Đức
Thế Tôn đã cẩn trọng để lại cho chúng ta rất nhiều tiêu
chuẩn thẩm định Chính pháp như là Duyên khởi, Nhị đế,
Tam pháp ấn… Trong đó, Tứ y cứ là một thước đo quan trọng
nhưng ít được đem ra sử dụng một cách rộng rãi và triệt
để, nếu không nói là bị lãng quên.
Chúng
ta đều biết rằng đạo Phật đã có cách nay hơn 26 thế
kỷ, nên việc truyền thừa qua nhiều thế hệ chắc chắn
có những sai sót và lầm lẫn. Điều đó sẽ rất đáng lo
ngại nếu như chúng ta không có những cơ sở tin cậy để
soi sáng, tìm ra con đường tu tập chánh thống. May thay, Đức
Thế Tôn đã cẩn trọng để lại cho chúng ta rất nhiều tiêu
chuẩn thẩm định Chính pháp như là Duyên khởi, Nhị đế,
Tam pháp ấn… Trong đó, Tứ y cứ là một thước đo quan trọng
nhưng ít được đem ra sử dụng một cách rộng rãi và triệt
để, nếu không nói là bị lãng quên.
Y
pháp bất y nhân
Trong
truyền thống Phật giáo, đời sống thực tế (thân giáo)
của bậc tu hành luôn là cách trao truyền mạnh mẽ và có
công năng chuyển hóa cho người tiếp nhận hơn những bài
thuyết giảng (khẩu giáo). Bởi vì giáo pháp của Đức Phật
phải tự mình đến để mà chứng tri, thông đạt chứ không
thể nắm bắt trên ngôn từ vốn không chuyên chở hết nghĩa
lý. Nếu vì căn cơ mà phải sử dụng ngôn từ thì đó cũng
chỉ là một sự cố gắng, và tất nhiên những ngôn từ đó
phải tương xứng với sự thực hành (ngôn hành hợp nhất).
Ngày
xưa, Đức Thế Tôn cũng từng ngồi im lặng suốt đêm cùng
một số thầy từ phương xa về thăm viếng mà vẫn không
nói lời nào. Thầy thị giả Ananda còn trẻ nên sốt ruột
nhiều lần bạch, xin Đức Thế Tôn nên khuyên nhủ họ đôi
điều. Đức Phật mỉm cười bảo rằng thầy trò ngồi với
nhau như vậy chưa đủ lắm sao, còn gì hay hơn để nói thêm
nữa.
Các
vị Tổ sư sau này cũng thường sử dụng cách giáo dục vô
ngôn đó. Thiền sư Triệu Châu nói tới nói lui mỗi câu “uống
trà đi” hay “cây tùng trước sân” để khai thị người
học đạo. Thiền sư Lâm Tế mỗi lần lên pháp tòa chỉ nói
một đôi câu vắn tắt hay một cụm từ cô đọng rồi im
lặng bỏ xuống. Nếu thiền sinh muốn nắm bắt tâm ý thầy
từ những bài giảng dạy bằng lời thì sẽ hụt hẫng. Thông
điệp của thiền sư không chứa đựng trong lời nói.
Trường
hợp phép y cứ này có vẻ như khuyên ta chỉ nên nương tựa
vào những giáo pháp được chia sẻ bằng lời chứ không nên
chú ý hay đòi hỏi thêm về đời sống của người đang giữ
gìn giáo pháp. Mới nghe ta thấy hơi khó chịu. Nếu người
giữ gìn giáo pháp giải thoát mà họ vẫn còn vướng kẹt,
trao truyền giáo pháp hạnh phúc mà họ còn khổ đau thì làm
sao ta dám tin những điều họ chia sẻ là không sai lầm và
thực tập hiệu quả được.
