và lạnh, họ không thể tìm thấy ngay cả thời gian
để suy nghĩ về việc thực hành Pháp.
2)
Những Ngạ Quỷ đau khổ ghê gớm vì đói và khát đến nỗi
không thể bắt đầu thực hành Pháp.
3)
Những Súc Sinh bị ngăn che bởi sự vô minh tới nỗi không
thể hiểu được ngôn ngữ và sự phân tích phức tạp. Do
đó, rõ ràng là những súc sinh không thể chuyển tâm hướng
về Pháp nếu chúng không thể suy luận.
4)
Những người man dã và những cá nhân sinh trong những xứ
sở ở đó Pháp không được giảng dạy hay ở nơi sự vô-đạo
đức chiếm ưu thế. Điều này khiến họ không thể có bất
kỳ sự tiếp xúc nào với Pháp; họ không thể làm đời sống
của họ thấm nhuần Giáo Pháp.
5)
Những vị Trời trường thọ bị dính mắc rất nhiều vào
sự hỉ lạc khiến họ không muốn thực hành Pháp; tâm họ
bị xao lãng rất nhiều bởi lạc thú và sự hưởng thụ.
6)
Những người (có những quan điểm và định kiến sai lầm)
thóa mạ và không ưa thích đức hạnh khiến họ không ước
muốn thực hành Pháp.
7)
Những người được sinh ra trong những thời kỳ giáo lý của
một vị Phật không còn hiệu lực; không có Phật xuất hiện
trong thế gian và những giáo lý của chư Phật trước đó
không còn tồn tại. Điều này khiến cho họ không thể thực
hành Pháp bởi họ không có khuôn mẫu để noi theo.
8)
Những người sinh ra với những khả năng không đầy đủ
và những yếu kém khác không thể thông hiểu Pháp một cách
đúng đắn.
Mười
sự Phú bẩm cũng là một bộ phận của sự hiện hữu làm
người quý báu của ta.
Năm
Phú bẩm Bên Trong là: (1) Được sinh ra làm người, (2) Sống
trong một xứ sở ở đó Pháp đã được truyền bá và đức
hạnh được tôn trọng., (3) Có đầy đủ những khả năng
vật lý như nghe, nhìn và suy nghĩ khiến ta có thể thấu hiểu
Pháp, (4) Không có nghiệp hết sức tiêu cực gây ra những
chướng ngại cho ta trong việc tiếp xúc với Pháp và với
một vị dẫn dắt tâm linh, và (5) Có sự xác tín nơi Pháp
và tin tưởng ở một vị dẫn dắt tâm linh.
Năm
Phú bẩm Bên Ngoài như sau: (6) Một Vị Phật xuất hiện trong
thế gian như một khuôn mẫu. Trong những niên kỷ được gọi
là những kalpa (kiếp) tối tăm, không có Đức Phật xuất
hiện như một khuôn mẫu, (7) Đức Phật không giữ im lặng
mà thuyết giảng Pháp vì sự lợi lạc của mọi người, (8)
Giáo lý của Ngài tồn tại và không suy giảm, (9) Việc thực
hành của ta được khuyến khích và hỗ trợ bởi những hành
giả khác là những người bạn Pháp có niềm tin và nhiệt
tâm, và (10) Có những người bảo trợ hộ trì Giáo Pháp và
những hành giả du hành thành công trên con đường, khiến
cho Phật Pháp được duy trì và phát triển không suy thoái.
Bởi
sự hiện hữu làm người của ta rất có giá trị với những
khả năng và những sự phú bẩm lớn lao nên ta có thể thành
tựu bất kỳ điều gì ta ước muốn. Với sự dũng cảm và
tinh tấn, chúng ta nên thực hành Pháp để có thể đạt được
Phật Quả trong một đời người duy nhất.
Có
ba loại nguyện ước khác nhau có thể phát triển đối với
những hành giả Pháp: Đó là: (1) Loại nguyện ước thấp
nhất; ta thực hành đức hạnh trong khi nỗ lực để đạt
được hạnh phúc nhất thời và kết quả của nó là được
tái sinh làm một vị trời hay con người. (2) Loại nguyện
ước trung bình; ta ước nguyện đạt được trạng thái hạnh
phúc lâu dài chỉ vì sự lợi lạc của bản thân như một
vị Phật Độc Giác. (3) Loại nguyện ước vĩ đại; ta ước
muốn hạnh phúc và sự giải thoát cho tất cả chúng sinh không
loại trừ ai, kết quả của nó là Phật Quả viên mãn.
