MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu
1-
Giới Thiệu Đại Cương
2-
Phật Quốc
3-
Phương Tiện
4-
Đệ Tử
5-
Bồ Tát
6-
Văn Thù Sư Lợi Thăm Bệnh
7-
Bất Tư Nghì
8-
Quán Chúng Sanh
9-
Phật Đạo
10-
Nhập Bất Nhị Pháp Môn
11-
Phật Hương Tích
12-
Bồ Tát Hạnh
13-
Thấy Phật A Súc
14-
Pháp Cúng Dường
15-
Chúc Lụy
Lời
giới thiệu
Chúng
sanh có bệnh nên tôi bệnh.
Câu
nói rất nổi tiếng của cư sĩ Duy-ma-cật, biểu thị sự
tương quan mật thiết giữa mình và người. Giáo lý đạo
Phật đặt nền tảng trên con người, lấy hạnh phúc con người
làm trung tâm điểm để phát huy lý tưởng Bồ-tát đạo.
Kinh “Những điều được nói từ Duy Ma Cật” (Duy Ma Cật
Sở Thuyết) thật ra là một buổi hội thảo thú vị, trong
đó các vị Bồ-tát, Thanh văn đã nêu lên ý kiến của mình
về sự nghiệp xây dựng con người, xây dựng cõi nước.
Lời kinh nghiêm túc, đôi lúc được phá nét bằng những thần
thông hý lộng. Giữa đôi hàng chữ, chúng ta vẫn đọc ra
được sự tha thiết cứu độ của các bậc giải thoát, đã
vươn đến cái tột cùng nhưng không quên chúng sanh.
Khung
cảnh pháp hội mở ra tại kinh thành Tỳ-da-ly (Vesali), một
tiểu quốc Ấn Độ nổi tiếng có nền cai trị dân chủ sớm
nhất thời ấy. Các vương tử thành Vesali, trang phục hào
hoa và sáng rỡ như thiên thần, cũng từng là những đề tài
nói chuyện của đức Phật. Nhưng ở đây chọn Vesali, một
thành phố trẻ để mở hội, vì ý kinh nhắm đến những
người trẻ tương lai, luôn luôn sẵn lòng, làm những mũi
nhọn tiền phong để kiến tạo thế giới.
Chúng
ta thấy sự có mặt của trưởng giả tử Bảo Tích và năm
trăm bè bạn. Với các vị thanh niên giàu có thông minh hiểu
sâu Phật pháp này, là mảnh đất tốt để gieo mầm Bồ-tát.
Tuổi thanh niên mong làm một cái gì đó lợi ích cho đời,
nên Bảo Tích đã hỏi đức Phật một câu quan trọng, đó
cũng là câu khơi mào cho cả các phần kinh sau.
- Bạch
Thế Tôn! Năm trăm trưởng giả tử này đều đã phát tâm
giác ngộ lớn, mong được nghe Phật dạy về các điều kiện
của một thế giới trong sáng an lạc.
Phải
chăng trong tận cùng tâm tưởng mỗi người, ai cũng nghĩ đến
làm cách nào cho cuộc đời này phát triển tốt đẹp hơn,
sung sướng tiện nghi hơn? Danh từ kinh gọi là: Tịnh Phật
quốc độ.
Hiện
tại chung quanh chúng ta vẫn có các vị Bồ-tát, tùy theo năng
lực của mình mà giúp ích đời. Những lớp học tình thương,
bếp ăn từ thiện, chương trình y tế về nông thôn... Mọi
người đồng hành trên mọi nẻo nhân gian, không nói ai là
Bồ-tát, nhưng lý tưởng này đã được đặt ra từ thuở
xưa. Chính đức Phật đã xác nhận “Tất cả chúng sanh là
cõi Phật của Bồ-tát”. Thiết lập sự tương quan mật thiết
giữa chúng sanh (người được cứu độ) và Bồ-tát (người
cứu độ) như một thực tế không thể chia cách. Làm an vui
mọi người là sự nghiệp của mình, ở đây làm sao nói đạo
Phật là tiêu cực, làm ngơ với cuộc đời?
Điều
đáng chú ý, Phật không nói về thành phố, quốc gia xây dựng
theo công nghiệp hiện đại, với những mô hình bề thế quy
mô. Phật chỉ dạy xây dựng một cõi tâm, tùy theo tâm thế
nào mà quốc gia hiện bóng dáng thế ấy. Giáo dục tâm linh
với những đức tính hiền thiện, chất trực, siêng năng…
là điều kiện hàng đầu để xây dựng thế giới bên ngoài.
Chúng ta thấy qua bài học lịch sử, những triều đại khởi
đầu khi tâm người lãnh đạo còn tinh khôi mạnh mẽ sáng
trưng, và triều đại dần đi vào diệt vong khi tâm của một
triều đình lúc ấy đã biến chất. Chính tâm là nguyên nhân
chủ yếu để xây dựng hay phá hủy. Tâm đưa con người đến
đất nước bình an, nói theo kinh điển là: Trực tâm là tịnh
độ, chúng sanh nào tâm ngay thẳng sẽ được ở cõi nước
ấy. Đức Phật đã dạy một số tâm cần thiết để tạo
nên cuộc sống và cảnh giới đẹp, trang nghiêm tương ứng,
rất khoa học, dù cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng không chứa
một chút nào huyền hoặc, xa rời cuộc sống hiện tại. Một
câu cũng rất nổi tiếng của đoạn này là lời kết của
Phật: “Bảo Tích này, Bồ-tát nếu muốn được cõi Phật
thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ tâm thanh tịnh
mà cõi Phật được thanh tịnh”.
Những
điều đức Phật dạy cho thanh niên con nhà giàu Bảo Tích
được xem như tiền đề khai mạc đại hội. Tinh thần chủ
đạo của phẩm mở đầu này rất quan trọng, chỉ vì tầm
vóc của Duy-ma-cật quá lớn nên đôi lúc chúng ta không lưu
tâm. Xưa nay, trong kinh văn Đại thừa, phẩm mở đầu là phẩm
nói lên toát yếu của toàn bộ kinh.
Duy-ma-cật
chưa xuất hiện, nhưng ông được giới thiệu như một nhân
vật cực kỳ ưu việt. Kinh dành riêng một phẩm để nói
về những đức tính, công hạnh, cuộc đời của ông, với
danh xưng ca ngợi không thua một vị Bồ-tát nào. Như các đại
Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền, Quan Âm được xưng tụng, ở
đây một cư sĩ tại gia thế tục sống hòa mình trong cộng
đồng, có gia quyến của cải thế lực kinh người, khi làm
kinh tế hay khi giải trí vui chơi, đều có khả năng thu hút
và giáo hóa. Ông sử dụng ảnh hưởng rộng lớn của mình
như một phương tiện đi vào đời, gần gũi mọi tầng lớp
từ đạo sĩ du tăng đến ca lâu kỹ viện, sống chung mà không
nhiễm, tìm cách giáo hóa đưa về đường lành.
Một
nhân vật như thế hẳn được nhiều người ái mộ. Để
tạo cơ hội gặp gỡ hơn nữa, ông giả vờ bệnh, nhân đó
mọi người lại đến thăm. Giữa tầng lớp quyền quý, trí
thức, vô số người trong xã hội ấy, ông trình bày một
cách quán sát thân thể, nhìn ngắm thân thể như một đối
tượng nghiên cứu để thấy rõ thực chất. Còn chúng ta,
ít khi có dịp thấy mình, hoặc có thấy cũng dưới lớp áo
trang điểm che mất sự thật. Phá được cái vỏ chấp thân,
tâm ta dễ hòa đồng với muôn người và phát triển nhiều
đức tính tốt làm lợi ích rộng lớn. Con đường Bồ-tát
bắt đầu từ chỗ phá ngã. Đó cũng là lý do Duy-ma-cật đưa
vấn đề này ra mổ xẻ đầu tiên.
Mười
vị đệ tử lớn nhất trong hàng Thanh văn và bốn vị trong
hàng Bồ-tát lần lượt trình bày những lần gặp gỡ với
Duy-ma-cật và bị ông “sửa lưng”. Thật ra đó là 14 đề
tài nhỏ mà kinh muốn gởi đến chúng ta, qua hình thức trình
bày như một kịch bản, có người tung hứng, các nhân vật
có người được người thua. Người thắng luôn luôn là Duy-ma-cật,
người thua là các đệ tử Phật. Có điều, người thua cuộc
kể lại chuyện mình thuần túy chỉ là kể lại, không phàn
nàn mà còn thán phục khen ngợi. Trong phần Bồ-tát Trì Thế,
có sự góp mặt của chúa Ma và 12.000 thiên nữ. Ma là tượng
trưng cho thế lực hắc ám, âm mưu bất chính. Bồ-tát vô
tình chẳng biết trò dối gạt, ma định đưa hết 12.000 thiên
nữ cho Bồ-tát làm người sai bảo. Duy-ma-cật xuất hiện
phá vỡ ý đồ của ma, và vô hiệu hóa mọi thế lực tăm
tối. Giáo hóa 12.000 cô tiên thành người tuyên truyền cho
Phật pháp, gọi là pháp môn “Vô tận đăng”. Dầu ở cung
ma mà thắp sáng đèn giác ngộ, Duy-ma-cật đã đẩy ngược
thế chủ động, ma bỗng thành người hiền.
Chỉ
nghe kể lại mà Duy-ma-cật đã có biện tài và uy lực như
thế, huống chi gặp gỡ. Bồ-tát Văn-thù là người hướng
dẫn phái đoàn đến nhà Duy-ma-cật. Cuộc gặp gỡ giữa hai
cao thủ đã làm bùng vỡ nền triết lý thượng thừa, ngay
từ đầu Duy-ma-cật đã chào Bồ-tát:
- Quý
hóa thay, ngài Văn-thù-sư-lợi mới đến! Tướng không đến
mà đến, tướng không thấy mà thấy!
Câu
nói báo hiệu một chân trời khác lạ sẽ mở ra, những suy
nghĩ thường tình, con mắt quen thấy những hình ảnh hạn
hẹp theo tầm hiểu biết nông cạn cũ kỹ sẽ bị một phen
bối rối, không thể hiểu. Bởi vì kinh này còn có tên là
“Bất khả tư nghì giải thoát” (Tạm dịch: Sự rộng mở
không thể suy nghĩ bàn luận). Chúng ta được đưa vào phương
trời xa lạ, bát ngát mà chỉ có các bậc thượng nhân mới
hiểu thấu. Có lẽ cũng nên một lần tham dự vào hội nghị
này, để những thành kiến về ta người, nam nữ, không gian
thời gian… không còn bó chặt tâm thức. Cũng như người
quen sống trong căn phòng nhỏ, ngọn đèn vàng vọt, một hôm
bỗng bước chân ra sân, một trời đầy ánh trăng ngập tràn,
chung quanh là không gian rộng mở, lòng thấy nhẹ nhõm, vui
sướng. Cởi mở rỗng rang, thành tựu được vô số đức
tính tốt đẹp, làm một con người cao lớn tột cùng (bậc
đại Bồ-tát) với tâm tư hạnh nguyện bao trùm muôn loài.
Đó là những vấn đề trao đổi, bàn bạc, thực hiện của
các đại sĩ, kể từ khi đến thăm Duy-ma-cật.
Tham
dự thảo luận nhiều nhất là ở phần “Vào pháp môn không
hai”. Duy-ma-cật đưa ra chủ đề: Thế nào là Bồ-tát vào
pháp môn không hai? Có 32 vị Bồ-tát đưa ra ý kiến chung quanh
các vấn đề tội phước, sanh diệt, tốt xấu, chánh tà…
để đến kết luận không thể phân chia tách rời. Sóng triều
khi đầy khi vơi, không thể chọn một bỏ một. Thái độ
chọn lựa, chia hai thường gây đau khổ, người mang tình thương
vào đời phải có thái độ trung dung không phê phán, thiên
lệch. Qua các cách trình bày chúng ta cũng thấy được chủ
đích của kinh nhắm đến, và tự nhìn lại mình, vì còn bận
bịu vướng mắc so đo, nên không thể nào vượt thoát tự
tại. Có lẽ để hình tượng hóa vấn đề “pháp môn không
hai” trước đó trong phẩm Bất Tư Nghì, Duy-ma-cật đã bưng
32.000 tòa ngồi của một thế giới xa xôi, về để trong phòng
thất của mình. Nhà ông trùm chứa 32.000 chỗ ngồi vẫn không
thấy hẹp, không ngăn ngại, cả khung thành Tỳ-da-ly không
bị lấn đất, và thiên hạ chung quanh không thấy có gì thay
đổi.
