Dịch
sang Anh ngữ từ tiếng Tây Tạng:Thượng Tọa Lozang Jamspal,
Thượng Tọa Ngawang Samten Chophel - Peter Della Santina
Dịch
phẩm này để dâng tặng
Đức
Ngài Sakya Trizin
Ngawang
Kunga Thegchen Palbar Thinley
Samphel
Wang Gi Gyalpo
qua
lòng tốt của ngài, đại an lạc tự sanh khởi trong một khoảnh
khắc –
Tiếng
nói của ngài, bậc đại bi,
lan
tràn đến mọi phương niềm vui sanh khởi
từ
chân lý của Con Đường Đại Thừa.
Những
dấu hiệu tốt lành báo trước sự nở hoa
của
hạnh phúc cho tất cả chúng sanh
là
những hành động siêu việt của ngài.
Mong
muốn tăng cường sự hiểu biết của những người mê lầm,
thật
tánh của tất cả mọi sự được phát hiện
bởi
thần lực của tâm ngài.
Hỡi
bậc Pháp Vương,
ngài
là một nơi nương dựa cho những ai cần đến –
xin
ban những ân phước cho toàn thế giới.
LỜI TỰA
Đức
Ngài Sakya Trizin
Trưởng
Phái Sakya của Phật giáo Tây Tạng
Rajpur,
Dehra
Dun, India
20
tháng Mười 1975
Bức
Thư Của Một Người Bạn của Bồ Tát Long Thọ đã được
người Tây Tạng quý chuộng suốt nhiều thế kỷ như là một
bản văn căn bản cho những ai đi vào Con Đường của Pháp.
Vì lý do đó, tôi cực kỳ sung sướng được thấy bản dịch
Anh ngữ này, nó sẽ cho phép nhiều người Tây phương đã
quan tâm đến Phật Pháp được đọc và nghiên cứu lời dạy
quan trọng này. Qua sự thông hiểu và áp dụng những giáo
huấn trong bức thư, người ta sẽ có thể đặt chân vững
chắc lên con đường dẫn đến giải thoát như một con voi
vững chắc đặt chân lên mặt đất khi nó bước đi.
Theo
một cách, Bức Thư Của Một Người Bạn có thể được nhìn
như gồm hai phần. Phần đầu là sự tích tập công đức,
ở đây là con đường của kỷ luật đạo đức, nghiên cứu
và thiền định dẫn người ta xa lìa 1) tham muốn cuộc đời
này và 2) tham muốn sanh tử như một toàn bộ. Phần hai là
sự tích tập trí huệ, ở đây là sự thấu hiểu, chứng
ngộ giáo lý sâu xa và quý báu Duyên Sanh của đức Phật,
dẫn người ta đến giác ngộ cứu cánh của một vị Phật.
Kỷ
luật đạo đức, sự chấp nhận và tuân thủ những lời
thệ nguyện khác nhau, dùng như nền tảng căn cơ nhất cho
mọi thành tựu sau đó. Nghiên cứu giúp người ta cầm ngọn
đèn sáng của hiểu biết xua tan vô minh và những quan kiến
sai lầm và cho phép người ta có được trí huệ cần thiết
để đi trong con đường đến giải thoát. Thiền định làm
bình lặng tâm thức, làm phát sanh những chỉnh sửa để xóa
bỏ những nhiễm ô và thiết lập nền tảng của tỉnh giác
dẫn người ta đến chỗ hiểu được vô thường, khổ, vô
ngã và tánh không.
Đã
có những thứ cần thiết này, bấy giờ người ta ở nơi
một vị trí để bắt đầu sự tìm kiếm trí huệ siêu việt
của mình. Vũ trang bằng vũ khí Duyên Sanh, cây gươm hiển
hách của tánh không, người ta có thể thanh toán vô minh che
đậy chân lý – như đức Phật đã làm dưới cội cây Bồ
đề hai ngàn năm trăm mười chín năm trước đây.
Cả
hai sự tích tập này là cần thiết để đạt giải thoát,
như một con chim cần hai cánh để bay vút lên bầu trời. Như
vậy, nếu người ta theo lời chỉ dạy của đại thánh Long
Thọ trong bức thư này, người ta sẽ đạt được giác ngộ
tối thượng như Phật Thích Ca Mâu Ni.