Sự
tái sinh làm người đạt được do những thiện hạnh của
ta trong những đời trước; đó là lý do tại sao sự sinh ra
làm người thì rất hy hữu và đặc biệt. Ta có thể hiểu
thêm về điều này bằng cách dùng ví dụ để so sánh sáu
cõi. Chúng sinh choán chỗ khắp không gian, ngay cả không gian
nhỏ như một lỗ kim. Số lượng súc sinh trên trái đất
giống như số hạt men bia trong một thùng bia, số ngạ quỷ
như lượng bông tuyết trong một trận bão tuyết, và số vi
trần tạo nên trái đất ngang bằng với số lượng chúng
sinh đau khổ trong địa ngục. Tuy nhiên, số lượng vị trời
và người thì chỉ như số hạt bụi bám vào mặt ngoài của
một hạt đậu.
Tương
tự như thế, sự hy hữu của việc được tái sinh làm người
được biểu thị rõ ràng hơn qua câu chuyện của một con
rùa lang thang không mục đích trong một đại dương. Những
cơ hội của con rùa này hầu như không chắc thật và không
thể xảy ra được bởi nó chỉ trồi lên mặt nước một
lần trong một trăm năm, chui đầu vào một cái ách đặc biệt
trôi nổi trên mặt đại dương. Đức Phật nói rằng một
sự tái sinh làm người quý báu thì thậm chí còn hy hữu hơn
chuyện con rùa nổi lên mặt nước này.
Đức
Longchen Rabjampa giảng rằng nếu việc thực hành Pháp của
ta bị trộn lẫn với sự tham, sân và si thì nó không phải
là Pháp đúng đắn và chân thực. Đó là lý do tại sao ta
không thể phí phạm cơ hội làm người quý báu này và nên
chân thành thực hành những thiện hạnh. Ta phải hoàn thiện
trạng thái nội tâm cũng như hình tướng đức hạnh bên ngoài
của ta. Nếu không, ta sẽ là những kẻ đạo đức giả thực
hành một Giáo Pháp sai lầm.
Số
lần chúng ta tái sinh thì nhiều hơn tổng số giọt nước
trong một đại dương, và trước đây có thể ta đã từng
là một con người. Nhưng mặc dù thế, chúng ta đã không đủ
chân thành khi thực hành Pháp. Trong cuộc đời đặc biệt
này, chúng ta đang kinh nghiệm những kết quả của thiện nghiệp
trong quá khứ. Cơ hội hy hữu này có thể không dễ dàng xảy
ra một lần nữa.
Tái
sinh làm người là một sự hỗ trợ cho phép ta thoát khỏi
nỗi khổ và đưa dẫn người khác vượt qua đại dương đau
khổ. Việc phí phạm cuộc đời quý báu này thì giống như
từ một hòn đảo châu báu trở về với đôi bàn tay không.
SỰ
VÔ THƯỜNG VÀ SỰ CHẾT
Mặc
dù thân người của ta mang lại sự hỗ trợ quý báu đầy
năng lực và rất mạnh mẽ, nhưng nó thật vô thường, nhất
thời và phù du. Sự biến đổi là một bộ phận không thể
tránh khỏi của mọi hiện tượng; nó là bản tánh và căn
bản của các hiện tượng. Bốn Sự Kết thúc tóm tắt bản
tánh nhất thời này của các hiện tượng bằng cách khẳng
định rằng kết thúc của sự sinh ra là chết đi, kết thúc
của sự tụ hội là phân ly, kết thúc của sự tạo tác là
hủy diệt và kết thúc của sự tích tập là mất mát. Nhờ
thiền định về chân lý của sự vô thường và sự chết,
ta sẽ mong muốn thực hành đức hạnh trong đời này.
Sự
suy niệm về lẽ vô thường có thể được phân chia thành
hai phần: Sự quán chiếu về sự vô thường của hoàn cảnh
bên ngoài và về sự vô thường của tâm nội tại của chúng
sinh. Hoàn cảnh bên ngoài có sự vô thường thô sơ và vi tế,
và tâm nội tại của chúng sinh bao gồm sự vô thường của
bản thân ta và của những người khác.
Sự
vô thường thô sơ của hoàn cảnh bên ngoài chỉ có nghĩa
là mọi sự bị lệ thuộc vào sự hoại diệt. Mọi sự dường
như thật kiên cố, nhưng ngay cả những thung lũng và núi non
cũng không tồn tại mãi mãi bởi vào lúc chấm dứt của một
kiếp, toàn bộ vũ trụ sẽ bị hủy diệt. Thậm chí những
yếu tố vật lý cũng có bản tánh hoại diệt ở trong chúng,
chẳng hạn lửa thiêu đốt, nước lôi cuốn và gió thổi
dạt đi.