Đã
làm được việc đem cái lớn bỏ vào cái nhỏ, không ngăn
ngại giữa vật chất này và vật chất khác, nên khi bị hỏi
về “pháp môn không hai”, Duy-ma-cật làm thinh. Ngài Văn-thù
đã ngợi khen.
- Hay
thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới
thật là vào pháp môn không hai.
Một
nhà du hành vũ trụ trở về trái đất, khi được hỏi cảnh
giới ở tầng chân không ngoài quỹ đạo, sẽ không biết
trả lời sao cho được. Ở một nơi không có trọng lực,
mọi ý niệm về nặng nhẹ, dài ngắn, vuông tròn đều mất
hết. Ở đó cũng chẳng có ngày đêm sáng tối, vì không phải
là mặt đất để chịu sự chi phối của vòng quay quanh mặt
trời. Thế là thời gian cũng chẳng biết nói sao. Hai ý niệm
ràng buộc chúng ta nhiều như thời gian, không gian, kéo theo
là kỷ niệm, mơ ước, ưu tư… đều mất điểm tựa. Mọi
thứ diễn biến theo điều kiện khác, không có dòng sông trôi,
ngày nay ngày mai, thi sĩ làm sao nói:
Tôi
đứng bên này bờ dĩ vãng
Thương
về con nước ngại ngùng xuôi
....
Với
một người bình thường, cứ nghĩ đến việc leo lên máy
bay rời mặt đất là đã thấy sợ, làm sao nói chuyện bước
ra ngoài vũ trụ. Khoảng cách quá xa nên đối với vấn đề
này chỉ im lặng.
Bản
kinh Duy Ma Cật nằm trong chương trình giảng dạy cho trường
Phật Học Cơ Bản Đồng Nai. Nhân khi soạn giáo án cho các
ni sinh, tôi đã làm được một việc có lợi ích. Về sau
bổ túc và viết thêm lời giới thiệu, chọn tập tranh của
Hiểu Vân Sơn – Đài Loan làm phụ bản, cũng rất hứng thú.
Tôi nghĩ mình ngôn từ hạn hẹp không thể diễn tả được
hết ý thâm sâu của kinh, chỉ mong làm một món quà tặng
các ni sinh của trường.
Viên
Chiếu, cuối năm 2003
Thích
nữ Như Đức
Giới
Thiệu Đại Cương
1-
Nguyên nhân của Kinh
Duy-ma-cật
(Vimalakirti) là đệ tử tại gia của đức Phật và là trưởng
giả thành Tỳ-xá-ly (Vaisàli). Ông có khả năng thông hiểu
Phật pháp, thân chứng cảnh giới “bất khả tư nghì” nên
có nhiều đệ tử Phật không thể đối đáp với ông.
Khi đức Phật đến thành Tỳ-xá-ly, các vị trưởng giả
hào phú đến thăm Phật, vắng mặt Duy-ma-cật vì ông bệnh.
Nhân đó Phật bảo một số đệ tử lỗi lạc đến thăm
bệnh ông. Hầu hết các Ngài từ chối vì đã từng thua ông
trong khi biện luận yếu nghĩa Phật pháp. Cuối cùng Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi dẫn đầu thánh chúng đến nhà trưởng giả
Duy-ma-cật. Tại đây đã xảy ra vô số điều huyền nhiệm
vượt ngoài khả năng suy tư thông thường. Hai vị Bồ-tát,
một đại diện cho giới xuất gia, một đại diện cho giới
tại gia đã thi triển biện tài khai mở tâm tư cho một số
chúng về ý nghĩa tánh Không. Lời của các Ngài được xác
chứng như lời kinh, nên kinh này còn có tên “Duy Ma Cật Sở
Thuyết Kinh”.
2-
Tôn chỉ của Kinh
Kinh
Duy-ma-cật nêu cao tôn chỉ Đại thừa, đặc biệt nhấn mạnh
về Bồ-tát hạnh. Đứng trên lập trường tánh Không của
Bát-nhã để thuyết minh thế giới vô biên, trong đó
công hạnh của Bồ-tát cũng vô tận. Đó là một ước muốn
thanh tịnh hóa nhân gian, việc làm không dành riêng cho giới
xuất gia, mà cư sĩ cũng có bổn phận đảm trách.
Vì
kinh có mục đích xiển dương Đại thừa, hướng tới sự
cao rộng nên các hàng đệ tử Thanh văn của Phật trong kinh
trở thành đối tượng yếu kém. Điều này không xúc phạm
đến danh dự các Ngài, mà trái lại cho thấy sự thành tựu
về “ngã không”. Hiểu được ngụ ý đó, đức của Thanh
văn và đức của Bồ-tát đều được nêu cao.
3-
Vị trí của Kinh
Kinh Duy-ma-cật xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ nhất Tây
lịch, là một trong những bộ kinh Đại thừa thuộc hệ Bát-nhã
. Theo Ngũ thời phán giáo của Đại sư Thiên Thai Trí Giả
thì kinh này nằm vào thời thứ tư, đó là thời chuẩn bị
đưa giáo lý của Phật đến chỗ viên mãn và đưa tư tưởng
của đệ tử Phật thấu đạt chân lý tột cùng.
Tại
Ấn Độ, kinh rất thịnh hành và thường được trích dẫn
trong các bộ luận như luận Đại Trí Độ… Sang Trung Hoa,
phù hợp với tinh thần nhập thế hoạt động nên càng được
phổ thông lưu truyền.
4-
Phiên dịch
a-
Phạn – Hán
Tương
truyền có sáu bản, nhưng hiện chỉ có ba bản trong Đại
tạng. Ba nhà dịch:
Ngài
Chi Khiêm: Dịch vào các khoảng năm 222 - 253 TL nhằm đời Ngô
Tôn Quyền.
Ngài
La-thập: Dịch tại kinh đô Trường An, thời Dao Tần (thế
kỷ V TL).
Ngài
Huyền Trang: Dịch tại kinh đô Trường An, vào khoảng năm
650 TL, thời Đường.
b-
Hán – Việt
Phần
lớn các vị dịch giả Việt Nam chọn bản kinh ngài La-thập
làm chuẩn.
Các
bản dịch:
1-
Cư sĩ Đoàn Trung Còn
2-
Hòa thượng Huệ
Hưng
3-
Hòa thượng Trí Quang
4-
Sư trưởng Diệu Không
5-
Hòa thượng Duy
Lực
Các
bản dịch và chú giải:
1-
Hòa thượng
Thanh Từ
2-
Hòa thượng
Trí Quảng
3-
Thượng tọa Giới Hương
Đây
chỉ là những bản dịch và chú giải được tìm thấy.
Phật
Quốc
1-
Giới thiệu hội chúng
Phật
ở tại nước Tỳ-da-ly, vườn Am-la. Chúng Tỳ-kheo tám ngàn
người, chúng Bồ-tát ba vạn hai ngàn. Trong phần Giới thiệu
hội chúng, đặc biệt có đoạn mô tả các đặc tính của
chư Bồ-tát. Cho thấy rằng kinh Duy Ma Cật đặc biệt chú
trọng đến những người dự hội phải có những đức tính
như thế. Đó là những đức tính gì? Về tự thân các Ngài
đã thành tựu trí tuệ và hạnh nguyện, vĩnh viễn xa lìa
phiền não (triền cái), tâm thường an trú trong vô ngại giải
thoát, đầy đủ lục độ, thân tướng trang nghiêm, danh tiếng
vang xa. Về phần lợi tha, các Ngài nguyện làm người bạn
không mời thỉnh cho chúng sanh, hàng phục ma oán để Tam bảo
thạnh hành. Vì lợi ích chúng sanh mà thuyết pháp như sư tử
hống, ngôn âm vi diệu, rưới mưa pháp cam lồ khiến chúng
sanh thấu lý duyên khởi, đoạn dứt tà kiến. Biết rõ căn
cơ và tâm tư chúng sanh mà làm người dẫn đường qua biển
sanh tử. Biết bệnh chúng sanh mà làm bậc y vương, tùy bệnh
cho thuốc. Với đầy đủ công đức như thế, các Ngài thật
cần thiết cho chúng sanh, cho thế giới.
Phần
nói về công đức của các vị Bồ-tát cũng chính là nêu
đại ý của Kinh. Toàn bộ Kinh đều nhắm đến sự thành
tựu, khuyến khích sự thành tựu công hạnh lợi tha. Đưa
ra một mẫu người hoàn thiện tự thân và cũng làm cho người
khác hoàn thiện. Đó cũng chính là lý tưởng Đại thừa,
sống một đời sống lợi ích an lạc hòa hợp giải thoát.
Dù đang còn là phàm phu, hết thảy chúng ta đều ngưỡng mộ
các phẩm cách được nêu trong Kinh. Từ trong ý thức ngưỡng
mộ sẽ dẫn đến ý nguyện muốn mình được như thế. Đó
là tiền đề mà Kinh nêu ra.
2-
Cúng dường, tán thán
Trưởng
giả tử Bảo Tích cùng năm trăm bằng hữu, mỗi người cầm
một cây lọng quý dâng cúng lên đức Phật. Do oai thần của
Phật, tất cả lọng báu hợp lại thành một cái lọng lớn,
che khắp ba ngàn thế giới. Hết thảy ảnh tượng của thế
giới bao la đều hiện trong lọng, núi sông trời đất đền
đài, cả mười phương cõi Phật cũng đều hiện trong một
cái lọng ấy.
Đoạn
này ngụ ý chúng sanh dùng trăm ngàn thứ sai khác đến với
Phật, khi gặp Phật thì trăm ngàn thứ sai khác đều trở
nên một, “Đồng qui nhi thù đồ”, họp cái nhiều thành
cái một, họp tất cả cái riêng thành cái chung, trong cái
chung ấy dung thông cả mọi quốc độ, hàm chứa tất cả
mà không ngăn ngại nhau. Đó cũng là biểu thị uy lực của
Tâm, của sức dung chứa nhiệm mầu của Như Lai Tạng, bao
trùm che phủ và phát khởi mọi hiện tượng, mọi hiện tượng
không ra ngoài Tâm.
Trong
lời kệ tán Phật, ca ngợi Phật và Phật pháp. Trong Phật
pháp nói về chủ đề Ly nhị biên: có - không, thiện - ác…
các pháp do nhân duyên sanh, không người, không tạo tác, không
người thọ, nhưng nghiệp thiện ác không mất.
Thuyết
pháp bất hữu diệc bất vô
Dĩ
nhân duyên cố chư pháp sanh
Vô
ngã, vô tạo, vô thọ giả
Thiện
ác chi nghiệp diệc bất vong.
Lòng
từ bình đẳng của Phật không đối riêng ai, Phật dùng một
ngôn âm thuyết pháp mà mọi loài đều nghe đều nhận hiểu
riêng.
3-
Tịnh Phật quốc độ
Bảo
Tích thưa hỏi, xin muốn được nghe về quốc độ thanh tịnh
của Phật, về công hạnh làm nên tịnh độ của chư Bồ-tát.
Đây
cũng là điểm chính mà kinh Duy-ma muốn đề cập, là vấn
đề thiết yếu cho các vị Bồ-tát đương lai học hỏi.
Phật
dạy: Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ-tát. Bồ-tát
tùy theo chúng sanh được hóa độ, tùy theo chúng sanh được
điều phục, tùy theo chúng sanh thích hợp cõi nước thế nào
để được vào trí tuệ Phật… Như thế Bồ-tát thành lập
tịnh độ là vì căn cơ và nhu cầu của chúng sanh chớ không
phải riêng mình.
“Bồ-tát
thủ ư tịnh quốc, giai vi nhiêu ích chúng sanh”. Đó là ý
thứ nhất: Bồ-tát lấy chúng sanh làm công hạnh, không rời
bỏ chúng sanh, mà thành tựu được chúng sanh là thành tựu
được cõi nước tịnh độ, tức nhiên chú trọng về nhân
cách của người.
Ý
thứ hai: Tùy theo chúng sanh nhưng sợ e chúng ta nhầm lẫn,
rồi tùy theo luôn những tật xấu của chúng, nên ở đây
nêu ra một số điều kiện: Trực tâm là tịnh độ, thâm
tâm, Bồ-đề tâm… cho đến sáu độ, bốn vô lượng tâm,
bốn nhiếp pháp, ba mươi bảy phẩm trợ đạo… Có nghĩa
là tịnh độ ấy hoàn toàn đúng chánh pháp.