Nhiều
người giải thích rằng cũng có khi ta rơi vào tình trạng
không thể chọn lựa, trong hoàn cảnh ta chỉ được gặp mỗi
vị pháp sư khá am tường giáo pháp nhưng chưa đủ cơ duyên
để trải nghiệm và chứng đắc thì ta cũng đừng nên bỏ
lỡ cơ hội học hỏi. Người đó không đến được chân
lý, nhưng họ trao ta bản đồ thì biết đâu ta có thể về
đích? Cũng như một người cha nghiện rượu nhưng lúc nào
ông cũng khuyên con hãy lánh xa thứ độc hại đó. Ta có thể
hiểu rằng người cha biết mình sai trái trong muộn màng vì
sự nghiện ngập đã ăn sâu vào máu thịt, nhưng lương tâm
đã bắt ông phải can đảm đứng ra can ngăn những người
khác đừng dại dột và yếu mềm như ông.
Nếu
người con chịu mở lòng thì có thể cảm thấy những điều
khuyên nhủ của cha là quý hóa, nhưng chắc chắn trong tâm
chỉ còn lại hình ảnh một người cha tội nghiệp hơn là
một bậc uy nghiêm khả kính. Người tiếp nhận giáo pháp
để tu tập chuyển hóa nếu chỉ có tình thương mến đối
với vị thầy mà thiếu đi đức tin mạnh mẽ thì không thể
nào thiết lập liên hệ thầy trò bền vững và thọ giáo
lâu dài được. Đức tin luôn dẫn đầu trong mọi sự đi
tới.
Tôi
không bao giờ tin rằng một người thầy chưa từng trải nghiệm
tu hành mà có thể trao truyền giáo pháp cho người khác một
cách hiệu quả. Nếu cho rằng chỉ cần vị thầy ấy nhắc
nhở lại những điều Đức Thế Tôn đã từng giảng dạy
thì cũng đóng được vai trò tưới tẩm những hạt giống
tốt đẹp trong tâm người tiếp nhận rồi, tôi không nghĩ
thế. Một sự tưới tẩm nào cũng cần có định lực thì
nó mới có sức thẩm thấu. Vả lại muốn chuyển hóa khổ
đau thì phải thực tập quán chiếu rốt ráo, như vậy, không
lẽ khi người học trò hỏi thầy quán chiếu như thế nào
để có thể buông bỏ sự giận hờn hay thấy được tự
tánh thì thầy bảo rằng tôi không biết vì tôi chưa quán
chiếu bao giờ ư?
Cho
nên tôi không đồng ý cách lý giải phép y cứ thứ nhất
theo kiểu đó, có vẻ chống chế quá. Nếu ta tìm hiểu ba
phép nương tựa sau thì chắc chắn ta sẽ thấy được chiều
sâu của phép nương tựa này hơn. Khi thấy được giá trị
đúng đắn của phép nương tựa này thì ta sẽ hiểu lý do
tại sao bốn phép nương tựa được xếp chung với nhau như
một hệ thống chặt chẽ có tác dụng định hướng cho một
hành giả trên bước đường tu tập.
Theo
tôi, trong phép nương tựa thứ nhất có ba lý do mà ta không
cần phải để ý đến sự thực tập của người truyền
giáo. Thứ nhất, khả năng tu chứng của người thầy ở một
trình độ khá cao, khiến ta không hiểu hết được hành tung
của họ. Ta hay có thói quen lấy giới luật hay những phép
tiệm tu ra làm khuôn vàng thước ngọc để thẩm định trình
độ tu tập của một ai đó, dù là bậc giáo thọ của ta.
Nhưng ta có thể lầm. Thực tế có những vị đủ bản lãnh
vượt tới chân trời cao rộng một cách tự tại mà không
còn kẹt vào những khuôn thước nữa. Con đường của Bồ
tát mà hàng Thanh văn còn không hiểu nổi, huống chi những
kẻ sơ cơ mới vào đạo.
Nhưng
làm sao để biết họ “tùy duyên” mà vẫn “bất biến”?
Điều này tùy vào sự thông minh của mỗi người cầu học.