Sakya
Trizin
LỜI NÓI
ĐẦU
Tác
phẩm này là một bản dịch những câu kệ gốc của Bức
Thư của Bồ tát Long Thọ gởi cho Vua Gautami-putra cùng với
những ghi chú giải thích căn cứ trên ba bình giảng của Jetsun
Rendawa Shonnu Lodo, Đại Đức Lozang Jinpa và Đại Đức Rongton
Sheja Kunrig. Jetsun Rendawa Shonnu Lodo (1349-1412) là một học giả
nổi tiếng của phái Sakya và là một trong những vị thầy
của Tôn Giả Je Tsongkhapa. Bình giảng của ngài về Suhrïllekha
của Thánh Long Thọ, được hầu hết học giả Tây Tạng xem
là một trong những bản uy tín nhất. Bình giảng của Đại
Đức Lozang Jinpa, một vị tăng của phái Gelug ở Tu viện Tashi
Lhunpo được sách này dựa vào rất nhiều. Thật ra, bình giảng
của Lobsang Jinpa căn cứ trên bản của Jetsun Rendawa. Bình giảng
thứ ba được dùng hầu hết để làm rõ nhiều điểm, được
Đại Đức Rongton Sheja Kunrig (1367-1449), một học giả nổi
tiếng của phái Sakya và là người sáng lập của Tu viện
Nalanda ở Tây Tạng.
Những
ghi chú giải thích dùng như bình giảng cho bản văn này không
phải là những bản dịch trực tiếp của ba bình giảng bằng
tiếng Tây Tạng nói ở trên, mà tổng hợp nội dung của chúng
như đã được Đức Ngài Sakya Trizin giải thích. Những ghi
chú này là từ một số thời giảng pháp và về sau được
viết lại với mục đích làm rõ nội dung của những bài
kệ. Phác họa trình bày nội dung bức thư là một bản dịch
được dùng trong bình giảng của Jetsun Rendawa.
Bản
văn Sanskrit của Suhrïllekha không dài. Tuy nhiên, có nhiều bản
dịch Tây Tạng của nó đã được lần xuất bản, ba bản
dịch ra tiếng Trung Hoa và bản dịch trước đây ra tiếng
Anh. Bản dịch Tây Tạng được dùng ở đây được xuất
bản bởi A. Sonam ở Varanasi, Ấn Độ, 1971. Bản in này được
dịch sang tiếng Tây Tạng bởi Sư trưởng người Ấn Sarvajnadeva
và dịch giả Tây Tạng Vande. dpal. brtsegs.
Lời
cầu nguyện thành tâm của chúng tôi là tác phẩm này sẽ
có công dụng đặt mọi người vào con đường của Pháp.
Tháng
Chín, 1975
Dehra
Dun, Ấn Độ
Những
người dịch
GIỚI THIỆU
Acarya
Nagarjuna (A Xà Lê Long Thọ) giữ một địa vị hầu như vô
song trong hàng các bậc Thánh Phật giáo trình bày xiển dương
lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni cho lợi lạc của thế
giới. Như đã được tiên tri trong Lankavatara Sutra (Kinh Lăng
Già), Manjushrimu-lakalpa Tantra, cũng như trong vài thuyết pháp
khác của Phật, Acarya Nagarjuna cách mạng sự giải thích giáo
lý của bậc Giác Ngộ vào thời đại mình và đóng góp cho
nó một sức sống và sự năng động tiếp tục giữ gìn nó
thậm chí đến ngày hôm nay trong những vị hiến mình phụng
sự Đại thừa. Cuộc cách mạng mà Acarya Nagarjuna hoàn thành
trong dòng chảy Phật giáo không phải, như một số người
có thể nghĩ, là một bước khởi đi căn bản khỏi giáo lý
nguyên thủy của Phật Thích Ca. Trái lại, những người theo
học phái Trung Đạo (Madhyamaka) đã chứng tỏ rằng sự giải
thích của họ tiêu biểu cho nội dung đích thực của giáo
lý của Phật và tinh túy của Phật giáo. Dù mục tiêu của
chúng tôi ở đây không phải là dẫn chứng cho điều này,
có thể đơn giản nói rằng chân lý của nó không thoát khỏi
sự nhận xét của những học giả thẩm quyền trong lãnh vực
này.