Hội
nhập lại thì giáo hóa chúng sanh đầy đủ các điều kiện
trên, đó gọi là thành tựu tịnh độ. Thuật ngữ thông dụng
của đoạn này là “tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh”.
Hễ tâm ấy thanh tịnh thì Phật độ thanh tịnh. Một lần
nữa nêu lên sự quan trọng của tâm.
Ngài
Xá-lợi-phất nghe dạy xong chợt nghi: Nếu như thế, chẳng
lẽ khi Thế Tôn còn là Bồ-tát tâm Ngài không được thanh
tịnh nên bây giờ cõi nước của Ngài bất tịnh thế này?
Đoạn này cũng là một cách diễn tả sự biến chuyển của
tâm rất thú vị, hứng khởi. Phật để cho Loa Kế Phạm Vương
trả lời. Trong con mắt của Phạm Vương thì cõi nước này
hoàn toàn thanh tịnh, nhưng trong con mắt của Xá-lợi-phất
thì cõi nước không thanh tịnh. Đó là “Cội nguồn cũng
bởi lòng người mà ra”.
Phật
hiện thần lực, ấn ngón chân xuống đất, lập tức cõi
nước này biến thành thất bảo trang nghiêm, đại chúng đều
hoan hỉ tán thán.
Một
phẩm này cũng đủ tóm thâu toàn bộ ý chỉ của Kinh.
Phương
Tiện
1-
Giới thiệu trưởng giả Duy-ma-cật
Ở
phẩm Phật Quốc giới thiệu những phương pháp để tạo
nên một cõi Phật thanh tịnh với hình ảnh cuối cùng là
đức Phật ấn ngón chân xuống mặt đất thì thế giới Ta-bà
hoàn toàn hiện ra hình tướng trang nghiêm thanh tịnh. Điều
đó khó thực hiện vì chỉ có Phật mới có khả năng như
thế. Đến phẩm này, giới thiệu một phương cách khác, gần
gũi hơn, đó là hình ảnh một cư sĩ tục gia nhưng có khả
năng của Bồ-tát. Phương tiện cũng có nghĩa là phương tiện
thiện xảo, những cách thức thực hiện đem đạo vào đời.
Trưởng
giả Duy-ma-cật được giới thiệu một cách trực tiếp với
những đức tính như sau:
- Đã
từng cúng dường vô lượng chư Phật, trồng sâu căn lành
(với ý nghĩa cúng dường chúng sanh tức cúng dường chư Phật
thì trưởng giả đã là bạn thiết ủng hộ chúng sanh, càng
ủng hộ chúng sanh thì căn lành càng sâu, chúng sanh là điều
kiện để cho gốc lành được nảy nở, chúng sanh là nhân
tố tạo nên tư cách của Bồ-tát theo đúng ý nghĩa của phẩm
một).
- Có
tất cả đức tính cần thiết của người sống giữa cuộc
đời: Được vô sanh nhẫn, biện tài vô ngại, sử dụng thần
thông như trò đùa, hàng phục các ma chướng oán tặc, đầy
đủ trí huệ, rành rẽ mọi phương tiện để hướng dẫn
người. Hiểu rõ tất cả tâm tư chúng sanh, biết căn cơ của
họ thuộc thành phần nào. Làm việc gì đều suy nghĩ chín
chắn theo quy củ của Phật, tâm lượng rộng lớn như biển.
Đưa
ra một mẫu người như trưởng giả Duy-ma-cật để chúng
ta thấy rằng những người cần thiết cho cuộc đời, hay
tự mình đi theo con đường cần thiết cho cuộc đời, nên
tự xét những điều kiện kể trên. Không phải chỉ cần
là bậc hào phú giàu có, nhưng phải là người tu sâu trong
pháp môn của Phật, có những đức tính rộng lớn (từ và
trí) mới dám làm việc này.
2-
Những phương cách để nhiếp phục người của trưởng
giả Duy-ma-cật
- Giàu
có để nhiếp phục người nghèo.
- Giữ
giới thanh tịnh để nhiếp phục người phá giới.
- Dùng
nhẫn nhục nhiếp sân giận.
- Dùng
tinh tấn nhiếp biếng lười.
- Dùng
nhất tâm nhiếp người loạn ý.
- Dùng
trí tuệ quyết định nhiếp phục kẻ ngu si.
Phật
giáo Đại thừa chủ trương nhiếp phục có nghĩa là thâu
nhiếp được lòng người, muốn vậy phải có những đức
tính mà người không có, nên Duy-ma-cật thực hiện lục độ:
Bố thí, … Đó là cách thứ nhất.
Cách
thứ hai, sống một đời tại gia cư sĩ nhưng trang nghiêm thanh
tịnh như Sa môn, tuy ở nhà mà không đắm trước, có vợ
con mà không bị dục nhiễm chi phối, có quyến thuộc mà không
bị ràng buộc. Có ăn mặc, cờ bạc vui chơi cũng chỉ tìm
cách độ người, đây là một tính cách đồng sự. Đồng
mà không bị hóa. Đi đến đâu là để làm lợi ích cho mọi
người, không vì đắm nhiễm lợi lạc hay vui chơi vô ích.
Người như ông, ở địa vị nào trong bốn thành phần thế
gian hay ở các bậc trời cũng luôn luôn làm người bậc nhất.
3-
Trưởng giả hiện bệnh
Trên
là giới thiệu tổng quát. Đến đây đứng về mặt thiết
thực. Muốn mọi người đến với mình, ông hiện bệnh. Vì
là người nổi tiếng nên mọi người đều đến thăm. Nhân
đó ông dùng chính thân mình để làm đề tài thuyết pháp.
…
“Này các vị! Thân này là vô thường, là không mạnh khỏe,
không có sức lực, không bền bỉ, là một pháp mau hoại,
không đáng tin”.
Một
vị cư sĩ giàu có đủ phước lực, mà phải có bệnh để
chứng tỏ các pháp là bại hoại, dù danh vọng, dù giàu có
cũng không thể qua được cửa ải của thân.
Phải
có cái nhìn đúng về thân, dù đang ở địa vị sung túc mới
giảng dạy được. Giả như nghèo túng ốm yếu mà kể khổ
về thân thì đó là chuyện đương nhiên.
Những
bất ổn của thân được nêu ra ở đây hoàn toàn đúng: Như
bọt nước, như sương mai, như sóng nắng, như bẹ chuối,
như huyễn, như bóng vang, như mây nổi…
Đứng
trên lập trường phá ngũ ấm thì trưởng giả đã thông suốt,
vì thấy rõ cơ chế cấu tạo của thân này, và thấy rõ mọi
khổ đau chấp chặt của chúng sanh đều phát sanh từ thân,
nên phá chấp về thân trước.
Đưa
đoạn này vào đây để thấy rằng giáo lý của Phật dạy
là một mạch thông suốt. Dù Đại thừa, Tiểu thừa, dù người
có biện tài thần thông vô ngại tới đâu, cũng phải thấy
được thân không thật, không bền, đó mới là căn bản giải
thoát.
Những
bài thuyết pháp về sau của Duy-ma-cật rất tinh vi, rất hùng
hồn, nhưng tất cả không thể xa rời bài thuyết pháp đầu
tiên đơn giản thiết thực này. Đó là điều chúng ta phải
lưu tâm. Đó cũng là cách để chúng ta phán đoán những giáo
điều ngoại lai về sau. Những lời dạy khoa trương hoa mỹ
đến đâu, mà thiếu cái gốc của Phật giáo “Ngũ ấm khổ
- không - vô ngã” đều được coi là ma thuyết.
Từ
cái thân hư giả đáng chán này khuyến khích lên một bước
là cầu, là mong được Phật thân. Phật thân tức pháp thân,
tức chỉ cho chân lý tuyệt đối. Đó là điều mà Duy-ma-cật
nhắm đến. “Phát tâm Vô thượng Bồ-đề là thành tựu
thân Phật”. Chủ đích của Kinh đã nói quá rõ qua câu này.
Đệ
Tử
ĐẠI
Ý TOÀN PHẨM
Điểm
chính của phẩm này là các đệ tử lớn của Phật như tôn
giả Xá-lợi-phất, tôn giả Ca-diếp… trình bày câu chuyện
đối đáp giữa các vị và ông Duy-ma-cật. Phật sai các vị
đến thăm bệnh trưởng giả, nhưng tất cả đều từ chối
không kham vì hầu hết đã bị chính trưởng giả thuyết pháp
chinh phục trong từng trường hợp riêng. Có phải trưởng
giả Duy-ma-cật là người tài giỏi cao ngạo? Và hàng Thanh
văn đệ tử Phật được xem như yếu kém?
Ở
đây chúng ta nên gác qua ý niệm hơn thua khi đọc phẩm này,
vì đó chỉ là suy nghĩ thường tình thế gian. Phật pháp có
một ý nghĩa cao rộng siêu việt. Mượn lời trưởng giả
Duy-ma-cật để bổ túc cho vấn đề được nêu ra hoàn thiện
hơn, để khai mở một khía cạnh phong phú mà từ trước chúng
ta chỉ quen nhìn một chiều. Đây là tính cách đả phá để
thành lập. Hai bên bổ túc cho nhau, hay nói đúng hơn đem quan
điểm Đại thừa để đẩy mạnh con đường Thanh văn đến
chỗ hoàn thiện đầy đủ, để khai phóng cách nhìn, không
bị gò bó trong một ước lệ nào cả.
1-
Tôn giả Xá-lợi-phất
Tôn
giả đang ngồi yên trong rừng, ngồi yên có thể là đang tĩnh
tọa, hay đang nhập định. Duy-ma-cật trình bày một quan niệm
khác về ý nghĩa ngồi yên: Không cần ngồi, và không hẳn
ngồi đã là yên. Đó là điểm mới mẻ tuy khó thực hiện.
Ở trong ba cõi mà tâm ý không dính trong ba cõi, không ra khỏi
Diệt định vẫn cử động oai nghi cũng được xem như nhập
định…
Chú
trọng về tâm mà không lệ thuộc vào thân, nghĩa là giữ
tâm không hướng ra hay hướng vào để tâm yên đó là ngồi
yên. Đối với các chỗ thấy nghe không bị động, không bị
lay chuyển - xem như đã xong đã vững - nhưng vẫn tu ba mươi
bảy phẩm trợ đạo… Ngồi yên như thế là vượt qua hai
bên, vượt cả động và tịnh, yên và không yên. Đó là ý
của Duy-ma-cật hay là một ý khác của Đại thừa Phật giáo
về tính ngồi yên.
2-
Tôn giả Mục-kiền-liên
Ngài
Mục-kiền-liên đang thuyết pháp cho cư sĩ, Duy-ma-cật đến
biện biệt về ý nghĩa của chư pháp và cách nói pháp. Trước
tiên nêu lên nguyên tắc “Phàm thuyết pháp nên như pháp mà
thuyết”, nghĩa là nói pháp phải nói được chỗ pháp chân
thật hay là tính tuyệt đối của pháp. Pháp lìa cả ngã,
nhân chúng sanh, thọ mạng, pháp thường vắng lặng vì diệt
các tướng, pháp lìa ngôn ngữ danh tự, pháp không hình tướng
như hư không, pháp không có tính cách sở hữu, vượt ra ngoài
đối đãi. Pháp như thế là pháp tánh, là bản tánh chân thật
thường nhiên, như thế làm sao nói bàn? Không người nói không
người nghe, nếu có nói thì cũng như người huyễn nói cho
người huyễn nghe. Đây là chỗ Duy-ma-cật muốn nhấn mạnh
chỗ sở đắc của ngài Mục-kiền-liên là thần thông, thần
thông ví như trò ảo thuật, Ngài sử dụng ảo thuật thì
chẳng có gì thiệt. Đề cập đến chân lý tột cùng thì
làm sao có pháp để nói.
3-
Tôn giả Đại Ca-diếp
Ngài
Đại Ca-diếp đi khất thực, nhân đó bị Duy-ma-cật chê Ngài
lòng từ bi không trùm khắp, còn bỏ nhà giàu mà xin nhà nghèo.
Ông nói về pháp bình đẳng và tính cách cao siêu của việc
khất thực. Khất thực là xin ăn để nuôi mạng sống, nhưng
phải là không ăn không thọ, xem thân này như xóm làng vô
chủ, gặp sáu trần mà không dính mắc mà thấy được lý
đạo, biết rõ các pháp vốn không sanh không diệt. Khi tâm
không dính mắc, không hạn cuộc vào chánh tà, bình đẳng
không hai thì nên ăn, nên đi khất thực.