Có rất nhiều cách, theo tôi, hãy nhìn kỹ vào phiền não của
họ thì dễ biết nhất. Còn hành tung của một vị thầy luôn
vượt xa những gì họ đã từng dạy cho chúng ta. Nếu ta chưa
thực sự hiểu về vị thầy ấy thì hãy cần thêm thời gian
để quan sát và trắc nghiệm. Còn tư cách của một học trò
thì chỉ nên lắng nghe và suy gẫm những bài thực tập căn
bản hay sâu sắc mà vị thầy đã “đo ni đóng giày” cẩn
thận khi thấy được trái tim ta. Đừng ngây ngô đem ra so
sánh hay học đòi bắt chước mà sa hầm sập hố.
Lý
do thứ hai là trong ta có thể đã bị nhuốm màu đen của sự
nghi ngờ hay kỳ thị. Người Tây phương ít bị kẹt vào trường
hợp này. Chỉ cần biết vị thầy đó rất giỏi và đủ
bản lãnh để lãnh đạo tinh thần cho họ đi tới nơi tới
chốn là họ theo. Họ không có thắc mắc và xét đoán chi
li như chúng ta. Ta có nên học tập cách “nhận diện đơn
thuần” như người Tây phương cho tâm hồn thanh thản và
tự do để đi vào đạo không? Có một lần tôi hỏi
một vị thiền sinh trẻ có ý kiến gì về cách hướng dẫn
thiền tập của tôi không? Anh chàng nhìn tôi với cặp mắt
rất sáng và mạnh dạn trả lời: Nếu con thấy không hay thì
con sẽ không ở đây, khi con đã ở lại đây thì con phải
biết học những cái hay. Cái hay chưa học hết thì làm sao
con biết cái nào dở. Về mặt tâm linh con đang là người
cầu học nên chỉ biết lắng nghe hơn là ý kiến.
Nhận
diện đơn thuần là phép thực tập căn bản nhất của thiền
môn. Thấy sao để vậy chứ đừng máy móc dùng trí năng nhạy
bén để phân tích, chia chẻ để rồi trở thành nạn nhân
của sự nghi ngờ, kỳ thị. Những hiểu biết của ta về
vị thầy đó có thể từ tri giác sai lầm qua cảm nhận trực
tiếp hay qua dư luận. Trong ta có một hình ảnh rất sai về
vị thầy đó mà ta cứ ngỡ là vị thầy đó không xứng đáng
để ta tin cậy. Đôi khi ta biết vị thầy ấy thực sự rất
hay và giáo pháp của vị ấy cũng rất tuyệt vời, nhưng ta
luôn bị dội lại và đánh mất cơ hội học hỏi bởi thế
lực mạnh mẽ của bóng tối nghi ngờ, kỳ thị.
Cho
dù ta có chấp chặt những suy nghĩ của mình là đúng đắn
đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là một phần rất nhỏ trong
con người rất lớn kia. Nếu không chấp nhận phần nào thì
ta chỉ nên bỏ ra phần đó thôi, chứ đừng đánh đồng với
tất cả những phần còn lại thì ta sẽ chịu thiệt thòi
lớn, vì ai cũng sẽ trở thành nạn nhân của sự đào thải
của ta. Cũng như ta hay quen miệng nói rằng tôi không chấp
nhận con người đó. Điều này không chính xác, vì không ai
có thể hư hỏng hay tệ lậu cả một con người. Ta chỉ có
thể nói là tôi không chấp nhận cái quan điểm, cái hành
xử nào của người đó mà thôi. Ai cũng có thể trở thành
thầy của ta, huống chi người kia chỉ có một điều mà theo
ta đó là sai trái!
Vậy
ta có nên ngồi xuống thật yên để nhìn lại cách học đạo
của mình không? Hãy nhớ lại sơ tâm của mình đến với
đạo để làm gì và cố gắng sống với cái tâm ban đầu
tinh khôi ấy. Nếu lúc nào ta cũng tâm tâm niệm niệm đến
mục đích chính của con đường mà ta đã cất công đi tìm
là sự an lạc và giải thoát thì ta sẽ không dễ dàng sa vào
bẫy sập của những chủ thuyết, của tác động môi trường
hay của chính phiền não khổ đau luôn thúc đẩy trong ta. Hãy
cố gắng lấy được vàng trước khi rời núi báu, đừng
vì những lý do vu vơ mà ta trở thành kẻ bại trận đi về
tay không hay chịu nhiều thương tật!