Khi
biết sự uy nghi của tên tuổi và vai trò quan trọng của Bồ
tát Long Thọ trong sự phát triển của tư tưởng Phật giáo,
thật không có gì ngạc nhiên khi câu chuyện cuộc đời ngài
dính dáng đến những truyền thuyết và huyền thoại. Những
người viết tiểu sử ngài đã gồm vào đó những yếu tố,
dù chắc hẳn là những sự kiện của lịch sử tôn giáo,
cũng khó mà xác minh sự thật của chúng. Chắc chắn là một
tiểu sử bằng Anh ngữ của Bồ tát Long Thọ được dịch
từ nhiều bản tiểu sử của ngài lưu hành trong ngôn ngữ
Tây Tạng là điều đáng ao ước, đó là một công việc không
nhỏ. Do đó vì mục đích giới thiệu tác phẩm này chúng
tôi tự giới hạn trong một tóm tắt cuộc đời của ngài
căn cứ trên những sự việc có thể xác minh với sự chắc
chắn tương đối, rút từ những tiểu sử truyền thống trong
chừng mực những sự kiện đó không mâu thuẫn nhau.
Bồ
tát Long Thọ sống trong khoảng một phần tư cuối cùng của
thế kỷ thứ nhất và một phần tư đầu của thế kỷ thứ
hai. Điều này là rõ ràng từ tình bạn với một nhà vua của
dòng họ Satavahana của Andhra. Nhà vua, Gautamiputra Satakarni, con
của hoàng hậu Bala Sri, là người độc nhất của dòng họ
theo Phật giáo và chính vì ông mà Bồ tát Long Thọ viết Suhrïllekha
và Ratnavali. Những nhà viết tiểu sử truyền thống đồng
ý rằng ngài Long Thọ sanh ra trong một gia đình bà la môn ở
Nam Ấn. Những bản tiểu sử Tây Tạng nói rằng khi mới sanh,
các nhà chiêm tinh tiên đoán đứa trẻ sẽ sống không quá
bảy tuổi. Không thể chịu nổi viễn cảnh ấy, cha mẹ nó
gởi đứa bé đến một tu viện Phật giáo, nơi đó bằng
cách đọc tụng Aparimitayuddharani, nó thành công thoát khỏi
số mệnh. Bản tiểu sử của Cưu Ma La Thập về thời trẻ
của Bồ tát Long Thọ khác một cách căn bản với những bản
Tây Tạng. Nó được đề cập ở đây chỉ vì nó được
xem là sớm hơn các bản Tây Tạng, và như vậy đáng được
lưu ý. Cưu Ma La Thập viết rằng thời trẻ ngài Long Thọ
bị dục vọng cám dỗ và nhờ nghệ thuật tàng hình đã quyến
rũ những phụ nữ trong cung điện vua. Nhưng một lần, ngài
suýt chết dưới bàn tay của những người canh gác, một kinh
nghiệm dẫn ngài tin vào lời dạy của đức Phật rằng tham
muốn là nguyên nhân lớn nhất của khổ. Kết quả là ngài
vào Tăng đoàn, theo lời kể của Cưu Ma La Thập. Sau đó, theo
tài liệu Tây Tạng, Long Thọ trở thành một học trò của
Rahulabhadra (cũng còn được biết với tên Mahasiddha Saraha),
bấy giờ là Trụ trì đại học ở Nalanda.
Gần
như mọi nhà tiểu sử truyền thống đồng ý rằng Acarya Nagarjuna
lấy những Kinh Bát Nhã Ba La Mật từ loài Rồng (Naga). Dù
một số gợi ý rằng từ này thường được dùng để chỉ
một nhóm các đại yogi, ý nghĩa chính xác của chữ này vẫn
không chắc chắn. Cuối cùng, ngài Long Thọ hình như để phần
cuối đời ở trong tu viện do người bạn và thí chủ là
Vua Gauta-miputra ở Sri Parvata xây cho. Dù những chuyện kể nói
về cái chết của ngài có khác nhau về chi tiết, chúng đồng
ý rằng Long Thọ bằng lòng với cái chết của mình trong tay
con của vua Gautamiputra.
Acarya
Nagarjuna là một đạo sư thành tựu của Phật giáo. Ngài viết
nhiều về hầu hết mọi khía cạnh của triết học và tôn
giáo Phật giáo. Dù ngài Long Thọ được đông đảo xem là
người tiên phong số một của “trung đạo”, hay Madhyamapratipad,
và như một vị thầy của biện chứng, những tác phẩm của
ngài cũng gồm những công trình về Luật, về Tantra, về Bồ
tát hạnh, và về thực hành Thừa Ba la Mật (Paramitayana). Trong
loại sau gồm có bình giảng về Dasabhumikasutra (Kinh Thập Địa),
Sutrasamuccaya và những cái khác. Ngài Long Thọ còn viết những
tác phẩm có tính chất sùng mộ cao, như Catuhstava. Đáng tiếc
là quá ít những tác phẩm như vậy của ngài được dịch
sang tiếng Anh. Hy vọng rằng những năm tới tình trạng này
sẽ được cải thiện và tác phẩm nhỏ này sẽ đóng góp
một phần nhỏ cho tiến trình ấy.