Chúng
ta nghĩ ăn là việc bình thường, nhưng Duy-ma-cật nhân đó
đưa việc ăn uống lên một phương diện tuyệt đối, nhắc
đến một tính cách tha thiết “thấy các pháp bình đẳng”.
Các pháp bình đẳng không hai tướng là chủ đích mà Duy-ma-cật
dùng để biện luận với các hàng đệ tử Thanh văn của
Phật.
4-
Tôn giả Tu-bồ-đề
Ngài
Ca-diếp chuyên đến nhà nghèo khất thực, bị Duy-ma-cật chận
lại thuyết pháp. Đến phiên ngài Tu-bồ-đề, đến ngay nhà
trưởng giả khất thực cũng được nghe nói về sự bình
đẳng. Bình đẳng đối với tham sân si không lấy không bỏ,
bình đẳng giữa vô minh và giải thoát… bình đẳng giữa
đắc và không đắc, giữa thánh nhân và phàm phu. Nếu được
đến chỗ này nhìn tất cả với con mắt nhẹ nhàng. Tiến
thêm một bậc nữa, nếâu tôn giả không theo Phật pháp mà
theo ngoại đạo, tôn họ làm thầy, họ đọa tôn giả cũng
đọa, Ngài luôn ở trong phiền não mà lìa pháp thanh tịnh.
Người cúng dường tôn giả không gặp phước mà đọa ba
đường dữ… Chỗ này mới thật là mang nhiên, ai lại có
thể chọn một phương pháp trái nghịch như thế?
Tôn
giả Tu-bồ-đề còn sợ không dám cầm bát cơm do Duy-ma-cật
cúng. Nhưng trưởng giả đã nhắc: “Tất cả những điều
tôi nói như người huyễn thuật nói, người biến hóa nói
đâu có gì thật”. Tôn giả Tu-bồ-đề được Giải không
đệ nhất mà đến chỗ này còn phải lúng túng. Thật ra đó
là một cách trình bày về Tánh Không đệ nhất nghĩa.
5-
Tôn giả Phú-lâu-na
Tôn
giả được biệt danh là Thuyết pháp đệ nhất, khi thuyết
pháp cho các tân Tỳ-kheo đã bị Duy-ma-cật nhắc nhở – phải
quán sát tâm ý căn cơ người nghe, đừng đem pháp Tiểu thừa
chỉ dạy giống như đem biển cả nhét vào dấu chân trâu…
Và trưởng giả đã làm cho các Tỳ-kheo nhớ lại cội gốc
căn lành và phát tâm Bồ-đề. Điều này hàng Thanh văn làm
không được nên Phú-lâu-na tán thán.
6-
Tôn giả Ca-chiên-diên
Tôn
giả được gọi là Luận nghị đệ nhất, tức là người
bàn giải về những lời Phật dạy rất thấu đáo, có thể
giúp kẻ sơ cơ hiểu rõ hơn. Như thế, một hôm tôn giả diễn
giải ý nghĩa của vô thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt
thì gặp Duy-ma-cật đóng góp ý kiến.
Theo
ý Duy-ma-cật, tôn giả chưa diễn đạt được thật tướng
các pháp, nghĩa là chưa diễn đạt toàn thể mà chỉ nói được
một phần thôi. Lật ngược lại ý nghĩa của vô thường
là bất sanh bất diệt, sanh diệt chỉ là tướng vô thường
nhưng pháp thể không hề sanh diệt, diễn bày được như thế
mới thấu tận nguồn. Các ý nghĩa khác cũng thế. Các Tỳ-kheo
nghe Duy-ma-cật nói xong đều được tâm giải thoát.
7-
Tôn giả A-na-luật
Khi
bàn về Thiên nhãn, tôn giả bị Duy-ma-cật vấn nạn là chỗ
thấy của Thiên nhãn là hình tướng tạo tác. Hình tướng
tạo tác là do sự vận dụng của nhãn căn, vin theo tướng
trạng sự vật thì có cái thấy bị sanh diệt. Còn nếu không
phải tướng tạo tác thì nó thuộc phần vô vi, không hình
tướng thì thấy bằng gì?
Chỉ
có đức Phật mới thực hiện cái thấy chân thật không do
tạo tác và chẳng tạo tác.
8-
Tôn giả Ưu-ba-ly
Được
mệnh danh là Trì luật đệ nhất. Tôn giả đang giải quyết
vấn đề phạm tội của hai thầy Tỳ-kheo. Duy-ma-cật bảo
Ngài giải quyết đúng theo luật là làm tăng tội cho họ,
làm họ bất an thêm. Vì bản chất của tội không thật, tùy
tâm mà phát sanh, nếu tâm ô nhiễm thì đắc tội, nếu tâm
thanh tịnh, vô tư thì không tội. Nhìn về phương diện tâm
như thế thì tất cả chúng sanh đều có phần không cấu nhiễm
nên tùy trường hợp để kết tội. Tất cả pháp đều biến
thiên, đều trôi qua như mộng, đều là hình bóng phản chiếu,
nhìn như thế vọng tưởng sanh chỗ nào? Không vọng tưởng
thì tội không phát sanh, đó gọi là Trì luật đệ nhất.
9-
Tôn giả La-hầu-la
La-hầu-la
nói về lợi ích xuất gia cho các trưởng giả trẻ tuổi.
Duy-ma-cật bảo nói như thế không đúng. Phải thấy chỗ không
lợi, không công đức mới là pháp xuất gia vô vi. Còn thấy
lợi, thấy công đức là chỗ xuất gia hạn hẹp.
Xuất
gia là vượt ra khỏi mọi giới hạn biên tế, hay nói đúng
hơn là không còn kẹt vào nơi chốn nào, đó là xuất gia chân
thật. Theo ý Duy-ma-cật, xuất gia không phải là chỉ rời
bỏ một nơi chốn, mà thật sự là vượt qua năm đường,
ra khỏi bùn lầy dính mắc, không thấy có ngã sở, có thọ
nhận. Đó là khéo vượt, là lìa lỗi. Xuất gia cũng gọi
là phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Ý nghĩa xuất gia ở đây
không phải trên hình thức mà nằm ở chỗ nội tâm viễn
ly, dù cư sĩ tại gia cũng làm được. Đó là chủ ý của
kinh Duy Ma Cật.
10-
Tôn giả A-nan
A-nan
làm thị giả Phật, mang bình bát đi xin sữa về cho Phật
để trị bệnh. Bị Duy-ma-cật phản đối.
Thân
Phật là thân kim cang, các ác đã dứt, các điều lành đều
hội họp, làm sao có bệnh? Chuyển Luân Thánh Vương có chút
ít phước còn không bệnh huống gì Phật?
Câu
chuyện giữa tôn giả A-nan và Duy-ma-cật là vấn đề thắc
mắc muôn đời. Phật có bệnh thật hay không? Những lời
dạy về thân là nguồn khổ, gốc bệnh, không loại trừ một
hữu tình nào. Điều này vẫn đúng.
Nhưng
trên hết là cái nhìn về lý tánh tuyệt đối. Nếu thân Phật
là pháp thân thì không còn hạn cuộc ở sanh già bệnh chết,
không nằm trong vòng hữu vi. Thân như thế đã siêu việt mọi
ức tưởng, bệnh hay không bệnh chỉ là một cái nhìn.
Kết
thúc của phẩm này qua câu chuyện của mười vị đệ tử
lớn của Phật, ta thấy ý Kinh muốn trình bày một vấn đề
lớn: Dùng con mắt pháp tánh để đi suốt một vấn đề.
Những lời vấn nạn có khả năng giúp chúng ta vượt khỏi
vướng mắc về ngôn ngữ.
Bồ
Tát
1-
Bồ-tát Di-lặc
Bồ-tát
Di-lặc đã được thọ ký còn một đời sẽ thành Phật,
xem như nắm chắc quả vị Vô thượng Bồ-đề trong tay. Nhưng
vẫn còn kẽ hở qua câu vấn nạn của Duy-ma-cật. Một đời,
đời ấy là đời nào? Để đánh bật ý tưởng quả vị
Phật dựa vào thời gian mà có. Thành Phật ở đây không lệ
thuộc thời gian vì “tất cả chúng sinh đều thành Phật”.
Trên lý tánh bình đẳng, hễ ngài Di-lặc được quả Vô thượng
Bồ-đề thì tất cả chúng sanh cũng đều được quả ấy,
thế thọ ký dành cho riêng ai? Câu vấn nạn này không nhằm
làm khó dễ Bồ-tát Di-lặc, mà nhằm nâng cao tinh thần chúng
sanh, đặt chúng sanh ngang vào vị trí Bồ-tát và Phật. Phần
lặp đi lặp lại câu “… nếu Bồ-tát Di-lặc… tất cả
chúng sanh…” với mục đích nhấn mạnh âm hưởng đó.
Kế
đến, Duy-ma-cật nói Bồ-tát Di-lặc đừng đem pháp về Bồ-đề,
về Giác ngộ, về Bất thối chuyển mà dẫn dụ các thiên
tử, vì đối với pháp Vô thượng Bồ-đề không có gì để
phát tâm hay là lui sụt. Nghĩa là đã sẵn có tánh tướng
Bồ-đề nơi mọi sự vật, nơi mọi chúng sanh, cho đến trong
các pháp giả danh như huyễn cũng mang đầy tính giác ngộ.
Người đạt đạo nhìn đâu cũng trúng, người không đạt
đạo dù ở ngay trong đạo cũng lọt ra. Chỉ cần mở con mắt
thanh tịnh, con mắt tỉnh thức thì “Xúc mục là Bồ-đề”,
Thiền Lão thiền sư nói: “Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,
trăng trong mây bạc lộ toàn chơn” là vậy.
2-
Đồng tử Quang Nghiêm
Đồng
tử là đối với Phật, công hạnh của Bồ-tát chưa viên
mãn nên gọi là đồng tử.
Đồng
tử Quang Nghiêm gặp Duy-ma-cật trên đường vào thành Tỳ-da-ly,
có nghĩa là Duy-ma-cật đang ở ngoài thành, ngoài thành có
phải là đạo tràng không? Theo quan niệm thường thì đạo
tràng là một nơi trang nghiêm, ở vị thế tốt, được nhiều
người biết…
Để
trả lời câu hỏi: “Đạo tràng là nơi nào?”, Duy-ma-cật
nêu lên một số đức tính và hành động, thực hiện chúng
thì ở đâu cũng là đạo tràng. Thí dụ khi làm việc mệt
nhọc, nhưng mình nhẫn chịu không khởi lòng bực bội, thì
chính nơi làm việc ấy, chính tấm lòng ấy là đạo tràng.
Chúng ta cũng có thể hiểu đạo tràng là nơi đức Phật thành
Đạo, nơi Bồ-tát hành Đạo, vậy thì khi gặp việc khổ
đau, khi đối diện với người xấu trong tâm mình khởi được
những ý niệm Từ - Bi - Hỉ - Xả, ngay chính người việc
đó là đạo tràng. Ta như thế không cần chọn lựa. Duy-ma-cật
đã nêu lên “Các phiền não là đạo tràng” “Chúng sanh
là đạo tràng” cho đến “Tất cả pháp là đạo tràng”
“Ba cõi là đạo tràng”, vậy thì có gì ngoài đạo tràng,
ngay cả một hành động giở chân cất bước cũng đã đứng
tại đạo tràng.
Phần
Bồ-đề ở trước và phần Đạo tràng ở đây cùng nối
liền một ý. Bồ-đề là nói về người, đạo tràng là nói
về nơi chốn.
3-
Bồ-tát Trì Thế
Bồ-tát
đang ở trong thất tĩnh lặng, ma vương đem mười hai ngàn
thiên nữ đến đảnh lễ, Bồ-tát lại khởi tưởng là Đế
thích đến cúng dường. Đây cũng là bài học, mình tu hành
thanh tịnh dù có ai đến cũng đừng khởi tưởng, khởi tưởng
là lọt vào lưới ma.