Sự
vô thường vi tế của hoàn cảnh bên ngoài gắn liền với
tính chất tương đối của thời gian. Các sự vật không giữ
nguyên tình trạng trong từng giây phút. Chẳng hạn như các
mùa thay đổi từng năm, các sự vật biến đổi mỗi tháng,
mỗi ngày, mỗi chốc lát. Nếu ta ném một chiếc giày xuống
một dòng sông đang trôi chảy thì cuối cùng nó cũng sẽ trôi
xuôi dòng; nó ngừng lại ở xa tới nỗi thậm chí ta không
thể nhìn thấy nó. Tuy nhiên, ta thấy dòng sông này như thể
nó là một cái gì kiên cố và chắc chắn, trong khi thực ra
nó thường xuyên thay đổi. Cuộc đời của chúng ta thì cũng
thế.
Chúng
ta sống trong thế giới mà ta nghĩ rằng nó có một sự tiếp
nối không bao giờ thay đổi, nhưng thực ra thế giới biến
đổi trong từng giây phút. Trong mối quan hệ của ta với những
người khác luôn luôn có một sự lưu chuyển của việc quy
gán những người là bằng hữu và kẻ thù. Người ta không
được sinh ra với những nhãn hiệu này hay không sở hữu
chúng tự bẩm sinh. Chẳng hạn như trong một chốc lát người
ta giận dữ và giây phút kế tiếp cảm xúc đó chìm lắng
xuống, và trong một lúc một người là kẻ thù của ta và
vào lúc kế tiếp người ấy lại là một người bạn.
Hãy
xem xét sự vô thường của bản thân bằng cách nhận ra rằng
ngay khi ta sinh ra, ta đã bắt đầu già đi. Chắc chắn là sắc
diện của một người trẻ tuổi sẽ phải thay đổi và tóc
họ phải rụng đi. Việc trải qua sự sinh, lão, bệnh và tử
là điều không thể tránh khỏi. Vào lúc chết chúng ta không
thể mang theo mình năng lực, tài sản hay bằng hữu. Cũng thế,
thời gian chính xác của cái chết thì không xác định được.
Một ít người sống thọ hơn một trăm năm, trong khi những
người khác chết trong bụng mẹ hay chết khi còn trẻ.
Chúng
ta có thể quán chiếu về sự vô thường của những người
khác bằng cách suy niệm rằng có bao nhiêu người chết mỗi
ngày, dù chúng ta trực tiếp quen biết họ hay chỉ được
đọc và nghe nói về họ. Đó có thể là một người bạn,
một đứa trẻ, một người thân hay ngay cả một người bạn
sơ giao. Qua cái chết của họ, họ đang gởi cho chúng ta một
thông điệp: Chúng ta cũng sẽ qua đời. Một khi hành giả
suy xét về điều này, họ có thể khắc phục được tư tưởng
ngoan cố và niềm tin sai lầm quả quyết rằng bản thân họ
được miễn trừ đối với cái chết.
Đức
Nagarjuna (Long Thọ) bình luận: “Cuộc đời này giống như
một bong bóng nước hay như một ngọn đèn bơ trong gió. Kỳ
diệu biết bao khi ta còn được thức dậy sáng nay.” Tính
chất bất định và sự vô thường của cuộc đời này thì
như thế đấy. Mục đích của việc nhận ra sự vô thường
là thấu hiểu rằng chúng ta không nên lãng phí ngay cả một
chốc lát trong những hoạt động vô nghĩa.
NGHIỆP,
NHÂN VÀ QUẢ
Sau
khi suy niệm chân lý của sự vô thường và sự chết, do bởi
không hiểu rõ chân lý của Nghiệp nên một vài hành giả
đã rơi vào quan điểm sai lạc của thuyết hư vô xác nhận
rằng mọi sự không có ý nghĩa hay không đáng quan tâm.
Nghiệp
được đặt nền trên những hành động mà chúng ta làm. Ta
trải nghiệm những kết quả khác nhau phù hợp với những
hành động đó. Những kết quả của nghiệp, hay hành động
của ta là do bởi sự tương thuộc và cùng tụ hội của những
nguyên nhân và điều kiện (duyên) khác nhau. Nói một cách
ngắn gọn thì những hành động và nguyên nhân đức hạnh
tạo nên những kết quả tốt đẹp; những hành động và
nguyên nhân phi-đạo đức gây nên đau khổ.