Suhrïllekha
của Acarya Nagarjuna là một tóm tắt khúc chiết và dễ hiểu
về giáo lý Phật giáo. Nói chung nó có thể cho là thuộc về
loại bản văn mà sau này được gọi ở Tây Tạng là những
bản văn của con đường tiệm tiến hay lam-rim. Những tác
phẩm của Long Thọ, đặc biệt là Sutrasamuccaya nhưng cũng
ở một cấp độ kém hơn là Suhrïllekha, là những cái đi
trước của vô số bản văn có thể được xếp loại dưới
tên lam-rim. Chúng bao gồm những tác phẩm như Siksasamuccaya
của Shanti-deva, Trang Hoàng Ngọc Báu của Giải Thoát của Sgam-po-pa
và Minh Giải Tư Tưởng của Bậc Trí của Sakya Pandita Kunga.
Gyaltsen. Pal. Zangpo. Không ngạc nhiên rằng phong cách khúc chiết
và nội dung dễ hiểu của một tác phẩm như Suhrïllekha của
Long Thọ làm cho nó phổ thông như một phương tiện chuyên
chở vắn tắt giáo lý Phật giáo. Suhrïllekha được phổ thông
như vậy ở Ấn Độ được nói rõ trong lời kể của nhà
hành hương Trung Hoa Nghĩa Tịnh đến Ấn Độ vào thế kỷ
thứ bảy, ngài viết, “Ở Ấn những học trò học bản văn
này bằng kệ rất sớm, nhưng những người sùng tín nhất
xem nó là đối tượng đặc biệt để nghiên cứu trọn đời”.
Ngày nay Suhrïllekha cũng được phổ biến rộng trong người
Tây Tạng, họ dùng nó với sự đều đặn như một cẩm nang
căn bản cho việc dạy Phật pháp. Bởi thế hy vọng rằng
bản dịch Anh ngữ này sẽ hữu dụng cho những người muốn
có được một hiểu biết căn bản về Phật giáo. Tính chất
dễ hiểu của nó, dù ngắn, cũng làm cho nó rất thích hợp
để dùng như một dẫn nhập vào toàn bộ Phật giáo. Vì nó
chủ yếu viết cho người tại gia, một bức thư của ngài
Long Thọ gởi tới vua Satavahana như một người bạn lâu năm,
những lời dạy bao gồm trong đó có thể được một số
đông rộng rãi độc giả hâm mộ với những thích thú khác
nhau. Dù cho những học giả và những nhà hàn lâm muốn tìm
sự minh giải một số điểm khó hiểu trong giáo lý Trung Đạo
có thể ít thỏa mãn trong Suhrïllekha, những ai muốn có một
cẩm nang khúc chiết và dễ hiểu về giáo thuyết và thực
hành Phật giáo chắc chắn sẽ không thất vọng.
Dù
Suhrïllekha chứa đựng những yếu tố thuộc về Đại thừa,
nhiều phần nó gồm một nền tảng chung cho cả Tiểu thừa
và Đại thừa. Bức thư bắt đầu với một cầu nguyện để
trau dồi lòng tin vào cái tối tôn, như Phật, Pháp và Tăng.
Rồi tiếp theo một tóm tắt dài về những quy tắc đạo đức
và tôn giáo, mà nếu làm theo, sẽ có kết quả là sanh vào
những cõi may mắn của người và chư thiên, như Acarya Nagarjuna
viết, “…giới luật được nói là nền tảng của mọi
đức hạnh, công đức, như đất là chỗ nương tựa của
những vật sống và những vật vô tri”. Những yêu cầu và
cấm đoán được nêu ra trong bản văn đều đi kèm với những
thực hành được dùng để đối nghịch lại với những xu
hướng không đức hạnh. Như ngài Long Thọ viết trong câu
kệ thứ bốn mươi, “Hãy luôn luôn thiền định đúng đắn
về từ, bi, hỷ, xả…” Cũng bằng một tầm quan trọng như
vậy là phần để xóa bỏ những quan điểm sai lầm do vô
minh gây ra, vì đạo đức được thực hành trong vô minh thì
không đưa đến kết quả giải thoát. Tuy nhiên, qua sự phối
hợp của giới luật và trí huệ (sự thấu hiểu tánh không)
giải thoát mới đạt được. Tánh không này, Chân Lý Tối
Hậu, được phát hiện nhờ xóa bỏ những quan điểm sai lầm.