Khi
Duy-ma-cật xuất hiện phá vỡ màn kịch, cũng là lúc để
chúng ta thấy lợi thế của cư sĩ, sống chung đụng với
mọi thành phần nên dễ dàng nhận diện, Bồ-tát thì thanh
tĩnh cách ly quá nên không rõ mặt thật của cuộc đời. Duy-ma-cật
mượn ma để giáo hóa ma, nên xin mười hai ngàn thiên nữ
rồi dạy Phật pháp cho, khiến trở về cung ma thắp sáng ngọn
đèn Vô Tận, lúc ấy ma hết còn là ma.
4-
Trưởng giả tử Thiện Đức
Trưởng
giả tử Thiện Đức được xếp vào trong phẩm Bồ-tát vì
ông đang thực hành một hạnh Bồ-tát, theo truyền thống gia
đình. Thực hiện một đại hội bố thí trong bảy ngày, theo
tuần tự từ Sa-môn - ngày thứ nhất - đến kẻ ăn xin - ngày
thứ bảy.
Nói
là cúng dường tất cả, nhưng chúng ta không biết là có gì
sai biệt giữa cách cho, đồ vật cho, cũng như tâm niệm xảy
ra bên trong của người cho kẻ nhận. Một đại thí hội như
thế có làm cho mọi người đều khởi tâm an vui, thí dụ
mình là người có mặt trong thành phần dự hội? Có lẽ sẽ
có nhiều vấn đề bàn cãi nên Duy-ma-cật khuyên trưởng giả
tử bố thí bằng cách cùng một lúc cúng dường tất cả
chúng sanh. Ấy là gì? Là khởi tâm tu tất cả pháp lành, được
tất cả trí huệ, phát khởi tất cả pháp hỗ trợ Phật
đạo… Thành tựu pháp thí như thế là vị Đại thí chủ.
So sánh giữa việc đem tiền của ra cho (mình là người ban
ơn) với việc kiên trì tu tập các pháp lành, việc sau khó
làm hơn.
Đoạn
cuối Duy-ma-cật đã đem xâu chuỗi anh lạc chia làm hai phần,
một phần cho kẻ ăn xin hạ tiện nhất, còn một phần dâng
lên đức Phật Nan Thắng. Nan thắng và tối hạ: Bình đẳng.
Rồi những kẻ ăn xin đều phát tâm đến quả Vô thượng
Bồ-đề, điều này chứng minh cho ý nghĩa bình đẳng trên.
Văn
Thù Sư Lợi Thăm Bệnh
1-
Hai vị Đại sĩ gặp nhau
Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi tượng trưng cho đại trí huệ, trí huệ lớn,
trí huệ thông suốt mọi vấn đề, như thế đủ tư cách
đến thăm. Tất cả những vấn đáp trước để chuẩn bị
cho phần này, nghi thức rất quan trọng, không phải là chuyện
đi thăm bệnh thường. Đến nhà trưởng giả có tám ngàn
vị Bồ-tát, năm trăm vị Thanh văn và trăm ngàn trời người,
cuộc thăm bệnh trở thành cuộc dự hội thuyết pháp.
Để
ứng tiếp, Duy-ma-cật đã làm cho cái thất của mình trở
nên trống không, dùng không để tiếp hết thảy đại chúng.
Gặp nhau, ngài Văn-thù chưa kịp hỏi, Duy-ma đã nói trước,
ý rằng Ngài dùng tướng chẳng đến, tướng chẳng thấy
mà đến thăm tôi thì không thực có gì là đến là thăm.
Đó là đầu mối của tất cả giáo lý Đại thừa, giáo lý
tánh không duyên khởi như huyễn. Ngài Văn-thù xác nhận không
có tướng đến đi, dùng không tướng này để vào không thất
nọ, dù cho trong thất có vật đi nữa đối với Ngài cũng
chẳng dính vì chỗ có thể thấy lại là chẳng thể thấy
(sở khả kiến giả cánh bất khả kiến).
2-
Nguyên nhân bệnh
-
Bệnh từ đâu sanh? Từ si ái sanh. Trong mười hai nhân duyên
si là nhân quá khứ, ái là nhân hiện tại, như thế si ái
là gốc của sanh tử tiếp nối, si ái là căn bệnh gốc của
mọi thứ bệnh, chấp nhận sanh tử là chấp nhận bệnh, đã
mang hình thức sanh tử là mang bệnh, sanh tử là bệnh lớn
của tất cả chúng sanh.
- Bệnh
đã bao lâu? Bệnh đồng thời với chúng sanh. Có ta có người
là có bệnh. Chúng sanh đây cũng có thể hiểu là những chúng
sanh vọng niệm trong chân tâm ta, những bụi mù lăng xăng giữa
hư không, là hoa đốm chợt sanh khi mắt nhặm. Khi ta bệnh,
ta thấy có hoa đốm, hoa đốm kéo theo những cơn bệnh triền
miên, bệnh không có thời khởi và thời diệt, vì như chiêm
bao không biết khởi từ đâu và tắt bao giờ. Chỉ vì mình
hốt nhiên chợt khởi. Bồ-tát thấy bệnh như cơn mộng, khi
đã thấy rõ bản chất của bệnh cũng là biết cách trị
rồi. Nên ở đây không hỏi thăm uống thuốc gì? Đi bác sĩ
nào?
- Chừng
nào hết bệnh? Khi nào chúng sanh hết bệnh. Kèm theo các bệnh
của Bồ-tát là do lòng đại bi, vậy là không khi nào Bồ-tát
hết bệnh, bởi lòng đại bi vô tận, chúng sanh còn bệnh
là Bồ-tát còn vào trong sanh tử.
Bệnh
chỉ là một trạng thái, một hình tướng không thật, chỉ
có “không thất” thì trạm nhiên thường trụ vì “không
thất” không một vật, không hình tướng. Cái giường bệnh
nằm trong thất ấy, hình tướng bệnh nằm trong cái không
ấy, đó là chỗ dụng ý.
Khi
Bồ-tát Văn-thù hỏi về cái thất tại sao không. Chỗ không
là chỗ vắng lặng chẳng còn phiền não bệnh tưởng, chỗ
đó phù hợp với cảnh giới Phật, nên Duy-ma-cật trả lời
ngay là thất tôi cũng như một cảnh giới Phật vậy. Cái
không ấy tự bản thể là không, chẳng phải do tạo tác,
cũng chẳng phải là không của cái có, chẳng phải do phân
biệt sinh. Một cái thất không mà đầy lời thuyết pháp hùng
hồn. “Không” tìm ở đâu? Tìm trong sáu mươi hai kiến chấp,
tức là tìm trong chỗ phân biệt chia chẻ vọng động tà kiến
ấy. Sáu mươi hai kiến chấp tìm ở đâu? Tìm trong chỗ giải
thoát của chư Phật… Dẫn quanh từ tà đến chánh, từ chánh
qua tà, trộn đi trộn lại để thấy chỗ không thể chia chẻ,
không thể phân biệt. Mỗi đoạn mỗi đoạn đều có câu
trả lời đầy đủ ý nghĩa.
Hỏi
vì sao không có thị giả? Thị giả hoặc là người hầu cận,
tiểu đồng bưng trà nước. Duy-ma-cật dùng chúng ma và các
ngoại đạo để làm người giúp việc, chứng tỏ khả năng
siêu việt hơn nó, không bị chúng sai sử mà ngược lại điều
khiển được chúng – dù đang bệnh. Một mặt khác ma và
ngoại đạo là những con bệnh rất nặng, mình thấy chúng
bệnh mà tự cảnh tỉnh, chúng cũng có ích cho mình lắm. Duy-ma-cật
nói chúng ma ưa sanh tử, Bồ-tát thì đối với sanh tử không
ưa không ghét (bất xả); ngoại đạo bị lay động bởi các
kiến chấp thường đoạn, biên vô biên… dính mắc vào đó,
không ra khỏi sự hí luận của ngôn từ, Bồ-tát thì biết
các kiến chấp mà không bị lay động, biết để đối trị
và vượt qua. Bồ-tát đối với ma và ngoại đạo vũ lộng
uy thế của mình.
-
Tướng trạng của bệnh ra sao? Không có hình tướng không
thể thấy. Đã là bệnh thì không thật, không có hình tướng
cố định. Nhưng nói không thể thấy, e rằng bệnh thuộc
về tâm nên hỏi tiếp: Bệnh hợp với thân hay hợp với tâm.
Trả lời Không hợp với thân vì thân là tướng ly. Trong thân
không
có cái nào đứng yên chỗ, luôn lìa bỏ, luôn đi tới, luôn
vô thường, tế bào ly, mạch máu cũng ly, gân mạch đều tích
tắc chuyển đổi… vậy thì bệnh đó gá vô chỗ nào? Không
hợp với tâm vì tâm như huyễn ảo, tâm là những bóng mờ
không thật (vọng tâm) bệnh cũng chẳng gá vào được. Thấy
thấu đáo như vậy thì chỉ kết luận một câu “Vì chúng
sanh có bệnh từ tứ đại, nên tôi cũng bệnh”.
3-
Cách đối trị bệnh
a-
Phần của người thăm bệnh
Đến
thăm bệnh, nên nhân lúc thân bệnh khổ mà nói về lý vô
thường, vô ngã, đó là lúc dễ cảm nhận, nhưng không nói
sự chán ghét thân, yêu thích Niết-bàn tịch diệt. Cần phấn
khởi để làm việc nhiều hơn, giáo hóa chúng sanh nhiều hơn,
nhân bệnh mình thương bệnh người, khởi tâm làm lợi lạc
chúng sanh. Lấy kinh nghiệm của mình để biết rằng khi người
đau cũng khổ như vậy, thế thì bệnh là một bài học, một
lần mài dũa cho thân tâm, chớ không phải bệnh là bi quan
chán đời.
Tóm
lại, Bồ-tát thăm bệnh bằng cách khuyến khích người bệnh
phát khởi hai tâm:
Một là tinh tấn hơn.
Hai là phát nguyện làm bậc Y vương cứu người.
b-
Phần bệnh nhân
Bồ-tát
Văn-thù hỏi: “Bồ-tát khi có bệnh phải làm sao để điều
phục tâm?”
Duy-ma
đáp: Bồ-tát phải nghĩ rằng bệnh này do vọng tưởng điên
đảo nhiều đời mà sanh. Không đổ lỗi cho ai, quán kỹ gốc
bệnh của mình đều từ mọi thứ phiền não vọng tưởng.
Đã là vọng tưởng thì không thật có, không có người thọ
bệnh. Vậy thì ai khổ? Không có chủ nhân để thọ nhận
cái khổ của bệnh.
Nếu
cho tứ đại là ta thì khi tứ đại bệnh ta cảm thấy ta bị
bệnh. Nhưng tứ đại chỉ tạm hợp, ta chỉ là một ảo tưởng
chấp Ngã. Mọi thứ bệnh đều từ nơi chấp ngã, vì yêu
thích Ngã nên bệnh. Trừ bỏ ảo tưởng về ta và người,
khởi lên tưởng về pháp. Biết các pháp khi khởi khi diệt
chỉ là tự thân của chúng, không liên quan đến nhau, cũng
không liên quan đến ta, đó là trừ được mọi suy tư về
đối tượng và chủ thể. Khi trừ được chúng, bước vào
cảnh giới bình đẳng, không thấy có cái bệnh và cái không
bệnh, tuy vậy vẫn phải còn chừa một cái, đó là “Vô
sở thọ” để cảm nhận tất cả.
Trên
là dùng lý quán để điều phục bệnh, tiếp theo là dùng
bi quán. Ta đã điều phục được chính mình nên thương tưởng
tất cả chúng sanh trong đường ác mà điều phục cho họ.
Vì dứt gốc bệnh mà dạy họ dứt gốc bệnh. Gốc bệnh
phát khởi từ chỗ vin bắt đeo níu tất cả cảnh và người,
tất cả hình danh sắc tướng và tư duy. Dùng Vô sở đắc
để lìa mọi phan duyên. Như thế hai vị thuốc “Vô sở thọ”
và “Vô sở đắc” là diệu dược để trị bệnh.
Để
nối với ý “Vì chúng sanh bệnh nên Bồ-tát bệnh” ở trước,
đây dạy quán tiếp về cách giải bệnh cho chúng sanh. Bồ-tát
đối với chúng sanh phải khởi tâm đại bi, thấy chúng sanh
bệnh như chính mình bệnh, nhưng sợ rằng tâm đại bi dễ
làm đắm nhiễm, gọi là “ái kiến đại bi”. Ái kiến bi
là thấy có người bệnh thiệt và có mình cứu thiệt, như
thế thiết lập tương quan giữa mình và người dễ sanh phiền
não. Từ đại bi phát khởi phiền não gọi là ái kiến bi,
cái này phải trừ bỏ. Nếu bị ràng buộc bởi chúng sanh
thì mình trở lại bị buộc ràng, đối với sanh tử sanh chán
ngán, không thể thực hành Bồ-tát hạnh. Đây cũng là một
loại bệnh cần điều phục.