Những
hành động thuộc về nghiệp của ta bao gồm bốn nhân tố:
1) Ý định 2) Kế hoạch để hoàn thành nó 3) Tự thân hành
động, và 4) Sự hoan hỉ trong khi thực hiện hành động. Khi
tất cả bốn nhân tố này hiện diện, nghiệp được tạo
nên thì rất mạnh mẽ. Khi những nhân tố này không hoàn toàn
hiện diện thì khi ấy nó không phải là một hành động nghiệp
đầy đủ. Ví dụ như nếu xe hơi của người nào đó ngẫu
nhiên cán phải một con rắn mà không có ý định, không có
kế hoạch và có thể có sự ân hận thì hành động đó không
phải là một hành động nghiệp đầy đủ.
Nghiệp
cũng có thể chín mùi tức thì, đó là trong trường hợp bị
quả báo do phạm những hành động rất ghê gớm. Kết quả
này có thể được hiểu qua ví dụ một con chim bay vút lên
bầu trời và sau đó hạ cánh. Khi nó đáp xuống mặt đất,
con chim gặp cái bóng của nó (kết quả). Nguyên nhân (con chim)
và điều kiện (cái bóng của nó) cùng gặp gỡ để tạo
nên một kết quả đặc biệt và bất ngờ trong khi con chim
đáp xuống.
Tuy
nhiên, nghiệp cũng có thể chín mùi từ từ. Khi một hạt
giống được gieo trồng thì cần có thời gian để những
nguyên nhân và điều kiện (duyên) cùng gặp gỡ và khiến
cho nó phát triển. Những kết quả xảy ra từ từ và lớn
lên theo thời gian.
Đối
với chúng sinh, nghiệp chín mùi là điều chắc chắn. Nó không
chín mùi trong những tảng đá, trong đất hay trong bầu trời!
Nó chín mùi đối với chúng sinh và trong tâm thức của cá
nhân đã tích tập hay tạo ra nghiệp đó. Nghiệp đi theo chúng
ta vào bardo và quyết định ta sẽ kinh nghiệm điều gì trong
tương lai.
Trong
các Kinh điển có nói giống như thật tức cười khi nói rằng
“một ngọn lửa lạnh bốc cháy hay mặt trời và mặt trăng
có thể bị đảo ngược,” thì việc nghiệp không chín mùi
cũng thật tức cười và không thể có được. Nói một cách
tương đối, nghiệp sẽ nhất định chín mùi.
Những
Đạo sư và Thành tựu giả giác ngộ đã chứng ngộ cấp
độ tuyệt đối, tâm và bản tánh giác ngộ, thấu hiểu rằng
về mặt nền tảng thì không có nghiệp. Các ngài đã siêu
vượt nghiệp và những sự hạn chế của nó. Ở cấp độ
này, một bậc giác ngộ thấu suốt rằng mọi hình tướng
là tánh Không. Đó là lý do tại sao những bậc giác ngộ như
Tilopa, Naropa hay Saraha phô diễn những loại hành vi mà bề
ngoài dường như kỳ lạ hay tiêu cực, nhưng thực ra được
đặt nền trên sự hoàn toàn thấu suốt về chân tánh của
các hiện tượng. Đối với các ngài, năm độc (tham, sân,
si, ganh tị, kiêu ngạo) xuất hiện như năm trí tuệ.
Những
Đạo sư này thấu hiểu rằng nghiệp thì giống như kinh nghiệm
của một giấc mộng. Nhưng khi một người bình thường không
biết rằng mình đang mộng, anh ta kinh nghiệm sự khủng khiếp,
sự mê lầm và nỗi khổ trong những giấc mơ, chẳng hạn
như bị giết chết hay bị dã thú rượt đuổi. Những Đạo
sư giác ngộ hiểu rằng kinh nghiệm giác ngộ của ta, được
tạo nên bởi nghiệp, thì tương tự với một giấc mộng
gây nên sự mê lầm và phiền não.
Trong
một vài thực hành như Mahamudra (Đại Ấn) và Dzogchen (Đại
Viên Mãn), những cảm xúc tiêu cực không bị từ bỏ nhưng
thay vào đó được chuyển hóa và tự giải thoát thành năm
trí tuệ. Tuy nhiên, đối với chúng ta là những người đang
hoạt động trên cấp độ tương đối, chúng ta là những
đầy tớ cho năm độc và không thể chuyển hùóa chúng thành
năm trí tuệ.