Cái
chết, vô thường và những điều kiện thuận lợi tạo thành
chủ đề cho những bài kệ tiếp theo của bản văn. Vì cuộc
đời thì chóng vánh như một bọt nước bị gió thổi tan,
Long Thọ cổ vũ độc giả, đã có những điều kiện may mắn
làm tiền đề cho sự thực hành Pháp, hãy cố gắng cho giải
thoát không trì hỗn. Nếu sự sanh làm người không được
sử dụng thích đáng, người ta sẽ tiếp tục kinh nghiệm
khổ đau của sáu cõi sanh tử luân hồi, như được Long Thọ
diễn tả. Những diễn tả này giống như những bản văn cùng
loại. Chúng làm phát sanh một sự ghê sợ đối với hiện
hữu sanh tử và một mong muốn giải thoát. Độc giả gặp
những diễn tả này lần đầu cần được cảnh báo chớ
hiểu lầm chúng là tưởng tượng hoang đường, vì chúng làm
hoàn thiện một chức năng trọng yếu trong tiến trình giải
thoát. Bởi vì mục đích cao nhất là giải thoát và giác ngộ
không thể hoàn thành trừ phi và cho tới khi nào bám luyến
vào thế giới được thanh toán, những mô tả chi tiết của
những khổ đau nhiều mặt là cần thiết để sanh ra sự từ
bỏ, điều này là thiết yếu để bước lên con đường đến
giải thoát. Cần nhớ rằng “chân lý về khổ” là cái đầu
tiên của Bốn Chân Lý Cao Cả và là hòn đá nền của Phật
giáo.
Bức
thư của ngài Long Thọ kết thúc với một diễn tả con đường
và kết quả vô song sẽ đạt được qua thực hành này. Giới,
định và huệ sanh khởi từ sự thấu hiểu Duyên Sanh, bao
trùm con đường đưa đến trạng thái cao cả của một Bồ
tát hay Phật.
Từ
đó, như đã nói ở trước, Suhrïllekha của Acarya Nagarjuna
cung cấp cho người ngưỡng mộ muốn làm quen với những căn
bản của con đường giải thoát một tóm tắt dễ hiểu những
nguyên lý Phật giáo. Nền tảng của hạnh kiểm đạo đức
đúng và cái hiểu đúng về chân lý giải thoát khỏi những
che chướng của vô minh tựu thành một cách thức hiện hữu
siêu việt, nó không chỉ là giải thoát khỏi ràng buộc và
vô minh, mà còn là khả năng trưởng dưỡng tất cả chúng
sanh để họ cũng đạt đến giác ngộ.
ABOUT
PETER DELLA SANTINA
Peter
Della Santina was born in the USA. He has spent many years studying
and teaching in South and East Asia. He received his BA. in religion
from Wesleyan University, Middletown, Connecticut, USA in 1972 and a MA
in philosophy from the University of Delhi, India two years later.
He did his Ph.D. in Buddhist Studies also from the University of Delhi,
India in 1979.
He
worked for three years for the Institute for Advanced Studies of world
Religions,
Fort Lee, New Jersey as a research scholar translating 8th century Buddhist
philosophical texts from the Tibetan. He taught at several
Universities and Buddhist centers in Europe and Asia including, the University
of Pisa in Italy, the National University of Singapore and Tibet House
in Delhi, India. He was the Coordinator of the Buddhist Studies project
at the Curriculum Development Institute of Singapore, a department of the
Ministry of Education from 1983 to 1985.
More
recently, he was a senior fellow at the Indian Institute of Advanced Study,
Simla, India and taught Philosophy at the Fo Kuang Shan Academy of Chinese
Buddhism, Kaoh-shiung, Taiwan.
For
twenty-five years Peter Della Santina has been a student of H.H. Sakya
Trizin, leader of the Sakya Order of Tibetan Buddhism and of eminent abets
of the Sakya Tradition. He has practiced Buddhist meditation
and has completed a number of retreats. He has published several books
and articles in academic journals including Nagarjuna's Letter to King
Gautamiputra, Delhi 1978 and 1982 and Madhyamaka Schools In India, Delhi
1986 and the Madhyamaka and Modern Western Philosophy, Philosophy East
and West, Hawaii, 1986.
05-28-2007
05:45:22