Nếu
sử dụng lăng kính Bất nhị thì ta sẽ thấy rõ không có
sự cách biệt giữa pháp và người truyền pháp, đó là nghĩa
chính yếu của phép nương tựa này. Lúc thầy Huệ Năng được
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ấn chứng là kẻ truyền nhân và bí mật
đưa ra tới bến đò tiễn biệt, thầy Huệ Năng đã nắm
lấy tay Ngũ tổ nói rằng: “Mê thời sư độ, ngộ liễu
tự độ”. Chữ độ trong bối cảnh này vừa có nghĩa là
đưa qua sông mà cũng có nghĩa là giúp cho con đủ thêm điều
kiện để khám phá được tự tánh của mình. Người thầy
luôn là tác nhân quan trọng để khích lệ, soi sáng, khai thị
và thúc đẩy cho công trình tu tập chuyển hóa của người
học trò. Nhưng cũng như trường hợp của thầy Huệ Năng,
người thầy chỉ đưa cho mình một đoạn đường, phần còn
lại mình phải tự đi trên đôi chân vững chắc và tự tin
của mình nếu như đã thấy rõ con đường đi rồi.
“Đã
có đường đi rồi, con không còn lo sợ”. Tôi thật sự chấn
động khi nhìn thấy câu này trên vách thiền đường của
một trung tâm thiền tập. Khi con đã thấy rõ con đường đang
đi hiện rõ những phẩm chất của sự giải thoát thì con
sẽ không còn kẹt vào người lái đò năm xưa nữa, con sẽ
trở thành người lái đò của cuộc đời mình. Khi buông bỏ
được sự bám víu vào những khuôn phép đặt để hay lối
mòn riêng của thầy thì người học trò mới phát huy hết
khả năng sáng tạo và bản lĩnh của mình mà bước tới chân
trời cao rộng. Như Thiền sư Quảng Nghiêm (thời Lý) đã từng
thúc đẩy các thiền sinh bằng quyết tâm rất mạnh mẽ:
“Nam
nhi tự hữu xung thiên chí
Hưu
hướng Như Lai hành xứ hành”
Nghĩa
là:
Làm
trai chí lớn tung trời thẳm
Chớ
dẫm chân theo dấu Phật thành
Kể
cả Đức Như Lai là Bậc Thầy lớn nhất mà ta cũng không
nên rập khuôn theo để không tự đánh mất mình. Có tới
hàng trăm cách giác ngộ, Đức Như Lai chỉ hiến tặng cho
chúng ta kinh nghiệm của riêng Ngài, nhưng chúng ta phải đối
đầu với chính bản tâm của riêng mình thì cần phải có
thái độ can đảm và sáng tạo liên tục mới mong quán triệt
và chứng đắc. Người tiếp nối phải có thái độ như thế
thì đạo Phật mới có một tương lai. Cho nên ta chỉ nên
nương tựa vị thầy hướng dẫn trong giai đoạn chưa vững
chãi thôi, chứ khi nắm được con đường rồi thì phải tìm
cách “làm chủ” cuộc đời mình chứ không thể “làm công”
hoài được. Đó là thâm ý của phép y cứ trên.
Y
nghĩa bất y ngữ
Điều
cảnh báo trong phép nương tựa này quá rõ ràng, ta không còn
phải nghi ngờ gì nữa. Nhưng thực tế thì không phải dễ
ứng dụng, thực hành. Nếu ta thiếu sự tỉnh giác, thiếu
cẩn thận dè dặt, thiếu đức tin nơi hiểu biết của mình
thì chắc chắn ta cũng sẽ kẹt ngay vào chữ nghĩa.