Kinh
Thiền định nói rằng: “ Tâm như không gian. Tâm như-không
gian này thực hiện những hành động như-không gian và đi
tới một cõi địa ngục như-không gian.” Mặc dù điều này
minh họa rằng trên bình diện tuyệt đối thì nghiệp không
hiện hữu, nhưng về mặt tương đối thì nó hiện hữu đối
với ta. Tóm lại, chúng sinh như chúng ta có một sự tiếp
nối của những hành động và kết quả, những nhân
và duyên.
Là
những chúng sinh bình thường, chúng ta nhìn thấy những hình
tướng khác nhau và bám chấp vào chúng do bởi những kiểu
thức tập quán trước đây của ta. Vì thế, chúng ta phải
hành động phù hợp với luật nhân quả. Tuy nhiên ta đừng
hành động trên bình diện tuyệt đối. Do đó, ta phải tự
ngăn ngừa mình để không phạm vào những hành vi tiêu cực;
ta không được tự lừa dối rằng ta là một Thành tựu giả
chứng ngộ đang chuyển hóa những hiện tượng!
Những
hành vi tiêu vực được tóm tắt bởi Mười Ác hạnh. Ác
hạnh xuất hiện trên nền tảng của tham, sân và si. Nói tóm
lại, chúng hoàn toàn được bắt rễ trong sự vô minh bởi
nó là sự bám luyến vô minh vào một cái ngã tạo nên ác
hạnh. Khi ta bám chấp vào bản ngã, sự tham muốn xuất hiện,
đây là sự tham muốn có được những điều làm lợi cho
bản ngã. Một khi sự tham muốn phát khởi, khi ấy chúng ta
hành động để bảo vệ bản thân và duy trì hạnh phúc có
được từ việc đáp ứng tham muốn đó. Khi ấy sự sân hận
đối với những đối tượng không làm chúng ta hài lòng xuất
hiện.
Sự
từ bỏ Mười Ác hạnh tạo thành Mười Thiện hạnh.
Ba
Ác hạnh của Thân và những Nghiệp Quả của chúng là:
1)
Lấy đi sinh mạng của chúng sinh khác; nghiệp quả hoàn toàn
chín mùi của nó là sự tái sinh trong một cõi địa ngục.
Hậu quả gần của nó là, với tư cách là con người, ta sẽ
có một thọ mạng ngắn ngủi.
2)
Trộm cắp của cải của những người khác; nghiệp quả hoàn
toàn chín mùi của nó là sự tái sinh như một ngạ quỷ. Hậu
quả gần của nó là, như một con người, ta sẽ bị nghèo
khốn.
3)
Hành vi tà dâm, nghiệp quả hoàn toàn chín mùi của nó là
sự tái sinh như một ngạ quỷ. Hậu quả gần của nó là,
như một con người, ta sẽ có nhiều kẻ thù và trải nghiệm
sự không hoà hợp.
Bốn
Ác hạnh của Ngữ và những Nghiệp Quả của chúng là:
4)
Nói dối để lừa gạt người khác vì lợi lạc của riêng
mình; nghiệp quả hoàn toàn chín mùi của nó là sự tái sinh
như một súc sinh. Hậu quả gần của nó là, như một con người,
những người khác không để ý tới lời nói của ta; lời
ta nói không có hiệu quả.
5)
Vu khống những người khác; nghiệp quả hoàn toàn chín mùi
của nó là sự tái sinh trong một cõi địa ngục. Hậu quả
gần của nó là, như một con người, ta sẽ không có bạn
hữu hay người giúp đỡ những khi cần thiết.
6)
Nói ác hay nói với sự sân hận đối với người khác; nghiệp
quả chín mùi của nó là sự tái sinh trong một cõi địa ngục.
Hậu quả gần của nó là, như một con người, ta sẽ trải
nghiệm sự vô ơn của người khác.
7)
Tham dự vào những chuyện tầm phào và trò chuyện vô nghĩa;
nghiệp quả hoàn toàn chín mùi của nó là sự tái sinh làm
một súc sinh. Hậu quả gần của nó là, như một con người,
những người khác sẽ không để ý tới lời nói của ta,
coi nó như vô nghĩa.
Ba
Ác hạnh của Tâm và những nghiệp Quả của chúng là:
8)
Có thái độ ganh tị và thèm muốn; nghiệp quả hoàn toàn
chín mùi của nó là sự tái sinh như một ngạ quỷ. Hậu quả
gần của nó là, như một con người, tâm ta hướng về sự
tham muốn cực độ.
9)
Có một thái độ tức giận và có hại; nghiệp quả hoàn
toàn chín mùi của nó là sự tái sinh trong địa ngục. Hậu
quả gần của nó là, như một con người, ta sẽ có một tánh
khí dễ cáu giận.