Nêu
lên một loại bệnh khác của Bồ-tát, đó là tham đắm vị
thiền. Bồ-tát không bệnh như phàm phu, mà còn kẹt trong pháp
vị cũng là bệnh, nên sanh khởi phương tiện để thoát ra.
Phương tiện ấy gọi là phương tiện huệ. Nếu Bồ-tát dùng
tâm ái kiến để giáo hóa chúng sanh, tự dùng Không, Vô tướng,
Vô tác tự điều phục, đó là không có phương tiện huệ.
Bồ-tát không dùng tâm ái kiến độ chúng sanh. Đối với
Không, Vô tướng, Vô tác chẳng nhàm mỏi, là có phương tiện
huệ. Bồ-tát ở trong tham, sân, si mà gieo trồng công đức
nghĩa là phụng sự chúng sanh mà nổi tham, sân, si lên, đó
là không có huệ phương tiện. Phải lìa tham sân si để khởi
Phật sự. Những cách này cho thấy đi vào con đường Bồ-tát
hạnh phải ứng dụng trí huệ vào hàng đầu, bi trí song hành
thì mới mong độ chúng. Bồ-tát thiếu bi trí sẽ là con bệnh
nặng, nên Phật dạy “Nếu mình bị trói thì không thể mở
trói cho người”.
4-
Bồ-tát hạnh
Trong
phẩm thăm bệnh đề cập đến Bồ-tát hạnh, vì Bồ-tát
hạnh là mục đích mà kinh này nhắm đến. Đem một việc
hết sức bình thường trong cuộc sống để chuyển thành đề
tài bàn thảo về phương tiện vào đời của Bồ-tát. Phương
tiện vào đời ấáy là việc làm, công hạnh, là pháp tu mà
chúng ta phải áp dụng. Cho nên ở phần này nói về việc
Bồ-tát tự giải bệnh cho mình cũng như sống với chúng sanh
sao cho đừng chuốc bệnh vào người.
Bồ-tát
phải thực hành trung đạo, lìa cả hai bên phàm và thánh,
dùng phương tiện điều phục tâm như tất cả việc vừa
nêu, điều phục rồi không trụ trong đó, cũng không rơi vào
tình trạng dao động, nghĩa là lúc nào cũng vượt qua, không
đứng dừng ở một giai đoạn nào. Kinh nói “Trụ nơi tâm
không điều phục (tâm buông lung) là phàm phu, còn trụ nơi
tâm điều phục (có tu chứng) là Thanh văn”. Biết rõ tâm
tánh như hư không, phiền não dấy khởi nên tạm điều phục,
không thấy có điều phục thiệt nên an ổn tự tại. Đó
là hạnh Bồ-tát.
Khả
năng của Bồ-tát rất lớn có thể ở trong sanh tử hoặc
Niết-bàn, không kẹt ở bên cấu bên tịnh vì cái thấy của
các vị siêu vượt cả hai. Bồ-tát là người thông suốt
cả lý kinh, thông thuộc Phật đạo nhưng đi vào đường tà
để hóa độ, tuy gần gũi chúng sanh mà không ái trước, tuy
thích xa lìa nhưng không để cho thân tâm khô kiệt… những
hạnh của Bồ-tát cho thấy sự toàn vẹn về mọi mặt. Con
đường hành động của Bồ-tát là con đường lý tưởng,
là con đường của những người nắm được quy luật của
cuộc chơi, người thong dong xử sự, người có khả năng đi
vào cảnh giới giải thoát nhưng không bao giờ bỏ chúng sanh.
Những điều nêu ra trong phần nói về Bồ-tát hạnh gợi cho
chúng ta một sự phản tỉnh, muốn độ đời liệu mình có
những đức tính ấy chăng?
Bất
Tư Nghì
1-
Cầu pháp chẳng cầu tòa
Cái
thất không của Duy-ma-cật để tượng trưng cho chỗ “ưng
vô sở trụ” vì thế không có chỗ để ngồi. Còn có chỗ
để ngồi là còn có vị trí, có vị trí sẽ có cao thấp,
mất tính cách bình đẳng. Tìm tòa ngồi cũng như mình tu mà
mong đạt một quả vị, một chỗ nào đó trong thứ bậc của
Phật pháp. Đó là đại ý những lời biện luận của Duy-ma-cật
đối với ngài Xá-lợi-phất.
Nhân
giả vì pháp mà đến hay vì ghế ngồi mà đến?
…
Nếu
là người vì pháp thì không nghĩ đến thân mạng, vì nghĩ
đến thân thì mới cầu một vị trí khả xứng, không quý
thân nên chẳng cầu chỗ đứng ngồi. Ở đâu cũng là trong
pháp tánh cả, đôi khi vì vị trí mà quên mất pháp tánh.
Thế nên các bậc Đại Hòa thượng đôi lúc đi làm kẻ ăn
xin, từ bỏ ngôi vị tôn quý trong chùa để ở dưới gầm
cầu…
Pháp
là thể Chơn như, là lý tánh tuyệt đối không phải là pháp
của năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới… chẳng phải
là pháp hạn cuộc trong ba cõi, vượt ra khỏi hình thức đối
đãi nên người cầu pháp chớ kẹt trong tình lượng.
Người
cầu pháp không bị kẹt vào Phật, Pháp và Tăng vì đó chỉ
là sự thể hiện của lý tánh. Đắm vào Phật thì dính vào
hình ảnh, danh từ chưa thể gỡ bỏ được. Kinh Kim Cang, Phật
dạy:
“Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai”.
Người
cầu pháp cũng không đi theo đường Tứ đế dù cho đó là
chân lý do đức Phật nói ra. Không cần phải thấy khổ, dứt
tập, tu đạo, chứng diệt vì đó cũng chỉ là vị trí tạm
thời của Thanh văn.
Tóm
lại pháp là tịch diệt, vắng lặng vượt ngôn ngữ tư duy
và mọi hình thức, có tâm cầu là còn khởi ý niệm tư duy,
không sống được với pháp thể. Pháp không nhiễm trước
cho rằng có Niết-bàn là vị trí tối cao cũng là hình thức
nhiễm trước không phù hợp với pháp. Pháp không có chỗ
thực hành, nếu cho rằng có pháp môn để thực hành, cũng
không đúng với ý nghĩa cầu pháp. Từ pháp môn này so với
pháp môn kia, sanh kỳ thị hơn kém, thế gọi là kẹt ở chỗ
thực hành, không thấu được pháp thể. Pháp không có nắm
giữ hay buông bỏ, pháp không có chỗ nơi, pháp không hình
tướng… pháp không thể dùng kiến văn giác tri để nắm
bắt. Pháp là Vô vi, tất cả những hành động nắm buông,
nhìn ngó… đều là Hữu vi không thể nào nắm được Chơn
pháp.
Ở
trong chỗ không thể cầu mà khởi một niệm - như ngài Xá-lợi-phất
khởi niệm tìm ghế ngồi - là đã không thấy được pháp
thể, cho nên Duy-ma-cật nhân đó đưa ra nguyên tắc “Đối
với tất cả pháp nên không có chỗ cầu”.
Nếu
không một niệm mới thật tìm,
Còn
có tâm tìm toàn chẳng biết.
Chỗ
thật pháp không dung một niệm, phải buông hết tất cả mới
tương ưng.
2-
Tòa Sư tử
Biện
luận trên lý thể, nếu không bày tỏ sức thần thông diệu
dụng dễ rơi vào chỗ cực đoan, chỉ nói suông mà không cho
thấy hùng lực của thật pháp. Vì thế đến đây Duy-ma-cật
trở lại việc tìm tòa ngồi. Ông hỏi Bồ-tát Văn-thù cõi
nước nào có tòa ngồi tốt đẹp bậc nhất. Được trả
lời rằng ở cõi nước Tu Di Tướng có tòa sư tử cao lớn
trang nghiêm, ông vận thần thông khiến ba vạn hai ngàn tòa
sư tử đều hiện ở trong thất mình, như thế không thấy
chật và cả cõi nước, đô thành cũng không cảm thấy bị
ép ngặt. Cái thất của Duy-ma-cật chỉ rộng khoảng 4m2 mà
dung chứa mấy trăm ngàn trời người, rồi thêm mấy chục
ngàn tòa ngồi, tòa nào cũng cao lớn đến bốn muôn hai ngàn
do tuần (42.000 do tuần # 84.000 cây số), vẫn thấy thong thả.
Duy-ma-cật chẳng phải ra sức vận chuyển hay trang hoàng, tòa
ngồi tự có. Những việc này đều chỉ do sức diệu dụng,
hoạt dụng tự nhiên khi đạt đến chỗ thấu suốt lý tánh,
sống với tâm ấy thì mọi sự có đủ, như ta vốn sẵn đủ
từ xưa nay.
Vô
nhất vật trung vô tận tạng
Hữu
hoa hữu nguyệt hữu lâu đài.
Chỗ
“bản lai vô nhất vật” mà Lục Tổ nói đến, trong đó
có cả kho tàng vô tận có hoa, có trăng và chứa đựng cả
đền đài lầu các. Một đoạn kinh này cũng mô tả ý ấy.
Tòa
ngồi cao rộng, Duy-ma-cật mời các đại Bồ-tát hiện thân
cao bằng tòa rồi mới ngồi. Tòa và thân tương ưng nhau, tâm
và cảnh xứng hợp, cảnh to lớn thì tâm cũng bao trùm. Xá-lợi-phất
và các hàng bậc trung vì tâm chưa đạt mức viên dung vô ngại
nên không thể lên tòa cao, cần phải đảnh lễ đức Phật
Tu Di Đăng Vương. Đảnh lễ là quy mạng hướng về tức đem
tâm nhỏ hẹp hướng về nơi cao rộng, tức có thể ngồi
tòa này.
3-
Bất tư nghì giải thoát
Nhân
Xá-lợi-phất khen ngợi việc chưa từng có, Duy-ma-cật bèn
giới thiệu sức giải thoát bất tư nghì của chư Phật và
Bồ-tát. Chúng ta không giải thoát vì còn vướng mắc vào
hình tướng, vào sự phân chia, vào thời gian không gian…
Ở
đoạn kinh này giới thiệu sức giải thoát vượt ra khỏi
hạn cuộc của hình tướng, của mọi ý niệm phân chia…
bằng các ví dụ sau: Đem núi lớn nhét vào trong hạt cải,
một vật thật nhỏ mà dung chứa cả ngọn núi trong lòng,
không thấy bức bách. Đưa bốn biển lớn vào trong một lỗ
chân lông mà nước biển không giảm sút. Lớn thật lớn,
nhỏ thật nhỏ, chỉ là hình thức đối đãi, các vật chất
đều phô bày hình tướng của chúng khác nhau. Nếu không kẹt
vào tướng ấy, chúng ta có sức giải thoát, nên kinh mới
cho đem vật lớn vào vật nhỏ. Ngày nay, một hạt nguyên tử
có sức nổ lớn, khoa học có thể chứng minh điều đó.
Bồ-tát
được sức giải thoát, có thể ngắt lấy tam thiên đại
thiên thế giới như người thợ gốm nắm một cục đất
sét. Thế giới của chúng ta thấy là to rộng, nhưng nhìn trong
thế giới loài kiến, mối thì chúng cũng thấy thế giới
của chúng là tam thiên đại thiên. Vậy thì phân biệt không
có lý do tồn tại, không gian tùy quan niệm của đương sự.
Tiếp
đến là giải thoát về thời gian. Dài hay ngắn, bảy ngày
làm một kiếp, một kiếp rút lại làm bảy ngày là khả năng
của Bồ-tát. Thật ra thời gian dài ngắn cũng là tương đối,
tùy môi trường ánh sáng, tùy vòng quay của hành tinh. Thấu
rõ những điều kiện này, chúng ta vượt qua giới hạn của
thời gian.