Ranh
giới giữa ngữ và nghĩa cũng khó phân định rõ ràng. Người
mới bước vào đạo thường hay sử dụng những văn bản
kinh điển như một thước đo tiêu chuẩn. Mở miệng ra là
nói kinh này kinh nọ, làm như kinh điển có chứa chân lý tuyệt
đối vậy. Họ không biết rằng kinh điển chỉ được chép
thành văn bản sau Đức Phật nhập diệt gần 400 năm, trước
đó thì truyền miệng bằng lối trùng tụng qua trí nhớ. Điều
này rất dễ xảy ra những sơ suất hay lầm lẫn, không chỉ
ở cách nhớ mà cả cách hiểu và hành trì nữa. Ngay chính
trong thời Phật còn tại thế mà nhiều người vẫn không
hiểu được lời Phật dạy, diễn giải một cách sai lầm.
Nhiều khi Đức Phật phải gọi người đó tới hỏi “thầy
nghe Tôi nói như thế nào mà lại nói như vậy?”.
Trong
truyền thống Đại thừa có câu "Y kinh giải nghĩa tam thế
Phật oan”, nghĩa là nếu chỉ căn cứ vào từng câu chữ
trong kinh điển thì sẽ không thấy được nghĩa lý thâm áo.
Thứ nhất, bản chất ngôn ngữ vốn không thể chuyển tải
hết cảm xúc hay tư tưởng của một người bình thường,
huống chi đó là những diễn đạt chân lý cao siêu mầu nhiệm.
Thứ hai, kinh điển chỉ là nơi diễn đạt con đường và
kết quả tu chứng của Đức Phật, nếu mình cứ mãi hì hục
mày mò trong các văn bản đó để kiếm chân lý thì sẽ thất
bại. Chân lý phải đi bằng đôi chân, tức được thân chứng
từ sự ứng dụng tu tập thành tựu chứ không phải bằng
cái đầu, bằng sự hiểu biết suông của lý trí.
Có
nhiều người vì quá tôn kính những lời Đức Phật dạy
nên họ đã thực tập phép lạy từng chữ một trong kinh văn.
Điều đó cũng tốt nhưng có được gì nếu ta vẫn không
thấy được con đường thực tập thực sự nằm trong chính
ta, giáo pháp chỉ đóng vai trò khơi gợi thôi. Xung quanh ta
có khá nhiều người nhiệt tâm học đạo mà thiếu sự sáng
suốt như vậy. Chư Phật trong ba đời thấy ta tiếp nhận
giáo pháp qua cách trao truyền rơi rớt kiểu đó chắc cũng
ngậm ngùi. Vậy mà lúc nào ta cũng mạnh dạn nói rằng ta
làm theo lời Phật dạy, quả thật là oan uổng!
Tiếp
theo câu "Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan” ; "Ly kinh nhứt
tự tức đồng ma thuyết”. Mới nghe ta thấy hai câu này như
mâu thuẫn nhau. Kỳ thực không phải vậy. Cũng nằm trong giáo
lý Bất nhị, tuy Đức Phật khuyên chúng ta phải cẩn thận
để tìm thấy nghĩa kinh nấp sau những câu nói cô đọng,
nhưng chúng ta cũng cần phải tạm thời sử dụng kinh điển
như một phương tiện cần thiết mà không bỏ đi. Kinh Kim
Cương dùng hình ảnh chiếc bè để chỉ cho giá trị của
kinh điển, khi nào qua tới bờ thì ta mới vứt chiếc bè đi.
Như vậy trong thời gian chưa qua hết sông thì ta phải luôn
trân trọng chiếc bè. Trân trọng chứ không phải bo bo cất
giữ rồi kẹt cứng mà không vùng vẫy được.