10)
Có những quan điểm xuyên tạc hay sai lầm; nghiệp quả hoàn
toàn chín mùi của nó là sự tái sinh như một súc sinh. Hậu
quả gần của nó là, như một con người, ta sẽ bướng bỉnh,
ngoan cố.
Ngay
cả một hành động tiêu cực hay tích cực nhỏ bé cũng có
thể chín mùi thành một kết quả to lớn, giống như một
tia lửa có thể gây nên một đám cháy lớn. Cũng thế, nếu
phạm vào những hành vi tiêu cực ta không thể tránh khỏi
việc bị người khác làm điều đó cho ta.
Những
hậu quả tiềm tàng của việc mắc phạm Mười Ác hạnh này
tuỳ thuộc vào ý định và những cảm xúc đằng sau hành
động. Ví dụ như một hành động có vẻ tiêu cực có thể
tích cực nếu động lực hết sức tích cực và đúng đắn.
Đây là trường hợp những hành động đôi khi được các
Bồ Tát thực hiện vì sự lợi ích của chúng sinh. Trong một
đời trước của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là một Bồ Tát,
Ngài thấu suốt tư tưởng của người khác. Có một lần,
một chiếc tàu sắp giương buồm tới một hòn đảo châu
báu. Chiếc tàu có năm trăm thủy thủ, hầu hết trong số
đó là những Bồ Tát. Viên thuyền trưởng dự tính ném tất
cả những thủy thủ khác xuống biển và chiếm lấy của
cải khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong đời đó, Đức
Thích Ca Mâu Ni đã giết chết viên thuyền trưởng, nhờ đó
Ngài cứu ông ta thoát khỏi nghiệp tiêu cực như thế và ngăn
chặn cái chết của tất cả những bậc giác ngộ đó.
Tương
tự như thế, yogi Milarepa đã nói: “Mặc dù tôi không hiểu
gì về Vinaya (Luật học giảng về hành vi đúng đắn và không
đúng đắn đối với một hành giả tu sĩ), nhưng nếu tôi
làm chủ tâm thức tôi, thì điều đó đã là đủ.”
Vì
thế, mặc dù Milarepa không nghiên cứu tất cả những vấn
đề tinh tế của Luật học, nhưng cũng đủ để ngài kiểm
soát những động lực và cảm xúc của tâm ngài, điều ấy
ảnh hưởng tới hành vi bên ngoài của ngài.
Nghiệp
dạy ta chiến thắng những cảm xúc tiêu cực. Là những người
sơ cơ trên con đường, đôi khi sự mong cầu là một bộ phận
của sự thực hành. Việc ta mong cầu phát khởi Bồ Đề tâm
và làm lợi lạc người khác là một trạng thái đức hạnh
của tâm thức và ý hướng. Kết quả sẽ tốt đẹp, mặc
dù một vài sự tham và sân xuất hiện trong con đường.
Khi ta tiến bộ, sự tư lợi sẽ dần dần giảm bớt đi. Hành
giả tuyệt vời nhất ít tham, sân và si, nhưng vào lúc bắt
đầu hầu hết đều trộn lẫn một ít những điều đó.
Ngay
cả nghiệp còn sót lại hay nghiệp tiềm ẩn cũng hiện hữu
trong dòng tâm thức của tất cả chúng sinh, kể cả những
vị có sự thành tựu cao cấp. Những người không thấu suốt
về nghiệp có thể phát triển những mối hoài nghi khi nhìn
thấy một Đạo sư Vĩ đại hay Lạt Ma hiển lộ sự bệnh
tật, khốn khổ và đau đớn. Họ không hiểu được tại
sao một người có sự thành tựu cao cấp như thế lại phải
chịu đau khổ.
Do
bởi những Đạo sư Vĩ đại này hiện diện trong một thân
tướng vật lý, thân tướng Hoá Thân, các ngài vẫn mang theo
mình nghiệp tiềm ẩn này. Thậm chí Đức Gyalwa Karmapa thứ
Ba đã viết trong tác phẩm Lời Ước Nguyện Mahamudra của
ngài: “Cầu mong toàn thể nghiệp tiềm ẩn này chín mùi với
tôi trong chính thân xác này và ngay trong đời này để tôi
không phải trải nghiệm nó trong tương lai.” Ngay cả Milarepa
khi sắp thị tịch – do uống thuốc độc – đã nói rằng
việc này sẽ tịnh hóa nghiệp tiềm ẩn của ngài. Ngay cả
Đức Phật cũng dẫm lên một miếng gỗ đàn hương khiến
cho chân Ngài bị thương. Việc này là do sự chín mùi của
nghiệp tiềm ẩn được tạo nên từ việc giết chết viên
thuyền trưởng đã dự định giết chết thủy thủ đoàn
của Ngài.