Khả
năng tập trung và khả năng phân bố, khả năng tự tại với
sức gió sức lửa, khả năng tung hoành trong tất cả các phương
sở nơi chốn, khả năng hiện các thân hình, biến các âm
thanh… Những điều này nói về sức giải thoát đối với
tứ đại, với các khoảng cách xa gần, với tất cả số
nhiều không thể tính kể, đều là sự diệu dụng. Người
thông đạt bản chất các pháp như nhà nghiên cứu nắm một
số bí quyết kỹ thuật, có thể làm tất cả những gì mình
muốn. Trong phạm vi vật chất còn tạo được vô số thần
thông, huống chi trên tâm thể không ngăn ngại, tâm thể rộng
lớn không bờ mé thì tất cả biến hiện chỉ là bọt nổi.
Hiểu
được ý này nên ngài Đại Ca-diếp hết lời khen ngợi pháp
giải thoát bất tư nghì và khuyến khích đại chúng hướng
về tâm Bồ-đề Vô thượng. Thanh văn nghe pháp này nên khóc
rống lên, Bồ-tát nên hoan hỷ vui mừng, vì Thanh văn không
hiểu được ý vi diệu, còn Bồ-tát thì thấu hiểu sức đại
tự tại của chính mình.
Duy-ma-cật
nói thêm, người trụ sức giải thoát bất tư nghì thường
hiện làm Ma vương để thử thách, vì có thế lực mạnh nên
hiện các sự bức bách khiến cho tâm hành giả thêm kiên cố.
Nếu vượt qua được thử thách này thì mới trụ vào sức
giải thoát bất tư nghì. Vì giải thoát này không phải là
giải thoát bình thường mà là một sự chấn động lớn,
sức giải thoát vi diệu cởi toang mọi ràng buộc rối rắm
từ vô minh, từ tận trong hang sâu thẳm của mê mờ.
Quán
Chúng Sanh
1-
Bồ-tát vào đời
Phẩm
Quán Chúng Sanh tiếp theo sau phẩm Bất Tư Nghì, có nghĩa là
Bồ-tát khi đã được pháp môn Giải thoát bất tư nghì, đã
thành tựu khả năng giải thoát cho mình cùng tất cả khả
năng biến hiện tự tại, không phải để thọ hưởng những
phép lạ ấy, mà sử dụng chúng như phương tiện đi vào cuộc
đời, tiếp cận với chúng sanh, làm người bạn giúp đỡ,
người cần thiết cho chúng sanh. Bồ-tát phải từ bỏ cảnh
giới Giải thoát mà ở trong cảnh giới khổ đau, ở với
tất cả chúng sanh đang bị vướng bị kẹt, giúp họ đạt
giải thoát như mình. Cảnh giới của chúng sanh đa dạng, nên
Bồ-tát phải có con mắt và phương cách làm việc đúng đạo
lý.
a-
Mắt trí tuệ
Bồ-tát
Văn-thù hỏi Duy-ma-cật:
- Bồ-tát
quán chúng sanh như thế nào? Tức là hỏi về cách nhìn chúng
sanh, không phải nhìn theo cái thấy thông thường, mà là quán,
quán là nhìn có kèm theo trí tuệ nhận biết.
Duy-ma-cật
trả lời:
- Như
nhà ảo thuật thấy các vật do mình biến hiện. Các vật
biến hiện không có thật, không thể làm lầm chính người
biến hóa ra nó. Như họa sĩ vẽ môït người đẹp, không
thể nào đắm mến người đẹp trong tranh. Hết thảy các
vật đều do tâm mình tạo, nên biết mà không kẹt.
Như
người trí thấy trăng dưới nước, như bóng trong gương.
Đó chỉ là sự phản chiếu của sự vật trên gương tâm.
Như
sóng nắng, như tiếng vang, như mây giữa trời, như bọt nước,
như sấm chớp… Những thí dụ này nói lên tính cách mong
manh không bền chắc, chỉ thoáng có trong phút chốc. Tuệ Trung
Thượng Sĩ nói: “Phàm thánh trời người như điện chớp”,
ngay cả hình tượng Thánh nhân cũng chỉ như bóng chớp ngang
trời, ngắn ngủi, mau chóng. Không thể níu giữ, không thể
toan tính một thứ gì lâu dài, không thể khóc than khi nhìn
một bọt nước tan biến. Cứ biết rằng nó đang tan biến.
Đó là cách nhìn của người khôn ngoan.
Như
đại thứ năm, như ấm thứ sáu, như tình thức thứ bảy…
như sắc tướng của cõi trời Vô sắc, như hạt giống cháy,
như chứng Tu-đà-hoàn còn thân kiến… như dấu vết chim bay
trên không, như con của thạch nữ… những chuyện kể trên
là chuyện không thể có, không thể xảy ra. Quán sát chúng
sanh như thế để thấy rõ bản chất không thật của chúng.
Quán là nhìn về phía bản chất, không nhìn trên hình tướng.
Ngoài những cách nói trên không có cách nào đúng hơn để
diễn tả về chúng sanh.
b-
Phương cách hoạt động
Chúng
sanh tuy như vậy, vẫn hiện hữu, vẫn là hiện tượng không
thể bỏ qua. Tuy chúng phù du nhưng lại nối tiếp không thể
tính kể, Bồ-tát đối với chúng sanh nhìn như ảo mộng,
phải thực hành các pháp từ, bi, hỷ, xả như thế nào? Duy-ma-cật
giới thiệu phương pháp thực hiện lòng Từ chơn thật bằng
cách vì chúng sanh nói pháp như trên, nghĩa là đánh thức cách
nhìn của họ, chỉ ra bản chất thật để mọi người không
lầm, đó là tình thương thật sự, vì thương mà đem đến
sức giải thoát cho chúng sanh. Khi mọi người không lầm nữa
thì tất cả đều tỉnh thức, đạt được giác ngộ là an
vui tối thượng.
Thực
hành lòng từ tịch diệt vì không chỗ sanh khởi, thực hành
lòng từ không nóng giận vì chẳng có phiền não, thực hành
lòng từ bình đẳng vì ba đời đều như nhau, thực hành lòng
từ không tranh cãi vì không chỗ khởi lên để tranh chấp…
thực hành lòng từ kiên cố vì tâm không hủy hoại, thực
hành lòng từ thanh tịnh vì các pháp tánh thanh tịnh, thực
hành lòng từ vô biên vì như hư không… thực hành lòng từ
của A-la-hán, của Bồ-tát, của Phật, tùy theo từng địa
vị để phù hợp với căn cơ… cho đến thực hành lòng từ
theo lục độ… tất cả đều đem đến cho chúng sanh sự
vui vẻ an lạc, mà Bồ-tát vẫn đạt được pháp lạc. Có
nghĩa là vì chúng sanh mà làm việc, phần mình không bị thiếu
tính chất Giác ngộ, vẫn đầy đủ phẩm hạnh và các đức
tính cao đẹp. Như thế gọi là Bồ-tát vì chúng sanh vào đời
làm việc, không bị chúng sanh mê hoặc.
Văn-thù-sư-lợi
lại hỏi:
- Thế
nào gọi là Bi?
Duy-ma-cật
đáp:
- Bồ-tát
có làm bao nhiêu công đức đều cho chúng sanh đồng hưởng.
- Thế
nào là Hỷ ?
- Bồ-tát
có những việc nhiêu ích đều hoan hỷ không hối hận.
- Thế
nào là Xả?
- Bồ-tát
có những phước đức đều không hy vọng.
Ba
đặc tính sau này nói lên sự buông bỏ của Bồ-tát, dù làm
được những lợi ích lớn cho chúng sanh mà coi như đó là
việc chung, không giữ riêng cho mình, không ân hận vì mình
đã bị làm quá sức, bị hy sinh, không mong sự đền trả
của người chịu ơn. Đó là vì Bồ-tát đã thâm nhập tính
cách chúng sanh như huyễn, mình như huyễn, tất cả không thật
thì có gì trong ấy mà mong cầu. Không mong cầu nhưng vẫn
tích cực làm việc và chia sẻ hết tất cả công đức cho
chúng sanh cùng hưởng.
c-
Căn bản của các pháp
Đầy
đủ bốn đức tính Từ, Bi, Hỷ, Xả là có thể làm việc
với chúng sanh. Chúng sanh thì ở trong sanh tử, Bồ-tát cũng
phải ở luôn trong sanh tử.
Văn-thù-sư-lợi
hỏi tiếp:
- Sanh
tử đáng sợ, Bồ-tát phải nương nơi đâu?.
Duy-ma-cật
đáp:
- Bồ-tát
ở trong chỗ sanh tử đáng sợ phải nương vào sức Như Lai
công đức.
Bồ-tát
dù tình nguyện vào sanh tử, cũng phải có sức vững vàng,
sức đó gọi là công đức Như Lai, sức mạnh được cung
cấp từ các việc làm tốt đẹp tạo nên ảnh hưởng phước
lực lớn.
Hỏi
tiếp:
- Muốn
nương sức Như Lai công đức phải trụ vào đâu?
- Phải
trụ vào chỗ độ thoát tất cả chúng sanh.
Dường
như ở đây có một cái vòng khép kín, vì muốn độ chúng
sanh thì phải ở trong sanh tử, muốn ở trong sanh tử vững
vàng phải nhờ sức của Phật, mà sức của Phật bắt nguồn
từ việc độ chúng sanh. Có nghĩa là không phải nương tựa
ở đâu xa, ở vật nào khác mà phải lập cước trên bản
vị độ sanh.
Những
câu hỏi - đáp tiếp theo dẫn dắt chúng ta đi đến cuối
đường ngôn luận. Muốn độ chúng sanh phải trừ dẹp điều
gì? Phải trừ dẹp phiền não của mình. Muốn trừ dẹp phiền
não phải làm gì? Phải hành Chánh niệm. Hành chánh niệm tức
là vô niệm, là hành pháp bất sanh bất diệt, chỗ không sanh
không diệt đó được gọi là pháp Thiện, nghĩa là chỗ thiện
tột cùng không có sự sanh khởi, khi không có sanh khởi cũng
không có gì diệt mất, chỉ có một tâm y nhiên từ trước
đến giờ, đó là chỗ bất diệt. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ
dạy: “Đó là bản lai diện mục”. Cái xưa nay không từng
khởi diệt là chỗ mình phải y theo đó thực hành Chánh niệm.
Đi ngược lại thì khi có chánh niệm thì không có phiền não,
không có phiền não gọi là độ thoát chúng sanh, hay là độ
tất cả khổ ách sanh tử.
Hỏi
tiếp về gốc của pháp thiện và bất thiện. Nghĩa là thiện
và bất thiện bắt nguồn từ đâu, để đi đến chỗ pháp
thiện không diệt, pháp thiện y nhiên một mực trước sau?
Dẫn đầu từ thân, thân bắt nguồn từ dục tham, dục tham
có ra từ các phân biệt hư dối, phân biệt hư dối sinh khởi
từ vọng tưởng điên đảo, vọng tưởng điên đảo được
thành lập từ “vô trụ”. Vô trụ lấy gì làm gốc? Vô
trụ thì không có gốc (vô trụ tắc vô bổn). Không có một
cái căn bản thứ nhất để làm chỗ sinh khởi vô trụ, vì
bản chất vô trụ là không đứng ở đâu, không dựa vào
đâu thì làm sao có được nền tảng chắc thật. Như thế
vô trụ là điểm đầu tiên, cái then chốt sinh thành tất
cả pháp (Tùng vô trụ bổn, lập nhất thiết pháp). Chúng
ta tưởng như có một pháp thật, có một điểm khởi đầu
chắc thật để tạo nên các pháp, và cũng từ các pháp đó
mình vin vào để thành lập công đức, nhưng điểm khởi đầu
này thì không tung tích, không có chỗ khởi thì các pháp cũng
chỉ như ảnh hiện, chợt có chợt mất. Trở lại với cách
quán chúng sanh ở đoạn đầu phẩm này, như huyễn sư nhìn
vật huyễn, có công đức tạo ra cũng như trong mộng nói mộng,
nhìn như thế là nhìn đúng chánh pháp.
2-
Thanh văn học tập
Bồ-tát
thấy các pháp như huyễn nên an nhiên. Thanh văn chưa thấy
được gốc vô trụ của các pháp nên phải lần lượt
học tập.
a-
Năm dục như huyễn
Trong
thất Duy-ma-cật có một thiên nữ tung hoa cúng dường hội
chúng, hoa ấy đến các vị Bồ-tát đều rơi xuống, đến
bên các vị Đại đệ tử đều dính vào. Các vị dùng hết
thần lực để phủi, hoa cũng không rơi.