Tuy
chỉ đóng vai trò khơi gợi và soi sáng, nhưng nếu không có
giáo pháp thì ta cũng sẽ dễ dàng lạc vào chủ thuyết ma
mị đầy kiêu hãnh và tự hào. Cho nên, ta cũng cần nương
tựa nơi ngôn ngữ một thời gian, sau đó phải nhờ thầy
hay bạn giỏi giúp ta vượt thoát bằng cách nhìn sâu vào bên
trong để khám phá ra nghĩa lý thâm uyên của Đức Phật. Khi
vượt thoát rồi ta vẫn dùng kinh điển để trao truyền. Đó
là lý do mà mỗi lần mở kinh điển ra ta đều nhắc nhở
nhau rằng:
Lời
Phật thật nhiệm mầu
Đâu
phải dễ tìm cầu
Xin
nguyện dùng chính kiến
Thấy
hết nghĩa thâm sâu.
Y
liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh
Các
nhà khoa học cho biết, ánh sáng lấp lánh của các vì tinh
tú kia có khi đã lặn tắt từ hàng triệu năm trước còn
sót lại và đang đi tới tinh cầu của chúng ta. Nhưng trong
suy nghĩ của trẻ thơ thì vì tinh tú ấy là một ngôi sao may
mắn hay một thiên thần hộ mệnh luôn hiện hữu từng đêm
để các em gửi gắm tâm sự và hướng tới một ước mơ.
Nếu
ta nói với các em, vì tinh tú ấy đã không còn nữa thì có
lẽ hơi nhẫn tâm. Tại vì ta cũng đã từng lớn lên trong
cái khung trời dịu ngọt ấy, bây giờ tuy đã vượt thoát
nhưng ta vẫn mỉm cười cảm thông chia sẻ với các em. Rồi
ngày mai các bé thơ đó lớn lên cũng sẽ biết được sự
thật, nhưng ý niệm về ngôi sao may mắn hay thiên thần hộ
mệnh sẽ mãi mãi là thiên đường của tuổi thơ mà không
bao giờ thay đổi.
Trong
đây có hai sự thật, một sự thật tương đối và một sự
thật tuyệt đối. Cái hiểu biết thứ nhất được gọi là
sự thật vì ở tuổi thơ ai cũng thấy như vậy và chấp nhận
như vậy, tuy nó mang tính tạm thời vì sẽ còn thay đổi để
đi tới cái thấy đúng đắn nhất. Nhưng trẻ thơ không cần
biết khoa học đã nói như thế nào về các vì tinh tú, chúng
tin vào cảm nhận đơn thuần và trong sáng của mình vì đã
đủ cho chúng bình yên và hạnh phúc.
Sự
thật thứ hai sẽ mở ra cho ta không gian thênh thang rộng lớn,
bấy giờ cái nhìn của ta không còn bị nhuốm màu hồng của
những cảm xúc hay ước mơ nữa. Nhưng ta sẽ không bao giờ
chê trách trẻ thơ là ngu dốt hay cạn cợt, còn hiểu biết
của ta mới thật sự hoàn hảo hay sâu sắc. So sánh như vậy
là khập khiễng và kẹt vào căn bệnh truyền kiếp nhị nguyên.
Ta phải thấy được hai sự thật đó đều có giá trị lợi
ích và gắn bó mật thiết với nhau để tồn tại. Nếu bỏ
đi bất kỳ một sự thật nào cũng đều nguy hại cả. Ta
vừa giữ gìn sự thật thứ nhất mà cũng vừa hướng tới
sự thật thứ hai.
Sự
khám phá của Đức Phật về thân phận con người và kiếp
sống cũng vậy, cũng luôn mang theo hai sự thật. Những văn
bản kinh điển diễn đạt về thế giới hiện tượng mà
ta có thể nhìn thấy bằng con mắt thường như sinh-lão-bệnh-tử…
thì được gọi là bất liễu nghĩa kinh, tức là sự thật
tương đối. Còn những kinh văn diễn đạt về thế giới
bản thể mà phải sử dụng con mắt của tuệ giác mới nhìn
thấy được như vô sinh-bất diệt… thì được gọi là liễu
nghĩa kinh, tức là sự thật tuyệt đối.