Nếu
thái độ của bạn tuyệt hảo thì con đường và những mức
độ tiến bộ trong khi thực hành sẽ tuyệt hảo. Nhưng nếu
ta có một thái độ tiêu cực thì con đường và những mức
độ tiến bộ sẽ tiêu cực. Nếu ta không có một quan điểm
tích cực thì sẽ có những chướng ngại và sự đau khổ.
Đức
Phật đã dạy rằng nghiệp tích cực được thâu hoạch nhờ
Hai Tích tập công đức và trí tuệ. Phật Quả được thành
tựu nhờ việc tích tập công đức và trí tuệ; chúng giống
như đôi mắt. Nếu chỉ có một trong hai điều đó, hành giả
không thể thành tựu sự chứng ngộ.
Công
đức là một sự tích tập trong ý niệm. Việc cúng dường
cho Đức Phật hay bố thí cho người nghèo sẽ dẫn tới sự
tích tập công đức. Nếu ta không tích tập đầy đủ công
đức, những dấu hiệu sẽ xuất hiện chẳng hạn như sẽ
có nhiều chướng ngại. Chẳng hạn như mặc dù ta có một
ý định tốt đẹp, nhưng hóa ra kết quả có thể không như
điều ta hy vọng.
Trí
tuệ thì không cụ thể. Nó được tích tập nhờ việc lắng
nghe những giáo lý, suy niệm và thiền định về chúng.
Từ
quan điểm của Đại thừa, sự thiền định Bồ Đề tâm
là thực hành chính yếu để giảm thiểu những ác hạnh.
Bởi hầu hết những điều tiêu cực mà ta mắc phạm là do
bảo vệ sự tư lợi của riêng ta, vì thế sự thiền định
tự hoán đổi vì sự lợi lạc của người khác rất hiệu
nghiệm trong việc phát triển Bồ Đề tâm. Ta có thể giảm
bớt sự tiêu cực bằng thiền định hoán đổi hạnh phúc
của riêng ta để nhận lãnh những đau khổ của người khác.
Tóm
lại, nghiệp và những kết quả của nó được hoàn toàn
nhìn thấy ở quanh ta. Nhiều chủng loại thú vật khác lạ
và đa tạp hiện diện trên trái đất là do bởi nghiệp của
chúng. Nếu bạn muốn có một tái sinh tuyệt hảo, hãy thiền
định về sự nhẫn nhục. Nếu bạn muốn có năng lực để
làm lợi lạc người khác, hãy tôn kính Lạt Ma hay những bậc
siêu phàm khác. Nếu bạn muốn có niềm tin và lòng can đảm,
bạn không nên kiêu ngạo và chấp ngã. Nếu muốn thoát khỏi
bệnh tật và đau khổ, hãy từ bỏ những hành động tiêu
cực. Nếu muốn có hạnh phúc, hãy thiền định về lòng từ
ái-thiện tâm. Nếu muốn có một giọng nói du dương, bạn
nên nói sự thật. Nếu muốn có những phẩm tính tốt lành,
hãy phục vụ một thiện tri thức, hoàn thiện thiền định
An Định và Nội Quán, và hãy phân tích bản ngã với trí
tuệ phân biệt. Nếu bạn muốn tái sinh trong những cõi cao,
hãy thiền định về Bốn Tâm Vô lượng (Từ, Bi, Hỉ và Xả).
Cuối cùng và là điều quan trọng nhất, nếu muốn được
tái sinh làm người, bạn nên thực hành Mười Thiện hạnh
(Thập Thiện).
NHỮNG
LỖI LẦM CỦA SINH TỬ
Được
đặt căn bản trên những hành động tích cực, tiêu cực
và trung tính mà chúng sinh đã thực hiện, họ được tái
sinh trong một trong sáu cõi sinh tử (chu kỳ đau khổ mà chúng
sinh sống trong đó.)