Các
vị Thanh văn giữ giới nghiêm minh, hoa là tượng trưng vật
phi pháp nên các Ngài rất sợ dính. Lúc ấy thiên nữ bèn
hỏi ngài Xá-lợi-phất: Vì sao phủi hoa? Quả thật, các Ngài
xem hoa là vật phi pháp, là tượng trưng vật chất thế gian,
không phải là kinh pháp, nên không ưa gần gũi. Trong thất
Duy-ma-cật vốn không có gì, nay thiên nữ và hoa chỉ là vật
biến hiện, không phải thật pháp. Dùng hình thức nữ nhân
đối đáp cũng là điều úy kị của các Ngài, đoạn kinh
này dường như đẩy ngài Xá-lợi-phất vào chỗ phải thấy
tất cả hiện tượng đang xảy ra đều như huyễn.
b-
Giải thoát ở tất cả chỗ nơi
Sau
khi nghe thiên nữ biện luận về tính cách của hoa, ngài Xá-lợi-phất
hỏi, cô ở trong thất này bao lâu. Thiên nữ nói, bằng thời
gian giải thoát của bậc trưởng lão kỳ túc. Thật ra giải
thoát không có thời gian, cũng không có tướng mạo, nên đoạn
kế tiếp thiên nữ luận rằng, ngôn thuyết văn tự cũng là
tướng Giải thoát, tướng Giải thoát không có ở trong ở
ngoài, tất cả tướng đều là tướng giải thoát. Nhìn ở
khía cạnh rốt ráo không phân biệt thì chẳng có tướng nào
là tướng ràng buộc, vì không thấy ràng buộc nên chẳng
cần tìm giải thoát ở đâu. Cũng trong tinh thần này, khi Xá-lợi-phất
hỏi thiên nữ chứng đắc được điều gì (một cách gài
bẫy) thì thiên nữ lẹ làng đáp chỗ vô chứng vô đắc.
c-
Tám việc chưa từng có
Xá-lợi-phất hỏi thiên nữ cầu chứng thừa nào trong tam
thừa? Thiên nữ trả lời tùy phương tiện giáo hóa mà thực
hiện Thanh văn thừa hay Duyên giác thừa. Nhưng mục đích chính
là Phật thừa, như người vào thất này chỉ thích mùi hương
công đức của Phật, không thích hương công đức của Thanh
văn và Bích chi Phật.
Thiên
nữ kể tiếp về tám việc đặc biệt trong thất Duy-ma-cật:
1-
Thất này thường có ánh sáng sắc vàng chiếu soi, không cần
ánh sáng mặt trời mặt trăng.
2-
Người vào thất này không bị các cấu uế quấy nhiễu.
3-
Thất này được các vị trời Đế thích, Phạm vương… các
vị Bồ-tát phương khác đến hội họp không ngớt.
4-
Thất này thường nói sáu ba-la-mật, pháp bất thối chuyển.
5-
Thất này thường trỗi nhạc bậc nhất, phát ra vô lượng
âm thanh pháp.
6-
Trong thất có bốn kho tàng lớn cứu giúp khắp các kẻ nghèo
thiếu.
7-
Các đức Phật như Phật Thích-ca Mâu-ni, Phật A-di-đà…,
mỗi khi Duy-ma-cật khởi niệm liền hiện đến thuyết pháp.
8-
Tất cả cung điện trang nghiêm của chư thiên, các cõi tịnh
độ của chư Phật đều hiện trong thất này.
d-
Thân tướng như huyễn
Thất
của Duy-ma-cật tượng trưng cho Như Lai tạng nên có các việc
đặc biệt như thế, không phải là điều khó hiểu. Nhưng
thiên nữ ở trong đây, tại sao không chuyển thân nữ, ý ngài
Xá-lợi-phất cho là đã ở trong cái nhà vi diệu này mà còn
mang thân nữ là dở lắm.
Đến
đây là một màn hí lộng, thiên nữ nói tướng huyễn hóa
không nhất định, và dùng thần lực khiến ngài Xá-lợi-phất
thành thân nữ, để thấy thân tướng nữ nam chỉ như biến
hóa, và tất cả tướng nữ nhân đều chẳng phải là tướng
nữ thật. Khi ngài Xá-lợi-phất trở lại tướng cũ thì tướng
nữ vừa rồi ở đâu? Cũng chẳng ở đâu. Thế nên biết
tất cả pháp không ở đâu mà có mặt ở tất cả chỗ
(Nhất thiết chư pháp vô tại vô bất tại), đó là ý nghĩa
của pháp vô trụ đã nói ở trên.
e-
Quả chứng như huyễn
Xá-lợi-phất
hỏi thiên nữ:
- Bao
lâu sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Thiên
nữ đáp:
- Như
Xá-lợi-phất trở lại thành phàm phu, tôi sẽ chứng quả.
Điều
này không thể xảy ra, thì thiên nữ cũng không chứng quả.
Vì sao? Vì Bồ-đề, Giác ngộ không có chỗ trụ nên không
chỗ đắc. Nếu cho là có chứng đắc là trái ngược với
tinh thần vô trụ ở trên. Tuy thế, chư Phật vẫn từng đắc
quả trong tinh thần Vô sở đắc.
Thiên
nữ này vốn đã là vị Bồ-tát có thần thông du hý, mượn
chuyện vấn đáp với ngài Xá-lợi-phất để giáo hóa, để
nâng đỡ tinh thần của hàng Thanh văn thấu ý chí của
Đại thừa.
Phật
Đạo
1-
Bồ-tát thực hành Phật đạo
Nếu
nói rằng Bồ-tát thực hành con đường đến quả vị Phật
bằng các đức tính từ bi, trí tuệ, nhẫn nhục… thì
rất dễ hiểu. Ở đây Duy-ma-cật nói về vấn đề này với
vô số chiêu thức trái ngược như: Bồ-tát thực hành năm
tội vô gián nhưng không phiền não, vào địa ngục mà không
tội, vào loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu
mạn… cho đến ở trong tham dục mà lìa nhiễm trước, thị
hiện sân giận mà đối với chúng sanh không có giận chướng,
thị hiện bỏn xẻn mà luôn xả bỏ, thị hiện phá hủy giới
mà luôn an trụ tịnh giới… Đó là Bồ-tát thị hiện sáu
tệ mà không trái sáu độ. Bồ-tát vào chúng sanh ma mà vẫn
thuận với trí tuệ Phật. Thị hiện vào chỗ bần cùng, mà
có tay báu bố thí không cùng tận… Thị hiện vào chỗ thân
hình tàn tật mà đầy đủ tướng hảo… Cho đến vào khắp
các đường để mà đoạn dứt nhân duyên của các đường.
Duy-ma-cật
đã nêu ra các vấn đề cho vị Bồ-tát hành Phật đạo. Đây
là một quan niệm mới lạ, cũng là một chân trời mới cho
người thực hành Bồ-tát đạo. Nói tóm kết, khi làm những
việc trái đạo, nghịch lý, ở chỗ tột cùng đau khổ mà
vẫn có đầy đủ tính cách giải thoát, có nghĩa tính cách
của Phật tâm bao trùm khắp, không chừa một con đường nào,
dù đường đó xấu xa. Hành phi đạo có nghĩa là đã vượt
quá phi đạo, dùng phương tiện phi đạo để đến gần với
chúng sanh. Chúng sanh ở những nẻo khổ thì nhiều hơn chúng
sanh ở đường lành, Bồ-tát chỉ ở nơi trang nghiêm tốt
đẹp thì không đủ phương tiện độ sanh nên phải hành phi
đạo. Và người đã vào đường tà nẻo khổ không còn sợ
tà ma khổ nạn, có nghĩa là các thứ phi đạo không đủ sức
ngăn trở Bồ-tát, không làm đắm nhiễm Bồ-tát.
Có
vị thiền khách hỏi thiền sư:
- Sau
khi chết Sư đi đâu?
Sư
đáp:
- Vào
địa ngục.
Khách
ngạc nhiên:
- Người
như Sư mà vào địa ngục?
Sư
cười:
- Nếu
ta không vào đó thì ai độ ông?
Câu
chuyện này cũng mang tính chất của Duy-ma-cật. Một câu chuyện
khác của ngài Triệu Châu cho thấy ý nghĩa phi thường.
Bà
già hỏi Triệu Châu:
- Làm
sao để chuyển thân nữ?
Ngài
đáp:
- Bà
nên nguyện cho mọi người hãy chuyển thân nữ. Còn riêng
bà tình nguyện làm người nữ.
Một
lời nguyện như thế tỏ tính cách đại hùng, đại trượng
phu, là đã chuyển rồi. Câu cuối cùng của Duy-ma-cật là
một câu đáng lưu ý: “Hiện khắp vào các đường mà dứt
nhân duyên của các đường”. Có nghĩa là đi đủ chỗ khắp
nơi, là để dứt trừ cái nguyên nhân tiếp nối sanh tử,
là để các đường tự thanh thản, bình an. Ý nghĩa của đoạn
này rất mạnh, rất hùng tráng. Con đường hành phi đạo mới
thông đạt Phật đạo là con đường các Phật tử phải lặn
lội trong ấy với tất cả hùng lực của mình.
2-
Những gì là hạt giống Phật
Bấy
giờ, Duy-ma-cật hỏi lại Bồ-tát Văn Thù:
- Những
gì là hạt giống Như Lai? (Hà đẳng vi Như Lai chủng?). Hạt
giống Phật nằm ở đâu? Phải tìm nơi nào? Tương tự như
con đường làm Phật là con đường nào, câu hỏi này để
bổ túc cho những điều Duy-ma-cật đã trình bày ở trên.
Hai vị Đại sĩ đã thay phiên nhau làm sáng tỏ vấn đề,
một vấn đề tu học tưởng chừng như dễ nhưng thực sự
rất khó hành.
Bồ-tát
Văn-thù đáp:
- Thân
trong ba cõi là hạt giống Phật.
Vô
minh, tham ái, sân nhuế là hạt giống. Bốn điên đảo (vô
thường cho là thường, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là
tịnh, khổ cho là lạc), năm cái, sáu nhập, bảy thức, tám
pháp tà, chín não (chín phiền não ràng buộc chúng sanh: ái,
nhuế, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, xan), mười điều
bất thiện. Tóm lại 62 kiến chấp và tất cả phiền não
đều là hạt giống Phật (nhất thiết phiền não giai thị
Phật chủng). Chủng tử Phật, hạt giống giác ngộ giải
thoát nằm ở ngay trong trần lao phiền não. Vì sao? Có đau
khổ cùng cực mới phát tâm cầu giải thoát.
Thế
nên Bồ-tát Văn-thù nói tiếp:
- Nếu
người trụ trong cõi vô vi (vô vi là cõi không còn sanh diệt
đau khổ), người ấy không thể phát tâm cầu đạo Giác ngộ.
Như
hoa sen không thể mọc ở trên cao nguyên, như trồng cây giữa
trời không có kết quả. Trong bùn lầy phiền não là chỗ
chúng sanh khởi lên hạt giống Phật pháp. Phiền não tà mê
là nhân tố để hạt giống Phật nẩy nở. Khi khổ đau chúng
ta khởi ý niệm muốn thoát khổ, đó là mầm Phật xuất hiện.
Trong đời đau khổ chúng ta có dịp tạo việc lành để cứu
khổ, đó là lớp đất màu bồi dưỡng nhân Phật. Chỉ cần
chính chúng ta thức tỉnh, ngay nơi vị trí mình đang sống,
không lầm mê không cho mình là đã an lạc giải thoát, như
thế đã phát tâm cầu Phật đạo. Trong đau khổ người ta
dễ thông cảm, dễ nảy sanh từ tâm hơn ở những chỗ an
nhàn. “Không vào biển lớn không được châu báu vô giá,
không vào biển lớn phiền não không được hạt ngọc Nhất
thiết trí”. Câu nói này một lần nữa khuyến khích hàng
Bồ-tát sơ phát tâm, những người cần tu trong đời phát
tâm tìm cho ra viên ngọc Phật ở ngay chính giữa lòng cuộc
sống.
Khi
nghe những đoạn đối đáp này, ngài Ca-diếp khởi lên lời
ca ngợi: “Lành thay! Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đúng như lời
Ngài nói, trần lao phiền não là hạt giống Như Lai”. Tôn
giả Ca-diếp có vẻ như chê trách hàng Thanh văn trong câu nói:
“Hạng tạo tội ngũ vô gián còn có thể phát tâm Vô thượng
Bồ-đề, còn như chúng tôi vĩnh viễn không thể phát tâm”.
Ngôn ngữ trong kinh Duy-Ma