Đức
Phật đã từng thuyết giảng những giáo lý có tính chất
khế hợp với cái nhìn thông tục (tục đế) cho những đối
tượng vẫn còn vướng kẹt trong khung trời ảo mộng của
trẻ thơ, thì phép y cứ thứ ba được đưa ra chỉ là một
thái độ khuyến khích và thúc đẩy chứ không phải là một
sự kỳ thị hay đào thải. Đức Phật thừa biết trình độ
con người vốn khác biệt, nên sẵn sàng linh động chỉ bày
ra những phương pháp giản dị và gần gũi để giúp người
mới tu tập có những an lạc nho nhỏ, xoa dịu nỗi khổ niềm
đau.
Nhưng
Ngài cũng thường xuyên khơi gợi và nhắc nhở, nhất là đối
với các hành giả cả đời dấn thân vì sự nghiệp giải
thoát, phải tinh tấn rời bỏ những trạm dừng chân kia mà
thẳng tiến tới khung trời chân thật (chân đế hay đệ nhất
nghĩa đế). Đó là kinh nghiệm sắp đặt đầy thâm ý của
Bậc Đạo sư trải qua 45 năm hóa độ. Ta phải cẩn thận
lắm trong cách tu tập và hoằng pháp mới có thể nhìn nhau
bằng con mắt dung thông và quán triệt được.
Y
trí bất y thức
Có
lẽ ta sẽ rất khó chịu khi muốn biết Phật tính hay Niết
bàn là gì mà các thiền sư cứ trả lời, thoạt nghe tưởng
chừng như không đâu vào đâu - “uống trà đi”, “cây tùng
trước sân”… Thật sự thiền sư rất từ bi, không muốn
ta tiếp tục nuôi dưỡng sự lầm lẫn trong đời sống tu
tập. Các thiền sư thừa biết chúng ta đang đói khát sự
giác ngộ nhưng lại đòi những thức ăn kiến thức. Những
hiểu biết phân biệt nằm trong vòng đối đãi nhị nguyên
như tốt-xấu, tịnh-uế, tự do-ràng buộc… có thể làm cho
con đường tu tập của ta bị đóng kín lại giữa bốn bức
tường đồ sộ. Sự giam hãm của thế giới ý thức sẽ làm
cho chúng ta vô cảm với tự tánh của chính mình.
Sự
thật là khi uống trà bằng tất cả sự cẩn trọng của trái
tim, buông bỏ những gì chúng ta đang muốn nắm bắt xuống
thì ít ra ta cũng có cơ hội thưởng thức được một chén
trà ngon. Chính đó là lối vào sự giác ngộ. Chén trà ngon
là trải nghiệm của chính ta chứ không phải là kiến thức
của thiền sư trao cho. Thiền sư không thể giúp ta thưởng
thức được vị ngon của chén trà. Thiền sư chỉ có thể
giúp ta dừng bớt lại cuộc chạy đua ý thức.
Và
cây tùng vẫn đứng trước sân, mỗi ngày đi ngang qua ta có
thấy không? Nếu ta có mặt đồng thời với cây tùng, tiếp
xúc trọn vẹn với thực thể sống động đó mà không còn
lao xao đi tìm những định nghĩa về Phật tánh thì thực sự
ta đã nếm được mùi vị của nó. Phật tánh là bản tánh
nguyên thủy của ta. Ta có nó trước khi ta tu tập và ngay cả
trước khi ta ý thức về nó. Nhưng nếu ta muốn hiểu thì
lại càng không hiểu, còn khi ta đem hết con người của mình
ra để hòa nhập với sự sống tự nhiên mà không thèm quan
tâm đến hay tìm kiếm thì chân hiểu biết sẽ có mặt ngay
nơi ấy.