Chúng
ta sẽ bắt đầu với ba trạng thái hiện hữu thuận lợi
hơn. Trong Cõi Người, những cá nhân đau khổ bởi Bốn Dòng
Sông Lớn: Sự Sinh, Lão, Bệnh và Tử. Trong Cõi Trời, chúng
sinh đau khổ vì bị mất vẻ duyên dáng. Năm ngày trước khi
chết, khuôn mặt một vị trời (thiên) hay thiên nữ bắt đầu
xuống sắc. Họ bắt đầu có mùi hôi và những tràng hoa của
họ héo úa. Họ có những thị kiến về các cõi thấp mà
họ sẽ tái sinh. Họ trở nên tuyệt vọng và buồn bã bởi
họ đã sống ở Cõi Trời quá lâu. Vì thế, bị xao lãng bởi
sự hỉ lạc và an bình của định trong nhiều kiếp, họ không
bao giờ chịu dành thời gian để thực hành Pháp. Trong Cõi
A tu la (Bán Thần), những chúng sinh đau khổ vì sự tranh đấu
và không hòa hợp, được khơi dậy bởi một thái độ ganh
tị.
Kế
tiếp là ba trạng thái hiện hữu ít thuận lợi, là nơi chúng
sinh phải chịu đau khổ thường xuyên hơn. Trong Cõi Súc sinh,
những thú vật đau khổ vị sợ hãi. Chúng ăn nuốt lẫn nhau,
hay trở thành nô lệ và bị ăn thịt. Ta có thể nhìn thấy
nỗi khổ trong cõi này hết sức sống động. Trong Cõi Ngạ
Quỷ, sự đói khát khiến chúng sinh đau khổ. Mặc dù có thể
nhìn thấy thức ăn nhưng họ không ăn được. Nếu họ
nuốt một ít đồ ăn, nó sẽ đốt cháy cổ họng và làm
bao tử họ thường xuyên trống rỗng. Trong Cõi của những
chúng sinh Địa ngục, cái nóng và lạnh hành hạ chúng sinh.
Họ phải chịu đau khổ trong một trong tám địa ngục lạnh
(chẳng hạn những vết phồng rộp vỡ ra hay răng đánh lập
cập) hoặc tám địa ngục nóng. Cũng có những Cõi Địa ngục
không thường xuyên và Địa ngục lân cận. Chúng ta có thể
nhìn thấy một số Địa ngục đó, chẳng hạn những con vật
kỳ lạ nhỏ bé sống dưới những tảng đá hay những côn
trùng sống rất lâu dưới mặt đất. Trong những địa ngục
không thường xuyên này, chúng sinh chết và bị tái sinh liên
tục trong cõi đó trong một thời gian rất dài.
Không
duy nhất một chúng sinh nào thoát khỏi đau khổ, dù đó là
đau khổ trong tinh thần hay thể xác. Để thấu hiểu nỗi
khổ của những cõi thấp, ta phải nhận dạng sự đau khổ
hiện diện quanh ta. Như một người chăn nuôi gia súc, hãy
nghĩ tưởng chắc hẳn trâu bò phải đau đớn biết bao khi
bị giết để lấy thịt. Như một người thợ săn, hãy suy
niệm một con vật cảm nhận ra sao khi bị săn đuổi và cuối
cùng bị bắn chết.
Hãy
nhận lãnh những kinh nghiệm liên quan mà ta có và chuyển hóa
chúng hướng về việc thấu suốt sinh tử. Ví dụ nếu bạn
cảm thấy lạnh khi đứng ngoài trời trong mùa đông mà không
có áo choàng thì hãy tưởng tượng rằng chúng sinh trong những
cõi địa ngục lạnh còn phải chịu giá lạnh tới đâu. Nếu
một tia lửa làm phỏng ngón tay bạn, hãy nghĩ tưởng rằng
trong những địa ngục nóng, chúng sinh còn đau đớn hơn thế
nhiều. Nếu bạn cảm thấy đau khổ khi bị đói khát trong
ba ngày, hãy tưởng tượng rằng là một ngạ quỷ thì còn
tệ hại hơn biết bao.
Sự
sống trong sinh tử luân hồi gồm có Ba Loại Đau khổ: (1)
Nỗi khổ tràn ngập dòng tâm thức và hiện hữu trong mọi
sự sống có điều kiện, (2) Khổ khổ và (3) Nỗi khổ gây
nên bởi sự biến đổi, do hối tiếc khi ta mất đi những
hoàn cảnh tốt đẹp và những sự vật.
Là
một con người, tâm ta không nên cứng rắn, thiếu mềm dẻo,
nhẫn tâm và lạnh lẽo. Chúng ta nên suy niệm về nỗi khổ
của những người khác, nhờ đó tâm ta sẽ trở nên mềm
mại và dịu dàng.
Pháp
thoại được giảng vào tháng Năm, 2001
Nguyên
tác: “The Four Foundations: Thoughts which Turn the Mind Towards the
Dharma” by Ven. Karma Khenchen Rinpoche
http://www.simhas.org/teaching19.html
Bản
dịch Việt ngữ của Liên Hoa