Nhưng
không sao, chúng ta cứ quan sát kỹ càng và học hỏi từ những
vấp váp sai lầm đó mà đừng tự ty mặc cảm, vì chính nó
là những viên đá lót đường tiến lên của chúng ta. Khi
tâm nhận biết trở nên tự nhiên và sáng tỏ, chúng ta kinh
nghiệm được những khoảnh khắc thuần khiết, buông xả
sự nhận biết của ý thức phân biệt đi ngang qua trong đời
sống thì trong những khoảnh khắc đó ta nhìn mọi việc với
một cái nhìn hoàn toàn mới. Nói cách khác là chúng ta bắt
đầu hiển lộ tuệ giác.
Có
được tuệ giác là có được hiểu biết một cách sâu sắc
những gì trước kia ta chỉ hiểu một cách hời hợt trên
bề mặt của ý thức. Một kinh nghiệm trực giác về chân
lý như vậy cũng sẽ có tác động sâu sắc đến công phu
tu tập và cả nhận thức về cuộc sống của chúng ta. Qua
đó, chúng ta mới thấy rằng những kinh nghiệm dẫn tới tuệ
giác được người khác diễn đạt lại và tuệ giác thực
sự của chính chúng ta là hai điều khác biệt nhau về căn
bản.
Tuy
nhiên nó chỉ xảy ra trong khoảnh khắc ngắn ngủi, chúng ta
cần phải tiếp tục nuôi dưỡng sự nhận biết sáng tỏ
và tự nhiên trong bất cứ lúc nào và nơi đâu bằng tất
cả khả năng của mình thì tuệ giác sẽ dần dần hiển lộ.
Điều này làm cho đức tin vào giáo pháp và ý chí quyết tâm
tu tập càng thêm tăng trưởng. Chúng ta phải luôn mở cánh
cửa cho những hiểu biết mới mẻ và sâu sắc đi tới mà
không tự hạn chế bằng thái độ thỏa mãn.
Để
được như vậy chúng ta phải cần có những văn bản kinh
điển tinh túy hay những hướng dẫn đúng đắn (văn tuệ)
từ những bậc thầy giỏi để sẵn sàng bước vào công trình
thực tập mà tiêu hóa những gì đã được hấp thụ (tư
tuệ). Những suy nghiệm sâu sắc từ sự chỉ dẫn sẽ thúc
đẩy chúng ta đi đến kinh nghiệm trực giác (tu tuệ).
Ta
phải khéo léo và cẩn thận để có thể sử dụng được
cả ba loại tuệ này một cách hài hòa và hữu hiệu cho công
trình chuyển hóa tâm thức mà không bị sống sượng. Tại
vì những kiến thức mà ta thu nhặt được vẫn còn hoạt
động ngấm ngầm bên dưới bề mặt ý thức và sẽ tác động
đến công trình nuôi dưỡng bản tâm tự nhiên và giác ngộ
của ta. Và những đợt sóng ý thức phân biệt vẫn luôn là
những thách thức, sẵn sàng đưa tâm ta trôi giạt vào đôi
bờ phân biệt đối đãi nhị nguyên, bờ của sự chia cắt
bởi vô minh.
Vì
vậy nếu ta không sử dụng con mắt bất nhị thì không thể
nào nhìn thấy được sự thật thâm ý trong bốn cặp y cứ
và bất y cứ trên. Bất nhị là tuy thấy hai cái như khác
biệt nhau, nhưng chúng có liên hệ mật thiết với nhau để
tồn tại. Nói cho cùng, ta vẫn phải nương tựa theo bốn điều
được cảnh báo đừng nên nương tựa ở trên, nếu trình
độ tu tập của chúng ta vẫn còn nhiều yếu kém và chưa
ổn định. Nhưng khi có những bước đi rõ ràng trong quá trình
chuyển hóa khổ đau và có nhiều năng lực hăm hở lao tới
chân trời giải thoát thì hãy mạnh dạn buông bỏ bốn điều
bất y cứ mà đi thẳng vào bốn điều y cứ. Có như thế
ta mới xứng danh là học trò của Đức Phật, người nối
thạnh dòng Thánh.
Minh
Niệm
11-10-2007
12:23:46